Đó là cuộc đấu tranh giữa hai lối sống: lối sống có lí tưởng, lành mạnh, trung thực, sống bằng lao động của chính mình, có ý thức bảo vệ thành quả lao động, chăm lo lợi ích của cộng đồng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGHIÊM THỊ THU TRANG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM
TRONG DẠY HỌC PHẦN "CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC"
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGHIÊM THỊ THU TRANG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM
TRONG DẠY HỌC PHẦN "CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC"
Chuyên ngành : LL&PPGD Giáo dục chính trị
Mã số : 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Thìn
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Chủ nhiệm Khoa Lý luận chính trị - Giáo dục công dân, các thầy cô giáo Khoa Lý luận chính trị - Giáo dục công dân – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Em xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các
em học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam đã tạo mọi điều kiện, tận tình giúp đỡ để luận văn được hoàn thành
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo TS Nguyễn Đức Thìn đã
tận tình giúp đỡ em trong thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến bạn bè, gia đình đã luôn động viên, giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa học
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nghiêm Thị Thu Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả tìm hiểu việc sử dụng các PPDH của GV 24
Bảng 1.2 Sự cần thiết của việc tăng cường GDĐĐ cho HS thông qua đổi mới PPDH phần “Công dân với đạo đức” 25
Bảng 1.3 Nhận biết của GV về mức độ tích cực của HS 26
Bảng 1.4 Những khó khăn ảnh hưởng đến việc đổi mới PPDH nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS 27
Bảng 1.5 Mức độ sử dụng các PPDH của GV qua ý kiến HS 28
Bảng 1.6 Nhận thức của HS về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS 29
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra ban đầu của hai khối lớp thực nghiệm và 94
đối chứng bài kiểm tra lí thuyết 94
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra ban đầu của hai khối lớp thực nghiệm và 96
đối chứng bài kiểm tra thực hành vận dụng 96
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm lần 1 99
bài kiểm tra kiến thức lí thuyết 99
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm lần 1 bài kiểm tra thực hành vận dụng 100
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm lần 2 bài kiểm tra kiến thức lí thuyết 102
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm lần 2 bài kiểm tra 103
thực hành vận dụng 103
Bảng 3.7 Mức độ hứng thú của HS trong giờ học có đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa (xem câu hỏi 5 – Phụ lục 2) 106
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ biểu diễn mức độ nhận thức ban đầu của HS hai khối lớp thực
nghiệm và đối chứng bài kiểm tra lí thuyết 95
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biểu diễn mức độ nhận thức ban đầu của HS hai khối lớp thực nghiệm và đối chứng bài kiểm thực hành vận dụng 96
Biểu đồ 3.3 Kết quả kiểm tra bài lí thuyết của hai lớp TN 1 và ĐC 1 99
100
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ kết quả kiểm tra bài thực hành vận dụng 101
của hai lớp TN 1 và ĐC 1 101
Biểu đồ 3.5 Biểu đồ kết quả kiểm tra bài lí thuyết 103
của hai lớpTN 2 và ĐC 2 103
Biểu đồ 3.6 Biểu đồ kết quả kiểm tra bài thực hành vận dụng của hai lớpTN 2 và ĐC 2 104
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH
CNXH
::
Công nghiệp hóa - hiện đại hóaChủ nghĩa xã hội
Gíao viênHoạt độngHS
ND
::
Học sinhNội dungPPDH
SL
::
Phương pháp dạy học
Số lượngTHCS
THPT
TL
TN
::::
Trung học cơ sởTrung học phổ thông
Tỉ lệThực nghiệm
Trang 8Trong đó, vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức, được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt Đảng đã khẳng định: "…phải tăng cường giáo dục công
dân, giáo dục thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu nước, ý chí vươn lên
vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước" [13, tr.29]
Đạo đức là cốt lõi của nhân cách, là cái vốn quý của con người, như khảng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Có tài mà không có đức là người
vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Người chỉ rõ:
“Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, đạo đức cũng là cái gốc của con người phát triển toàn diện mà nhà trường phổ thông có trách nhiệm đào tạo” [26, tr.86]
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình đời sống xã hội có nhiều diễn biến hết sức phức tạp Đạo đức xã hội xuống cấp đáng báo động, nhất là ở thế hệ trẻ Đánh giá thực trạng giáo dục, đào tạo trong đó có giáo dục đạo đức, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII nhấn mạnh: “Đặc biệt đáng
lo ngại là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước” [14, tr.24]
Hiện nay, số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh đua đòi, tham gia vào các tệ nạn xã hội, chạy theo các giá trị vật chất, bạo lực học đường, lối sống ích kỷ, ham hưởng thụ ngày càng phổ biến, quan hệ thầy - trò bị đảo lộn, tỉ lệ thanh niên nhiễm HIV/AIDS còn cao… Tình trạng xuống cấp về đạo đức trong một bộ phận học sinh, gây ra lo
Trang 9lắng, bức xúc trong xã hội Đây là điều trăn trở thường xuyên của ngành giáo dục
Đối với học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng chung đó Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên có lối sống đua đòi, thực dụng, tha hóa về phẩm chất, hành vi đạo đức Mặc dù nhiều thầy cô tâm huyết rất quan tâm đến thế hệ học trò trong trường nhưng kết quả thu được còn nhiều hạn chế
Là giáo viên giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân, tôi nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của môn học này đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Môn học giúp cho việc uốn nắn những tư tưởng lệch lạc, điều chỉnh hành vi của học sinh theo đúng hướng tích cực Những tri thức rút ra từ môn học là hành trang vô cùng cần thiết để học sinh có thể trở thành những công dân tốt trong tương lai
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, chất lượng dạy và học môn học này trong thời gian qua tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam còn có nhiều bất cập, chưa phát huy hết vai trò của nó
Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề: Giáo dục
đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam trong dạy học phần
“Công dân với đạo đức” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục.
2 Lịch sử nghiên cứu
Đạo đức và các phương pháp giáo dục đạo đức là những vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước, đã có rất nhiều công trình, sách báo, bài viết nghiên cứu đề cập đến vấn đề này
Trên thế giới:
Khổng Tử (551- 479 TCN), nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại của Trung Quốc cổ đại đã có nhiều nghiên cứu về con người, về đạo đức “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đao” Theo ông, “con người nếu không được giáo dục thì cũng không biết được đạo lí làm người”
Ở phương Tây, nhà sư phạm lỗi lạc Cômenxky (1592-1670) chính là
Trang 10tấm gương về đạo đức, ông có những đóng góp về phương pháp giáo dục đạo đức cho người thầy giáo Ông đã khẳng định: “Nếu anh không như một người cha thì cũng không thể là một người thầy”.
