1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông thạch thất, hà nội

77 915 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 153,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp10 trường Trung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nội Giáo viên hướng dẫn:Ts.. Ý thức được điểu này, các trường trung

Trang 1

tế tại trường thực tập Cùng với sự nổ lực của bản thân, em đã hoàn thành khoáluận tốt nghiệp của mình.

Từ những kết quả đạt được này, em xin chân thành cám ơn:

Quý thầy cô trường Trường Đại học Sư phạm, đã truyền đạt cho em những

kiến thức bổ ích trong thời gian qua Đặc biệt, là TS Trần Thị Thu Huyền đã tận

tình hướng dẫn em hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này

Trường Trung học phổ thông Thạch Thất đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho

em trong thời gian thực tập và làm khoá luận

Do kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót trong cáchhiểu, lỗi trình bày Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô vàBan lãnh đạo, các bạn học sinh, sinh viên để khoá luận tốt nghiệp đạt được kết quảtốt hơn

Hà Nội, tháng 4 năm 2016

Sinh viên

Trần Thị Thu Huyền DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

(1) GDCD : Giáo dục công dân(2) THPT : Trung học phổ thông

Trang 4

Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp

10 trường Trung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nội

Giáo viên hướng dẫn:Ts Trần Thị Thu Huyền

Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thu Huyền

4

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình hội nhập và phát triển chung của xã hội đã tạo ra điều kiệnphát triển của cá nhân, mặt khác cũng đặt ra những thách thức và nhiệm vụ đòi hỏimỗi cá nhân phải trang bị cho mình không chỉ hành trang tri thức mà còn là những

kỹ năng hành động để chung sống và phát triển Cuộc sống hiện đại đòi hỏi mỗi cánhân phải không ngừng cập nhật giá trị và hoàn thiện giá trị của mình Trong đó,

kỹ năng sống đóng vai trò vô cùng quan trọng Kỹ năng sống giúp cho con ngườiphát triển toàn diện, hoà đồng với các cá nhân khác trong xã hội Đồng thời giúpcon người ứng phó linh hoạt với mọi hoàn cảnh sống khác nhau

Việc đưa kĩ năng sống vào giáo dục bắt buộc tại các trường trung học phổthông hiện nay ở Việt Nam chưa được chú trọng Các nhà giáo dục, thậm chí làphụ huynh học sinh thường cũng ít quan tâm đến giáo dục kĩ năng sống cho họcsinh, họ chỉ tập trung vào các môn được gọi là môn chính (như văn, sử, địa, toán,

lý, hóa, ngoại ngữ) – các môn phục vụ cho thi tốt nghiệp và thi đại học Bên cạnh

đó, các môn như giáo dục công dân, thể chất, ki thuật công nghiệp, kĩ năng sống…chưa được quan tâm thậm chí bị coi thường Với cách hiểu sai lầm và lệch lạc nhưtrên, một số người đang có xu hướng biến quá trình học tập của con em mình thànhquá trình học tập theo trào lưu, theo xu hướng mà không phải học với mục đích:học để sống, học để làm, học để vận dụng và học để thành người

Trên thực tế, trong những năm gần đây, có rất nhiều trường hợp học sinh bịkhủng hoảng tâm lý trầm trọng, nguyên nhân là do: Nhiều gia đình chỉ quan tâmđến việc kiếm tiền, đáp ứng nhu cầu vật chất cho con em mà lãng quên việc dạybảo con em những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống như: Kỹ năng ứng xử, giao

Trang 6

tiếp; Kỹ năng tự bảo vệ Dẫn đến nguy cơ một bộ phận lớn thế hệ trẻ ngày nayphát triển chưa toàn diện

Ý thức được điểu này, các trường trung học phổ thông hiện nay đã bắt đầuquan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống nhưng còn gặp nhiều khó khăn và cũngchưa được dạy một cách triệt để, ví dụ việc giáo dục kĩ năng sống sống ở trườngphổ thông thường được coi như một hoạt động ngoại khóa, có khi 1 năm 2 lần, cókhi 2 tháng 1 lần… mỗi lần tổ chức thì những người tổ chức thấy tốn kém, mấtnhiều côn g sức, bên cạnh đó còn lo lắng cho sự an toàn của các em khi hoạt độngngoài trường, khó kiểm soát…Trong khi đó môn giáo dục công dân hoạt độngchính ở trên lớp lại tỏ ra chậm thay đổi, vẫn sử dụng nhiều giáo trình cũ và cácphương pháp dạy truyền thống, vì vậy, cũng không lôi cuốn và hấp dẫn được ngườihọc Giáo dục kĩ năng sống thì có quá nhiều hoạt động nhưng gặp nhiều khó khăncòn môn giáo dục công dân thì có ít hoạt động , quá trình dạy học diễn ra tương đốibuồn tẻ nhưng lại có một không gian hoạt động tốt là lớp học, có thời gian hoạtđộng liên tục theo từng tuần Do đó, việc tìm ra phương pháp và kết nối được haimôn học này với nhau chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc đào tạo ranhững thế hệ tương lai đáp ứng được với những yêu cầu của thời đại

Với mong muốn nâng cao hiệu quả dạy học học cả hai môn giáo dục kĩ năng

sống và giáo dục công dân, tác giả khóa luận đã lựa chọn đề tài “Tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môngiáo dục công dân Điều tra nhu cầu dạy học thực tế đối với môn giáo dục kỹ năng

6

Trang 7

sống và giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường THPT Thạch Thất, Hà Nội,đưa ra quy trình và phương pháp dạy học tích hợp, tiến hành thực nghiệm và đưa

ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tích hợp giáo dục kỹ năng sống

và giáo dục công dân

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường THPT

- Khảo sát thực trạng dạy học môn giáo dục kĩ năng sống và thực trạng dạy học môn giáo dục công dân.Từ đó đưa ra quy trình và phương pháp dạy học tích cực, tiến hành thực nghiệm và đưa ra một số kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tích hợp

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu việc dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào giáo dục công dâncho học sinh lớp 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khối lớp 10 trường Trung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản

Với đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp phân tích, tổng hợp, kháiquát hoá tài liệu nhằm xác định các khái niệm công cụ và cơ sở lý luận cho vấn đềnghiên cứu

4.2 Nhóm nhương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 8

- Phương pháp điều tra viết bằng bảng hỏi

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp ăng két) là một phươngpháp phỏng vấn viết, được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảnghỏi in sẵn Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ôtương ứng theo một quy ước nào đó

- Phương pháp quan sát

Là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thực nghiệmthông qua các tri giác như nghe nhìn, để thu nhận các thông tin từ thực tế xã hộinhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp phỏng vấn

Đây là phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở quá trình giao tiếpbằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra Trong cuộc phỏng vấn, người phỏng vấnnêu những câu hỏi theo một chương trình được đinh sẵn dựa trên cơ sở luật số lớncủa toán học

- Phương pháp thực nghiệm

Là một phương pháp thu thập thông tin được thực hiện bởi những quan sáttrong điều kiện gây biến đổi đối tượng khảo sát và môi trường xung quanh đốitượng khảo sát một cách có chủ định Phương pháp thực nghiệm được áp dụng phổbiến không chỉ trong nghiên cứu tự nhiên, kỹ thuật, y học mà cả trong xã hội vàcác lĩnh vực nghiên cứu khác

4 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, danh mục tài liệu thamkhảo, phần nội dung luận văn được kết cấu gồm 2 phần lớn:

8

Trang 9

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống vàomôn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trườngtrung học phổ thông ThạchThất, Hà Nội.

