Một số kinh nghiệm nước ngoài” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích đã làm rõ những lý luận cơ bản về quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước CEDAW,phân tích làm rõ những vấn đề pháp lý về
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -PHAN THỊ THANH LOAN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI
Trang 2HÀ NỘI, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Xanh - người đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Phan Thị Thanh Loan
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
CEDAW : Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
ĐH : Đại hội
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
HĐND : Hội đồng nhân dân
HLHPNVN : Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
LHQ : Liên Hợp quốc
NXB : Nhà xuất bản
TW : Trung ương
UBND : Ủy ban nhân dân
UNDP : Chương trình phát triển Liên Hợp quốc
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000 8
1.1 Khái lược về thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam trước năm 1991 8
1.1.1 Khái niệm “Bình đẳng giới” 8
1.1.2 Thực hiện bình đẳng giới từ năm 1945 đến năm 1975 11
1.1.3 Thực hiện bình đẳng giới từ năm 1975 đến năm 1991 13
1.2 Chủ trương bảo đảm bình đẳng giới của Đảng từ năm 1991 đến năm 2000 16
1.2.1 Bối cảnh lịch sử 16
1.2.2 Chủ trương thực hiện bình đẳng giới của Đảng 18
1.3 Đảng chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới từ năm 1991 đến năm 2000 23
1.3.1 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị 25
1.3.2 Thực hiện bình đẳng giới về kinh tế, việc làm 30
1.3.3 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa – xã hội và gia đình 36
Tiểu kết chương 1 46
Chương 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2013 47
2.1 Những yếu tố tác động tới chủ trương thực hiện bình đẳng giới của Đảng 47
Trang 62.2 Chủ trương của Đảng về thực hiện bình đẳng giới trong giai đoạn mới 50
2.3 Đảng chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới từ năm 2001 đến năm 2013 58
2.3.1 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị 61
2.3.2 Thực hiện bình đẳng giới về kinh tế, việc làm 65
2.3.3 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa – xã hội và gia đình 71
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHỆM LỊCH SỬ 84
3.1 Một số nhận xét cơ bản 84
3.1.1 Ưu điểm 84
3.1.2 Hạn chế 93
3.2 Một số kinh nghiệm lịch sử 97
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 7là cả một quá trình phấn đấu của mỗi quốc gia và toàn thế giới, mà thực chất là giảiphóng phụ nữ, đảm bảo cho phụ nữ quyền bình đẳng và khẳng định vị trí xã hội củaphụ nữ trong phát triển cộng đồng Trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựngnước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, vị trí và vai trò của phụ nữ là rất to lớn.Phụ nữ Việt Nam đã có cống hiến lớn lao được ghi tạc trong dòng chảy của lịch sửdân tộc Họ xứng đáng được hưởng đầy đủ quyền bình đẳng với nam giới Tronggiai đoạn hiện nay, tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế của phụ nữ làmột trong những mục tiêu Thiên niên kỷ mà Liên Hợp quốc và các quốc gia thànhviên đang cố gắng phấn đấu thực hiện.
Đối với Việt Nam, ngay từ khi thành lập, Đảng và Nhà nước ta đã coi sựnghiệp giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu quan trọng của cách mạngViệt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài tới sự phát triển của đất nước Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng nói: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội Nếu không giải phóng
phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” Ngay sau khi đất nước giành được độc lập,
cùng với quyền bình đẳng giữa các dân tộc và các tầng lớp, quyền bình đẳng nam
nữ đã được ghi nhận trong bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước, thể hiện quyết tâm
và bản chất ưu việt của Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh xóa bỏ những áp bức, bấtcông trong xã hội
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, phụ nữ có nhiều đóng góptích cực, mang lại lợi ích cho gia đình và toàn xã hội Tuy nhiên, hiện nay, phụ nữcòn chịu nhiều thiệt thòi, bất bình đẳng so với nam giới; do vậy, họ chưa phát huyhết vai trò của mình trong xây dựng gia đình, đồng thời hạn chế sự đóng góp của họ
Trang 8cho toàn xã hội Họ cần tiếp tục được giải phóng Phụ nữ cần được chia sẻ về côngviệc gia đình, được tạo điều kiện để nâng cao trình độ, phát triển cá nhân, đóng gópcho xã hội Vì vậy, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề bình đẳnggiới càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Việt Nam là một trong những nước tích cực tham gia vào tất cả các chươngtrình hành động về phụ nữ của LHQ Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta
đã có nhiều nỗ lực cụ thể hóa vấn đề bình đẳng giới trong các bộ luật quốc gia, cácchương trình hành động cũng như áp dụng vào trong các hoạt động thực tiễn nhằmmang lại quyền và lợi ích xứng đáng cho phụ nữ
Với mục đích góp phần tìm hiểu những chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam về vấn đề bình đẳng giới, tôi đã chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo thực hiện bình đẳng giới từ năm 1991 đến năm 2013” để làm luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Thông qua tìm hiểu những chủtrương và sự chỉ đạo của Đảng nhằm đảm bảo quyền và phát huy vai trò của phụ nữtrong thời kỳ đổi mới chúng ta càng nhận thức rõ hơn những nỗ lực của Việt Namphấn đấu vì mục tiêu chung của nhân loại
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bình đẳng giới trên thế giới và ở Việt Nam không phải là một vấn đề mới.Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố
Cuốn sách “Những vấn đề giới: Từ lịch sử đến hiện đại” do NXB Lý luận
