Cửa sổ điều trị ngắn trong ba giờ đầu là một nguyên nhân làm hạn chế số bệnh nhân được điều trị thiếu máu não cục bộ được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết rtPA đường tĩnh mạch [23], [7
Trang 1Văn Thành (năm 2010) và Nguyễn Huy Thắng (năm 2012) [11], [12] Tuy
Trên thế giới từ năm 1996 đến nay, tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch là điều
nhiên, liệu pháp này còn nhiều hạn chế như cửa sổ điều trị ngắn và hiệu quả
điều trị kém trong những trường hợp tắc động mạch lớn Cửa sổ điều trị ngắn
trong ba giờ đầu là một nguyên nhân làm hạn chế số bệnh nhân được điều trị
thiếu máu não cục bộ được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết rtPA đường tĩnh
mạch [23], [76], [139] Bên cạnh đó, tỷ lệ tái thông mạch máu sau điều trị thuốc
tiêu sợi huyết rtPA đường tĩnh mạch chỉ đạt 8% đối với trường hợp tắc độngmạch cảnh trong và khoảng 30% đối với tắc đoạn gốc động mạch não giữa [156]
bằng thuốc tiêu sợi huyết Tại Hoa Kỳ chỉ có khoảng 4 - 7% bệnh nhân đột quỵ
Ngoài ra, đối với những bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp có chống
chỉ định điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch thì điều trị can thiệp đườngđộng
Trang 2bình thường [64] Nghiên cứu PROACT II (năm 1999) thực hiện tại Hoa Kỳ,
nhiều hứa hẹn Gần đây, một loạt các nghiên cứu đã cho thấy tính hiệu quảvà
an toàn rõ rệt của liệu pháp can thiệp đường động mạch Tỷ lệ hồi phục chức
điều trị can thiệp động mạch cao hơn hẳn nhóm điều trị tiêu sợi huyết đường
năng thần kinh (điểm Rankin hiệu chỉnh 0 - 2) tại thời điểm ba tháng của nhóm
tĩnh mạch đơn thuần: nghiên cứu MR CLEAN là 32,6% so với 19,1%, nghiên
với 35,5%, nghiên cứu EXTEND IA 71% so với 40%, nghiên cứu ESCAPEcứu REVASCAT 43,7% so với 28,2%, nghiên cứu SWIFT PRIME 60,2% so
53% so với 29,3% Đồng thời, tỷ lệ chảy máu não có triệu chứng và tử vongtại
năng thần kinh, chảy máu não có triệu chứng và tử vong theo thứ tự là 55,6%;
11,1% và 16,7% tương tự như các nghiên cứu nước ngoài
[1]
Phạm Nguyên Bình và Vũ Anh Nhị (năm 2013) ghi nhận tỷ lệ hồi phục chức
thành tựu y học hiện đại trong điều trị bệnh lý thiếu máu não cục bộ với mục tiêu
Như vậy, song song với công tác dự phòng đột quỵ, việc ứng dụng các
giảm thấp tỷ lệ tử vong và tàn tật, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội, đang
là yêu cầu trọng tâm và bức bách của nền y tế nước nhà Điều trị can thiệp đường
Với mong muốn góp một phần trong công việc này, chúng tôi thực hiện đề tài:
động mạch tại Việt Nam chưa được thực hiện phổ biến và nghiên cứu đầy đủ
“Điều trị can thiệp đường động mạch trên bệnh nhân thiếu máu não cục bộcấp”
nhằm xác định một phương pháp điều trị hiệu quả đối với bệnh nhân thiếu máu
não cục bộ cấp bị tắc mạch máu lớn với các mục tiêu nghiên cứu như
sau:
Trang 33 Tìm các yếu tố tiên lượng khả năng hồi phục chức năng thần kinh tại thời
đường động mạch trong sáu giờ đầu
điểm ba tháng dựa vào điểm Rankin hiệu chỉnh ở bệnh nhân điều trị can thiệp
Trang 4-4-Chương 1
1.1 ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CỤC BỘ CẤP
1.1.1 Khái niệm
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
một “hội chứng thiếu sót thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú
hơn là lan tỏa, tồn tại hơn 24 giờ hoặc tử vong trong 24 giờ, loại trừ nguyênnhân do chấn thương sọ não” [7]
Theo tổ chức Y tế Thế giới, tai biến mạch máu não được định nghĩa như
hay nhồi máu não và đột quỵ chảy máu não (gồm chảy máu trong não nguyên
phát và chảy máu khoang dưới nhện) [7]
Đột quỵ hiện nay được phân thành hai loại chính: đột quỵ thiếu máu não
hoàn não cấp, do mạch máu nuôi vùng mô não đó đột ngột bị tắc đưa đến tình
trạng thiếu máu não và mất chức năng thần kinh tương ứng
tưới máu não [99]
Hiện tượng tự điều chỉnh khối lượng máu não tại chỗ là hiện tượng lưulượng máu não được duy trì ở mức tương đối ổn định mặc dù áp lực tưới máu
não thay đổi vừa phải Cơ chế tự điều chỉnh có thể liên quan đến nhiều conđường Các cơ trơn mạch máu não có thể đáp ứng trực tiếp với những thay đổi
áp lực tưới máu não, cơ trơn mạch máu não sẽ co lại khi có sự gia tăng áp lực
và dãn ra khi áp lực giảm xuống Giảm lưu lượng máu não cũng có thể dẫn đến
Trang 6nhiên giới hạn này thay đổi theo từng cá nhân Ngoài giới hạn này, não không
hoặc giảm một cách thụ động với những thay đổi áp lực tương ứng sẽ dẫn đến
nguy cơ thiếu máu não cục bộ ở áp lực thấp và phù nề ở áp lực cao
Ngưỡng CBF tối ưu
Biểu đồ 1.1 Cơ chế tự điều hòa máu não trong điều kiện sinh lý và trong đột
quỵ thiếu máu não cục bộ cấp tính “Nguồn: Oliveira - Filho J., 2014”
[117]
Trong đột quỵ thiếu máu não cục bộ, cơ chế tự điều chỉnh bị suy giảm
Thiếu máu não cục bộ cấp Bình thường
Khi áp lực tưới máu não giảm, các mạch máu não sẽ dãn ra để tăng lưu lượng
máu não [26], [27] Tuy nhiên, khi áp lực tưới máu giảm vượt quá khả năngbù
trừ của não bộ sẽ dẫn đến hậu quả giảm lưu lượng máu não Lúc đầu, phânsuất
ly trích oxy tăng lên để duy trì mức oxy cung cấp cho não Khi lưu lượng máu
Trang 7-6-não tiếp tục giảm, các cơ chế khác cũng tham gia vào
[20]
Lưu lượng
máu não
(ml/100g/
phút)
50
35
25
17
11
- Ức chế tổng hợp protein
Ngừng tổng hợp protein, tăng sử dụng glucose thoáng qua
Thủy phân glucose kỵ khí, toan hóa mô não
Suy hoạt động điện tế bào Suy màng tế bào Chết tế bào
-
-
-
-Biểu đồ 1.2 Ảnh hưởng của giảm lưu lượng máu não lên sống còn của nhu mô
não “Nguồn: Oliveira-Filho J., 2014” [117]
Ở mức lưu lượng máu não dưới 50 mL/100g/phút xảy ra quá trình ức chế
tổng hợp protein Ở mức dưới 35 mL/100g/phút, sự tổng hợp protein mất hoàn