Chương 2: Khảo sát thực trạng dạy học tích hợp và tiến hành thực nghiệm dạyhọc tích hợp kĩ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trườngtrung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nội

Trang 10

NỘI DUNG Chương 1: Một số lý luận cơ bản về việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào

môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nội 1.1 Kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống

1.1.1 Khái niệm kĩ năng sống

Kỹ năng sống (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọilứa tuổi trong mọi hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ), Tổ chức y

tế thế giới (WHO), Quỹ cứu trợ nhi đồng (UNICEF), Tổ chức văn hoá, khoa học

và giáo dục của LHQ (UNESCO) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục kỹnăng sống cho thanh thiếu niên Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn nằmtrong tình trạng chưa có một định nghĩa rõ ràng, đầy đủ

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống, mỗi quan niệm

có cái đặc sắc và hợp lý riêng trong từng trường hợp cụ thể:

Theo quan niệm của tổ chức văn hóa, khoa học giáo dục của Liên Hiệp Quốc(UNESCO): KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và thamgia vào cuộc sống hàng ngày (Tổ chức y tế thế giới WHO 2003) [24;5]

Theo quan niệm của tổ chức y tế thế giới (WHO): KNS là những kỹ năngmang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong các tìnhhuống hằng ngày để tương tác có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệuquả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày (theo Hội khuyếnhọc tỉnh Hoà Bình 10/01/2013)

10

Trang 11

Theo quỹ nhi dồng Liên Hợp Quốc (UNICEF): KNS là cách tiếp cận giúpthay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng vềtiếp thu tri thức, hình thành thái độ và kỹ năng[Luận án Tiến sĩ giáo dục “Giáo dục

kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua giờ giáo dục ngoài giờlên lớp, tác giả Phan Thanh Vân]

Với mục đích giúp người học ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tựhoàn thiện mình, UNCIEF phân loại kỹ năng sống theo các mối quan hệ cá nhânvới các nhóm KNS:

+ Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác, với các kỹ năng thànhphần: kỹ năng quan hệ tương tác liên nhân cách, sự cảm thông, đứng vững trước áplực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả+ Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kỹ năng: tư duyphê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề[Những kỹ năng sinhviên cần biết – Báo Tuổi trẻ]

Những cách phân loại trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có giá trị trongnghiên cứu phát triển lý luận về KNS và chỉ có tính chất tương đối Trên thực tế,các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia vào một tình huống

cụ thể, con người cần phải sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau Ví dụ khi cần quyếtđịnh một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng những kỹ năng như: kỹ năng tự nhậnthức, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng tư duy sáng tạo và kỹ năng kiên định,…

Từ các khái niệm nêu trên, ta có thể rút ra nhận xét: Có nhiều cách biểu đạtkhái niệm kỹ năng sống với quan niệm rộng hẹp khác nhau tuỳ theo cách tiếp cậnvấn đề Khái niệm kỹ năng sống được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm nhữngnăng lực tâm lý xã hội (TLXH) Theo nghĩa rộng, KNS không chỉ bao gồm nănglực TLXH mà còn bao gồm cả kỹ năng vận động

Trang 12

Mặc dù cách biểu đạt khái niệm KNS có khác nhau nhưng điểm thống nhấttrong các quan niệm về KNS là: Khẳng định KNS thuộc về phạm trù năng lực, chứkhông thuộc về phạm trù kỹ thuật của hành động, hành vi.

Do tính chất phức tạp của KNS nên trong thực tế, các tài liệu về kỹ năng sống

đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào nghề, cách học ngoạingữ, kỹ năng làm cha mẹ đến tổ chức trại hè Tuy nhiên cần phân biệt giữa những

kỹ năng để sống còn (livelihood skills, survival skills) như học chữ, học nghề, làmtoán, bơi lội… với khái niệm kỹ năng sống đã được đề cập ở các định nghĩa nêutrên

Tóm lại, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu vực

và từng quốc gia Theo đó, vấn đề phát triển KNS cho thanh thiếu niên ở các nướccũng khác nhau Tuy nhiên xu hướng chung là sử dụng khái niệm KNS củaUNESCO (sử dụng khái niệm KNS theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt độngphát triển KNS cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên Kháiniệm KNS theo nghĩa rộng còn đề cập đến khả năng con người quản lý được cáctình huống rủi ro Đây chính là khả năng con người quản lý một cách hợp lý bảnthân, người khác và xã hội trong cuộc sống thường ngày

Với phân tích nêu trên, tôi rút ra khái niệm KNS với nội hàm: “Khả năng làm cho hành vi của mình thay đổi phù hợp với cách ứng xử, giúp con người vượt qua thách thức của cuộc sống”.

Từ khái niệm trên, tác giả khóa luận sẽ chỉ tập trung vào nghiên cứu một số kĩnăng cơ bản sau: Kỹ năng xác định giá trị bản thân, kỹ năng giao tiếp, kỹ năngđương đầu với cảm xúc, căng thẳng và kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tíchcực.Sở dĩ tác giả lựa chọn các kĩ năng cơ bản này trong khái niệm kĩ năng sống vì

12

Trang 13

tác giả cho rằng các kĩ năng này rất cần để giáo dục học sinh THPT, chuẩn bị nềntảng vững chắc để các em tự tin bước vào đời.

1.1.2 Giáo dục kĩ năng sống

Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổchức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức và thái độ, giá trịthành hành động thực tế một cách tích cực và mang tính xây dựng Giáo dục KNScho học sinh là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, làxây dựng hoặc thay đổi ở các em theo hành vi tích cực phù hợp với mục tiêu pháttriển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp học sinh có tri thức, giá trị,thái độ và kỹ năng phù hợp

Giáo dục KNS được áp dụng theo nhiều cách khác nhau và nhiều lĩnh vựckhác nhau, tuỳ từng địa phương Ở một số nơi, KNS được hướng vào giáo dục vệsinh, dinh dưỡng và phòng bệnh Một số nơi khác, giáo dục KNS nhằm vào giáodục hành vi ứng xử, giáo dục an toàn trên đường phố, giáo dục bảo vệ môi trường,giáo dục phòng chống HIV/AIDS hay giáo dục lòng yêu hoà bình…

Giáo dục KNS là cách giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, làxây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cựctrên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng thích hợp.Giáo dục KNS có mục đích là thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụđộng, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vimang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cánhân và góp nhần phát triển bền vững cho xã hội

1.1.3 Vai trò của giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường THPT

Trang 14

Một là, giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh hình thành được các kĩ năng cần

thiết để tham gia tích cực vào các hoạt động học tập và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các em

Đây là yếu tố cơ bản giúp học sinh trung học phổ thông có thể tham gia cáchoạt động phong phú, đa dạng, phức tạp của chương trình giáo dục trung học phổthông và thích ứng tốt với các hoạt động sinh hoạt đời thường Bởi vì ở lứa tuổinày, học sinh trung học phổ thông là giai đoạn đã trưởng thành về mặt thể lực,nhưng sự phát triển cơ thể còn chưa vững chắc, các em bắt đầu thời kỳ phát triểntương đối êm ả về mặt sinh lý Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổiquan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não pháttriển, cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tếbào não của người lớn, số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phầnkhác nhau của vỏ đại não, điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạtđộng phân tích, tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập và rènluyện,… Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho các em học sinh trung học phổ thôngcàng sớm càng tốt

Hai là, với các hoạt động và các kĩ năng được hình thành qua giáo dục kĩ

năng sống giúp các em học sinh THPT có hứng thú học tập và có ý thức chủ động hơn với quá trình học tập của mình.