chính trị xuất bản năm 2007 đã cho độc giả cái nhìn khái quát về vấn đề giới vàbình đẳng giới trong lịch sử nhân loại và Việt Nam Đáng chú ý, trong đó có nhữngbài viết liên quan đến quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng về vấn đềbình đẳng giới và giải phóng phụ nữ Đây là một nguồn tài liệu rất quý định hướngtác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài này
Cuốn “Giáo trình giới và phát triển” do tác giả Nguyễn Thị Thuận và Trần
Xuân Kỳ chủ biên (NXB Lao động – Xã hội, 2012), đã cung cấp những vấn đề lýluận như những khái niệm liên quan đến vấn đề bình đẳng giới, lồng ghép giới,phân tích giới, bình đẳng giới trong lao động và các vấn đề xã hội… Bên cạnh đó,
Trang 9cuốn “Giáo trình xã hội học giới” của NXB Giáo dục Việt Nam cũng cung cấp một
hệ thống lý thuyết về giới và bình đẳng giới
Cuốn sách “Quan điểm của Đảng, Nhà nước và chủ tịch Hồ Chí Minh về
phụ nữ và công tác phụ nữ” (NXB Phụ nữ, 2012) đã tập hợp khá đầy đủ những văn
bản, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về phụ nữ và công tác phụ nữcũng như những bài viết, bài phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ Vớiviệc trích dẫn hoặc cung cấp toàn bộ văn bản, nghị quyết của Đảng, Nhà nước vềphụ nữ, công tác phụ nữ đã giúp người đọc có cái nhìn chân thật nhất, chính xácnhất về những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề này
Năm 2005, lần đầu tiên, Bộ ngoại giao Việt Nam công bố những thành tựu
về nhân quyền trong cuốn “Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt
Nam” Cuốn sách được coi là “sách trắng về vấn đề nhân quyền” ở Việt Nam đã
công bố rộng rãi quan điểm, chính sách của Việt Nam về quyền con người cũng nhưnhững thành tựu đạt được trong việc bảo đảm quyền con người trên các lĩnh vực,trong đó có thành tựu quan trọng trong việc bảo đảm quyền của phụ nữ, xóa bỏ mọihình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
Bên cạnh những công trình nghiên cứu chung, vấn đề bình đẳng giới cònđược nghiên cứu trên một số lĩnh vực cụ thể Trong đó phải kể đến các cuốn sách
tiêu biểu như: cuốn “Quyền bình đẳng nam nữ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý
nhà nước ở Việt Nam qua tiến trình phát triển của lịch sử” của TS Trần Thị Rồi
(NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2010) đã khái quát lại tình hìnhbình đẳng nam nữ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý nhà nước ở Việt Nam từ thờiHùng Vương đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 và từ sau năm 1945 đến nay từ
đó đề ra một số giải pháp để thực hiện bình đẳng trong hoạt động lãnh đạo, quản lý
nhà nước ở Việt Nam hiện nay Cuốn “Phụ nữ Việt Nam trong kỷ nguyên biến đổi
xã hội nhanh” của tác giả Bùi Thế Cường (NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội) đã
tập hợp những bài viết, nghiên cứu nói về việc vận dụng tiếp cận giới vào nghiêncứu ở Việt Nam trong những năm 2000, giới trong giáo dục đào tạo, phụ nữ và gia
đình, phụ nữ vươn lên vượt khó và phụ nữ trong các nhóm xã hội Cuốn: “Bình
đẳng giới trong lao động và việc làm với tiến trình hội nhập ở Việt Nam: cơ hội và
Trang 10thách thức” của tác giả Nguyễn Nam Phương (NXB Lao động – Xã hội, 2006) đã
trình bày hệ thống lí luận và thực trạng về bình đẳng giới trong lao động và việc làm
ở Việt Nam giai đoạn hiện nay; đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng caobình đẳng giới trong việc làm ở Việt Nam hiện nay
Vấn đề bình đẳng giới còn là đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiềunhà khoa học và được lựa chọn làm đề tài luận văn, luận án của các chuyên ngành
Luật học, Xã hội học, Quản lý giáo dục… Luận án “Thực hiện pháp luật về bình
đẳng giới ở Việt Nam” của Trần Thị Quốc Khánh (Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2012) đã trình bày những nghiên cứu về cơ sở lý luận vàthực tiễn về thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam, phân tích những yếu
tố ảnh hưởng và đưa ra những quan điểm, giải pháp để thực hiện pháp luật về bình
đẳng giới ở Việt Nam hiện nay Luận án “Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam” của tác giả
Phạm Minh Anh (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2011) đãtrình bày những nghiên cứu về thực trạng, vai trò và các yếu tố tác động đến vai tròcủa đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bìnhđẳng giới ở nước ta hiện nay, đề xuất kiến nghị phục vụ cho công tác này trước mắt
cũng như lâu dài Luận văn Luật học: “Quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước
về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và luật Bình đẳng giới ở Việt Nam Một số kinh nghiệm nước ngoài” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích đã làm
rõ những lý luận cơ bản về quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước CEDAW,phân tích làm rõ những vấn đề pháp lý về quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Namhiện nay, đánh giá thực trạng về bình đẳng giới hiện nay và đề xuất những giải phápthúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Đề tài
khoa học: “Thực trạng vấn đề giới và định hướng các giải pháp vì sự tiến bộ của
phụ nữ Hà Nội giai đoạn 2001 – 2005” đã được Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ Hà
Nội thực hiện Đề tài đã cho chúng ta cái nhìn vừa khái quát, vừa cụ thể về thựctrạng bình đẳng giới ở thủ đô, đưa ra những giải pháp tích cực nhằm thực hiện mụctiêu chung của đất nước
Trang 11Bên cạnh những công trình đã công bố kể trên, vấn đề nhân quyền được sựquan tâm nghiên cứu của rất nhiều các tác giả khác và có nhiều bài viết đăng trêncác số báo, các tạp chí như tạp chí Lý luận chính trị, tạp chí Cộng sản, Nhà nước vàpháp Luật, Tạp chí Luật học, Khoa học về phụ nữ (sau đổi thành Tạp chí Nghiên
cứu gia đình và giới)… Trong đó đáng chú ý có các bài viết: Quyền con người và