A.X Makarenco (1888-1939), nhà giáo dục vĩ đại người Nga, trong tác phẩm “Bài ca sư phạm” và các tác phẩm khác, ông đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức, của biện pháp giáo dục đúng đắn Ông nhấn mạnh
sự cần thiết của một nền giáo dục sớm đề cao uy quyền và dựa vào sự nêu gương Nguyên tắc giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể của ông, được nhiều nhà sư phạm trên thế giới trong nhiều thập kỷ qua chú ý, và đã áp dụng thành công trong công tác giáo dục của mình
Trong nước:
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đạo đức và giáo dục đạo đức Bác đánh giá cao vai trò của giáo dục trong việc hình thành nhân cách của con người:
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Tác giả Hà Thế Ngữ, chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở
đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức
Tác giả Phạm Minh Hạc, xuất phát từ đặc trưng tâm lí học để khảo sát hành vi và hoạt động; nghiên cứu đạo đức, thực hiện giáo dục đạo đứctrong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất để đạt được chất lượng giáo dục
Tác giả Nguyễn Nghĩa Dân, nghiên cứu và đánh giá cao PPDH môn Đạo đức và Giáo dục công dân bằng hành động, kết hợp giữa học với hành, cũng như coi trọng việc tự học, trong cuốn: “Đổi mới phương pháp dạy học
Trang 11môn Đạo đức và Giáo dục công dân”
Tác giả Phạm Khắc Chương - Nguyễn Thị Yến Phương, tập trung tới việc giáo dục đạo đức mới cho học sinh phổ thông trong cuốn “Đạo đức học” Theo các tác giả: “Đạo đức là một hình thái ý thức thường xuyên biến đổi, thường xuyên có những yếu tố mới nảy sinh và phát triển cùng với các điều kiện kinh tế, vật chất của xã hội Theo quan điểm đó, đạo đức trong gia đình, đạo đức trong học tập, trong tình bạn, tình yêu… cũng có những nội dung mới”
Tác giả Trần Đăng Sinh - Nguyễn Thị Thọ, đề cập đến ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức cho công dân trong giai đoạn mới hiện nay, cũng như các hình thức giáo dục đạo đức cơ bản khác Theo các tác giả: “Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc đang trở thành một nguồn sức mạnh tinh thần của sự nghiệp đổi mới đất nước, có không
ít vấn đề đang đặt ra đòi hỏi phải giải quyết Đó là cuộc đấu tranh giữa hai lối sống: lối sống có lí tưởng, lành mạnh, trung thực, sống bằng lao động của chính mình, có ý thức bảo vệ thành quả lao động, chăm lo lợi ích của cộng đồng và lối sống thực dụng, ích kỉ, dối trá, ăn bám, chạy theo đồng tiền bất chính…”
Tác giả Bùi Văn Tân trong luận văn thạc sỹ: “Một số biện pháp tổ chức giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh”, cho rằng: “Thông qua việc dạy các môn học mà làm cho người được giáo dục tự giác chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, giúp họ định hướng đúng những hiện tượng xã hội để lựa chọn cách thích ứng đúng đắn trong các tình huống đạo đức”
Tác giả Võ Thị Thu Hiền, trong luận văn thạc sỹ: “Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thành phố Thanh Hóa trong môn Giáo dục công dân”, cho rằng: “Giáo dục đạo đức cho học sinh là làm cho nhân cách thế hệ trẻ phát triển đúng đắn về mặt đạo đức, có kỹ năng và bản lĩnh ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ cá nhân và xã hội”
Có thể nói, những tác giả trên chủ yếu đề cập đến việc giáo dục đạo ở
Trang 12mức khái quát, phác họa dưới góc độ tiếp cận là khoa học giáo dục, khoa học đạo đức hoặc gợi ý cho việc giáo dục, rèn luyện các phẩm chất đạo đức, hoặc các biện pháp giáo dục đạo đức Việc giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua dạy học, đặc biệt thông qua dạy học môn GDCD thì chưa được đề cập
nhiều Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: Giáo dục đạo đức cho học sinh
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam thông qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” để nghiên cứu và thực nghiệm tại trường.
Đây là đề tài khoa học mới mẻ gắn liền với các điều kiện về kinh tế - xã hội, văn hóa có tính đặc thù, cần có những công trình nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống, nhằm làm cho vấn đề được nghiên cứu ngày càng sâu sắc hơn
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn cung cấp cơ sở lí luận cho việc đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Luận văn đề xuất quy trình và điều kiện tổ chức dạy học theo hướng đổi mới phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình dạy và học, những hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam, phần “Công dân với đạo đức” trong giai đoạn hiện nay
5 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
- Những luận điểm cơ bản
Trang 13Nghiên cứu cơ bản lý luận về đạo đức và giáo dục đạo đức
Làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức ở Trường Cao đẳng Múa Việt Nam, từ đó khẳng định sự cần thiết của việc đổi mới PPDH nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh
Đổi mới PPDH phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 theo hướng tích cực hóa là giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua tiến trình thực nghiệm và đối chứng
Đề xuất quy trình và điều kiện thực nghiệm đổi mới PPDH phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10
- Những đóng góp mới của tác giả
Về mặt khoa học, luận văn góp phần cung cấp cơ sở lí luận cho việc đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD nói riêng, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục cũng như hiệu quả giáo dục đạo đức
Về mặt thực tiễn, luận văn xây dựng quy trình và phương pháp vận dụng PPDH theo hướng đổi mới vào dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Luận văn có thể hỗ trợ cho các giáo viên và học sinh học tập phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 làm tài liệu tham khảo về phương pháp nghiên cứu và học tập Từ đó luận văn góp phần vào đổi mới PPDH hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã thực hiện theo các phương pháp cơ bản:
Các phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích - tổng hợp, trừu tượng hóa - khái quát hóa, so sánh, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát, phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp điều
Trang 14tra bằng phiếu thăm dò, phương pháp thống kê toán học.
Trang 157 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”
Chương 2: Quy trình và điều kiện thực nghiệm giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”
Chương 3: Thực nghiệm giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM
TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
1.1 Cơ sở lí luận của việc giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về đạo đức và giáo dục đạo đức
1.1.1.1.Đạo đức
- Khái niệm đạo đức
Trong đời sống xã hội, đòi hỏi tất yếu mỗi người phải ý thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai Những hoạt động đó bao giờ cũng có sự chi phối của những quan hệ giữa các cá nhân và xã hội Những mối quan hệ đó quy định giới hạn nhất định nhằm đảm bảo lợi ích của cộng đồng, của xã hội Nó là các quy tắc chuẩn mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi cá nhân trong tất cả các quan hệ xã hội Nói cách khác, đó chính là đạo đức của con người trong xã hội
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức đã xuất hiện rất sớm trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp cổ đại
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris): lề thói, đạo nghĩa
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo đức của họ Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm này được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong
xã hội Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức tính là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc, luân lí Như vậy, có thể nói đạo đức theo quan niệm của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo
Trang 17Ở phương Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tư tưởng Xôcrát (469 - 399 TCN) được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức học Còn Arixtốt (384 – 322 TCN) đã viết bộ sách đạo đức học với 10 cuốn, trong đó đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh con người Nội dung phẩm hạnh chính là ở chỗ biết định hướng đúng, biết làm việc thiện
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức là cái có thật trong ý thức xã hội, trong đời sống tinh thần của con người Nghĩa là, về lí luận nó là bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội Đạo đức tồn tại trong ý thức, hoạt động giao lưu, trong toàn bộ hoạt động sống của con người Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Sự nảy sinh, phát triển và hoàn thiện của đạo đức có nguồn gốc từ phương thức sản xuất xã hội Mỗi phương thức sản xuất xã hội làm nảy sinh ra một dạng đạo đức tương ứng, Ph.Ăngghen viết: “Chúng ta khẳng định rằng xét cho đến cùng mọi thuyết đạo đức đã có trước tới nay là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” Có thể có những yếu tố đạo đức phát triển sớm hơn hoặc tồn tại lâu bền hơn khi phương thức sản xuất, điều kiện sản xuất vật chất
đã thay đổi Trong xã hội có giai cấp, bên cạnh những chuẩn mực giá trị đạo đức chung còn có chuẩn mực đạo đức phản ánh lợi ích, vai trò, ý chí của mỗi giai cấp Từ đó, quan điểm mácxít khẳng định: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội về mặt đạo đức Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang bản chất giai cấp đồng thời mang tính nhân loại
Bàn về đạo đức, không thể không nói đến quan niệm đạo đức của Hồ Chí Minh Người quan niệm đạo đức là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức tập thể, đạo đức vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người
Đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp, là nội dung được rất nhiều ngành khoa học nghiên cứu Để hiểu rõ được khái niệm này, có thể tiếp cận
nó trên nhiều góc độ khác nhau
Trang 18Tác giả Phạm Viết Vượng: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lí, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với công đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện, ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự” [39, tr.145]
Còn tác giả Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã
hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội” [7, tr.12]
Theo Từ điển tiếng Việt, đạo đức là: “Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đựơc dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội” [33, tr.402]
Sách GDCD lớp 10 nêu ra: “Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xă hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội” [5, tr.63]
Tuy có nhiều cách hiểu, quan niệm, định nghĩa khác nhau về đạo đức,
nhưng có thể khái quát chung về đạo đức như sau: “Đạo đức là hệ thống các
nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan
hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể hay toàn xã hội”.