Ở học sinh trung học phổ thông tính chủ định trong nhận thức được phát triển,tri giác có mục đích đã đạt đến mức cao, quan sát trở nên có mục đích, hệ thống vàtoàn diện hơn, tuy nhiên nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên thì quan sát của các emcũng khó đạt được hiệu quả cao Vì vậy, giáo viên cần quan tâm hướng quan sátcủa các em vào những nhiệm vụ nhất định, không vội kết luận khi chưa tích luỹ đủcác sự kiện Có thể nói nhận thức của học sinh trung học phổ thông chuyển dần từnhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính, nhờ tư duy trừu tượng dựa trên kiến

14

Trang 15

thức khoa học và vốn sống thực tế của các em đã tăng dần Hứng thú học tập củacác em gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp, ý thức học tập đã thúc đẩy sự pháttriển tính chủ định trong các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân,điều này giúp các em có thể tham gia hoạt động giáo dục với vai trò chủ thể củahoạt độngđó.

Ba là, giáo dục kĩ năng sống giúp các em học sinh THPT hình thành nhân

sinh quan và thế giới quan tốt, tích cực về xã hội, tự nhiên, các nguyên tắc và quy tắc ứng xử trong cuộc sống.

Ở lứa tuổi này, các em mong muốn khám phá cuộc sống xung quanh càngnhiều càng tốt, chúng bắt đầu có những trải nghiệm phong phú trong cuộc sống, có

cả những trải nghiệm tích cực và có cả những trải nghiệm tiêu cực Vì thế, các emhọc sinh ở giai đoạn này cần có những kĩ năng sống cần thiết để vượt qua nhữngkhó khăn trong cuộc sống, để phân biệt được đúng sai và có đủ bản lĩnh để vượtqua những cám dỗ, những sai lầm, thất bại đầu đời Bên cạnh đó, các em cũng cần

có những kĩ năng cần thiết để xây dựng và mở rộng các mối quan hệ với nhữngngười xung quanh (gia đình, bạn bè, xã hội…)

1.2 Lý luận về việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh THPT

1.2.1 Dạy học tích hợp – xu hướng tất yếu của thời đại

Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận dạyhọc Tích hợp (Tiếng Anh, tiếng Đức: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh:Integration với nghĩa là xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sởnhững bộ phận riêng lẻ

Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực

Trang 16

chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho conngười phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loạihình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốncó.

Trong dạy học (DH) các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp cácnội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống

từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiếtvào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung GD dân số,

GD môi trường, GD an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việthay Tự nhiên và xã hội… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyềnthống

Tích hợp là một trong những quan điểm GD đã trở thành xu thế trong việc xácđịnh nội dung DH trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trìnhmôn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sởnhững quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học

Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợptrong GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phứctạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việc các mônhọc, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ Tích hợp là một trong những quan điểm

GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủphẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Nhiềunước trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong

DH và cho rằng quan điểm này đã đem lại hiệu quả nhất định

Từ những quan điểm nêu trên, chúng ta có thể hiểu, dạy học tích hợp là:

16

Trang 17

Thứ nhất, lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của

một môn học Thí dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục môi trường,bảo vệ sức khỏe, giáo dục tiết kiệm vào nội dung các môn học: giáo dục côngdân; địa lý, sinh học, vật lý, hóa học, toán, ngoại ngữ

Thứ hai, xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống.

Thứ ba, giáo viên có thể tích hợp các nội dung ở các môn học khác nhau,

hoặc các kiến thức khác liên quan đến bài giảng để chuyển tải đến học sinh nhữngchủ đề giáo dục lồng ghép thông qua các hình thức truyền đạt bằng trình chiếu,giảng dạy, thảo luận, dạy học theo dự án

1.2.2 Tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 ở trường THPT

Trước yêu cầu cấp bách về việc tích hợp đưa KNS và chương trình giáo dụchọc đường, trong đó có giáo dục phổ thông nói chung, THPT nói riêng, thời gianqua Bộ giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học về việc xây dựngchương trình giáo dục KNS cho học sinh các cấp học Một trong những vấn đềđược quan tâm ở các hội thảo này là phương thức thực hiện giáo dục KNS cho họcsinh như thế nào cho hiệu quả Tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm của một số nướccho thấy có 3 phương án thực hiện KNS cho học sinh là:

+ Xây dựng môn học về giáo dục KNS đưa vào chương trình học tập chohọc sinh

+ Lồng ghép vào các nội dung giáo dục KNS vào các môn học có ưu thế vàcác hoạt động giáo dục khác

+ Tích hợp giáo dục KNS vào các môn học và các hoạt động giáo dục trong

đó có hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Trang 18

Tôi cho rằng, cần xác định giáo dục tích hợp KNS là mục đích của giáo dục,theo đó tất cả các môn học, các hoạt động giáo dục trong nhà trường phải hướngđến giáo dục KNS cho học sinh Có như vậy, giáo dục tích hợp KNS cho học sinhmới được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục cả về thời gian và không gian.Nhờ đó mà các mục tiêu về giáo dục KNS cho học sinh mới đạt được ở mức độcao Đây cũng là lý do tôi chọn phương thức tích hợp là phương thức giáo dụcKNS cho học sinh trong trường THPT.Như vậy, theo phạm vi giới hạn của khoáluận, vấn đề giáo dục tích hợp KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạyhọc tích hợp vào môn GDCD chính là thực hiện việc giáo dục KNS theo phươngthức tích hợp.

Tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào môn GDCD cho học sinh THPT là việc giáo viên tổ chức các hoạt động đa dạng phong phú nhằm kích thích học sinh tham gia một cách tích cực, chủ động vào các quá trình hoạt động và học tập môn GDCD ở trên lớp, thông qua đó, giúp học sinh hình thành được những kĩ năng sống cần thiết và những tri thức cơ bản của môn GDCD để các em hoàn thiện và phát triển nhân cách toàn diện.

Giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục dạy học tích hợp vào mônGDCD là quá trình thiết kế, vận hành đồng bộ các thành tố của hoạt động dạy họcmôn GDCD và giáo dục kỹ năng sống trong một chỉnh thể để thực hiện mục tiêucủa giáo dục KNS Về bản chất, giáo dục KNS thông qua hoạt động dạy họcGDCD là thực hiện tích hợp hoạt động giáo dục kỹ năng sống lồng ghép vào mônGDCD

Để thực hiện tích hợp giáo dục KNS với hoạt động dạy học môn GDCD theophương pháp tích hợp nêu trên, cần thiết phải thực hiện các nội dung sau:

18

Trang 19

+ Tích hợp được các mục tiêu của giáo dục KNS cho học sinh THPT tronghoạt động học môn GDCD.