quyền của phụ nữ của tác giả Trần Thị Vân Anh đăng trên tạp chí Nghiên cứu gia
đình và giới, số 1 năm 2006; tác giả cũng có bài viết “Bình đẳng giới – Một số vấn
đề lý luận” đăng trên Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 3 năm 2003 đã cho độc giả
cái nhìn khái quát về những quan điểm về bình đẳng giới, những vấn đề lý luận về
giới và bình đẳng giới Tác giả Vũ Công Giao với bài viết: Bình đẳng giới – cuộc
đấu tranh lâu dài của nhân loại”, đăng trên tạp chí Cộng sản, số 5 năm 2004; Bài
viết “Bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ qua các bản Hiến pháp Việt Nam”,
đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 3 năm 2006 của tác giả Nguyễn VănHuê đã khái quát lại những bước tiến của Việt Nam trên con đường thực hiện bìnhđẳng giới thông qua các bản Hiến pháp và thể hiện rõ những nỗ lực của Đảng và
Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu này Các bài viết: “Việt Nam với vấn đề
bình đẳng giới” của tác giả Trịnh Thị Hồng đăng trên Tạp chí Toàn cảnh sự kiện –
dư luận, số 183 năm 2005; bài viết “Bình đẳng nam nữ và thực hiện quyền bình
đẳng nam nữ ở nước ta” của hai tác giả Võ Thị Hồng Loan, Đặng Ánh Tuyết đăng
trên Tạp chí Cộng sản, số 5 năm 2005 đã cho chúng ta cái nhìn khái quát về vấn đềbình đẳng giới ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đây cho thấy sự quan tâm củaĐảng, Nhà nước ta và các nhà nghiên cứu đối với vấn đề bình đẳng giới nói chung
và bình đẳng giới ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên chưa có công trình nào tìm hiểumột cách có hệ thống những chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới củaĐảng ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ năm 1991 đến năm 2013.Nhưng cũng cần khẳng định những công trình đã công bố là những gợi ý và nguồntài liệu quan trọng để tác giả luận văn định hướng và hoàn thành công trình nghiêncứu của mình
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp đầy đủ các tư liệu có liên quan đến đề tài
- Khái quát về thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam trước 1991
- Chỉnh lý, hệ thống hóa các tư liệu để trình bày những chủ trương, sự chỉ đạocủa Đảng về thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam giai đoạn 1991 – 2013
- Phân tích những ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo thực hiện bìnhđẳng giới của Đảng cùng với nguyên nhân từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các chủ trương, chính sách của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước vềthực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam, hoạt động của Đảng, các tổ chức, cơ quan dưới
sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam từ năm 1991 đếnnăm 2013
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Những chủ trương, chính sách của Đảng về vấn đề bình đẳnggiới và chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam trên một số lĩnh vực tiêu biểu:chính trị; kinh tế, việc làm; văn hóa – xã hội và gia đình
- Thời gian nghiên cứu từ năm 1991 đến năm 2013 Với mốc khởi đầu là năm
1991 – ĐH Đảng toàn quốc lần thứ VII lần đầu tiên đưa ra yều cầu: thực hiện bìnhđẳng nam nữ về mọi mặt và mốc kết thúc là năm 2013 – Việt Nam trúng cử vào Uỷban Nhân quyền của LHQ khẳng định thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền conngười nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng
Trang 135 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước, chủ yếu là các văn kiện ĐH, hội nghịBCHTW từ ĐH VI đến ĐH XI
- Các sách, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học có đề cập đếnvấn đề bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới ở Việt Nam nói riêng
- Các bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí khoa học
- Các báo cáo tổng kết của các cơ quan Đảng, Nhà nước, HLHPNVN, Ủyban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, kết quả khảo sát, điều tra của các
đề tài khoa học…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: trình bày đúng quan điểm, chính sách, sự chỉ đạo củaĐảng về thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2013
- Phương pháp logic nhằm phân tích, đánh giá, tổng kết kinh nghiệm của ViệtNam trong hoạch định các chính sách, chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới
- Phương pháp khác: thống kê, tổng hợp dữ liệu, so sánh và đưa ra nhận định
6 Đóng góp của luận văn
- Tập hợp những tư liệu, bước đầu khái quát những chủ trương, chính sách, sựchỉ đạo thực hiện bình đẳng giới của Đảng ở Việt Nam từ đó rút ra một số kinhnghiệm, bài học có giá trị về thực hiện bình đẳng giới, phục vụ hiện tại
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, tìmhiểu về vấn đề nhân quyền, vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới của Đảng
Cộng sản Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2000
Chương 2: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới từ
năm 2001 đến năm 2013
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử.
Trang 14NỘI DUNGChương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000
1.1 Khái lược về thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam trước năm 1991
1.1.1 Khái niệm “Bình đẳng giới”
Trước khi tìm hiểu về khái niệm “bình đẳng giới” ta cần phân biệt khái niệm
“giới tính” và khái niệm “giới” “Giới tính” là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từmôn Sinh vật học dùng để chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ Đó là sự khácbiệt phổ thông và không thay đổi được Ví dụ: Sự khác biệt về giới tính giữa phụ nữ
và nam giới thể hiện ở các bộ phận trên cơ thể, ở chức năng tái sản xuất nòi giống Về
cơ bản, giới tính không thay đổi theo thời gian và không gian Có thể định nghĩa ngắn
gọn: “Giới tính là sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ”[55, tr 31].