glucose giảm đáng kể và khởi đầu quá trình thủy phân đường yếm khí, dẫn đến
toàn và gia tăng sử dụng glucose thoáng qua Ở mức 25 mL/100g/phút, sử dụng
nhiễm toan mô do tích tụ axít lactic Mất hoạt động điện của tế bào thần kinh
xảy ra ở 16 18 mL/100g/phút và suy bơm ion ở màng nội mô xảy ra ở 10 -12
đồ 1.2)
mL/100g/phút Đây cũng chính là ngưỡng gây ra nhồi máu não [21] (Xem biểu
Ở những người tăng huyết áp, việc tự điều chỉnh đã thích ứng ở mức áp
lực động mạch cao hơn Do đó, việc giảm huyết áp về mức bình thường thực
sự có thể làm trầm trọng thêm quá trình tự điều chỉnh xảy ra trong quá trình đột
quỵ cấp và làm giảm lưu lượng máu não hơn nữa [26]
Não người là cơ quan có mức hoạt động chuyển hóa mạnh nhất của cơ thể,
-7-với cân nặng chỉ chiếm khoảng 2% trọng lượng cơ thể nhưng cần đến 20% cung
lượng tim để đáp ứng cho nhu cầu cần thiết về oxy và glucose cho các hoạt động chuyển hóa [99] Não chứa rất ít năng lượng dự trữ, vì vậy năng lượng
trong thời gian ngắn là có thể gây chết mô não
[48]
cung cấp cho nó chủ yếu lấy từ máu tuần hoàn và chỉ cần dòng máu bị gián đoạn
Hầu hết các trường hợp đột quỵ là do thiếu máu não cục bộ, chỉ ảnh hưởng
đến một phần của bộ não và thường liên quan đến một mạch máu duy nhất và
bị ảnh hưởng nhiều nhất Trong vùng này, các tế bào ở lõi trung tâm của mô
các nhánh hạ lưu của nó Vùng mô não được chi phối bởi mạch máu tổn thương
não sẽ bị tổn thương không hồi phục và chết đi nếu thời gian thiếu máu não cục
bộ kéo dài Phần mô não nằm ở phía ngoài của vùng mô não bị tổn thương, một
số tế bào có thể nhận được một lượng nhỏ oxy và glucose do sự khuếch tán máu từ các mạch máu bàng hệ Những tế bào này không chết ngay và có thể
hồi phục nếu lưu lượng máu não hồi phục kịp thời Lõi trung tâm của mô não
sẽ chết, hoặc có chứa mô não đã chết, được gọi là nhồi máu não Vùng mô não
có khả năng cứu vãn được gọi là vùng “tranh tối tranh sáng” (penumbra) Khái
niệm về vùng tranh tối tranh sáng, cũng như sự khởi đầu và diễn tiến của tổn
thương không hồi phục là những yếu tố then chốt để hiểu rõ về sinh lý bệnh
phương pháp điều trị can thiệp [13]
học của tình trạng thiếu máu não, đồng thời giúp hình thành nền tảng cho các
1.1.3 Phân loại thiếu máu não Bamford
chứng ở một nghiên cứu trong cộng đồng, với 543 bệnh nhân thiếu máu não
cục bộ ở Anh [31] Theo phân loại theo Bamford, đột quỵ được chia thành bốn
nhóm: TAC (Total Anterior Circulation) - tuần hoàn trước toàn bộ, PAC
(Partial Anterior Circulation) - tuần hoàn trước một phần, LAC (Lacunar) - lỗ Đây là phân loại hoàn toàn dựa trên lâm sàng, được thực hiện và kiểm
khuyết và POC (Posterior Circulation) - tuần hoàn sau Các đuôi S, I hoặc H
Trang 8thiếu máu não cục bộ được xếp vào một trong bốn nhóm theo các đặc điểm sau:
hay chảy máu chứ không ảnh hưởng đến việc phân nhóm bệnh nhân Bệnhnhân
LACI: Có một trong các hội chứng lỗ khuyết: đột quỵ vận động đơn thuần,
đột quỵ cảm giác đơn thuần, đột quỵ cảm giác - vận động hoặc yếu nửa thân
thất điều LACI chiếm tỷ lệ 25%
TACI: Kết hợp cả ba nhóm triệu chứng (1) rối loạn chức năng cao cấp (rối
loạn ngôn ngữ, rối loạn tính toán, rối loạn thị giác - không gian), (2) mất thịtrường đồng danh, (3) khiếm khuyết vận động và/ hoặc cảm giác cùng bên
với trong LACI (chỉ một chi hoặc chỉ ở mặt và bàn tay thay vì cả cánh tay)
POCI: Có bất kỳ đặc điểm nào sau: liệt dây thần kinh sọ cùng bên liệt và/
hoặc giảm cảm giác đối bên, khiếm khuyết vận động và/ hoặc cảm giác haibên,
rối loạn thị giác, rối loạn chức năng tiểu não mà không có khiếm khuyết bó dẫn
truyền dài nào, hoặc khiếm khuyết thị trường đồng danh đơn thuần POCIchiếm tỷ lệ 24%
Trang 9Trên lâm sàng, đôi khi rất khó phân biệt thiếu máu não với chảy máu não.
biến nhất trong giai đoạn cấp của đột quỵ não [72] Ngoài ra, kỹ thuật này có
thể chẩn đoán chảy máu não hay chảy máu khoang dưới nhện với độ chínhxác
cao, cũng như theo dõi bệnh nhân điều trị rtPA bị tình trạng thiếu máu não có
trong việc phát hiện các trường hợp thiếu máu não cục bộ có kích thước nhỏ ở
vùng vỏ hay dưới vỏ não, đặc biệt nhất là thiếu máu não cục bộ ở hố sau [18]
Các dấu hiệu sớm của thiếu máu não trên CLVT như: Dấu hiệu tăng quang
chuyển dạng chảy máu não hay phù não Tuy nhiên, CLVT tương đối ít nhạy
hay dấu hiệu tăng quang điểm của động mạch não giữa, dấu mất phân biệtchất
xám chất trắng, giảm đậm độ ở hạch nền, dấu ruy băng ở thùy đảo, cũng như
mất ranh giới của các rãnh vỏ não [32], [107]
Khả năng phát hiện các dấu hiệu sớm của thiếu máu não cục bộ trên CLVT
rất khác nhau và chỉ dưới 67% các trường hợp được chụp CLVT trong vòng ba
giờ sau khi khởi phát đột quỵ Khả năng phát hiện bị ảnh hưởng bởi kích thước
của ổ thiếu máu, mức độ nặng của thiếu máu và thời gian từ khi khởi phát triệu
chứng đến khi làm chẩn đoán hình ảnh Khả năng phát hiện tăng lên nhờ việc
sử dụng các bảng điểm như Alberta Stroke Program Early CT Score
vi tính tốt hơn để phân biệt các tổ chức não bình thường và bất thường [33],
[90] Ngoài ra, chụp CLVT mạch máu cung cấp các thông tin có giá trị về hệ
tại các mạch máu trong sọ, đánh giá chính xác tình trạng của động mạch cảnh
và các động mạch đốt sống đoạn cổ Chụp CLVT mạch máu có lợi cho điều trị
thống mạch máu trong và ngoài sọ Kỹ thuật này còn giúp phát hiện huyết khối
(ASPECTS) hoặc CT Summit Criteria cũng như việc sử dụng máy chụp cắt lớp
Trang 1110
-rtPA đường động mạch và lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học Chụp CLVTmạch máu thường kết hợp CLVT không cản quang và chụp CLVT tưới máutạo thành một bộ ba kỹ thuật hình ảnh trong đột quỵ não cấp (Xem hình 1.1)