Như vậy, về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và
tự giác thực hiện Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực được hình thành trên cơ sở kinh tế Vì vậy, mỗi hình thái kinh tế xã hội hay mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng
- Chức năng của đạo đức
Đạo đức có các chức năng cơ bản sau:
+ Chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức
Trang 19xã hội về mặt đạo đức, các quan điểm đạo đức, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, là kết quả phản ánh tồn tại xã hội, được con người đánh giá, thừa nhận
và khái quát thành những khuôn mẫu đạo đức, các giá trị đạo đức
+ Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức đạo đức, chức năng giáo dục
giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống định hướng giá trị và các chuẩn mực đạo đức, điều chỉnh ý thức, hành vi đạo đức
+ Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Cùng với chức năng giáo
dục, chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức có tác dụng làm cho hành vi hoạt động của con người phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng Chức năng
này được thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu: trước hết, bản thân chủ thể đạo
đức phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực đạo
đức xã hội; thứ hai, tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích, đánh
giá hay phê bình những biểu hiện cụ thể của hành vi đạo đức trên cơ sở những chuẩn mực giá trị đạo đức Đây là chức năng xã hội hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
1.1.1.2 Giáo dục và giáo dục đạo đức
- Giáo dục
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người…” [40, tr.9]
Giáo dục là giáo dục nhà trường, là sự tác động có tổ chức, có kế hoạch nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng, hình thành thái độ, hành vi của HS, xây dựng và phát triển hoàn thiện nhân cách theo mục tiêu giáo dục xã hội đề ra
Giáo dục còn được xem là một trong các mặt giáo dục của nhà trường Theo cách hiểu này, hoạt động giáo dục tác động đến hệ thống các phẩm chất nhất định như: đạo đức, thế giới quan, niềm tin, quan điểm thẩm mỹ của đối tượng giáo dục
Dưới góc độ hoạt động, giáo dục là một hoạt động chuyên biệt của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách của con người theo những yêu cầu của
Trang 20xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhân cách Do đó, hoạt động giáo dục không đơn thuần chỉ là truyền thụ kiến thức, mà là quá trình gồm nhiều bộ phận: GDĐĐ; giáo dục trí tuệ; giáo dục thể chất; giáo dục thẩm mỹ… trong đó, GDĐĐ được xem là nền tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các mặt giáo dục khác
Như vậy, theo chúng tôi về bản chất, có thể khái quát như sau: Giáo
dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho HS, nhằm giúp các em có nhận thức đúng đắn, hình thành những thói quen, những hành vi đạo đức trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực của xã hội Giáo dục là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp nhận của người được giáo dục Giáo dục là sự tác động và chuyển hóa từ những yêu cầu bên ngoài - yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất bên trong bền vững của
cá nhân Giáo dục được thực hiện trong nhà trường và cả ngoài xã hội với những hình thức đa dạng và những phương pháp phong phú.
Dù hiểu theo cách nào, thì giáo dục ngày nay được coi là yếu tố giải phóng tiềm năng con người, được coi như là lực lượng sản xuất trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo lớp người đủ khả năng giải quyết những mâu thuẫn của thời đại Giáo dục trở thành đòn bẩy phát triển kinh tế -
xã hội của xã hội ngày nay
- Giáo dục đạo đức
Có một số khái niệm GDĐĐ như sau:
Tác giả Phạm Khắc Chương: “Giáo dục đạo đức là hoạt động của nhà giáo dục dựa theo yêu cầu của xã hội, tác động có hệ thống lên người được giáo dục một cách có mục đích và có kế hoạch để bồi dưỡng những phẩm chất
tư tưởng mà nhà giáo dục kỳ vọng, chuyển hóa những quan điểm, yêu cầu và
ý thức xã hội có liên quan thành phẩm chất đạo đức, tư tưởng của mỗi cá nhân” [7, tr.48]
Tác giả Nguyễn Sinh Huy – Nguyễn Văn Lê: “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành
vi đạo đức” [19, tr.16]
Trang 21Tác giả Trần Đăng Sinh – Nguyễn Thị Thọ: “Giáo dục đạo đức là quá trình chuyển văn hóa đạo đức xã hội thành văn hóa đạo đức cá nhân” [32, tr.165]
Qua các quan niệm trên có thể nhận thấy:
Thứ nhất, về bản chất: GDĐĐ là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực
đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục
GDĐĐ có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị - tư tưởng vì giáo dục chính trị - tư tưởng có tác động xây dựng cơ sở thế giới quan Mác – Lênin và định hướng chính trị - xã hội theo quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức
GDĐĐ còn gắn bó chặt chẽ với giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật
có nhiệm vụ giới thiệu cho người học các chuẩn mực về pháp luật của nhà nước, các quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam Do đó, giáo dục pháp luật có tác dụng củng cố phương thức, luận cứ, các chuẩn mực đạo đức và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức
Hiệu quả của GDĐĐ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội gắn với tiến bộ đạo đức và nhân đạo hóa các quan hệ xã hội, cách tổ chức giáo dục và đặc biệt là mức độ tự giác của đối tượng của GDĐĐ Trong đó, GDĐĐ trong nhà trường vẫn được xem là một trong những hướng
đi quan trọng để chống sự xuống cấp đạo đức của HS
Như vậy, không có sự tồn tại những phẩm chất đạo đức bẩm sinh (lười biếng, thiện, ác…) quá trình hình thành những phẩm chất đạo đức của HS là một quá trình phức tạp, là kết quả tác động của rất nhiều yếu tố, khách quan, chủ quan, của cả gia đình, nhà trường và xã hội, thông qua nhiều môn học như: GDCD, Văn học, Lịch sử, Địa lí, Hóa học… các yêu tố đó quan hệ chằng chịt với nhau, tác động biện chứng lẫn nhau và thúc đẩy quá trình hình thành các chuẩn mực đạo đức Tất cả người lớn đều có thể “dạy”, “giáo dục” cho các em về đạo đức, lối sống, cách ứng xử, không chỉ bằng những bài học
có tính sách vở hàn lâm, mà quan trọng hơn là qua những hành vi, lời nói,
Trang 22cách ứng xử trong muôn mặt đời thường Tuy nhiên, chúng tôi có thể khẳng định rằng phương pháp giáo dục đúng đắn trong nhà trường, (đặc biệt thông qua dạy học môn GDCD), bằng sự tác động tích cực có thể bảo đảm hình thành những phẩm chất đạo đức nhất định cho con người, phù hợp với mục đích và nhiệm vụ giáo dục của xã hội hiện tại
Qua đây cho thấy, GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có