+ Xác định cụ thể các nội dung giáo dục KNS để tích hợp vào nội dung củahoạt động dạy học GDCD

+ Lựa chọn các phương pháp để thực hiện các nội dung của hoạt động dạyhọc GDCD phù hợp với phương pháp, giúp học sinh hình thành và phát triển KNS

1.2.3 Nguyên tắc dạy học tích hợp giữa giáo dục kĩ năng sống và GDCD

- Nguyên tắc tiếp cận hoạt động và nhân cách trong giáo dục tích hợp KNS cho học sinh thông qua dạy học môn GDCD

Nhân cách con người chỉ được hình thành thông qua hoạt động và bằng hoạtđộng Vì vậy, KNS của học sinh chỉ có thể được hình thành thông qua học tập vàgiảng dạy cũng như các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Vì vậy trongquá trình tổ chức hoạt động dạy học GDCD, giáo viên phải là người tạo ra độnglực cho người học, làm cho người học tham gia tích cực vào quá trình hình thành

kỹ năng sống nói chúng và kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quyết định, kỹ nănggiao tiếp, kỹ năng thương lượng, kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng ứng phóvới cảm xúc, v.v… Phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động phải thực sự làphương pháp tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức, rèn luyện KNS cho học

Trang 20

sinh làm cho hoạt động dạy học GDCD nói chung và hoạt động giáo dục tích hợpKNS cho học sinh nói riêng trở thành hoạt động cùng nhau của cả giáo viên và họcsinh trong nhà trường THPT.

-Giáo dục tích hợp KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạy học môn GDCD phải đảm bảo xuất phát từ quyền và bổn phận học sinh

Mọi phương pháp biện pháp và hình thức giáo dục KNS cho học sinh THPTđều hướng tới thay đổi hành vi cho các em và phù hợp với khả năng tiếp nhận củacác em, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Vì vậy phương pháp vàhình thức tổ chức phải đa dạng và phong phú đều hướng tới người học:

+ Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, giáo viên cần phải phát huy

tích cực, tính tự chủ của học sinh trong việc sử dụng quyền và bổn phận của trẻ em

để giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động, đồng thời giáo dục cho học sinh kỹ nănggiải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng ứng phó vớixúc cảm, kỹ năng giao tiếp, v.v…

+ Gắn nội dung dạy học GDCD với thực tế cuộc sống để học sinh kiểmnghiệm quyền và bổn phận của mình, từ đó giúp các em có nhận thức đúng, có thái

độ hành vi phù hợp để thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em, kỹ năng ra quyếtđịnh trong cuộc sống hàng ngày

-Phát huy thế mạnh của môn GDCD để giáo dục tích hợp KNS cho học sinh THPT.

Hoạt động dạy học tích hợp vào môn GDCD là hoạt động được tổ chức theomục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục THPT dưới sự hướng dẫn của giáo viênchủ nhiệm lớp hay nhà sư phạm Thông qua đó, tạo cơ hội cho học sinh biến quátrình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm trithức, thái độ, quan điểm và hành vi ứng xử của mình trong một môi trường an

20

Trang 21

toàn, thân thiện có định hướng giáo dục Thông qua môn GDCD có thể giúp HSsống một cách an toàn, khoẻ mạnh có khả năng thích nghi với những biến đổi củacuộc sống hàng ngày bởi nội dung hoạt động đa dạng, phong phú, hình thức vàphương pháp thực hiện luôn luôn đổi mới.

Tóm lại, nguyên tắc trên là những tư tưởng, quan điểm có tính chỉ đạo xuyênsuốt quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy họcmôn GDCD ở trường THPT Chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung hỗtrợ lẫn nhau và được khoa học nói chung thừa nhận và có tính phổ biến

1.2.4 Tích hợp về nội dung giữa giáo dục kĩ năng sống và GDCD

Tích hợp nội dung dạy học giữa giáo dục kĩ năng sống và môn GDCD làmột trong những việc làm cần thiết trong dạy học tích hợp Việc tích hợp nội dungchỉ diễn ra khi: Giáo viên phải xác định một số yếu tố sau: (1) Xác định mục tiêutích hợp; (2) Xác định các giá trị trong giáo dục kĩ năng sống mà người học cần đạtđược; (3) Nhóm các giá trị đó vào các nội dung dạy cụ thể theo từng vấn đề hoặctừng bài của chương trình giáo dục công dân

Theo giới hạn của khoá luận, tôi chỉ tập trung vào các kỹ năng như: Kỹ năngxác định giá trị bản thân; kỹ năng giao tiếp có hiệu quả; kỹ năng đương đầu vớicảm xúc căng thẳng; kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực

- Kỹ năng xác định giá trị bản thân:

Là khả năng xác định những đức tính, niềm tin, thái độ, chính kiến nào đócủa mình cho là quan trọng và giúp ta hành động theo phương hướng đó Xác địnhgiá trị ảnh hưởng đến ra quyết định và hành động của con người Với kỹ năng này,

có thể tích hợp vào bài sau: Bài 10: Quan niệm về đạo đức; Bài 11: Công dân vớimột số vấn đề cấp thiết của nhân loại; Bài 16: Tự hoàn thiện bản thân

Trang 23

- Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả:

Là khả năng tạo dựng mối quan hệ và khả năng ứng xử của con người trongmối quan hệ với người khác đạt được kết quả cao nhất theo mục tiêu đã định Kỹnăng giao tiếp có hiệu quả bao hàm trong nó cả kỹ năng lắng nghe và hiểu đượcngười khác Đồng thời, kỹ năng này là sự phối hợp của nhiều KNS khác như: Kỹnăng tự nhận thức, kỹ năng thương lượng, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng chia

sẻ, kỹ năng kiềm chế.Với kỹ năng này, ta có thể tích hợp vào các bài học cụ thểnhư: Bài 12:Công dân với tình yêu hôn nhân và gia đình; Bài 16: Tự hoàn thiệnbản thân

- Kỹ năng đương đầu với cảm xúc căng thẳng:

Là khả năng kiềm chế xúc cảm và tự giải thoát khỏi trạng thái căng thẳng

Kỹ năng đương đầu với cảm xúc căng thẳng giúp học sinh nhận biết được một sốtình huống tạo nên căng thẳng nhận biết được những biểu hiện của sự căng thẳng

và tác động của nó đến cuộc sống.Với kỹ năng này, ta có thể tích hợp vào các bàihọc cụ thể như: Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc; Bài16: Tự hoàn thiện bản thân

- Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực:

Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực là khả năng nhận thức đượccác mâu thuẫn nảy sinh trong cuộc sống và các nguyên nhân của những mâu thuẫn

đó để bình tĩnh suy nghĩ về cách thức giải quyết mâu thuẫn đó một cách thiện chí

Kỹ năng này đòi hỏi ở học sinh tư duy phê phán, tư duy sáng tạo để nhìn nhận vấn

đề và đánh giá người khác, biết lắng nghe, thừa nhận ý kiến hợp lý của người khác,biết cách thương lượng và ra các quyết định hợp lý Với kỹ năng này, ta có thể tíchhợp vào các bài học cụ thể như: Bài 13: Công dân với cộng đồng; Bài 14: Côngdân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc

Trang 24

1.2.5 Một số phương pháp cơ bản được sử dụng trong dạy học tích hợp giữa giáo dục kĩ năng sống và môn GDCD

Việc sử dụng phương pháp nào vào dạy học tích hợp luôn là vấn đề được ưutiên hàng đầu trong đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là dạy học tích cực Vìvậy để nữa chọn được những phương pháp phù hợp nhất, cần thiết phải bắt nguồn

từ những cầu sử dụng phương pháp tiến bộ nhất hiện nay Đó là hai hướng tiếp cậnsau:

+ Phương pháp tiếp cận cùng tham gia: tạo sự tương tác giữa giáo viên vớihọc sinh, học sinh với học sinh và tăng cường sự tham gia của học sinh trong họctập, thực hành kỹ năng

+ Phương pháp tiếp cận hướng vào người học: dựa vào kinh nghiệm sống vàđáp ứng nhu cầu của học sinh

Với các phương pháp tiếp cận trên, các phương pháp dạy học cụ thể được sửdụng trong giáo dục KNS cho học sinh THPT là: Phương pháp đàm thoại, phươngpháp tổ chức thảo luận nhóm, phương pháp xử lý tình huống,phương pháp tổ chứcmột số hoạt động trải nghiệm sáng tạo…

Để thực hiện phương pháp này giáo viên cần phải:

24

Trang 25

+ Phải làm cho học sinh ý thức được mục đích của toàn bộ hay một phần lớncủa cuộc đàm thoại Hệ thống câu hỏi phải được lựa chọn và sắp xếp hợp lý, gắn

bó với nhau thành một thể thống nhất

+ Các câu hỏi được chia thành đơn giản và phức tạp.Số lượng và tính chấtphức tạp của câu hỏi phụ thuộc vào tính phức tạp của đối tượng nghiên cứu, kiếnthức cần thiết để tiếp thu tài liệu mới, trình độ phát triển của học sinh Sau khi giảiquyết xong một vấn đề cần tổng kết lại kết quả của việc giải quyết vấn đề nêu ra

+ Phải đảm bảo nguyên tắc đàm thoại với cả lớp và không bị động “theođuôi” lớp.Muốn vậy cần đặt câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ rồi mới chỉ định một họcsinh trả lời, không chiều theo ý muốn của học sinh đi lệch khỏi trọng tâm vấn đề

- Phương pháp tổ chức thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp được yêu thích và sử dụngthường xuyên trong hoạt động dạy - học tích cực Mỗi giáo viên phải nắm vữngphương pháp, có kỹ năng trong tổ chức, điều khiển các hoạt động này

-Phương pháp xử lý tình huống

Trong lĩnh vực giáo dục,người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức cho họcsinh mà còn phải đối mặt với một số tình huống sư phạm nan giải.Trước nhữngtình huống đó mỗi người sẽ có một cách giải quyết khác nhau

-Phương pháp tổ chức một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) nhằm định hướng, tạo điều kiệncho học sinh quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn, qua đó tổ chứckhuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho các em tích cực nghiên cứu, tìm ranhững giải pháp mới, sáng tạo những cái mới trên cơ sở kiến thức đã học trong nhà

Trang 26

trường và những gì đã trải qua trong thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành ý thức,phẩm chất, kĩ năng sống và năng lực cho học sinh

HĐTNST có nội dung rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiếnthức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dụcđạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dụcnghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giaothông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chốngHIV/AIDS và tệ nạn xã hội

HĐTNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câulạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hộithi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt độngcộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múarối, tiểu phẩm, kịch tham gia…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội… Mỗi hìnhthức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định

1.2.6 Quy trình thực hiện một buổi học tích hợp giáo dục kĩ năng sống và môn GDCD trên lớp cho học sinh lớp 10 trường THPT

Lập kế hoạch, phân công công việc

Trên lớp(cuối buổihọc trước)

Nghiên cứu trướcnội dung bài họcGDCD

- Chỉ ra đượcnhững nộidung cơ bảncủa bài học

26

Trang 27

- GDCD: học

sinh sẽ thuđược đơn vịkiến thức nàosau khi họcxong?

- Chỉ ra nhữngtình huống cóvấn đề (nếucó)

- Hoặc sẽ tựnghiên cứukịch bản vàphân vai diễn

Học sinh tựlựa chọn nơithảo luậnhoặc đóngkịch

Tranh luận và hợptác với bạn cùngnhóm để hoànthành phần việc củamình

Trang 28

5 Tổ chức buổi học

trên lớp

Các nhóm trình bày hoặc diễn kịch mà nhóm mình đã

trước

Tại lớp học Các nhóm lần lượt

diễn, còn các nhómkhác xem và sau đóđưa ra lời bình luận

Tại lớp học Tóm tắt, rút ra kết

luận và ý nghĩa củabuổi học hôm đó

28

Trang 29

Chương 2:

Khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng sống và dạy học môn GDCD chohọc sinh lớp 10 trường trung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nộivà tiến hành thực nghiệm dạy học tích hợp kĩ năng sống vào môn GDCD 2.1 Khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng sống và dạy học môn GDCD cho học sinh lớp 10 trường THPT Thạch Thất, Hà Nội

2.1.1 Vài nét về trường THPT Thạch Thất, Hà Nội và học sinh khối lớp 10 của trường

* Giới thiệu về trường THPT Thạch Thất, Hà Nội

Được thành lập từ những năm đất nước còn trong khói lửa của bom đạn chiếntranh, Trường THPT Thạch Thất ra đời và trưởng thành cùng với lịch sử của quêhương, của dân tộc Trường nằm trên đường 420, khu vực xã Kim Quan, huyệnThạch Thất, Thành Phố Hà Nội Hiện nay trường có gần 1400 học sinh và hơn 100giáo viên và cán bộ công nhân viên chức

Trong những năm qua nhà trường đã có nhiều thành tích đáng tự hào của thế

hệ thầy và trò nhà trường Năm 2006, trường được tặng thưởng Bằng khen củaChính Phủ Nhiều năm liền Trường đạt danh hiệu Trường tiên tiến xuất sắc cấpTỉnh và Thành phố

Năm học 2010 - 2011 vừa qua, tỉ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp THPT đạt100%, tỉ lệ học sinh thi đỗ đại học cao đẳng đạt gần 45%, có 12 học sinh giỏi cấpThành phố, 02 giáo viên dạy giỏi cấp thành phố, 13 sáng kiến được xếp loại C cấpthành phố, 04 sáng kiến được xếp loại B cấp thành phố.Luôn ý thức “Tri thức làkhởi nguồn cho mọi thành công”, tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh trườngTHPT Thạch Thất đã và đang không ngừng phấn đấu trong học tập, trau dồi phẩm

Trang 30

chất đạo đức để tiếp tục gặt hái được những thành tích lớn hơn nữa, góp sức mìnhxây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

*Vài nét về học sinh khối 10 trường Trung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nội

TrườngTHPT Thạch Thất, Hà Nội có: 14 lớp khối 10, với gần 600 học sinhlớp 10 Đến từ nhiều địa bàn xã khác nhau như: Kim Quan; Hương Ngải; ĐạiĐồng… Với số học sinh đông như vậy, nhà trường đã bố trí phân chia khối lớp 10

ra học làm 2 buổi, đó là khối 10 học buổi sáng và khối 10 học buổi chiều để thuậntiện cho việc học tập của các em