Dấu tăng quang ĐMNG
bên phải Dấu tăng quang điểm Dấu ruy băng vỏ não thùy đảo
Huyết khối ở phần tận (a) Nhân đuôi: (C), ruy-băng thùy đảo: (I), bao trong: (IC),
động mạch thân nền trên nhân đậu: (L), M 1 : vỏ não trán trước dưới, M 2 : vỏ não thùy thái dương bên đến ruy băng thùy đảo, M 3 : vỏ não tháiCLVT mạch máu
Hình 1.1 Một số hình ảnh về dấu hiệu thay đổi sớm trên phim CLVT (mũi tên
trắng chỉ tổn thương tương ứng chú thích ngay bên dưới) và hình ảnh minh họa
thang điểm ASPECTs “Nguồn: Josser E.D.A., 2011” [64]
1.2.2 Vai trò của chụp cộng hưởng từ
dương sau (b) vỏ não thuộc ĐMNG M 4 , M 5 và M 6 tương ứng tiếp nối với M 1 , M 2 và M 3
và FLAIR tương đối kém nhạy với các thay đổi sớm của thiếu máu não cục bộ
Các chuỗi xung tiêu chuẩn của phim cộng hưởng từ (CHT) não như T1,
T2
Trang 12dưới vỏ não hoặc ở sâu, bao gồm khu vực tiểu não và thân não Tổn thươngở
thường của phim CHT hoặc phim CLVT không cản quang [22], [154] CHTnhững khu vực này thường khó hoặc không nhìn thấy trên các xung thông
khuếch tán có thể xác định các tổn thương thiếu máu não dưới lâm sàng Các
tổn thương này sẽ cung cấp thông tin về cơ chế đột quỵ Cho nên, giai đoạn
sớm sau khi khởi phát thiếu máu não, tổn thương khuếch tán quan sát được trên
phim CHT sẽ bao gồm cả khu vực nhồi máu không hồi phục và khu vực tranh
tối tranh sáng có thể cứu sống được [56] (Xem hình
“Nguồn: Anne Catherine Kim, 2011” [64]
quang So sánh trực tiếp CLVT không cản quang với CHT ở bệnh nhân tắc
trên CLVT không cản quang trong khi 82% những bệnh nhân này có hình ảnh
cục huyết khối trên CHT khi sử dụng chuỗi xung Gradient Echo
So với CLVT thì CHT có nhiều ưu điểm hơn trong chẩn đoán tổn thương
cũ và mới; xác định các tổn thương thiếu máu não dưới lâm sàng để cung cấp
gian mạnh hơn Hạn chế của CHT trong bệnh cảnh cấp tính bao gồm giá thành
cao, không phổ biến, thời gian chụp phim tương đối lâu, nhiễu do cử động của
thông tin về cơ chế đột quỵ; tránh tiếp xúc với tia xạ; độ phân giải về mặt không
bệnh nhân cao và các chống chỉ định liên quan đến bệnh nhân như bị ám ảnh
sợ bị giam giữ, máy tạo nhịp tim, bệnh nhân lú lẫn, hoặc có mảnh ghép kim
được hình ảnh CHT với chất lượng cao [146], [150]
loại Hơn nữa, khoảng 10% bệnh nhân không thể nằm yên nên khó thu nhận
1.2.3 Vai trò của chụp mạch máu kỹ thuật số hóa xóa nền
gần đây đã có sự phát triển nhanh chóng Chụp mạch máu số hóa xóa nền (DSA)
là một kỹ thuật tích hợp dữ liệu số hóa và quá trình xử lý điện toán để tạo hình
ảnh trong y học Những tín hiệu tia X được xử lý bằng điện tử rồi chuyển đổi
1970, sự phát triển nhanh chóng kỹ thuật mới về vô tuyến truyền hình, điện số
Chuyên ngành X quang can thiệp thần kinh trên thế giới trong những năm
thành dạng số hóa và được vi tính xử lý trước khi hiển thị Vào đầu thập niên
hóa và chất cản từ làm nổi bật hình ảnh đã làm người ta quan tâm hơn về thu
nhận hình ảnh trong y học Robb và Steinberg là những người đầu tiên mô tả
việc chụp mạch máu đường tĩnh mạch Đầu thập niên 1980, chụp DSA đường
Trang 14kèm theo huyết khối Từ đó giúp đạt được tái thông mạch máu nhanh chóng,
tái tưới máu để cứu nhu mô não Ngoài ra, chụp DSA còn giúp đánh giá mức
Infarction) [61] (Xem hình 1.3)
độ tái thông mạch máu bằng thang điểm TICI (Thrombolysis in Cerebral
Hình 1.3 Hình chụp DSA bệnh nhân nam, 37 tuổi trong nghiên cứu (A) Hình
ảnh tắc chỗ tận động mạch cảnh trong bên trái (mũi tên) (B) Động mạch cảnh
bằng dụng cụ cơ học solitaire (mũi tên)
trong bên trái được tái thông hoàn toàn (TIMI 3) sau can thiệp lấy huyết khối
14
-1.2.4 Vai trò của siêu âm xuyên sọ
siêu âm xuyên sọ đã trở thành một trong những phương tiện cơ bản để chẩn
Siêu âm xuyên sọ được Aaslid giới thiệu lần đầu tiên năm 1982 Ngày nay,
đoán tình trạng tắc hẹp động mạch nội sọ ở bệnh nhân thiếu máu não cục bộ
sàng vì nhiều ưu điểm như khá chính xác so với DSA, không xâm lấn, rẻ tiền,
có thể lặp lại nhiều lần tại giường bệnh Do vậy, siêu âm xuyên sọ rất có giá trị
trong chẩn đoán cũng như theo dõi diễn tiến đáp ứng điều trị của bệnh nhân
được điều trị can thiệp đường động mạch cũng như tiêu sợi huyết đường tĩnh
mạch [37], [140]
So với các phương pháp trên, siêu âm xuyên sọ thường được chỉ định trên lâm
can thiệp đường động mạch và tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch Năng lượng
huyết Hiệu ứng này đã được sử dụng để tăng cường khả năng tiêu huyết khối
ở những bệnh nhân bị đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp được điều trị với rtPA
Trang 1515
-1.3 MỘT SỐ TÁC NHÂN TIÊU SỢI HUYẾT VÀ CƠ CHẾ TÁC DỤNG
CỦA THUỐC TIÊU SỢI HUYẾT rtPA
Đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp là hậu quả của vỡ một mảng xơ vữavà/
hoặc kích hoạt sự tạo thành cục huyết khối trong lòng động mạch Để cứu vùng
là tìm cách tái lập lại dòng máu não càng sớm càng tốt Ly giải cục huyết khối
thiếu máu tranh tối tranh sáng khỏi bị nhồi máu vĩnh viễn, điều cần thiết nhất
bằng cách dùng chất hoạt hóa plasminogen mô để kích hoạt hệ thống ly giải
hóa giáng fibrin, một thành phần chủ yếu của cục huyết khối
1.3.1 Một số tác nhân tiêu sợi huyết
và không gây thiếu hụt các yếu tố đông máu hệ thống, vì thế sử dụng sẽ
và ái lực mạnh với fibrin Mặc dù kết quả của nghiên cứu PROACT I và II có
Pro-urokinase: Là một tiền chất của urokinase, có thời gian bán hủy 7 phút
nhiều hứa hẹn, nhưng FDA của Hoa Kỳ vẫn không chấp thuận sử dụng thuốc
tiêu sợi huyết pro-urokinase trong điều trị đột quỵ thiếu máu não cấp [64]
hoạt động tạo thành phức hợp với plasminogen, sau đó phức hợp này tác dụng
Trang 17thời gian bán hủy ngắn (4 - 6 phút).