Trong khi đó, “giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn Nhân loại
học nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và
nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia các nguồn và lợi ích
“Giới” đề cập đến các quy tắc, tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế
cá nhân Vai trò giới được xác định theo văn hóa, theo xã hội và các vùng địa lýkhác nhau Khi mới sinh ra chúng ta không có sẵn đặc tính giới Những đặc tínhgiới mà chúng ta có được là do chúng ta học được từ gia đình, xã hội và nền văn
hóa của chúng ta Có thể định nghĩa: “Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và
cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội”[55, tr 34] Các quan
niệm, khuôn mẫu về giới như vậy được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Quanniệm về giới do xã hội tạo ra chứ không phải do tự nhiên sinh ra Chính vì thế, quan
hệ giới vận động không ngừng, biến đổi cùng xã hội theo tác động của các yếu tố xãhội như chính trị, kinh tế, văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo… Sự thay đổi vềquan hệ giới, đặc trưng giới theo những hướng tích cực luôn vấp phải những ràocản, định kiến và các quan niệm lỗi thời Vì vậy, quá trình biến đổi quan hệ giớithường diễn ra một cách chậm chạp và khó khăn
Trang 15“Bình đẳng giới” là thuật ngữ mới trong xã hội hiện đại Thực chất, vấn đề
bình đẳng giới là vấn đề bình đẳng nam – nữ và giải phóng phụ nữ Xung quanh vấn
đề này có nhiều quan điểm khác nhau Ít nhất đã và đang tồn tại ba quan điểm khácnhau về bình đẳng giới:
Thứ nhất, quan điểm về bình đẳng giới hình thức, theo đó, đàn ông hay đàn
bà đều là những chủ thể bình đẳng trong các quan hệ pháp luật, có các quyền vànghĩ vụ pháp lý ngang nhau Mặc dù quan điểm này chứa đựng tư tưởng tiến bộnhưng trên thực tế nó vẫn dẫn đến sự bất bình đẳng nam – nữ, nhất là sự bóc lột vềkinh tế đối với phụ nữ
Quan điểm thứ hai cho rằng, do phụ nữ yếu hơn đàn ông về thể chất nên đểthực hiện bình đẳng giới, cần “miễn” cho phụ nữ tham gia vào một số lĩnh vực đượccoi là không thích hợp với đặc trưng của nữ giới Về bản chất, quan điểm này là sựhạn chế trá hình các quyền và cơ hội phát triển của phụ nữ Trên thực tế, nó thừanhận sự bất bình đẳng với phụ nữ là “hợp lý”, xuất phát từ đặc thù giới tính của họ
Quan điểm thứ ba là quan điểm bình đẳng giới thực chất Quan điểm này cũngthừa nhận sự yếu thế của phụ nữ nhưng lại không coi đó là cơ sở để đặt phụ nữ vàođịa vị phụ thuộc nam giới mà ngược lại, là để đưa phụ nữ thoát khỏi tình trạng phụthuộc Do đó, theo quan điểm này, bên cạnh việc quy định những quyền và nghĩa vụchung, bình đẳng cho cả nam và nữ, pháp luật còn xác định những đặc quyền chỉ ápdụng cho phụ nữ nhằm bù đắp cho phụ nữ những thiệt thòi, đặt họ vào vị trí xuất phátngang bằng với đàn ông trong các quan hệ xã hội, bảo đảm cho họ có thể tiếp nhậncác cơ hội và hưởng thụ các quyền một cách bình đẳng như nam giới
Từ bình đẳng giới hình thức tới bình đẳng giới thực chất là quá trình pháttriển trong nhận thức của nhân loại về vấn đề bình đẳng giới Phải mất một thời giandài nhân loại mới đi tới nhận thức đúng đắn về vấn đề này Đến khi LHQ thông quaCông ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ướcCEDAW) vào năm 1979 thì cách tiếp cận bình đẳng giới thực chất mới trở thànhphổ biến trên thế giới Theo cách tiếp cận của CEDAW, bình đẳng giới (hay bìnhđẳng nam nữ) không có nghĩa là đối xử với phụ nữ giống như nam giới trong mọitrường hợp, bởi điều này trên thực tế chỉ làm tăng thêm sự phụ thuộc của phụ nữ
Trang 16với nam giới, do phụ nữ là nhóm yếu thế hơn nam giới CEDAW cũng không ápdụng mô hình bình đẳng giới mang tính chất bảo hộ phụ nữ, mà theo đó, sự bảo vệphụ nữ được dựa trên sự chấp nhận địa vị phụ thuộc của phụ nữ với đàn ông Thayvào đó, CEDAW sử dụng mô hình bình đẳng thực chất Theo mô hình này, bìnhđẳng giới không mang ý nghĩa đơn giản là cào bằng sự tham gia, đóng góp của namgiới và phụ nữ trong mọi hoạt động, mà có nghĩa là phụ nữ và nam giới được côngnhận vị thế như nhau trong xã hội và cùng có các điều kiện và cơ hội như nhau đểphát huy khả năng, tham gia đóng góp và hưởng thụ thành quả phát triển của quốcgia trên mọi lĩnh vực Với những điểm tiến bộ này, tính đến tháng 8 năm 2011,Công ước đã có 187 quốc gia thành viên, là một trong hai điều ước quốc tế vềquyền con người có số lượng quốc gia thành viên cao nhất Việt Nam là một trongnhững quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia Công ước vào ngày 29/7/1980,phê chuẩn vào ngày 27/11/1981.
Dựa trên quan điểm của CEDAW, Việt Nam cũng thừa nhận và đưa ra kháiniệm về “bình đẳng giới”, được chính thức đưa vào Luật Bình đẳng giới năm 2006 với
nội dung như sau: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được
tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và hưởng thụ như nhau về thành quả của sự phát triển đó”[44, tr 6].
Bình đẳng giới không có nghĩa là thay đổi vai trò giới một cách máy móc,theo kiểu những gì phụ nữ phải làm thì đổi cho nam giới làm và ngược lại hoặc điđến chủ nghĩa bình quân giữa nam và nữ để chia nhau những cơ hội, lợi ích, tráchnhiệm Bình đẳng giới thể hiện ở nhiều mặt: Nữ và nam có điều kiện ngang nhau
để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; Nữ và nam có cơhội ngang nhau để tham gia, đóng góp và hưởng thụ các nguồn lực của xã hội trongquá trình phát triển; Nữ và nam có các quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực củađời sống xã hội Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng phụ nữ vànam giới, hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động nhưnhau, cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình đẳng giớinghĩa là nam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong
xã hội, đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận Đây
Trang 17là cơ sở để nam và nữ có cơ hội và điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềmnăng của họ, có cơ hội tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ công cuộcphát triển của quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.