phương pháp, có hệ thống của nhà giáo dục lên người được giáo dục, nhằm chuẩn hóa những chuẩn mực đạo đức của xã hội thành những đòi hỏi bên trong của người được giáo dục, tạo cho họ ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức
và quan trọng hơn là tạo lập thói quen, hành vi đạo đức cho họ
Thứ hai, về mục tiêu của GDĐĐ: Hình thành và phát triển ý thức đạo đức
và năng lực thực hiện hành vi đạo đức của con người Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất của GDĐĐ là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức Muốn vậy, trước hết cần cho người học nắm được tri thức đạo đức, chính tri thức đạo đức “chỉ đạo” hành vi đạo đức Trong đạo đức học, Xô-crát cho rằng, nguyên nhân của mọi hành vi vô đạo đức là do thiếu hiểu biết về tri thức đạo đức
Tuy vậy, trong thực tế không phải lúc nào người hiểu biết về tri thức đạo đức cũng có hành vi đạo đức tốt Có những người hiểu việc làm này là không đúng nhưng họ vẫn thực hiện Nguyên nhân có thể do tình cảm đạo đức chưa đủ mạnh hoặc do chưa có thói quen đạo đức
GDĐĐ cuối cùng phải đạt tới sự tự giáo dục, tự kiểm tra, tự đánh giá đạo đức của chủ thể “Đối với HS, nhất là HS THPT, phải làm cho nền đạo đức mới XHCN biến thành lương tâm của cá nhân, trở thành vị “quan tòa” bên trong đánh giá, phán xét hành vi đạo đức của mình, trở thành “máy điều chỉnh” hành vi đạo đức của mình” [20, tr.173]
Thứ ba, nội dung của GDĐĐ bao gồm: Giáo dục tri thức đạo đức; giáo
dục tình cảm đạo đức; giáo dục hành vi đạo đức; giáo dục lí tưởng đạo đức; giáo dục giá trị đạo đức
Trang 23Với những nội dung trên, chúng tôi thấy cần thiết, nhưng không thể làm được ngay trong một sớm, một chiều mà cần được giáo dục lâu dài trong suốt quá trình phát triển nhân cách của HS Trong phạm vi của học phần “Công dân với đạo đức”, ngoài việc giáo dục cho HS nắm vững các khái niệm, tri thức đạo đức nói chung, theo chúng tôi còn phải chú trọng giáo dục cho các
em những phẩm chất đạo đức cốt lõi nhất như: Giáo dục lòng yêu thương con người; tình cảm và trách nhiệm trong các mối quan hệ với bản thân, với gia đình, với cộng đồng đất nước và nhân loại; giáo dục cho các em có thái độ và hành vi ứng xử có văn hóa; thật thà, giản dị, khiêm tốn, biết tự trọng, biết thực hiện các nghĩa vụ đạo đức liên quan đến bản thân; tập trung rèn luyện các kỹ năng thực hành ứng xử Qua đó, giúp các em có hành vi tích cực trong các mối quan hệ, có thói quen hành động, có đạo đức trong cuộc sống, từ đó, các
em có nền tảng cơ bản khi tham gia vào các hoạt động xã hội, trở thành người công dân có ích
GDĐĐ đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ khái niệm, tri thức đạo đức, quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải được biến thành tình cảm, niềm tin, thói quen và cách ứng xử thực tế hằng ngày của HS, điều đó mới thực sự có giá trị
1.1.2 Sự cần thiết phải giáo dục đạo đức cho học sinh
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví đạo đức như là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối Làm người cách mạng, theo Người, trước hết phải có tâm trong sáng, đức cao đẹp Đạo
đức luôn là gốc, là nền tảng của mỗi một con người Trong cuốn Sửa đổi lối
làm việc, Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”
Vì vậy, giáo dục đạo đức luôn là nội dung cơ bản, cốt lõi trong giáo dục công dân
Trang 24Do đó, giáo dục đạo đức cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng, nằm trong định hướng chung của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở các trường học Giáo dục đạo đức là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể,
có mối quan hệ biện chứng với các quá trình, bộ phận giáo dục khác trong nhà trường, nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho HS
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh, xuất phát từ những yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực cho quá trình đẩy mạnh CNH – HĐH
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ tạo nên những biến đổi hết sức sâu sắc và làm thay đổi tận gốc rễ mọi mặt của đời sống xã hội Với cuộc cách mạng ấy, con người và nguồn lực con người trở thành một vấn đề quan tâm hàng đầu và được đặt ở vị trí trung tâm của các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Sự nghiệp CNH - HĐH đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với sự nghiệp giáo dục, nhằm tạo ra lớp người Việt Nam vừa cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đạt đến trình độ cao về trí tuệ, đủ năng lực đưa nước ta hội nhập với văn minh nhân loại mà bản
sắc dân tộc vẫn được giữ vững Yêu cầu đối với người lao động không chỉ đơn
thuần là kiến thức mà còn là năng lực giải quyết các vấn đề cũng như các phẩm chất đạo đức của người lao động Đây không phải là những phẩm chất sẵn có ở mỗi con người mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục
Thứ hai, xuất phát từ sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội, dẫn tới những thay đổi trong giá trị, chuẩn mực đạo đức
Trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã có tác động cả tích cực và tiêu cực đến đạo đức của cá nhân và xã hội
Về những biến đổi tích cực:
Kinh tế thị trường hoạt động theo quy luật giá trị và mục tiêu lợi nhuận
Trang 25đã hình thành môi trường kinh tế - xã hội để biến đổi tâm lí, ý thức đạo đức con người theo những tiêu chí, định hướng giá trị mới Đó là tính thiết thực, hiệu quả, tính năng động và tháo vát trong hoạt động; chú trọng lợi ích, nhất
là lợi ích kinh tế; ý thức về năng lực, trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ được đề cao; đi liền với ý thức chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm cá nhân được coi trọng Sự thay đổi về định hướng giá trị trong môi trường xã hội mới
đã dẫn đến sự thay đổi trong quan niệm về đạo đức Đạo đức hướng vào hiệu quả công việc, hướng tới phát triển cá nhân và phát triển xã hội
Mặt khác, kinh tế thị trường với sức chi phối của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh đòi hỏi con người phải không ngừng rèn luyện về năng lực, phải có đầu óc nhạy bén với cái mới, có ý thức rõ rệt về đổi mới và sẵn sàng một tâm thế đổi mới Quan niệm mới về năng lực trong kinh tế thị trường đã tác động tới sự biến đổi đạo đức Con người được coi là có đạo đức hiện nay phải là người có năng lực để lao động tự giác, làm việc hết mình vì trách nhiệm với mình và với xã hội, không thụ động, trì trệ, lười biếng, ỷ lại, thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu ý thức về bổn phận và nghĩa vụ đối với xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh những biến đổi tích cực về đạo đức, trong xã hội
nhiều năm nay cũng đã và đang diễn ra những biểu hiện tiêu cực về đạo đức.
Ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân trong quan niệm sống và lối sống đang có chiều hướng gia tăng Phải thừa nhận rằng, việc đề cao lợi ích, trước hết là lợi ích vật chất của cá nhân, là điều hợp lí, tự nhiên trong sự phát triển, nhất là khi sự phát triển đó lại được kích thích bởi môi trường xã hội đổi mới, bởi bầu không khí dân chủ hóa và bởi lực đẩy của kinh tế thị trường Vấn đề là ở chỗ, đã có những lợi ích cá nhân không hài hòa với lợi ích chung của cộng đồng, thậm chí có những mâu thuẫn, xung đột giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội Điều này, dẫn đến xuất hiện những lệch lạc chuẩn mực trong cách nghĩ và cách sống, trong làm việc và ứng xử của con người, nó nảy sinh tâm lí sống thực dụng, đề cao một chiều các giá trị vật chất, các phương tiện vật chất trong tiêu dùng, hưởng thụ, dẫn đến sự dửng dưng, vô cảm với người khác,
Trang 26thậm chí còn bon chen, vùi dập người khác, tự đánh mất lòng vị tha, nhân ái, bao dung đối với con người; cái ác, cái xấu cũng có mầm mống từ đó Nó làm suy yếu nhân tính và biến dạng nhân cách Chủ nghĩa cá nhân ở người lớn thông qua quan niệm sống, lối sống, hành vi và hoạt động của họ đã ảnh hưởng tới lớp trẻ,
có nguy cơ phá hủy, bào mòn tình cảm và niềm tin đạo đức của lớp trẻ Nếu trẻ không tìm được điểm tựa tinh thần ở người lớn để học hỏi, để noi theo cái đúng, cái tốt, cái đẹp, sẽ đẩy các em vào lỗi lầm, hư hỏng, thậm chí trở thành những kẻ phạm tội và còn gây ra nhiều hậu quả khôn lường
Tác động của mặt trái kinh tế thị trường, còn làm cho những quan hệ con người bị thao túng bởi đồng tiền, bởi những tính toán vụ lợi, thực dụng làm tổn hại đến các giá trị đạo đức truyền thống, những tình cảm đạo đức cao đẹp của con người và truyền thống đạo đức của dân tộc bị tổn thương Tính chất thương mại hóa bởi đồng tiền, bởi sự trao đổi, mua bán sòng phẳng, lạnh lùng kiểu thị trường, đã làm vẩn đục bầu không khí đạo đức của xã hội, làm suy yếu, thậm chí làm mất đi những vẻ đẹp đạo đức vốn có của xã hội Hiện nay, trong nhiều nỗi lo đạo đức, chúng ta đang ngày càng cảm thấy nỗi lo về
sự trượt dốc của chữ tâm, chữ đức, lòng nhân ái,bao dung, tình thương, nhân hậu trước sức mạnh của đồng tiền, của tính tham lam ích kỷ, của những động
cơ làm việc xấu, gây tội ác cho xã hội
Thái độ dửng dưng trước những con người, những cảnh đời đau khổ, sự thiếu vắng niềm cảm thông chia sẻ, sự quan tâm giúp đỡ con người… là thái
độ vô cảm, nhẫn tâm do thói ích kỷ cực đoan gây nên Nếu để căn bệnh này lây lan thì sẽ đầu độc tinh thần lớp trẻ, cái xấu, cái ác sẽ lớn dần lên thành những độc tố có sức phá hủy, tự hủy từ bên trong xã hội Vì vậy, muốn chạy chữa được căn bệnh suy thoái đạo đức thì phải rất chú trọng đến giáo dục nhân tính, lấy GDĐĐ và truyền thống đạo đức làm trọng
Thứ ba, xuất phát từ những biểu hiện xuống cấp về đạo đức của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay
Hiện nay, một bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng
Trang 27về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, thiếu ý chí, không có tính tự chủ
và dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu Sự suy thoái về đạo đức biểu hiện cả ở văn hóa ứng xử, lời ăn, tiếng nói, phong cách sống
Trong những năm gần đây, một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc Học vấn của một bộ phận thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số còn thấp; nhiều thanh niên thiếu kiến thức và kỹ năng trong hội nhập quốc tế Tính độc lập, chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp Tỉ lệ thanh niên nhiễm HIV/AIDS còn cao
Sự xuống cấp về đạo đức không chỉ diễn ra ngoài xã hội mà nó còn xuất hiện ở trong trường học, với những hành vi vi phạm đạo đức trong nhà trường như: trốn học, gian lận trong thi cử, vô lễ với thầy cô giáo, đe dọa hành hung thầy
cô giáo, mua điểm, cờ bạc, nghiện ngập, bạo lực trong nhà trường…
Thanh thiếu niên trước đây cũng đánh nhau, cũng có những hành động dại dột của tuổi mới lớn Nhưng mức độ và số lượng gia tăng của những vụ đánh nhau ở học đường hiện nay tăng đến đáng lo ngại Chỉ với những mâu thuẫn rất nhỏ mà các bạn, các em lại có thể dùng đến vũ khí Chuyện nữ sinh đánh nhau ngày càng nhiều và hậu qủa để lại càng nặng nề hơn
Thực trạng xuống cấp về đạo đức của một bộ phận thanh thiếu niên đã đặt ra yêu cầu cấp bách cần nâng cao hơn nữa hiệu quả GDĐĐ cho thế hệ công dân - chủ nhân của đất nước thế kỷ XXI
Thứ tư, sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT còn xuất phát từ những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT
Học sinh THPT là những người trong độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi Đây là giai đoạn có sự biến đổi mạnh mẽ về thể chất, tinh thần, là quá trình chuyển
Trang 28biến, phát triển từ trẻ em sang người trưởng thành Đặc điểm nổi bật của lứa tuổi này là: tâm, sinh lý, thể chất và nhân cách phát triển chưa hoàn chỉnh, do
đó, trong những hành vi, cách ứng xử thường có những biểu hiện hạn chế và lệch lạc; tính hiếu động và phản xạ nhanh, ưa chuộng những điều mới lạ; là lứa tuổi còn chịu ảnh hưởng rất lớn của sự chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục của gia đình; lứa tuổi chưa được pháp luật quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ công dân, trách nhiệm hình sự
Với những đặc điểm về nhận thức, sự phát triển nhân cách khiến có
nhiều những trở ngại và vấn đề gặp phải đối với lứa tuổi này, ảnh hưởng đến đạo đức và hành vi đạo đức của các em
Một là, các em luôn có khuynh hướng muốn tự khẳng định mình,
không muốn bị áp đặt suy nghĩ, hành động, do đó có thể dẫn tới suy nghĩ, hành động sai lệch, cực đoan, tự do quá trớn – vô kỷ luật, vị kỷ, buông thả nếu không có sự quan tâm, định hướng đúng đắn
Hai là, tuổi các em có những dấu hiệu đặc biệt về tâm sinh lý Đây là
thời kỳ có những thay đổi rất lớn về cơ thể cũng như sự khác biệt về giới Những khả năng phát triển mới này tạo ra những hành vi mới: xuất hiện tình cảm khác giới mà đỉnh cao của nó là sự nảy nở tình yêu và có những cảm giác mới lạ, hấp dẫn, tò mò về quan hệ nam - nữ (quan hệ tình dục với những cấp
độ khác nhau)
Ba là, lứa tuổi này rất nhạy cảm với mọi vấn đề của cuộc sống và chịu
sự tác động, ảnh hưởng rất lớn từ môi trường sống (gia đình, nhà trường, bạn
bè, xã hội ) Những nơi có môi trường sống phức tạp, sự du nhập hoặc ảnh hưởng của lối sống thiếu lành mạnh, văn hóa độc hại, tệ nạn xã hội…sẽ tác động xấu đến suy nghĩ, thái độ và hành vi của thiếu niên Các em dễ tiếp thu, làm theo cả cái tích cực và cái tiêu cực từ người khác, từ môi trường
Bốn là, việc giao lưu giữa các quốc gia trến thế giới, giữa các dân tộc
trong thời kỳ bùng nổ thông tin đã mở ra nhiều cơ hội lớn cho sự phát triển của các em, nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít những khó khăn, trở ngại và thách thức về sự định hướng, phát triển đúng đắn, lành mạnh cả ở thể lực và tâm hồn
Trang 29Chính vì vậy, đây là giai đoạn rất cần đến sự giáo dục, định hướng đúng đắn để hình thành ở các em đạo đức của người công dân chân chính.