cũng chịu ảnh hưởng bởi sự kích hoạt của fibrin, nhờ đó làm giảm được nguy
dạng thay đổi về mặt sinh học của rtPA, có thể sử dụng bằng một liều tiêm tĩnh
mạch duy nhất Thuốc có ái tính trên fibrin cao gấp tám lần so với rtPA và có
thời gian bán hủy lâu hơn rtPA (17 phút)
1.3.2 Cơ chế tác dụng của thuốc tiêu sợi huyết rtPA
PAI 1 & 2
rtPA
R PLASMINOGEN s
PLASMIN ps
XIa, XIIaKallikrein
Tenecteplase: là thuốc tiêu sợi huyết thế hệ thứ ba, có bản chất là một
giải cục huyết khối bằng quá trình khởi đầu là tiêu fibrin Hệ thống tiêu fibrin
gồm có plasminogen là một tiền enzym sẽ được chuyển thành enzym hoạt hóa
plasmin bởi các chất hoạt hóa plasminogen (sơ đồ 1.1) Plasmin sau đó hóagiáng fibrin thành các sản phẩm hóa giáng fibrin hòa tan Để khu trú hoạt tính
Thuốc tiêu sợi huyết, còn được gọi là chất hoạt hóa plasminogen, gây ly
mức của plasminogen bởi chất rtPA Quá trình ly giải fibrin trong cục huyếtkhối gây tắc động mạch sẽ làm tan cục huyết khối Cơ chế tác động của chất
hoạt hóa plasminogen bao gồm cả plasminogen gắn fibrin và plasminogen lưu
thông trong tuần hoàn (plasmin tự do) Plasminogen được hoạt hóa bởi các chất
hoạt hóa plasminogen dẫn tới hình thành plasmin gắn fibrin và plasmin tự do
Plasmin tự do bị ức chế nhanh chóng bởi α2 - antiplasmin, còn plasmin gắn kết
trên bề mặt của fibrin được bảo vệ tương đối do sự bất hoạt của α2 -
antiplasmin
phẩm thoái giáng fibrin Tuy nhiên, một khi α2 - antiplasmin bị tiêu thụ thìplasmin tự do không bị ức chế sẽ thoái giáng fibrinogen để tạo thành các sản
phẩm thoái giáng fibrinogen [36], [96] Các thuốc hoạt hóa plasminogen
đó những thuốc không phân biệt plasminogen tự do và gắn kết thì không phải
là thuốc đặc hiệu với fibrin (không chọn lọc)
và hóa giáng fibrin của cục huyết khối một cách hiệu quả để hình thành các sản
thường hoạt hóa plasminogen gắn fibrin là các chất đặc hiệu fibrin, trong khi
cục huyết khối tốt, không làm giảm các yếu tố đông máu hệ thống, điều này là
rtPA là thuốc hoạt hóa plasminogen chuyên biệt với fibrin, có tác dụng tan
ưu điểm vượt trội so với các thuốc hoạt hóa plasminogen không chuyên biệt
với fibrin Tuy nhiên, thuốc này lại có nhược điểm là làm tăng khả năng tái tắc
mạch máu Tỷ lệ tái tắc của nhóm thuốc chuyên biệt với fibrin cao gấp hai lần
so với nhóm hoạt hóa plasminogen không chuyên biệt với fibrin Vì thế, thường
giảm thiểu tình trạng tái tắc mạch này [96]
cần phải dùng kết hợp với thuốc kháng đông sau khi điều trị tiêu sợi huyết để
Trang 1818
-1.4 LỊCH SỬ ĐIỀU TRỊ TÁI THÔNG ĐỘNG MẠCH
chóng tái lập tuần hoàn mạch máu não bị tắc nghẽn, nhằm cứu lấy vùng
sợi huyết tĩnh mạch, tiêu sợi huyết động mạch, phương pháp lấy huyết khối
1.4.1 Tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch
Quỵ Não Hoa Kỳ đã cho thấy việc sử dụng rtPA đường tĩnh mạch có thể giúp
máu não cục bộ cấp Bệnh nhân được điều trị bằng rtPA có thêm 30% cơ hội
Năm 1995, nghiên cứu NINDS được công bố bởi viện Thần kinh và Đột
cải thiện hồi phục các chức năng thần kinh sau ba tháng ở các bệnh nhân thiếu
hồi phục chức năng thần kinh hoàn toàn hoặc tàn tật ở mức độ tối thiểu (tương
đương điểm Rankin hiệu chỉnh 0 - 1) so với nhóm bệnh nhân điều trị giả dược
Trong khi tỷ lệ chảy máu não tăng ở các bệnh nhân dùng rtPA (6,4% so với0,6%), thì tỷ lệ tử vong ở thời điểm ba tháng và một năm là như nhau giữa hai
nhóm [147] Từ kết quả nghiên cứu NINDS, cơ quan quản lý thực phẩm vàdược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chấp thuận liệu pháp điều trị rtPA đường tĩnh
đầu tính từ lúc khởi phát triệu chứng Hiện nay, cửa sổ điều trị tiêu sợi huyết
mạch trong điều trị đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp với cửa sổ thời gian
3 giờ
đường tĩnh mạch đã mở rộng lên đến 4,5 giờ sau khi nghiên cứu ECASS IIIcông bố Kết quả cho thấy trong cửa sổ thời gian 3 - 4,5 giờ, tỷ lệ đạt điểmRankin hiệu chỉnh 0 - 1 ở nhóm điều trị rtPA tĩnh mạch cao hơn so với nhómgiả dược (52,4% so với 45,2%) (p = 0,04); tỷ lệ chảy máu não có triệu chứng
cao hơn (2,4% so với 0,2%, p = 0,008) nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa
về tỷ lệ tử vong giữa hai nhóm (7,7% so với 8,4%, p = 0,68) [70] Mặc dù tiêu
sợi huyết tĩnh mạch có nhiều ưu điểm nhưng qua một phân tích gộp trên 53
Trang 19sợi huyết đường tĩnh mạch.
1.4.2 Tiêu sợi huyết đường động mạch
não cục bộ cấp đã cho kết quả nhiều hứa hẹn Do quan sát được mạch máutrên
màn hình, mà liều thuốc tiêu sợi huyết cần thiết cho sự tái thông mạch máu có
thể được giới hạn, tổng liều điều trị đường động mạch là khoảng 1/3 liều tiêm
tĩnh mạch Tiêu sợi huyết đường động mạch là một lựa chọn điều trị hợp lý cho
bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp có chống chỉ định tiêu sợi huyết
đường tĩnh mạch (ví dụ, phẫu thuật gần đây)
Điều trị tiêu sợi huyết đường động mạch ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu
sợi huyết đường động mạch đầu tiên Báo cáo mô tả một trường hợp tái thông
[144] Tuy vậy phải đến những năm 1990, các nghiên cứu về vấn đề này mới
Vào năm 1950, Sussmann B.J và Fitch T.S.P đã báo cáo dùng thuốc tiêu
thành công động mạch cảnh trong sau khi tiêm plasmin qua đường động mạch
Trang 20(p = 0,037), trong đó nhóm bệnh nhân có điểm Rankin hiệu chỉnh 0 - 1 tương
máu não có triệu chứng là các yếu tố tiên lượng xấu
Trang 2121
-toàn bộ mạch máu (65% so với 18%; OR: 6,4) cao hơn đáng kể và lâmsàng cho kết quả tốt, được đánh giá qua điểm Rankin hiệu chỉnh 0 - 2(43% so với 28%; OR: 2,1) và một kết quả tuyệt vời với điểm mRS hiệu
- Tiêu sợi huyết đường động mạch có nguy cơ làm tăng tỷ lệ chảy máu não
có triệu chứng (9% so với 2%, OR: 2,9), tuy nhiên không có tăng tỷ lệ tử
vong (21% so với 24%; OR: 0,8; KTC 95%: 0,5 - 1,4)
chỉnh 0 - 1 (31% so với 18%; OR: 2,1)
động mạch đối với các trường hợp tắc động mạch não giữa đoạn M1 và M2
cứu PROACT I và PROACT II [52], [59]
Hiệu quả và mức độ an toàn của phương pháp điều trị tiêu sợi huyết đường
trong vòng 6 giờ đầu sau khởi phát triệu chứng, được đánh giá qua hai nghiên
Dựa trên một số dữ liệu có sẵn, người ta đã tìm ra các biến số có ảnhhưởng đến kết quả của tiêu sợi huyết đường động mạch Trong một phân tích
máu cục bộ cấp, với 480 bệnh nhân bị tắc động mạch cảnh trong hoặc động
gộp từ bảy nghiên cứu điều trị can thiệp nội mạch ở bệnh nhân đột quỵ thiếu
mạch não giữa, đã ghi nhận thời gian tái thông mạch máu càng kéo dài càng
gia tăng tỷ lệ tử vong và chảy máu não và giảm tỷ lệ hồi phục tốt chức năng
thần kinh [101] Một nghiên cứu hồi cứu trên 201 bệnh nhân được điều trị bằng
tiêu sợi huyết đường động mạch (72%) hoặc tĩnh mạch (28%) trong vòng 6 giờ