1.1.2 Thực hiện bình đẳng giới từ năm 1945 đến năm 1975
Việt Nam mặc dù là một nước chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáonhưng vấn đề bình đẳng nam nữ đã được đề cập từ rất sớm Về khía cạnh văn hóa,lịch sử đã ghi nhận công lao của những phụ nữ có công lớn trong sản xuất, chiếnđấu và quản lý xã hội như Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Chân, Bùi Thị Xuân, Nguyên Phi
Ỷ Lan, Thái hậu Dương Vân Nga… Về khía cạnh pháp lý, quyền của phụ nữ đãđược đề cập đến trong Bộ luật Hồng Đức thời Lê sơ cách đây nhiều thế kỷ với mộttinh thần khoan dung và nhân đạo sâu sắc như: bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữtrong hôn nhân gia đình, nghiêm khắc xử phạt những hành vi xâm hại phụ nữ, quantâm đến những phụ nữ bất hạnh…
Kế thừa những truyền thống quý báu đó, sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh coiviệc giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu cơ bản của sự nghiệp cáchmạng Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền lợi của phụ nữ chính là quyền đượchưởng tự do, dân chủ, được bình đẳng với nam giới, được tôn trọng, được hạnhphúc, được học hành, được phát huy tài năng và sức lực của mình, đóng góp vào sựphát triển của đất nước và của chính bản thân mình Với tư tưởng đó, ngay sau khithành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng “nam nữ bình quyền” đã được Đảng
và Bác đề cao, coi đó là một trong những nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sảndân quyền Trong những ngày cách mạng sôi sục, Đảng đã tích cực vận động phụ
nữ tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc, trở thành một lực lượng to lớn trong Mặt trậnViệt Minh Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ đã góp phần quan trọng đưa cuộcCách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thành công, lập ra nước Việt Nam Dân chủcộng hòa Từ đây, địa vị của phụ nữ đã bắt đầu thay đổi Phụ nữ được quyền thamgia bầu cử, ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội) như namgiới Quyền bình đẳng nam nữ được ghi trong bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của
nước ta năm 1946 với nội dung: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương
diện” (Điều 9) và “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt
Trang 18gái trai đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền” (Điều 18) Chủ trương này dần được hoàn thiện trong các bản Hiến pháp
tiếp theo cũng như từng bước được thực hiện trong đời sống kinh tế - xã hội và giađình Đến Hiến pháp năm 1959, quyền bình đẳng nam nữ được ghi nhận cụ thể hơn
ở các Điều 22, 23, 24 Trong đó điều 24 ghi nhận rõ: “Phụ nữ nước Việt Nam Dân
chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội và gia đình”.
Nhận thức rõ được vai trò của phụ nữ, trong những năm kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng tớicông tác vận động phụ nữ và công tác bảo vệ bà mẹ, trẻ em Trong “Nghị quyết về
phụ nữ vận động” ngày 28/3/1935 Đảng chỉ rõ: “Phụ nữ là một lực lượng cách mạng
rất lớn Đảng ta phải hết sức chú ý đem phụ nữ vào trường đấu tranh, phải kéo họ tham gia các hình thức công tác cách mạng tranh đấu”[24, tr.68] Đảng ta cũng rất
coi trọng vấn đề đào tạo, đề bạt cán bộ nữ và được thể hiện rõ trong Nghị quyết của
Ban Bí thư ngày 6/12/1957 “Về một số vấn đề công tác vận động phụ nữ”: “Nghiên
cứu kế hoạch toàn diện đào tạo, đề bạt cán bộ nữ, mạnh dạn đưa cán bộ nữ tham gia các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền và các ngành khác, nhất là công tác giáo dục,
y tế và xã hội”[25, tr.742] Đảng cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề sức khỏe
của phụ nữ, trong đó có thiên chức làm mẹ Trong Chỉ thị của Ban Bí thư số43-CT/TW ngày 25/4/1962 “Về công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em”, Đảng nhấn mạnh:
“Công tác bảo vệ bà mẹ và trẻ em là một công tác rất quan trọng… Công tác bảo vệ
bà mẹ và trẻ em là một bộ phận công tác cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm dần dần xóa bỏ những tập quán thiếu vệ sinh, thiếu khoa học, tạo điều kiện giải phóng sức sản xuất của phụ nữ, phát triển sản xuất, đào tạo thế hệ tương lai khỏe mạnh và có nhiều đức tính tốt”[26, tr.417-419] Luật Hôn nhân và gia
đình đầu tiên ở Việt Nam đã được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóathứ nhất, kỳ họp thứ 11 thông qua trong phiên họp ngày 29/12/1959 đánh dấu mộtbước tiến trong quá trình thực hiện bình đẳng nam nữ ở Việt Nam Trong nguyên tắcchung của Luật quy định rõ: “Nhà nước đảm bảo việc thực hiện đầy đủ chế độ hônnhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của
Trang 19phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hòa thuận,trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ” (Điều 1) và
“Xóa bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng namkhinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái” (Điều 2)
Vai trò to lớn, quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới ngày càng được thểhiện rõ nét qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.Phụ nữ Việt Nam đã hăng hái tham gia phong trào “phụ nữ ba đảm đang”, vừa giếtgiặc nơi tiền tuyến vừa bảo vệ hậu phương, tích cực tăng gia sản xuất, bảo đảm choquân đội ta ăn no đánh thắng quân xâm lược Nhiều bà mẹ với tinh thần yêu nướccao cả đã động viên chồng con tòng quân giết giặc không sợ gian khổ, hi sinh.Nhiều phụ nữ đã tham gia lực lượng dân quân, tự vệ, bắn rơi máy bay Mỹ đánh pháhậu phương lớn miền Bắc Ở tiền tuyến lớn miền Nam, phụ nữ tích cực tham giađánh địch bằng ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận) Đặc biệt, “đội quântóc dài” nổi tiếng kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong cuộc đấu tranhchính trị trực diện với Mỹ - ngụy làm cho chúng khiếp sợ Để đánh giá công lao củaphụ nữ, ngày 2/11/1974, Ban Bí thư ra Nghị quyết số 238-NQ/TW “Về việc tổngkết phong trào phụ nữ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng” nhằm đánh giá cônglao to lớn của phụ nữ đóng góp vào sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ, cáchmạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong Nghị quyết cũng khẳngđịnh những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trên con đường tiến tới bình đẳng
giới: “Cùng với những thắng lợi của cách mạng, phụ nữ Việt Nam đã giành được
quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt và quyền ấy đã được ghi trong Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”[27, tr 322].