Đặc điểm tâm lý học sinh khối 10, các em vừa mới qua giai đoạn học Trunghọc cơ sở, vẫn còn bỡ ngỡ, chưa thể thích nghi với môi trường Trung học phổthông Đây là thời kỳ đầu của tuổi thanh niên (15 tuổi – 18 tuổi vì thế các em cònmang tư tưởng học sinh cấp 2 như: mải chơi, còn nói chuyện trong giờ, chưa tự lậpđược cho bản thân, thiếu tập trung… Do đó, ta cần giáo dục kỹ năng sống cho họcsinh, để giúp các em tự hoàn thiện mình và thích nghi được với môi trường làmviệc mới Như vậy, sẽ tạo hành trang cho các em sau này khi vào đời, không cònnhững bỡ ngỡ, thuần thục được các kỹ năng sống

2.1.2 Thực trạng vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối lớp 10 ở trường THPT Thạch Thất, Hà Nội

Để đánh giá thực trạng dạy tích hợp KNS cho học sinh THPT thông quahoạt động dạy học môn GDCD, đề tài đã tiến hành khảo sát trên 3học sinh khối lớp

10 THPT trường THPT Thạch Thất, Hà Nội

Nội dung khảo sát được tập trung vào 2 vấn đề: Một là nhận thức học sinh

về KNS; Hai là đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng sống và dạy học GDCD chohọc sinh, đưa ra giải pháp phù hợp Kết quả khảo sát như sau:

30

Trang 31

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát nhận thức kỹ năng sống của học sinh trường THPT Thạch Thất (Đơn vị: %)

A Kỹ năng sống là ứng phó với những tình huống trong cuộc

sống

35

B Kỹ năng sống là khả năng làm cho hành vi của mình thay

đổi phù hợp với cách ứng xử, giúp con người vượt qua thách

thức của cuộc sống

17

C Kỹ năng sống là sự thích nghi với môi trường 12

D Kỹ năng sống là bao gồm những năng lực tâm lý xã hội 36

Từ kết quả cho thấy có 35% học sinh chọn phương án A, chiếm tỷ lệ %nhiều nhất Các em cho rằng “Kỹ năng sống là ứng phó với tình huống trong cuộcsống” Phương án D chiếm tỷ lệ ít nhất là 12% cho rằng “Kỹ năng sống là sự thíchnghi với môi trường” Với cách hiểu này, các em chỉ hiểu đúng được một phầntrong khái niệm kỹ năng sống Khái niệm đầy đủ về kỹ năng sống là B “Khả nănglàm cho hành vi của mình thay đổi phù hợp với cách ứng xử, giúp con người vượtqua thách thức của cuộc sống” Tuy nhiên chỉ có 17% số học sinh hiểu được đúng

Làm được

Thành thạo

Trang 32

8 Kỹ năng xác định giá trị bản thân 21 31 25 23

Kỹ năng sống của học sinh trung học phổ thông còn rất nhiều hạn chế, đặcbiệt là 9 kỹ năng sống đã được liệt kê phần lớn các em cần phải có sự trợ giúp mới

có thể thực hiện tốt những KNS cơ bản Bên cạnh đó có những KNS học sinh đãđược tiếp nhận thông tin ở mức độ “Thành thạo” nhưng chưa nhiều.Với kỹ năng raquyết định, đa số các em còn lúng túng, số còn lại làm được chưa được nhiều Chỉ

có 15 % có thể làm thành thạo Do đó, các em cần được bổ sung thêm các kỹ năng.Tuy nhiên một số kỹ năng cũng được các em làm thành thạo như kỹ năng suy nghĩ

có phán đoán là chiếm 40% trong tổng số 100% học sinh được hỏi Còn lại, các kỹnăng khác vẫn còn nhiều lúng túng hoặc làm có sự trợ giúp Chẳng hạn như: Kỹnăng suy nghĩ một cách tích cực chiếm 39% còn lúng túng, trong khi đó, số họcsinh làm ở mức độ thành thạo thì chỉ có 10% Hai nhóm kỹ năng chiếm tỷ lệ lúngtúng nhiều nhất thuộc về: kỹ năng xác định giá trị bản thân; kỹ năng giao tiếp giữangười với người Ở hai kỹ năng này, có đến 43 % học sinh đều cho rằng mình cònlúng túng, chiếm tỷ lệ cao nhất trong 9 kỹ năng sống được đưa ra Điều này chothấy, ở hai kỹ năng này, học sinh còn chưa thể vận dụng linh hoạt trong cách ứng

xử Bởi đây là lứa tuổi mới bỡ ngỡ từ Trung học cơ sở lên Trung học phổ thông.Các em vẫn còn chưa tập trung, còn trẻ con trong cách nghĩ, có lẽ vì thế mà với các

em, hai kỹ năng này khiến các em trở nên lúng túng nhất

Giai đoạn đầu của tuổi thanh niên (15-18 tuổi) đây là khoảng thời gian phùhợp nhất để tích hợp kỹ năng sống, để khi ra ngoài cuộc sống, các em không khỏi

bỡ ngỡ khi đứng trước những tình huống, thách thức khó khăn, khi phải đương đầuvới cảm xúc căng thẳng Với học sinh lớp 10, việc đương đầu ứng phó với cảm xúccăng thẳng không phải chuyện đơn giản, bởi đây là lúc các em vẫn còn thích thểhiện mình, vẫn còn thích đề cao cái tôi Vì vậy nếu không kiềm chế được cảm xúc,

sẽ dẫn đến những xích mích trong học đường Cũng vì lẽ đó, mà khi được hỏi về

32

Trang 33

Kỹ năng ứng phó với cảm xúc căng thẳng, có đến 38% học sinh cho rằng mình cònlúng túng Trong khi đó chỉ có 17 % học sinh thực hiện kỹ năng này được thànhthạo Qua đó ta khắc phục bằng cách tích hợp dần các kỹ năng này vào môn họcgiáo dục công dân trên lớp Chẳng hạn như cho các em đóng vai vào các nhân vậtkhác nhau để có thể rèn luyện thêm kỹ năng này cho các em

Kỹ năng xác định giá trị bản thân, ở kỹ năng này, các mức độ thực hiệnkhông chênh lệch nhiều lắm so với các kỹ năng trước Sở dĩ, không có sự chệnhlệch nhiều là vì các em có sự nhận thức không đồng đều Có những em ý thức rấttốt về giá trị bản thân mình, chẳng hạn như biết mình mạnh ở điểm nào, yếu ởđiểm nào, học lực tốt nhất là môn gì, yếu nhất là môn gì Do đó có một số em thựchiện tốt kỹ năng này, tuy nhiên một số em còn mơ hồ và lúng túng khi được hỏi về

kỹ năng này Cụ thể là: 23% học sinh cho rằng mình thành thao khi thực hiện kỹnăng này; 25% “làm được”; 31% học sinh làm được khi có sự trợ giúp, chiếm tỷ lệcao nhất Điều này cho thấy, để có thể xác định giá trị bản thân mình, các em chưathể suy nghĩ một cách độc lập Vẫn còn nhờ sự tư vấn của gia đình, bạn bè, thầy cô