máu não là các yếu tố dự đoán độc lập hồi phục lâm sàng xấu Người ta ghi
sàng xấu sẽ cao hơn, bất chấp mạch máu có tái thông hay không
Trang 23Tiêu sợi huyết
động mạch
EKOS Tiêu sợi huyết tăng cường siêu âm
MERCI Multi MERCI PENUMBRA
Hút huyết khối
SWIFT TREVO
IMS III SYNTHESIS EXPENSION MR CLEANLấy huyết khối dạng xoắn Lấy huyết khối dạng stent
rtPA Huyết khối
-1.4.2.1 Nghiên cứu PROACT I
điều trị bằng pro-urokinase so với 14 bệnh nhân trong nhóm chứng có điểmNIHSS trung bình là 19 Những bệnh nhân trong nhóm điều trị sử dụng 6 mg
pro-urokinase đường động mạch trong vòng 2 giờ Truyền heparin tĩnh mạch
26 bệnh nhân đưa vào nghiên cứu với điểm NIHSS trung bình là 17, được
trong 4 giờ và bắt đầu truyền cùng thời điểm đối với tất cả bệnh nhân Trong
nghiên cứu này, không sử dụng các phương pháp hỗ trợ cơ học giúp làm tan
huyết khối Tỷ lệ tái thông mạch máu (TIMI 2 - 3: 57,7% và 14,3%) và tỷ lệ
đáng ghi nhận là tất cả các trường hợp thiếu máu não lớn hơn 1/3 vùng chi phối
chảy máu não (15,4% và 14,4%) đều cao hơn so với nhóm điều trị Một điểm
động mạch não giữa trên hình chụp cắt lớp vi tính (CLVT) não đều bị chảy máu
não Trong nhóm điều trị pro-urokinase, tốc độ tái thông mạch máu phụ thuộc
vào liều heparin Tại cuối thời điểm 2 giờ truyền pro-urokinase, 81,8% bệnhnhân điều trị với heparin liều cao (1000 IU/giờ truyền tĩnh mạch trong 4 giờsau khi tiêm tĩnh mạch 100 IU/kg) đạt kết quả tái thông mạch máu, so với chỉ
40% trong nhóm heparin liều thấp (2000 IU tiêm tĩnh mạch, truyền 500 IU/giờ
hơn ở nhóm điều trị heparin liều cao (27,3% và 6,7%)
[52]
1.4.2.2 Nghiên cứu PROACT II
trong 4 giờ) Tuy vậy, tỷ lệ chảy máu não có triệu chứng trong 24 giờ đầu cao
2:1, điều trị bằng pro-urokinase 9 mg kèm truyền heparin liều thấp trong 4 giờ,
hoặc chỉ truyền heparin liều thấp đơn thuần Kết quả cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân
có kết quả tốt sau ba tháng (điểm Rankin hiệu chỉnh 0 - 2) và tỷ lệ tái
thông
Nghiên cứu bao gồm 180 bệnh nhân, được phân nhóm điều trị với tỷ lệ
mạch máu ở nhóm điều trị là 40% và 66%, so với nhóm chứng 25% và 18%
2% ở nhóm chứng Tất cả các trường hợp chảy máu não xảy ra ở những bệnh
Tỷ lệ chảy máu não có triệu chứng trong 24 giờ ở nhóm điều trị là 10% so với
nhân có điểm NIHSS trên 11 (nhóm NIHSS 11 - 20 là 11%, NIHSS > 20 là
Trang 24lệ chảy máu não là 36% so với 9% ở nhóm glucose máu dưới 200 mg/dL Tỷ
lệ tử vong ở nhóm được điều trị là 25% so với 27% ở nhóm chứng (p = 0,8),mặc dù tỷ lệ chảy máu não cao hơn ở nhóm điều trị Kết quả của những phân
tích gần đây từ nghiên cứu PROACT II cho thấy điều trị pro-urokinase đườngđộng mạch có lợi ở bệnh nhân nữ hơn bệnh nhân nam Tuy nhiên, những kết
quả khả quan trên không đủ thuyết phục FDA chấp thuận cho điều trị urokinase đường động mạch, có lẽ do lo ngại nguy cơ chảy máu não tăng khi
1.4.2.3 Nghiên cứu MELT
cứu khác (điểm NIHSS trung bình trong PROACT là 17, trong NINDS là 14
giữa trên hình ảnh mạch máu được chọn ngẫu nhiên để truyền urokinase đường
động mạch (liều tối đa: 600.000 UI trong 2 giờ) hoặc giả dược trong vòng 6 giờ
được phép sử dụng với một microguidewire Nghiên cứu đã bị hủy bỏ sớm bởi
sau khi khởi phát triệu chứng đột quỵ Việc phá vỡ huyết khối bằng cơ học chỉ
Uỷ ban Chỉ đạo của Nhật Bản sau khi có sự chấp thuận của điều trị rtPA đường
Ở nghiên cứu này, các bệnh nhân bị tắc đoạn M1 hoặc M2 động mạch não
tĩnh mạch ở quốc gia này Tuy nhiên, nó đã cung cấp một số thông tin quan
trọng Vào thời điểm nghiên cứu kết thúc, tổng cộng 114 bệnh nhân (57 bệnh
nhân trong mỗi nhóm) được điều trị ngẫu nhiên Đặc điểm cơ bản ở hai nhóm
chính (mRS 90 ngày 0 - 2) đạt được ở nhóm điều trị urokinase cao hơn so với
tương tự nhau Điểm NIHSS ban đầu trung bình là 14 ở cả hai nhóm Tiêu chí
Trang 2525
-nhóm chứng (49,1% so với 38,6%; OR: 1,54; KTC 95%: 0,73 - 3,23), nhưng
có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ kết quả hồi phục chức năng tốt (mRS 90 ngày 0 1)
-với 22,8%; p = 0,045; OR: 2,46; KTC 95%: 1,09 - 5,54) Ngoài ra, bệnh nhân
sự khác biệt này không có ý nghĩa (p = 0,345) Tuy nhiên, hai tiêu chí phụ lại
ở nhóm điều trị urokinase cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (42,1% so
với điểm NIHSS 0 - 1 ở ngày thứ 90 của nhóm điều trị bằng urokinase nhiềuhơn đáng kể so với nhóm chứng (35,1% so với 14,0%, p = 0,017) Tái
1.4.3 Kết hợp tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch và động mạch
mạch với liều 0,6 mg/kg với đường động mạch Phương pháp này có nhiều hứa
hẹn so với điều trị duy nhất bằng đường tĩnh mạch hay động
Trang 2626
-1.4.3.2 Nghiên cứu IMS I (The Interventional Management of Stroke)
nhóm chứng 80 bệnh nhân với điểm NIHSS trung bình là 18, nhập viện trước
3 giờ sau khi khởi phát đột quỵ, được điều trị bằng rtPA đường tĩnh mạch với
liều 0,6 mg/kg, liều tối đa là 60 mg, 15% tiêm tĩnh mạch và phần còn lại được
hiện ngay sau đó ở 62/80 bệnh nhân 2 mg rtPA được bơm trên bề mặt cục
truyền trong 30 phút Điều trị rtPA đường động mạch qua catheter được thực
huyết khối, 2 mg bơm ngay tại cục huyết khối, sau đó truyền động mạch 9
Nghiên cứu được tiến hành tại nhiều trung tâm, thiết kế mở và không có
mg/giờ trong 2 giờ hoặc cho đến khi tái thông mạch máu hoàn toàn, tổng liều
22 mg Sau mỗi 15 phút chụp kiểm tra mạch máu não một lần Kết quả được so
sánh với nhóm điều trị giả dược và rtPA tĩnh mạch trong nghiên cứu NINDS
Tỷ lệ tử vong không có sự khác biệt giữa ba nhóm (16% trong nghiên cứu IMS
I so với 24% ở nhóm giả dược và 21% ở nhóm điều trị rtPA tĩnh mạch trongnghiên cứu NINDS) Tỷ lệ chảy máu não có triệu chứng 6,3% tương đương với
6,6% trong nghiên cứu NINDS Tỷ lệ bệnh nhân có kết quả tốt sau ba thángtrong nghiên cứu IMS I cao hơn có ý nghĩa so với nghiên cứu NINDS (OR:
tái thông mạch máu một phần (TIMI 2) là 11% và 56% trong IMS I
[77]
1.4.3.3 Nghiên cứu IMS II
2,18; KTC 95%: 1,20 - 3,99) Tỷ lệ tái thông mạch máu hoàn toàn (TIMI 3) và
nhân có điểm NIHSS trung bình là 19 Sự khác biệt của IMS II so với IMS I làNghiên cứu này được tiến hành ngay sau nghiên cứu IMS I với 73 bệnh
sử dụng catheter EKOS phối hợp đưa rtPA và sóng siêu âm đến trực tiếp cục
huyết khối Bệnh nhân trong độ tuổi 18 - 80, với điểm NIHSS trung bình ≥ 10,
bắt đầu bằng rtPA tĩnh mạch 0,6 mg/kg, liều tối đa 60 mg, 15% tiêm tĩnh mạch
và phần còn lại được truyền trong 30 phút Những bệnh nhân được ghi nhận có
huyết khối ở mạch máu trong hay ngoài sọ, tiếp tục điều trị bằng alteplase động
mạch liều tối đa 22 mg kèm với sóng siêu âm tần số thấp qua catheter EKOS
Trang 27tương ứng là 16% và 11% [78].