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”
1.2.1 Thực trạng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”
1.2.1.1 Vài nét về Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam được thành lập từ năm 1959 với tên gọi ban đầu là Trường Trung cấp Múa Việt Nam, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển nghệ thuật múa ở nước ta
Trong những năm gần đây, nhà trường không ngừng kiện toàn bộ máy
tổ chức, nội dung đào tạo Chương trình đào tạo được xây dựng với các bậc: Cao đẳng (03 khung chương trình đào tạo các ngành Diễn viên múa, Huấn luyện múa, Biên đạo múa), Trung cấp chuyên nghiệp (02 khung chương trình đào tạo diễn viên múa chuyên ngành biểu diễn kịch múa hệ 6 năm và chuyên ngành diễn viên múa dân tộc hệ 4 năm), ngoài ra, trường được Bộ Giáo dục – Đào tạo và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch triển khai xây dựng chương trình khung bậc Cao đẳng huấn luyện – biên đạo – diễn viên Công tác biên soạn giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo được nhà trường chú trọng đầu tư
Ngoài các phòng chức năng như: Phòng Tổ chức – Cán bộ, Phòng Hành chính – Quản trị, Phòng Nghiên cứu Khoa học, Phòng Tài Vụ, Phòng Đào tạo, Trường Cao Đẳng Múa Việt Nam có 5 Khoa: Khoa Múa nước ngoài, Khoa Múa Dân tộc, Khoa Âm nhạc, Khoa Huấn luyện và Biên đạo, Khoa Văn hóa và Kiến thức cơ bản Trong đó, Khoa Văn hóa và Kiến thức cơ bản có chức năng tổ chức, giảng dạy các bộ môn văn hóa và kiến thức cơ bản cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam theo chương trình đào tạo: THCS, THPT và Cao đẳng
Tính đến 21/4/2014, tổng số giảng viên của Khoa Văn hóa và Kiến thức cơ bản là 16 người (9 GV cơ hữu, 3 GV hợp đồng dài hạn, 4 GV cộng
Trang 30tác viên) Trong đó, 10 GV Thạc sĩ, 3 GV đang học Thạc sĩ, 3 GV Cử nhân Đội ngũ giảng viên của Khoa có trình độ chuyên môn vững vàng, giàu kinh nghiệm và tâm huyết với nghề nghiệp.
Cùng các hoạt động không ngừng nâng cao về chất lượng dạy và học, nhà trường đang từng bước vững chắc nâng cấp lên thành Đại học Múa Việt Nam và phấn đấu thành Học viện Nghệ thuật Múa quốc gia trong tương lai không xa
1.2.1.2 Đặc điểm học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10
Môn GDCD bao gồm nhiều mảng kiến thức, nhằm trang bị cho HS những hiểu biết cơ bản về thế giới quan, nhân sinh quan, các quy luật và phương hướng phát triển kinh tế, hệ thống các giá trị và tri thức về đạo đức, các hiểu biết về chính trị - xã hội, pháp luật Đó là môn học góp phần trực tiếp tới việc hình thành nhân cách công dân, ý thức chấp hành pháp luật cũng như trách nhiệm đối với bản thân, với gia đình và xã hội cho mỗi công dân Trong các nhiệm vụ, có nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng cho HS những chuẩn mực đạo đức của người công dân; phản ánh những quan hệ đạo đức đối với lao động, công việc đối với bản thân, đối với xã hội, đối với nhà nước; những chuẩn mực và phương pháp
mà công dân phải tuân thủ, bao gồm các chuẩn mực về quyền lợi và nghĩa vụ công dân và cả những chuẩn mực về nguyên tắc ứng xử của mỗi công dân
Trong nhà trường, môn GDCD được xếp cùng loại với các môn khoa học khác có nhiệm vụ trang bị cho HS một hệ thống tri thức khoa học theo quy định của chương trình môn học Về mặt nhận thức, ở môn học này vấn đề lòng tin vào chân lí của bài học là một vấn đề lớn, một yêu cầu giáo dục thể hiện đậm nét cuộc đấu tranh của các xu hướng khác nhau trong xã hội Về mặt hành động, từ tri thức hiểu biết của môn học để đến được ý thức, tình cảm, thói quen chưa hẳn đã là một quá trình có tính tất yếu, nghĩa là tri thức
đã được học không phải bao giờ cũng biến thành hành động cụ thể
Học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD là một trong hai học phần thuộc chương trình môn GDCD lớp 10 Phần này gồm 7 bài, thực hiện trong 12 tiết và được dạy trong học kỳ II Đặc điểm tri thức học phần
Trang 31này bao gồm:
- Quan niệm về đạo đức và một số phạm trù cơ bản của đạo đức học
- Hệ thống các giá trị đạo đức trong mối quan hệ với bản thân, quan hệ với người khác và quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại
- Các nghĩa vụ, trách nhiệm và cách thức rèn luyện để đạt được các phẩm chất, năng lực chủ yếu của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1.2.1.3 Thực trạng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam thông qua dạy học phần “Công dân với đạo đức”
Để nắm rõ được việc dạy và học môn Giáo dục công dân, cũng như việc giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam, tác giả
đã tiến hành khảo sát tình hình dạy – học bộ môn này tại trường
- Kết quả phân tích dữ liệu về phía giáo viên
Giáo viên dạy bộ môn Giáo dục công dân ở trường có 2 giáo viên, cả 2 giáo viên đều tốt nghiệp Đại học Sư phạm chính quy, chuyên ngành Giáo dục Chính trị
+ Tìm hiểu phương pháp dạy học mà 2 GV bộ môn đã sử dụng
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê kết quả trong bảng 1.1 (Câu hỏi 1 – Phụ lục 1)
Bảng 1.1 Kết quả tìm hiểu việc sử dụng các PPDH của GV
STT PP sử dụng Sử dụng TX Ít sử dụng Không sử dụng
Số người TL
(%) Số người
TL (%) Số người
TL (%)
Trang 32pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp động não, phương pháp dự án, phương pháp đóng vai … các GV rất ít hoặc sử dụng vẫn còn khá dè dặt Ngược lại, nhóm PPDH truyền thống như: PP thuyết trình; phương pháp đàm thoại thì GV sử dụng thường xuyên
+ Tìm hiểu nhận thức của GV về sự cần thiết của việc tăng cường
GDĐĐ cho HS thông qua đổi mới PPDH phần “Công dân với đạo đức”
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê kết quả trong bảng 1.2 (Câu hỏi 2 – Phụ lục 1)
Bảng 1.2 Sự cần thiết của việc tăng cường GDĐĐ cho HS thông qua
đổi mới PPDH phần “Công dân với đạo đức”
- Tìm hiểu nhận biết của GV về mức độ học tập tích cực của HS khi GV
có đổi mới PPDH phần công dân với đạo đức nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê kết quả trong bảng 1.3 (Câu hỏi 3 -
Trang 331 Đa số học sinh học tập tích cực hơn các giờ học khác 2 100
2 Học sinh học bình thường như các giờ học khác 0 0
4 Chỉ có một số học sinh thật sự tích cực 0 0