để phát hiện ra giá trị của bản thân mình Đây cũng là dễ hiểu, bởi ở lứa tuổi này,các em vẫn còn chưa thể thoát ly hẳn với môi trường THCS, vừa mới chập chữngbước vào trường THPT nên các em vẫn còn tính cách của trẻ con: ngây thơ, mảichơi và chưa độc lập trong suy nghĩ Bởi vậy, khi được giáo dục về kỹ năng này,các em sẽ có được định hướng đúng đắn cho mình, biết khai thác được giá trị bảnthân mình ở điểm mạnh, khắc phục, bồi đắp thêm ở những điểm yếu Nếu đượcgiáo dục ngay từ đầu kỹ năng này khi học lớp 10, thì lên lớp 12, các em sẽ khôngkhỏi bỡ ngỡ khi xác định hướng đi cho bản thân Chẳng hạn khi chọn trường đạihọc, chọn định hướng nghề nghiệp, các em sẽ dễ dàng làm được điều đó, mà khôngcần sự trợ giúp từ phía gia đình, thầy cô

Trang 34

Kỹ năng giao tiếp là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống Người

ta hiểu nhau thông qua ngôn ngữ Vậy điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta đánh mất khảnăng giao tiếp, hay giao tiếp còn rụt rè? Khoa học chứng minh rằng, khi chúng ta

tự tin trong giao tiếp sẽ nâng cao được giá trị của bản thân mình, sẽ thành côngtrong công việc và tạo lập thêm được các mối quan hệ Điều này là rất cần thiếttrong xã hội hiện đại, khi mà nhu cầu học hỏi của con người không ngừng đượcnâng cao Ý thức được điều này, nên đề tài nghiên cứu đã đưa kỹ năng giao tiếpvào nghiên cứu, trở thành 1 trong 9 kỹ năng sống quan trọng nhất Khi được hỏi vềmức độ thực hiện của kỹ năng này, có tới 50% các em làm có sự trợ giúp, 6% cảmthấy lúng túng Các em chưa thể tự tin khi giao tiếp, mà vẫn cần có sự trợ giúp.Vẫn còn sự rụt rè, nhút nhát, cần có người lớn mở lời, hoặc gợi ý thì các em mới cóthể thực hiện được Chẳng hạn như khi giao tiếp với thầy cô giáo, nhiều em không

tự tin, hoặc chỉ hỏi những khi bài khó cần sự trợ giúp, chứ không thể hoà mình vào

để chia sẻ, tâm sự cùng thầy cô giáo Một số em làm cán bộ lớp thì tự tin hơn cácbạn còn lại, vì đặc thù công việc được giao nên luôn phải tiếp xúc với thầy cô Các

em còn lại còn rụt rè, nhút nhát, thậm chí còn có tâm lý e sợ khi nói chuyện vớithầy cô Hoặc khi nói chuyện với bạn, nhiều em vì rụt rè mà chỉ có thể chơi thânvới bạn trong lớp, chứ không thể tự tin nói chuyện với các bạn lớp khác Điều nàycho thấy các em còn yếu trong khả năng giao tiếp Chỉ có 20% các em cho mìnhlàm thành thạo, 24% có thể làm được; và 6% cảm thấy lúng túng Trong khi đó,làm có sự trợ giúp chiếm đến 50% trong tổng số 100% học sinh Qua đó, ta cầnphải giáo dục nhiều hơn nữa vào kỹ năng này Đây là kỹ năng tạo điều kiện tiền đề

để các em có thêm hành trang bướ vào đời Để làm được điều đó, ta cần tích hợpvào môn giáo dục công dân, thông qua các hoạt động dạy học trên lớp Với sự bổsung kịp thời đó, tôi tin rằng, chỉ một thời gian không xa, các em có thể vận dụngthành thạo kỹ năng này

34

Trang 35

Trong 9 kỹ năng sống được liệt kê, tôi nhận thấy rằng, đa số các em vẫn cònlúng túng và chưa thành thạo Chỉ có một số kỹ năng được các em thực hiện thànhtạo như kỹ năng suy nghĩ có phán đoán Các kỹ năng còn lại vẫn chưa được thựchiện thành thạo Từ kết quả điều tra này, tôi sẽ tập trung giáo dục kỹ năng sống cònlại, trong đó kỹ năng sống chủ yếu được nghiên cứu trong đề tài đã giới hạn baogồm: Kỹ năng xác định giá trị bản thân; kỹ năng giao tiếp có hiệu quả; kỹ năngđương đầu với cảm xúc căng thẳng; kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tíchcực.

Khi được hỏi học sinh về hình thức dạy kỹ năng sống của nhà trường, đa sốcác em nói rằng chưa có giờ học kỹ năng sống riêng biệt Về tích hợp kỹ năng sốngvào môn giáo dục công dân thì chưa được tích hợp Do đó, việc sử dụng thành thạocác kỹ năng sống ở trên của các em là rất mỏng, còn nhiều thiếu sót

2.1.3 Thực trạng của việc dạy môn GDCD cho học sinh khối lớp 10 ở trường THPT Thạch Thất, Hà Nội

Việc dạy học môn giáo dục công dân được diễn ra 1 tiết trong 1 tuần học, do

đó, các em chưa thể dành nhiều thời gian cho môn học này Hơn nữa, phươngpháp dạy học của giáo viên cũng còn có phần hạn chế Điều này được thể hiện rõqua bảng điều tra, khảo sát sau:

Trên lớp, các em được học môn giáo dục công dân, một tuần học một buổi

và một tháng, trung bình được học bốn buổi dạy giáo dục công dân Trong khi đómôn học chưa tích hợp được kỹ năng sống vào Do đó, khi hỏi về kỹ năng sống,không thể tránh khỏi sự bỡ ngỡ từ phía các em

Bảng 1.3 Đánh giá của học sinh về giờ học giáo dục công dân trên lớp

Trang 36

Thời gian này không phải học nhiều 6

Giờ học giáo dục công dân nói chung,được học sinh đánh giá thích bởi chỉ

có 1 tiết trong tuần chiếm 14% trong tổng số các nguyên Khi được hỏi vì sao cảmthấy thích thì có đến 56% cho rằng đây là môn phụ, không cần thiết 24% cho rằng

vì giáo viên kể chuyện hay Điều này cho thấy, môn giáo dục công dân chưa đượccác thầy cô và các em quan tâm đúng mực Khi được phỏng vấn một số HS, các

em cho rằng, trong giờ học GDCD, giáo viên thường tranh thủ cho nghỉ sớm, trongthời gian đó, em có thể tranh thủ làm toán, văn,…

Khi được hỏi vì sao các em không thích học môn GDCD trên lớp Tôi thuđược bảng số liệu sau

Bảng 1.4: Đánh giá của học sinh về giờ học giáo dục công dân trên lớp

Kết quả này cho thấy, sự hứng thú với môn học của các em còn chưa được cao,cũng chưa được các thầy cô quan tâm sát sao với môn học này Có 34% học sinhcho rằng lý do khiến các em không thích là: tiết học buồn tẻ, 22% cho rằng tiết họcnặng về lý thuyết Vì không là môn chính nên nhiều em cũng không thích đầu tưthời gian học, chiếm đến 32% Điều này cho thấy, việc dạy học giáo dục công dânchưa thực sự đạt được hiệu quả cao

Bảng 1.4 Một số phương pháp dạy học trong giờ giáo dục công dân mà em đã được học Đơn vị(%)