1.4.3.4 Nghiên cứu IMS III
Kết quả sau đó đem so sánh với nghiên cứu NINDS và IMS I Tỷ lệ bệnh nhân
hơn trong nghiên cứu IMS II (69%) Tỷ lệ chảy máu não có triệu chứng và tửvong
nghiên cứu mở, ngẫu nhiên, đa trung tâm, khảo sát hiệu quả của việc điều trị
Nghiên cứu IMS III là một nghiên cứu lâm sàng giai đoạn ba, với thiết kế
kết hợp tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch và động mạch ở bệnh nhân thiếu máu
não cục bộ cấp Tiêu chuẩn chọn bệnh chính là tuổi từ 18 đến 80, điểm NIHSS
lúc nhập viện ≥ 20 và sử dụng rtPA đường tĩnh mạch trong vòng 3 giờ đầu kể
từ khi khởi phát đột quỵ Các tiêu chuẩn loại trừ, tương tự nghiên cứu
tối đa 60 mg) qua 40 phút được chụp động mạch tiếp theo ngay lập tức Nếu
không xác định được huyết khối thì không điều trị tiêu sợi huyết đường động
mạch tiếp theo Khi xác định được huyết khối, bác sĩ can thiệp có thể chọn
mg), hoặc chọn retriever merci hoặc hệ thống penumbra theo sở thích của người
microcatheter EKOS hoặc microcatheter chuẩn để truyền rtPA (liều tối đa 22
dùng Điều trị tiêu sợi huyết đường động mạch phải bắt đầu trong vòng 5 giờ
Trang 28đơn thuần là tương tự nhau (19,1% so với 21,6%, p = 0,52) và không có sự
giờ đầu sau khi sử dụng rtPA (6,2% so với 5,9%; p = 0,83)
[43]
khối bằng phương pháp cơ học
khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ bệnh nhân chảy máu não có triệu chứng trong30
1.4.4 Tiêu sợi huyết rtPA đường động mạch kết hợp với phá vỡ cục huyết
Ngoài nong mạch máu và đặt stent, các kỹ thuật liên quan đến phá vỡ cục
Rankin hiệu chỉnh 0 - 2 tại thời điểm 90 ngày không khác nhau đáng kể (40,8%
mạch đơn thuần; KTC 95%, OR: -6,1 - 9,1) Tỷ lệ tử vong trong vòng 90 ngày
huyết khối cơ học đang được nghiên cứu để điều trị cho những trường hợp đột
catheter) hoặc dây dẫn nhỏ (microwire), các dụng cụ chọc hút hoặc hút, các
dụng cụ thu hồi hay bẫy cục huyết khối Các phương pháp cơ học có thể được
quỵ thiếu máu não cục bộ cấp bao gồm: laser, siêu âm, dây luồng nhỏ (micro-
sử dụng đơn độc hay kết hợp, tùy thuộc vào cấu tạo của dụng cụ hỗ trợ cho điều
trị tiêu sợi huyết đường động mạch [82], [105] Chúng giúp cho các chuyêngia
can thiệp thần kinh tái thông mạch máu nhanh hơn, với tỷ lệ tái thông mạch
máu cao hơn và giảm được tổng liều thuốc rtPA, với mong muốn kết quả cuối
cùng được cải thiện Tuy nhiên, cần nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để rút ra kết
luận về tính hiệu quả Một số dụng cụ phá vỡ cục huyết khối cơ học (ví dụ:
được chấp thuận tại Hoa Kỳ và Châu Âu để loại bỏ cục huyết khối trong vòng
8 giờ đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng
retriever merci, hệ thống penumbra, dụng cụ solitaire và retriever trevo) đã
dụng cụ phá vỡ cục huyết khối cơ học sử dụng trong thiếu máu não cục bộ cấp
Hướng dẫn của hiệp hội lồng ngực Hoa Kỳ năm 2012 kết luận rằng các
Trang 2929
-có chất lượng còn thấp, cải thiện tỷ lệ sống còn và hồi phục chức năng thần
bố vào tháng 11 năm 2010 về các dụng cụ phá vỡ cục huyết khối cơ học trong
thiếu máu não cấp [30], 87 nghiên cứu đều không có đối chứng, trong đó chỉ
kinh không chắc chắn [87] Một đánh giá hệ thống 87 nghiên cứu được công
có 18 nghiên cứu là tiến cứu và 3 nghiên cứu được đánh giá hồi phục mù và
gần một nửa các dữ liệu được lấy từ các nghiên cứu đánh giá retriever merci và
hệ thống penumbra (40% dữ liệu lấy từ nghiên cứu retriever merci và 9% từ
nghiên cứu penumbra) Kết quả về tái thông mạch máu, hồi phục lâm sàngtốt,
chảy máu não có triệu chứng, tổn thương mạch máu và tử vong khác nhau giữa
các nghiên cứu Một trong những phát hiện rõ nhất là tái thông mạch máu thành
công là yếu tố giúp cho kết quả hồi phục tốt Tuy nhiên, do hạn chế về phương
pháp nghiên cứu, các nhà phân tích kết luận cần tiến hành thêm các
nghiên cứu
ngẫu nhiên để xác định xem liệu các dụng cụ phá vỡ cục huyết khối cơ họccó
cải thiện kết quả cho bệnh nhân hay không [30]
1.4.4.1 Nghiên cứu MERCI
được chọn bao gồm những bệnh nhân không đủ điều kiện để điều trị rtPA đường
Nghiên cứu này tuyển chọn không ngẫu nhiên 151 bệnh nhân Đối tượng
tĩnh mạch trong cửa sổ 3 giờ đầu hoặc có thể được điều trị trong vòng 3 - 8giờ
và có hình ảnh tắc động mạch cảnh trong đoạn trong sọ, động mạch não giữa,
động mạch thân nền hoặc động mạch đốt sống do huyết khối [142] ĐiểmNIHSS lúc nhập viện trung bình là 19 (cao hơn PROACT II) Nhóm giả dượctrong PROACT II được xem như là nhóm chứng [59] Kết quả của nghiên cứu
lấy huyết khối merci có kết quả cải thiện tại thời điểm 90 ngày so với
II Tuy nhiên, bệnh nhân trong nghiên cứu MERCI có tỷ lệ tái thông (TIMI 2
lệ tử vong chung ở nghiên cứu MERCI cao hơn nghiên cứu PROACT II (44%
Trang 31hơn so với nhóm chứng (7,8% so với 2%), nhưng tương đương nghiên cứu
Các biến chứng trong nghiên cứu MERCI bao gồm: thuyên tắc mạch máu,
bóc tách mạch máu, chảy máu khoang dưới nhện, thủng mạch máu và chảy máu
vùng bẹn, chiếm 13% trường hợp và có ý nghĩa lâm sàng trong 7% trường hợp
1.4.4.2 Nghiên cứu Penumbra Pivotal Stroke
Hình 1.4 Dụng cụ merci “Nguồn: Lyden P., 2015” [96]
thống này áp dụng phương pháp hút chân không để hút huyết khối trong điều
Hệ thống penumbra được FDA chấp thuận vào tháng 01 năm 2008 Hệ
trị đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp Hệ thống bao gồm bốn loại
microcatheter
có kích cỡ khác nhau tương thích với các kích cỡ mạch máu khác nhau và được
có thể hút huyết khối dễ dàng Sau một nghiên cứu thí điểm có kết quả khả
kết nối với một bộ phận hút có thể tạo ra một lực hút lên đến 25 mmHg, dođó
quan, hệ thống penumbra được kiểm tra trong một nghiên cứu lớn đơn nhánh,
đa trung tâm, đó là nghiên cứu Penumbra Pivotal Stroke vào năm
độ an toàn và hiệu quả của phương pháp điều trị Tuy nhiên, nghiên cứu đãkhông sử dụng hệ thống phân cấp tái thông mạch máu chặt chẽ như trong các
nghiên cứu lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học Điều này có thể phần nào lý
giải cho sự khác biệt về tỷ lệ tái thông mạch máu đã được báo cáo giữa dụng
cụ merci và penumbra Tỷ lệ bệnh nhân đạt kết cục lâm sàng tốt (mRS ≤ 2) thấp
nhất định Điều này cho thấy cần có những dụng cụ tái thông mạch máu mới
và tỷ lệ tử vong còn cao cho thấy hệ thống penumbra vẫn còn những hạn chế
hơn và hiệu quả hơn Như vậy, mặc dù các dụng cụ merci và penumbra có thể