Nhìn vào bảng kết quả thu được chúng tôi thấy, có 100% GV cảm nhận được HS học tập tích cực hơn hẳn so với các giờ học bình thường theo PPDH truyền thống khác Trong thực tế dạy học hiện nay, với những yêu cầu mới đặt ra, nhiều GV đã cố gắng tạo điều kiện để HS tích cực học tập, được nói nhiều hơn Tuy vậy, qua dự giờ, kiểm tra và đi sâu tìm hiểu HS, chúng tôi thấy, nếu đánh giá một cách nghiêm túc thì phần lớn mới chỉ là những biểu hiện tích cực mang tính hình thức bên ngoài HS đã tích cực thực hiện nhiệm
vụ theo sự điều khiển của GV, nhưng chưa chủ động và thiếu sự sáng tạo, còn mang tính dập khuôn, máy móc Như vậy, mặc dù đã thực hiện đổi mới PPDH nhưng thực tế cho kết quả lại chưa cao Theo chúng tôi, nguyên nhân ở đây là còn thiếu quy trình vận dụng một cách hợp lí, khoa học
- Tìm hiểu những khó khăn mà GV gặp phải trong đổi mới PPDH phần
“Công dân với đạo đức”
Qua khảo sát, chúng tôi tiến hành điều tra và thống kê kết quả trong bảng 1.4 (Câu hỏi 4 – Phụ lục 1)
Trang 34Bảng 1.4 Những khó khăn ảnh hưởng đến việc đổi mới PPDH nhằm
nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS
1 Thói quen sử dụng các PPDH truyền thống 100 0 0
2 Nhận thức về ưu, nhược điểm của từng PPDH nhất
3
Chưa có các kỹ năng xây dựng và sử dụng các câu
hỏi, bài tập để phát huy được tính tích cực, chủ
động sáng tạo của HS
4 Kiến thức cần truyền đạt nặng so với thời gian 100 0 0
5 Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học chưa đáp ứng
6 Đánh giá giờ dạy chưa khuyến khích GV đổi mới
7 Chính sách, cơ chế quản lí GD chưa khuyến khích GV 100 0 0
8 Tâm lí học đối phó với thi cử của HS 100 0 0Kết quả bảng 1.4 cho thấy, có hai nhóm khó khăn chủ yếu, đó là khó khăn mang tính chủ quan và khó khăn mang tính khách quan
- Những khó khăn chủ quan:
Thói quen sử dụng các PPDH truyền thống; nhận thức về những
ưu - nhược điểm của từng PPDH nhất là đổi mới PPDH còn hạn chế; chưa có các kỹ năng xây dựng và sử dụng các câu hỏi, bài tập để phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS
- Những khó khăn khách quan:
Mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức với thời gian dạy học; cơ sở vật chất, phương tiện dạy học chưa đáp ứng được nhu cầu học tập; đánh giá giờ dạy chưa khuyến khích GV đổi mới PPDH; chính sách, cơ chế quản lí GD chưa khuyến khích GV; tâm lí học đối phó với thi cử của HS
Qua đây, chúng tôi cho rằng việc sử dụng PPDH môn GDCD ở Trường Cao đẳng Múa Việt Nam còn nhiều bất cập, dẫn đến HS chưa có được những
Trang 35phẩm chất đạo đức và kỹ năng sống cần thiết Do đó, nhất thiết phải có bước đột phá trong đổi mới PPDH để mang lại một bước tiến mới trong phong trào thi đua dạy tốt - học tốt của nhà trường
- Kết quả phân tích dữ liệu về phía HS
Để tìm hiểu thực trạng về việc sử dụng PPDH phần “Công dân với đạo đức” Trường Cao đẳng Múa Việt Nam cũng như nhận thức về việc GDĐĐ cho
HS Chúng tôi đã tiến hành điều tra 72 học sinh: K37A, K37B, K38A và K38B
- Tìm hiểu việc sử dụng PPDH của GV qua ý kiến của HS
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê kết quả thu được ở bảng 1.5 (Câu hỏi
TL (%)
Trang 36GV rất ít hoặc sử dụng vẫn còn khá dè dặt Ngược lại, nhóm PPDH truyền thống như: phương pháp thuyết trình; phương pháp đàm thoại thì GV sử dụng thường xuyên, duy trì cách dạy đó từ tiết này sang tiết khác
- Tìm hiểu về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH vào dạy học phần
“Công dân với đạo đức” nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS.
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê kết quả thu được ở bảng 1.6 (Câu hỏi
4 – Phụ lục 2)
Bảng 1.6 Nhận thức của HS về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH
nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS
là không cần thiết
Tìm hiểu thêm, các em cho rằng so với các giờ học GV dạy với PPDH truyền thống thì việc GV đổi mới PPDH vào dạy học phần “Công dân với đạo đức” các em sẽ thích thú hơn, tích cực hoạt động hơn, và thiết thực hơn, các
em được nói, được trao đổi, được “thực hành thử”, được giải bày những băn
khoăn, trăn trở của mình với bạn bè và thầy cô giáo, cũng như cảm thấy tự tin hơn khi đứng trước những tình huống thực tế
- Đánh giá chung về thực trạng:
GDĐĐ thông qua dạy học phần “Công dân với đạo đức” theo phương pháp truyền thống dường như có một sự mặc định, một cách thực hiện theo
Trang 37khuôn mẫu Quan niệm dạy là quá trình truyền đạt, chuyển tải nội dung đã được quy định trong chương trình SGK Dạy học còn mang tính thông báo đồng loạt, yêu cầu cả lớp cùng thực hiện như nhau, việc đánh giá lại theo nội dung dạy học, theo cách dạy, khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức là chính Trong đó, GV cứ dạy, HS ghi chép, trả bài theo đúng những gì SGK viết, nhưng các em không có sự vận dụng thực tiễn, không biến được những kiến thức đã học thành kỹ năng, thái độ của mình
Qua đây, chúng tôi cho rằng mấu chốt của thực trạng là ở PPDH của
GV, thể hiện ở một vài khía cạnh sau:
Thứ nhất, khi lựa chọn PPDH, GV chưa chú ý đến việc tìm hiểu thật kỹ
nội dung để từ đó lựa chọn PPDH cho phù hợp Việc lựa chọn PPDH tùy tiện không dựa trên cơ sở khoa học, chưa thấm nhuần tư tưởng “ phương pháp là hình thức vận động của nội dung”, việc sử dụng các PPDH không theo một quy trình chặt chẽ, trên cơ sở khoa học Với nội dung có thể vận dụng các PPDH tích cực, tăng cường GDĐĐ tốt, nhưng phần lớn GV vẫn chỉ sử dụng PPDH truyền thống là chủ yếu Hơn nữa, khi có sử dụng thì lại đơn điệu, mang tính hình thức, vì thế chưa phát huy được hiệu quả
Thứ hai, thông qua việc kiểm tra giáo án của GV, chúng tôi thấy GV
chuẩn bị bài lên lớp còn sơ sài, chưa đầu tư thời gian, công sức và tâm huyết vào bài dạy, chưa có nhiều tình huống thực hành, luyện tập cho HS rèn luyện
kỹ năng, việc áp dụng đổi mới PPDH còn chưa được thường xuyên, chưa đúng quy trình, chưa khoa học
Thứ ba, thông qua dự giờ một số GV chúng tôi thấy: về cấu trúc của
giờ học, đa số GV đều làm theo một khuôn mẫu, trình tự các hoạt động nhất định như: ổn định tổ chức (kiểm tra sĩ số); kiểm tra bài cũ; tiến hành dạy bài mới theo trình tự nội dung từng mục của SGK; cuối cùng là củng cố bài và dặn
dò HS Với PPDH như vậy, làm cho HS trước khi vào giờ học đã biết thầy làm những gì để rồi tìm cách “ứng phó” Đó là điều khô cứng, máy móc làm cho HS thiếu hứng thú học tập, vì các em không thấy điều gì mới lạ, mà điều mới lạ mới
Trang 38kích thích nhận thức, mới thu hút sự chú ý của các em Với một vài PPDH đơn điệu mà sử dụng nhiều, duy trì lâu thì khó có thể mạng lại hiệu quả