Như vậy, trong những năm tháng cách mạng và kháng chiến ác liệt giành độclập của dân tộc, Đảng ta vẫn luôn quan tâm tới phụ nữ, chăm lo tới công tác của phụ
nữ và đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới
1.1.3 Thực hiện bình đẳng giới từ năm 1975 đến năm 1991
Năm 1975, với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cáchmạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn cả nước độc lập, thốngnhất, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ
Trang 20nghĩa Trong lúc đất nước gặp vô vàn khó khăn khi vừa bước ra khỏi cuộc chiếntranh tàn khốc, hơn lúc nào hết, sức mạnh, tinh thần và ý chí của con người ViệtNam được phát huy, cùng nhau đoàn kết xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sốngmới tốt đẹp hơn Trong những năm tháng đó, vai trò của phụ nữ lại một lần nữađược khẳng định Đảng và Nhà nước ta cũng ghi nhận công lao đóng góp của phụ
nữ và có nhiều nỗ lực trong việc tiến tới thực hiện bình đẳng giới Sau khi LHQthông qua Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ(Công ước CEDAW) vào năm 1979, Việt Nam là một trong những quốc gia đầutiên trên thế giới ký tham gia Công ước vào ngày 29/7/1980, phê chuẩn vào ngày27/11/1981 khẳng định mong muốn và nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiệnnhững mục tiêu chung của toàn nhân loại, nhằm bảo vệ quyền con người và quyềncủa phụ nữ Bản Hiến pháp 1980 ra đời đã khẳng định quyền của phụ nữ trên tinh
thần đó Điều 63 của Hiến pháp năm 1980 khẳng định: “Phụ nữ và nam giới có
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” So
với 2 bản Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 1980 có những điều quy định cụ thểhơn về quyền của phụ nữ và trách nhiệm của Nhà nước cũng như toàn xã hội đốivới việc đảm bảo bình đẳng nam nữ, chăm lo cho phụ nữ
Đảng ta luôn khẳng định phụ nữ là một lực lượng to lớn, có vai trò quantrọng trong sản xuất và hoạt động xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sựphát triển của đất nước Trong thời gian này, Đảng đã có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị,chuyên đề hoạt động về giới nữ nhằm phát huy vai trò của lao động nữ và cán bộ
nữ Chỉ thị 44-CT/TW ngày 7/6/1984 của Ban Bí thư TW Đảng “Về một số vấn đềcấp bách trong công tác cán bộ nữ” đã khẳng định vai trò và những đóng góp to lớncủa phụ nữ trong ba cuộc cách mạng, trong đó sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ
nữ đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc thực hiện nam nữ bình đẳng Trên
cơ sở đó, Đảng ta đã đề ra một số chủ trương lớn để thực hiện mục tiêu bình đẳngnam nữ Trước hết, Đảng khẳng định phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về quan
điểm, nhận thức đối với vấn đề cán bộ nữ: “Đảng ta luôn luôn đặt sự nghiệp giải
phóng phụ nữ gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc và giai cấp Trong thời kỳ mới, vấn đề giải phóng phụ nữ gắn liền với hai nhiệm vụ chiến lược, với ba cuộc cách
Trang 21mạng… Tiếp tục thực hiện nam nữ bình đẳng, nâng cao vai trò cán bộ nữ trong quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước là một nội dung quan trọng để thật sự phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, tăng cường Nhà nước chuyên chính vô sản… Những quan điểm, chính sách của Đảng đối với phụ nữ và cán bộ nữ cần phải được quán triệt đến từng chi
bộ, từng đảng viên”[28, tr.156 -157] Đây là chủ trương lớn thể hiện sự quan tâm,
tạo điều kiện của Đảng ta đối với phong trào phụ nữ nói chung và đối với cán bộ nữnói riêng nhằm xóa bỏ tàn dư tư tưởng phong kiến “trọng nam khinh nữ”, khắc phụcnhững biểu hiện lệch lạc coi thường phụ nữ, không tôn trọng và phát huy vai trò,năng lực của cán bộ nữ
Chỉ thị 44 cũng đề ra hướng tăng cường công tác cán bộ nữ, coi đây là biện
pháp quan trọng để thực hiện bình đẳng nam nữ: “Vấn đề cán bộ nữ phải đặt trong
việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ nói chung của Đảng và Nhà nước… Tăng cường cán bộ nữ không phải chỉ để làm công tác vận động mà chính là để phát huy khả năng, trí tuệ của chị em đóng góp vào sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và công cuộc quản lý của Nhà nước”[28, tr.157] Điều quan trọng, Chỉ thị nhấn mạnh:
Sau khi đề bạt phải tiếp tục bồi dưỡng, tạo điều kiện giúp chị em hoàn thành nhiệm vụ
Việc tạo điều kiện để giới nữ tham gia vào lĩnh vực quản lý, lãnh đạo trongcác cơ quan nhà nước từ TW tới địa phương, trước hết là nhằm đảm bảo cho nữ giới
có người đại diện, bảo vệ quyền lợi của giới mình trong đề xuất chính sách và thựchiện chính sách, sau đó sẽ tiến tới thực hiện bình đẳng nam nữ Đảng nhận thức rõrằng: để phấn đấu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trước hết nữgiới phải được bình đẳng trong lĩnh vực tham gia quản lý, lãnh đạo Đảng coi đây làdấu hiệu cao nhất mức độ bình đẳng nam nữ
Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, các vấn đề xã hội cũngđược Đảng và Nhà nước quan tâm, trong đó có vấn đề bình đẳng giới Theo đó, vịtrí, vai trò của phụ nữ càng được khẳng định và đề cao ĐH đại biểu toàn quốc lầnthứ VI của Đảng mở đầu cho công cuộc đổi mới của đất nước đã nhấn mạnh vai trò
to lớn của giới nữ so với nam giới trong sự nghiệp cách mạng và chỉ rõ: vấn đề giảiphóng phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ là nhiệm vụ của toàn Đảng, của Nhà
Trang 22nước và các cấp, các ngành: “Để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp
cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong
cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật Các
cơ quan nhà nước với sự phối hợp của các đoàn thể, cần có những biện pháp thiết thực tạo việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ
em, thực hiện đúng Luật Hôn nhân và gia đình Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc”[29,
tr 450] Đảng nhận thức sâu sắc chức năng “kép” của nữ giới; vừa là một công dân,
là người lao động, lại vừa là người vợ, người mẹ; nữ giới có vai trò đặc biệt quantrọng trong lao động, sản xuất nhất là trong xây dựng gia đình hạnh phúc Vì vậy,Đảng yêu cầu các cấp, các ngành phải: Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp đượcnghĩa vụ công dân và chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc Cũng trongnăm này, Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi đã được Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986 khẳngđịnh sự bình đẳng nam nữ trong gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích của người phụ nữ,
đề cao vai trò của người phụ nữ với việc xây dựng gia đình hạnh phúc
Tuy nhiên, trong những năm tháng vừa bước ra khỏi hai cuộc chiến tranh tànkhốc, đất nước còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, Đảng và Nhà nước chưa có điềukiện đề ra những biện pháp cụ thể, các chương trình hành động, các chiến lược quốcgia về bình đẳng giới Do đó, phụ nữ thực sự chưa có điều kiện để phát triển, khẳngđịnh vị thế, tài năng của mình trong xã hội ĐH VI của Đảng là một bước ngoặtquan trọng đối với sự phát triển đất nước, trong đó có phụ nữ Trong ĐH này, Đảng
đã nêu lên những quan điểm, khẳng định vai trò của phụ nữ trong gia đình và xãhội, chỉ đạo các cấp, các ngành tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển Tuy nhiên, kể từsau ĐH VI, Đảng và Nhà nước chưa có văn bản cụ thể hay những chính sách liênquan trực tiếp đến vấn đề bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
1.2 Chủ trương bảo đảm bình đẳng giới của Đảng từ năm
1991 đến năm 2000
1.2.1 Bối cảnh lịch sử
Trang 23Từ khi tiến hành đổi mới, Việt Nam đã có bước ngoặt về tăng trưởng kinh tế,tạo đà phát triển đất nước, cải thiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của ngườidân Bên cạnh lĩnh vực kinh tế, các mặt của đời sống xã hội cũng được Đảng vàNhà nước quan tâm, chăm lo, trong đó có vấn đề bình đẳng giới Trong chính sáchđổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước Việt Nam, con người được đặt ở vị trímục tiêu cuối cùng Công cuộc đổi mới toàn diện đã đáp ứng nguyện vọng củangười dân, nhận được sự hưởng ứng và tham gia của mọi tầng lớp nhân dân, trong
đó có phụ nữ Việt Nam và thu được những thành tựu đáng khích lệ
Năm 1991, “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2000”được ĐH Đảng toàn quốc lần thứ VII thông qua, với quan điểm cơ bản là đặt conngười vào trung tâm của sự phát triển, khơi dậy mọi tiềm năng cá nhân và của cảcộng đồng, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội Mục tiêutổng quát của Chiến lược là đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, phát triển nhanh.Đây là chiến lược phát triển vì dân, do dân và lấy ấm no, tự do, hạnh phúc của conngười làm mục tiêu phấn đấu cao nhất Chiến lược này cũng là điều kiện cơ bản đểViệt Nam thực hiện cam kết của mình với Công ước CEDAW
Nhờ đường lối đổi mới đúng đắn, kể từ năm 1991 đến năm 2000, Việt Nam
đã thu được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội GDP tăngbình quân trong thời kỳ 1991 – 1995 là 8,2%, năm 1996 là 9,34% và năm 1997 là8,8%[66, tr.6] Bên cạnh phát triển kinh tế, công cuộc đổi mới cũng đạt nhiều thànhtựu về mặt xã hội, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế như: giải quyết việclàm, xóa đói giảm nghèo, giáo dục được đặt lên vị trí hàng đầu – là quốc sách, sứckhỏe của nhân dân được quan tâm, chăm sóc, công tác dân số và kế hoạch hóa giađình, đặc biệt là việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền của phụ nữ cũngthu được nhiều thành tựu
Bên cạnh đó, đây cũng là giai đoạn Việt Nam mở cửa, hội nhập với khu vực
và thế giới mà dấu mốc quan trọng là gia nhập tổ chức khu vực ASEAN và bìnhthường hóa quan hệ với Hoa Kỳ Mở cửa, hội nhập cũng đồng nghĩa với việc ViệtNam phải nỗ lực hơn nữa trong việc phấn đấu đạt được những mục tiêu, những giá
Trang 24trị chung của toàn cầu Đối với vấn đề bình đẳng giới, Việt Nam có thể tiếp thu, họchỏi kinh nghiệm của các nước có nhiều thành tựu trong công tác này.