làm tăng tỷ lệ tái thông ở số bệnh nhân được lựa chọn cẩn thận, nhưng lợi ích
về cải thiện lâm sàng sau đột quỵ vẫn chưa được chứng
minh
1.4.5 Dụng cụ bẫy huyết khối solitaire
bung, được thiết kế để di chuyển và áp sát vào mạch máu nội sọ Solitaire được
động mạch não giữa, động mạch não trước, động mạch cột sống và động mạch
Dụng cụ tái thông mạch máu não solitaire là một stent có khả năng tự
thiết kế dùng cho hệ thống mạch máu não, cụ thể là động mạch cảnh trong,
thân nền Stent solitaire có thiết kế khung kín với phần đầu để hở có khả năng
bắt lấy cục huyết khối Vì vậy, khi stent bung ra bao lấy cục huyết khối, việc
rút stent ra cũng lấy theo cục huyết khối, dẫn đến tái thông dòng máu mà không
cần đặt stent trong lòng mạch Thêm vào đó, việc đưa solitaire đến mạch máu
cần can thiệp chỉ cần thông qua một microcatheter với đường kính trong là0,021 hoặc 0,027 inch và đường kính ngoài là 2,3 Fr (so với dụng cụ merci và
hệ thống penumbra cần catheter có đường kính lần lượt là 2,4 Fr và 2,8 - 4,1
Fr), giúp cho khi can thiệp mạch máu, thao tác thực hiện luồn catheter trong
lòng mạch máu dễ dàng, linh động, hiệu quả và an toàn hơn, nhất là ở những
Trang 32thông mạch máu cao và thời gian đạt tái thông mạch máu nhanh hơn Trong
một nghiên cứu so sánh giữa solitaire và các phương pháp can thiệp nội mạch
khác bao gồm lấy huyết khối cơ học và tiêu sợi huyết đường động mạch, dụng
phút so với nhóm còn lại có kết quả tương ứng là 78% và 90 phút [42] Rõ ràng
nhiều trong điều trị đột quỵ thiếu máu não cục bộ
cấp
1.4.5.1 Nghiên cứu ReFlow
lại, lấy stent ra và đặt lại stent nhiều lần, từ đó có thể lấy được nhiều lần vàlấy
cụ solitaire đạt tỷ lệ tái thông là 94% và thời gian tái thông trung bình là 52,5
dụng cụ solitaire với những ưu điểm vượt trội nên ngày càng được ứng dụng
toàn của dụng cụ solitaire trong điều trị tái thông mạch máu não ở những bệnh
nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp có tắc mạch máu lớn nội sọ [129].Nghiên cứu khảo sát trên 40 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ khởi phát
triệu chứng trong vòng 6 giờ Tiêu chí chính là kết cục lâm sàng được đánh giá
bằng thang điểm Rankin hiệu chỉnh ở thời điểm ba tháng Kết quả có 24 bệnh
máu não có triệu chứng (2,5%) Tỷ lệ tử vong là 12,5% Tỷ lệ tái thông mạch
Reflow là nghiên cứu lâm sàng đầu tiên đánh giá tính khả thi và tính an
nhân (60%) có kết cục hồi phục lâm sàng tốt (mRS 0 - 2), một trường hợp chảy
máu thành công là 95% Nghiên cứu này đã cho thấy việc tái thông bằng dụng
cụ solitaire có hiệu quả cao đối với bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ
Trang 331.4.5.2 Nghiên cứu SWIFT (The Solitaire With the Intention for
Thrombec-Vào năm 2012, một bước ngoặt quan trọng khi nghiên cứu SWIFT đượccông bố [137] Nghiên cứu SWIFT được thực hiện từ tháng 2 năm 2010 đến
chứng minh sự tương đương của dụng cụ solitaire so với dụng cụ merci Tại18
tháng 2 năm 2011 là một nghiên cứu đa trung tâm, phân nhóm ngẫu nhiênnhằm
bệnh viện, bệnh nhân thiếu máu não cục bộ cấp nhập viện trong vòng 8 giờ đầu
từ lúc khởi phát triệu chứng được phân nhóm ngẫu nhiên điều trị bằng dụng cụ
solitaire hoặc merci Tổng cộng 113 bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên
điều trị bằng solitaire Thời gian từ khi khởi phát triệu chứng đến khi điều trị ở
Tiêu chí chính của nghiên cứu là đánh giá sự tái thông mạch máu thành công
bao gồm 55 bệnh nhân cho nhóm điều trị bằng merci và 58 bệnh nhân cho nhóm
nhóm điều trị bằng solitaire là 4,9 giờ và ở nhóm điều trị bằng merci là 5,3 giờ
(TIMI ≥ 2) mà không có biến chứng chảy máu não có triệu chứng Nghiên cứu
cho thấy nhóm điều trị bằng dụng cụ solitaire có tỷ lệ đạt được tiêu chí chính
ở nhóm được điều trị bằng dụng cụ merci Tỷ lệ chảy máu não ở nhóm điềutrị
bằng solitaire thấp hơn (17,2%) so với nhóm điều trị bằng merci (38,2%), trong
đó chảy máu não có triệu chứng ở nhóm điều trị bằng solitaire thấp hơn đáng
là 68,5% (37/54 bệnh nhân) cao hơn đáng kể so với 30,2% (16/53 bệnh nhân)
kể so với nhóm điều trị bằng merci (1,7% so với 10,9%) Kết cục hồi phục chức
cũng có tỷ lệ cao hơn đáng kể so với nhóm điều trị bằng dụng cụ merci (58,2%
thấp hơn so với nhóm điều trị bằng merci (17,2% so với 38,2%, p < 0,05) Biến
năng thần kinh tốt tại thời điểm ba tháng đối với nhóm điều trị bằng
solitaire
so với 33,3%) Tỷ lệ tử vong ở thời điểm ba tháng ở nhóm điều trị bằng solitaire
Trang 35bệnh nhân sẽ có thêm một bệnh nhân có kết cục lâm sàng tốt và cứ mỗi babệnh
nhân sẽ giảm đi một bệnh nhân có biến chứng chảy máu não có triệu
chứng
[85] Với những kết quả thu được từ nghiên cứu SWIFT, nghiên cứu đã đượcdừng sớm (khi chỉ mới thu nhận 113 bệnh nhân trên tổng số 200 bệnh nhân như
dự kiến ban đầu) do bởi những lợi ích vượt trội ở nhóm bệnh nhân được điều
trị bằng dụng cụ lấy huyết khối solitaire Nghiên cứu chấm dứt vào tháng 2 năm
2011 và dụng cụ tái thông mạch máu não solitaire nhanh chóng được cơ quan
quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chứng nhận vào tháng 3 năm
2012 được sử dụng như là một dụng cụ lấy huyết khối trong điều trị thiếu máu
não cục bộ cấp
Hình 1.5 Dụng cụ solitaire “Nguồn: Paolo Machi, 2011” [97]
Trang 3635
-1.5 ĐÁNH GIÁ TÁI THÔNG ĐỘNG MẠCH SAU CAN THIỆP
1.5.1 Đánh giá mức độ tái thông động mạch
thành Đánh giá theo các mức độ:
Chụp lại động mạch bằng DSA ở tất cả bệnh nhân sau khi thủ thuật hoàn
1.5.1.1 Phân độ tái tưới máu theo TICI (Thrombolysis in Cerebral
Infarc-Độ 0: Không tái tưới máu Không có dòng ở phía sau vị trí tắc
không thông suốt toàn bộ giường mạch máu ở phần xa đoạn
tắc
tion): Tái thông mạch máu khi TICI ≥ 2 (Xem hình 1.6)
Độ 1: Tái tưới máu mức độ tối thiểu Chất cản quang đi qua vị trí tắc nhưng
Độ 2: Tái tưới máu một phần Chất cản quang đi qua vị trí tắc, làm thông
suốt được toàn bộ giường mạch máu ở phần xa đoạn tắc Tuy nhiên, tốc độdi
chuyển của chất cản quang đi vào giường mạch máu ở phần xa hoặc tốc độ
thanh thải chất cản quang khỏi giường mạch máu chậm hơn bình
thường
2a: Tái tưới máu một phần nhỏ hơn 2/3 giường mạch máu nhìn thấy
độ lấp đầy mạch máu chậm hơn bình thường
2b: Tái tưới máu hoàn toàn giường mạch máu nhìn thấy, tuy nhiên tốc
Độ 3: Tái tưới máu hoàn toàn, bao gồm tất cả các nhánh
xa
1.5.1.2 Phân độ tái tưới máu theo TIMI (Thrombolysis In Myocardial