Những hạn chế trên đã làm ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức và rèn luyện của HS, do đó, làm giảm chất lượng học tập bộ môn Vì vậy, cần thiết phải có những thay đổi về PPDH phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp
10 theo hướng tích cực hóa, nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS
1.2.2 Sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học phần “Công dân với đạo đức” theo hướng tích cực hóa, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Trước thực trạng “xuống cấp” về đạo đức của một bộ phận thanh, thiếu niên hiện nay, ngoài việc tìm ra nguyên nhân của thực trạng, thì điều quan trọng hơn cả là phải tìm ra được cách chữa trị cho những vấn đề mà xã hội đang phải đối mặt Việc nhà trường tăng cường những biện pháp giáo dục tích cực như dạy học lồng ghép giữa các môn học với dạy đạo đức, dạy pháp luật, giáo dục giới tính cho HS… là một giải pháp quan trọng Trong đó, cần đặc biệt quan tâm tới môn GDCD bởi xuất phát từ nhiệm vụ của môn học này Đặc biệt, việc dạy học môn GDCD không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức mà quan trọng hơn là phát triển năng lực thực hành cho HS, để HS biến những tri thức được học thành hành động cụ thể, phù hợp yêu cầu của xã hội Qua các bài học GDCD, giúp các em hiểu được những chuẩn mực đạo đức của xã hội trong các mối quan hệ và hình thành nhu cầu thực hiện theo những chuẩn mực đạo đức đó ở HS
Ví dụ, với những bài học về tình yêu, tình cảm gia đình… GV sẽ giúp các em tìm hiểu những vấn đề mà các em rất quan tâm Chẳng hạn:
Tình yêu là gì? Thế nào là một tình yêu đẹp, lành mạnh? Có phải tình yêu nhất thiết phải có tình dục không? Đây cũng là những câu hỏi khó mà các
em HS lứa tuổi THPT rất muốn tìm hiểu Nhiệm vụ của người GV là giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề này Đặc biệt, vấn đề tình dục có phải là một biểu hiện của tình yêu thực sự không? Hậu quả của quan hệ tình dục
Trang 39trước hôn nhân là gì? Tất cả những điều đó các em đều cần được giải đáp, hướng dẫn, để trang bị cho các em những kỹ năng sống, có được bản lĩnh và làm chủ được trong mối quan hệ với người khác giới, tránh những hậu quả đáng tiếc
có thể xẩy ra Tất nhiên, để làm được điều này, đòi hỏi người GV trong bài giảng của mình phải biết kết hợp khéo léo nhiều phương pháp, phải biết lắng nghe và thấu hiểu những tâm tư, tình cảm của HS, phải đặt mình vào vị trí của HS để có tình huống và cách giải quyết tình huống một cách hợp lí nhất
Với những nội dung như vậy, môn GDCD phải được coi trọng và đầu
tư tốt Tuy nhiên, qua điều tra tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam, thì phần lớn số HS được hỏi thấy không hứng thú với môn học nói chung và với học phần “Công dân với đạo đức” nói riêng Nguyên nhân của sự không hứng thú này có thể quy vào 3 lí do chính: nội dung chương trình có những nội dung chưa phù hợp với nhận thức của HS (quá cao, quá rộng, nhiều lí thuyết thiếu tính thực tế) khiến HS chán nản, không thích học; đội ngũ GV giảng dạy môn học này cũng còn có những hạn chế về phương pháp truyền đạt tri thức cho
HS, khiến môn học kém sức hấp dẫn; với HS vì đây không phải là môn thi đại học, không gắn với lợi ích trước mắt, thiết thực của các em nên không tạo ra được động cơ học tập đúng đắn.Trong khi đó, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề PPDH của GV đã được đề cập đến ở phần trên
Qua phân tích, tổng hợp các kết quả điều tra, khảo sát GV, HS ở Trường Cao đẳng Múa Việt Nam về thực trạng việc GDĐĐ cho HS trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10, chúng tôi thấy rằng: Nhìn chung, GV được hỏi đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH trong GDĐĐ cho HS Họ nhìn thấy mức độ tích cực, cũng như có thái độ hưởng ứng, có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và ý nghĩa của việc đổi mới PPDH phần “Công dân với đạo đức” Nhưng trên thực tế thì GV còn ít sử dụng
Do đó, không phải khi nào có nhận thức đúng, thái độ đúng cũng có hành động đúng Ở đây, giữa nhận thức và thái độ hưởng ứng của GV với việc đổi mới PPDH, trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD
Trang 40lớp 10 theo hướng tích cực hóa, nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS còn
có khoảng cách khá xa Việc tuyên truyền nâng cao hiệu quả GDĐĐ, đổi mới PPDH mới chỉ dừng lại ở nhận thức của GV, chứ chưa trở thành niềm tin, động lực thật sự trong thực tiễn dạy học của GV
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của việc đổi mới PPDH trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS như đã khảo sát Nhưng, khó khăn cơ bản nhất mà
GV gặp phải là chưa có một quy trình hợp lí, khoa học bên cạnh là thói quen
sử dụng các PPDH truyền thống; thi cử, đánh giá giờ dạy chưa khuyến khích
GV đổi mới PPDH; tâm lí e ngại đổi mới… Do đó trong dạy học phần này
GV chưa phát huy được tính chủ động, tích cực và sáng tạo của người học Bên cạnh đó là tính thụ động, trông chờ, thói quen ỷ lại của người học còn lớn, vì thế hiệu quả GDĐĐ cho HS là chưa cao Nếu cứ tiếp tục quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” theo PPDH cũ sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mới của sự nghiệp giáo dục, cũng như yêu cầu của người công dân mới, vừa “hồng” vừa “chuyên” trong thời đại ngày nay Từ những lí do trên, chúng tôi thấy cần thiết phải có đổi mới PPDH trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” theo hướng tích cực hóa, nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS Muốn vậy, phải có sự tác động đồng bộ toàn diện từ nhiều phía Trong đó, việc tìm ra quy trình đổi mới hợp lí, khoa học, dễ sử dụng là vấn đề cần thiết để nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS
1.3 Đổi mới phương pháp dạy học phần “Công dân với đạo đức”
1.3.1 Những yêu cầu trong việc lựa chọn phương pháp dạy học phần “Công dân với đạo đức”, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh
- Đổi mới phương pháp dạy học
Theo nghĩa chung nhất: Đổi mới PPDH (PPDH tích cực) là sử dụng các PPDH theo cách mới, trong những điều kiện mới Nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học
Nói một cách cụ thể: Đổi mới PPDH là sử dụng các phương pháp một cách tích cực và hiệu quả, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của