36

Trang 37

vị: %

Trang 38

Phương pháp thảo luận nhóm cũng được đưa vào dạy học, nhưng với tầnsuất chưa được nhiều Có 20% học sinh đánh giá đã được học phương pháp nàytrong giờ học giáo dục công dân Các phương pháp còn lại chiếm tỷ lệ chưa đượccao, thậm chí có phương pháp “bàn tay nặn bột” chỉ có 1% Nhiều em còn chưahiểu rõ được bản chất của phương pháp này là gì, còn lúng túng khi được hỏi vềphương pháp này

Mục tiêu của môn giáo dục công dân lớp 10 ở trường THPT là góp phần đàotạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong xã hội, hình thành ở họ phẩm chất,năng lực, nhân cách của người công dân mới Chương trình dạy giáo dục côngdân lớp 10 tập trung vào dạy kiến thức về triết học và đạo đức Trong đó, kiếnthức về giáo dục đạo đức chiếm vai trò chủ đạo tỏng việc giáo dục cho HS về giátrị bản thân, giá trị đạo đức xã hội Vì vậy để thực hiện mục tiêu này, ta cần phảikết hợp dạy nhiều phương pháp khác nhau, để HS không cảm thấy nhàm chánvới môn học

Bảng 1.5 Sự tiếp nhận thông tin liên quan đến KNS của học sinh THPT

(Đơn vị: %)Chú thích: (1)Có; (2) Thường xuyên; (3) Thỉnh thoảng; 4(Không)

Có đến 50% học sinh không được học tích hợp giáo dục kỹ năng sống vàocác môn học Trong đó cũng có đến 50% học sinh không được học tích hợp kỹ

38

Ở trường em có được học tích hợp giáo dục kỹ năng sống

vào các môn học không?

Em có được học tích hợp kỹ năng sống vào môn giáo dục

công dân không?

Em có theo dõi, tìm hiểu về kỹ năng sống không? 15 25 22 38

Em có học tích hợp kỹ năng sống vào giờ ch ào cờ, sinh

hoạt lớp, hoạt động tập thể không?

Ngày đăng: 11/07/2016, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý họcsư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
2. Nguyễn Thanh Bình (2007), Giáo dục kỹ năng sống,Gíao trìnyh cao đẳng sư phạm, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2007
3. Vũ Khắc Bình và Lê Quốc Anh (2009), Mấy vấn đề về giáo dục kỹ năng sống ở trường THCS, Bộ Gíao dục và Đạo tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về giáo dục kỹ năng sống ở trường THCS
Tác giả: Vũ Khắc Bình và Lê Quốc Anh
Năm: 2009
5. Nguyễn Thị Oanh (2005), Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, NXB trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2005
6. Nguyễn Thị Oanh (2008), 10 cách thức rèn KNS cho tuổi vị thành niên, NXB trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 cách thức rèn KNS cho tuổi vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2008
7. Nguyễn Quang Uẩn, Một số vấn đề lí luận về kỹ năng sống, Báo cáo hội thảo “Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho thiếu nhi thủ đô” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lí luận về kỹ năng sống", Báo cáo hội thảo “Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho thiếu nhi thủ đô
8. John Adair (2007), Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, NXB Tổng hợp, T.p Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
Tác giả: John Adair
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2007
9. Phan Thanh Vân (2010), Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Tóm tắt luận án Tiến sĩ giáo dục, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Tác giả: Phan Thanh Vân
Năm: 2010
14. Nguyễn Công Khanh (2012) Xây dựng mô hình câu lạc bộ giá trị sống và phát triển kỹ năng sống, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình câu lạc bộ giá trị sống và phát triển kỹ năng sống
Nhà XB: NXB Hà Nội
15. Điền Tín Quốc, La Tây, Chu Hải Lượng, Hạ Sắc Bình, Ngọc Linh b.s (2015) “Kỹ năng sống dành cho học sinh – Lòng biết ơn: Đến lúc đó con có còn nắm tay mẹ nữa hay không?, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỹ năng sống dành cho học sinh – Lòng biết ơn: Đến lúc đó con có còn nắm tay mẹ nữa hay không
Nhà XB: NXB Văn học
16. Lê Đức Quảng, Nguyễn Đăng Quang, Mai Văn Bính (2001) Tài liệu giáo dục công dân 10, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giáo dục công dân 10
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Kim Oanh Na (2015), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên giáo dục công dân, NXB Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên giáo dục công dân
Tác giả: Kim Oanh Na
Nhà XB: NXB Cần Thơ
Năm: 2015
19. Lê Đức Quảng (2015), Giáo dục công dân 10, NXB Gíao dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục công dân 10
Tác giả: Lê Đức Quảng
Nhà XB: NXB Gíao dục
Năm: 2015
20. Phan Thanh Vân (2010) “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Luận án Tiến Sĩ Giáo dục học (LA11.0249.1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”
21. Nguyễn Thị Huệ (2012) “Kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
22. Vũ Thị Hồng Khanh (2015) “ Nhu cầu học kỹ năng sống của học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú ngoại thành Hà Nội” Luận án Tiến Sĩ xã hội học (LA15.0803.1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu học kỹ năng sống của học sinhtrung học phổ thông dân tộc nội trú ngoại thành Hà Nội”
23. Nguyễn Thị Thu Hằng (2013) “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam qua các môn tự nhiên xã hội và khoa học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam qua các môn tự nhiên xã hội và khoa học
4. Chương trình giáo dục các giá trị sống (Living Values: Educational Program.Inc. 2000) Khác
10. Trần Quốc Thành, Nguyễn Thị Thanh Bình (2009), Tâm lý – giáo dục học đại học, NXB ĐHSP HN Khác
12. Văn Chương, Lăng Trạch Truyền, Tom Anderson, Ngọc Linh (2015) Kỹ năng sống dành cho học sinh – học cách sống bằng cả trái tim Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2 Đánh giá về mức độ hiểu biết về kĩ năng sống của học sinh thông qua 9 kỹ năng sống được liệt kê - Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông thạch thất, hà nội
Bảng 1.2 Đánh giá về mức độ hiểu biết về kĩ năng sống của học sinh thông qua 9 kỹ năng sống được liệt kê (Trang 30)
Bảng 1.3 Đánh giá của học sinh về giờ học giáo dục công dân trên lớp - Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông thạch thất, hà nội
Bảng 1.3 Đánh giá của học sinh về giờ học giáo dục công dân trên lớp (Trang 34)
Bảng 1.4: Đánh giá của học sinh về giờ học giáo dục công dân trên lớp - Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông thạch thất, hà nội
Bảng 1.4 Đánh giá của học sinh về giờ học giáo dục công dân trên lớp (Trang 35)
Hình 1.2: Một số phương pháp dạy học môn giáo dục công dân mà em đã được học. (Đơn vị %) - Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông thạch thất, hà nội
Hình 1.2 Một số phương pháp dạy học môn giáo dục công dân mà em đã được học. (Đơn vị %) (Trang 36)
Bảng 1.5 Sự tiếp nhận thông tin liên quan đến KNS của học sinh THPT (Đơn vị: %)Chú thích: (1)Có; (2) Thường xuyên; (3) Thỉnh thoảng; 4(Không) - Tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông thạch thất, hà nội
Bảng 1.5 Sự tiếp nhận thông tin liên quan đến KNS của học sinh THPT (Đơn vị: %)Chú thích: (1)Có; (2) Thường xuyên; (3) Thỉnh thoảng; 4(Không) (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w