Infarction): Tái thông mạch máu khi TIMI ≥ 2 [149]
Hình 1.6 Phân độ tái tưới máu theo TICI “Nguồn: Lin M.P., 2015” [93]
Trang 3736
-Độ 0: Không có tái tưới máu Không có dòng máu ở tại và sau vị trí tắc
không có dòng sau vị trí tắc
Độ 1: Tái tưới máu mức độ tối thiểu Có dòng máu qua vị trí tắc nhưng
Độ 2: Tái tưới máu một phần ở đoạn xa, nhưng chậm làm đầy mạch máu
1.5.1.3 Phân độ tái tưới máu theo TIBI (Thrombolysis In Brain Ischemia):
Độ 3: Tái tưới máu hoàn toàn với tưới máu đầy đủ mạch máu ở
xa
bằng hệ thống tiêu chuẩn TIMI: độ 0, 1, 2, 3 Dựa vào đó, Demchuk và cộng
máu dựa trên Doppler xuyên sọ (Xem hình 1.7)
Cộng hưởng từ đã được sử dụng trong việc đánh giá mức độ tái tưới máu
sự đã đưa ra tiêu chuẩn TIBI với 6 độ: từ 0 đến 5 để đánh giá mức độ tái tưới
Không có phổ Doppler (Absent)Dạng sóng tối thiểu (Minimal)Dạng sóng dẹt (Blunted)
Dạng sóng tù (Dampened)
Dạng sóng hẹp (Stenotic)Dạng sóng bình thường (Normal)
Hình 1.7 Các dạng sóng trên siêu âm xuyên sọ quy
ước
1.5.2 Các tai biến liên quan đến thủ thuật: Thuyên tắc mạch máu do kỹ
thuật, bóc tách thành động mạch, chảy máu khoang dưới nhện, thủng
thành động mạch
“Nguồn: Andrew M Demchuk, 2001” [53]
37
-1.6 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.6.1 Nghiên cứu trong nước
Phạm Nguyên Bình và Vũ Anh Nhị [1], thuộc bộ môn Thần kinh Đại học
Y dược Thành phố Hồ Chí Minh đã công bố “Đánh giá tính an toàn và hiệu quả
phương pháp lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học solitaire ở bệnh nhân đột quỵ
thiếu máu não” Nghiên cứu được thực hiện trên 36 bệnh nhân đột quỵ thiếu
máu não cục bộ và các tác giả đã rút ra kết luận: tỷ lệ bệnh nhân hồi phục chức
là 16,7% và tỷ lệ chảy máu não có triệu chứng là
1.6.2 Nghiên cứu ngoài nước
chứng, p = 1) Tỷ lệ tử vong trong ba tháng đầu là 13,3% ở nhóm can thiệp
1.6.2.1 Nghiên cứu MR CLEAN [38]: Là nghiên cứu lâm sàng, đa trung tâm,ngẫu nhiên, điều trị can thiệp nội mạch cho 233 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu
não cục bộ cấp (nhóm can thiệp) và 267 bệnh nhân có hoặc không được điều
trị bằng tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch (nhóm chứng) ở Hà Lan Kết quả tỷlệ
tái thông mạch máu trong 24 giờ đầu ở nhóm điều trị can thiệp là cao hơn nhóm
điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch đơn thuần (80% so với 32%; OR: 6,9;
Trang 38bệnh nhân ở nhóm can thiệp nội mạch được điều trị bằng stent có thể thu hồi.
Kết quả khả quan từ nghiên cứu này đã đem lại cho bệnh nhân đột quỵ có tắc
mạch máu lớn nhiều hứa hẹn
1.6.2.2 Nghiên cứu REVASCAT [80]: Được thực hiện tại bốn trung tâm củaTây Ban Nha với 103 bệnh nhân ở nhóm điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch
(nhóm chứng) và 103 bệnh nhân ở nhóm có hay không điều trị tiêu sợi huyết
mạch đơn thuần (mRS 0 - 2: 32,6% so với 19,1%) Trong nghiên cứu này 97%
đường tĩnh mạch kết hợp với can thiệp nội mạch (nhóm can thiệp), điều trịtrong vòng 8 giờ sau khi khởi phát triệu chứng của đột quỵ thiếu máu não Tất
có vùng nhồi máu lớn trên hình ảnh học Kết quả ghi nhận được như sau: điều
trị can thiệp nội mạch làm giảm tỷ lệ tàn tật nặng (OR hiệu chỉnh: 1,7; KTC
cả bệnh nhân được xác định có tắc động mạch lớn ở tuần hoàn trước và không
95%: 1,05 - 2,8) và cải thiện khả năng sống độc lập (điểm mRS hiệu chỉnh
2) tại ngày thứ 90 (43,7% so với 28,2%; OR hiệu chỉnh: 2,1; KTC 95%: 1,1
-1.6.2.3 Nghiên cứu SWIFT PRIME [136]: Là nghiên cứu ngẫu nhiên tại 39trung tâm của Hoa Kỳ và Châu Âu, tiền cứu, mở trên 196 bệnh nhân đột quỵ bị
tắc đoạn gần động mạch lớn nội sọ ở tuần hoàn trước Nhóm chứng gồm 98
98 bệnh nhân trải qua can thiệp nội mạch bằng stent có thể thu hồi trong vòng
bệnh nhân được điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch, nhóm can thiệp gồm
6 giờ sau khi khởi phát triệu chứng (nhóm can thiệp) Nghiên cứu đã được dừng
lại sớm vì tính hiệu quả của phương pháp can thiệp này Trong nhóm điều trị
Trang 39và can thiệp sớm nhằm cải thiện kết quả hồi phục chức năng thần kinh Bệnh
nhân được chia ra hai nhóm, nhóm điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch đơn
thuần với liều 0,9 mg/kg cân nặng được nhập viện trước 4,5 giờ và nhóm điều
trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch kế tiếp là can thiệp nội mạch với dụng cụ
solitaire FR Bệnh nhân được xác định có tắc động mạch cảnh trong hoặc động
mạch não giữa và có bằng chứng mô não còn có thể cứu vãn được và lỏi nhồi
70 bệnh nhân (35 bệnh nhân cho mỗi nhóm) với kết quả nhóm can thiệp đạt
tái tưới máu, hồi phục chức năng thần kinh sớm (điểm NIHSS giảm ≥ 8 điểm)
và hồi phục chức năng thần kinh tốt nên nghiên cứu đã dừng lại sớm hơn
Trang 4040
-biệt đáng kể về tỷ lệ tử vong cũng như chảy máu não có triệu
chứng
1.6.2.5 Nghiên cứu ESCAPE [65]: Là một nghiên cứu tiền cứu, ngẫu nhiên,
mở, được thực hiện tại 22 trung tâm ở Canada, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Anh và Ái
Nhĩ Lan Nhóm chứng gồm 150 bệnh nhân, trong đó có 118 (78,7%) bệnh nhân
trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch Nhóm can thiệp gồm 165 bệnh nhân, trong
đó có 120 (72,7%) bệnh nhân được điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch và
được điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch đơn thuần và 21,3% không có điều
45 (27,3%) bệnh nhân không có điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch, tiếp
theo là can thiệp động mạch (86% dùng solitaire) Bệnh nhân được xác định có
tắc đoạn gần của động mạch nội sọ ở tuần hoàn trước, được can thiệp trước 12
khi chụp CLVT đến khi bắt đầu tái tưới máu là 84 phút Tỷ lệ bệnh nhân sống
giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng Ở nhóm can thiệp, thời gian trung bình từ
độc lập chức năng thần kinh (điểm Rankin hiệu chỉnh là 0 - 2 ở ngày thứ 90)
của nhóm can thiệp cao hơn hẳn so với nhóm chứng (53,0% so với 29,3%; OR:
2,6; KTC 95%: 1,7 - 3,8; p < 0,001) Nghiên cứu cũng ghi nhận điều trị canthiệp nội mạch làm giảm tỷ lệ tử vong (10,4% so với 19,0% ở nhóm đối chứng,
can thiệp (3,6%) không có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (2,7%) (p =
pháp can thiệp nội mạch
p = 0,04) Trong khi đó, sự khác biệt về chảy máu não có triệu chứng ở nhóm
0,75) Nghiên cứu được dừng lại sớm hơn dự kiến do tính hiệu quả của liệu