Kinh tế phát triển, chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi để Đảng và Nhànước ta quan tâm tới các vấn đề xã hội trong đó có vấn đề bình đẳng giới, nângquyền cho phụ nữ
Cùng với Công ước CEDAW mà Việt Nam tham gia ký kết giai đoạn trước,trong giai đoạn này, LHQ và các quốc gia trên thế giới dành sự quan tâm đặc biệttới vấn đề bình đẳng giới Vai trò trung tâm của vấn đề bình đẳng giới được thể hiệnrất rõ trong Hội nghị Thế giới lần thứ tư về Phụ nữ ở Bắc Kinh năm 1995 đã thôngqua Cương lĩnh hành động Bắc Kinh và các hội nghị thế giới quan trọng khác nhưHội nghị Rio về môi trường và phát triển (1992), Hội nghị Viên về quyền con người(1993), Hội nghị Cairo về dân số và phát triển (1994), Hội nghị Thượng đỉnh Thếgiới tại Copenhagen về phát triển xã hội (1995) và Hội nghị Istanbul về Định cư(1996) Đặc biệt Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995 đã đề ra 12 lĩnh vực ưutiên đều liên quan đến những vấn đề xã hội có tác động đến phụ nữ và bình đẳnggiới mà tiêu biểu là các vấn đề nghèo đói, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, việc làm,nông thôn, bạo lực và chiến tranh, quyền quyết định, môi trường, trẻ em gái…Những nội dung về bình đẳng giới trong các hội nghị trên là cơ sở để Việt Nam đề
ra những chính sách phù hợp với các mục tiêu chung của nhân loại và phù hợp vớithực tiễn của Việt Nam
1.2.2 Chủ trương thực hiện bình đẳng giới của Đảng
Trong bối cảnh mới, ĐH lần VII của Đảng đã đưa ra yêu cầu: “thực hiện
bình đẳng nam nữ về mọi mặt”[31, tr 234] Báo cáo chính trị của BCHTW khóa VI
tại Đại hội khẳng định: “Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu
phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người”[31, tr 201] Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội nêu rõ: “Phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng
về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội…chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động và học tập của người mẹ và của thanh thiếu niên”[31, tr 232] Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta ngày càng nhận thức
Trang 25rõ hơn, đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của nguồn lực con người, đặt con người vàotrung tâm của sự phát triển Đảng coi chiến lược phát triển nguồn lực con người là
“chiến lược của các chiến lược” Bởi vậy, vấn đề xây dựng gia đình tiến bộ, hạnhphúc và phát huy vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới vì chủnghĩa xã hội luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, xem đó là một mục tiêu vànội dung quan trọng của công cuộc đổi mới, của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xãhội, đồng thời là trách nhiệm của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể xã hội vàcủa từng gia đình
Trong bối cảnh chung đổi mới đất nước một cách toàn diện, vấn đề bìnhđẳng giới, đề cao vai trò của phụ nữ được Đảng đặc biệt quan tâm Nghị quyết số
04/NQ-TW ngày 12/4/1993 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và tăng cường công tác
vận động phụ nữ trong tình hình mới” và Chỉ thị số 37/CT-TW ngày 16/5/1994 của
Ban Bí thư về “Công tác cán bộ trong tình hình mới” được coi là những văn bản
thể hiện rõ khía cạnh giới trong quan điểm của Đảng Văn bản ghi nhận phụ nữ ViệtNam vừa có tiềm năng to lớn vừa là động lực quan trọng của công cuộc đổi mới vàphát triển kinh tế - xã hội; đề xuất nhiệm vụ mang tính chiến lược là xây dựng độingũ cán bộ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ phấn đấu, trưởng thành, tăng tỉ lệ nữ trongcác cấp lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hóa, xãhội Nghị quyết 04/NQ-TW đã xác định ba điểm lớn hay chính là quan điểm củaĐảng về phụ nữ và công tác phụ nữ:
Một là, phụ nữ vừa là người lao động, người công dân, vừa là người mẹ,người thầy đầu tiên của con người, cũng tức là người đặt dấu ấn nền tảng, tạo nhân
cách, tâm hồn, tư duy cho thế hệ sau Vì vậy: “phải xem giải phóng phụ nữ là một
mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[30, tr.18].
Hai là, mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sốngvật chất và tinh thần cho phụ nữ, nâng cao vị thế xã hội của phụ nữ, thực hiện tốtnam nữ bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sứckhỏe, kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích
xã hội và cộng đồng, có lòng nhân hậu
Trang 26Ba là, sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách nhiệm củaĐảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia đình Đườnglối giải phóng phụ nữ phải được thể chế hóa và cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật,chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước Nghị quyết cũng khẳng định vai trò,trách nhiệm của Hội Liên hiệp phụ nữ trong việc đoàn kết phụ nữ, hướng dẫn vàvận động chị em phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, bình đẳng nam nữ, vì sựphát triển và hạnh phúc của phụ nữ, vì sự nghiệp đổi mới, thực hiện dân giàu, nướcmạnh, xã hội văn minh.
Để thực hiện những mục tiêu trên, Đảng cũng đề ra một số công tác lớn cầnphải thực hiện: giải quyết việc làm, chăm lo đời sống, bảo hộ lao động, bảo hiểm xãhội, bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của người phụ nữ; giáo dục, bồi dưỡng phẩmchất, năng lực, nâng cao trình độ mọi mặt của phụ nữ; xây dựng gia đình no ấm,bình đẳng, tiến bộ hạnh phúc; về công tác cán bộ phải coi đây là nhiệm vụ có tínhchiến lược trong toàn bộ công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước, có kế hoạch tạonguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ…bên cạnh đó phải đổi mới nội dung tổ chức
và phương thức hoạt động của HLHPNVN và tăng cường công tác phụ nữ củaĐảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội
Tình hình đất nước và thế giới có nhiều biến chuyển yêu cầu Đảng phải có sựnhìn nhận toàn diện và khách quan về các giai cấp, tầng lớp và từng bộ phận nhândân trong xã hội Nghị quyết 04/NQ-TW có thể được coi là dấu mốc quan trọng vềbình đẳng giới ở Việt Nam, chỉ rõ vai trò quan trọng của phụ nữ trong thời kỳ đổimới của đất nước Phụ nữ không chỉ là người chăm lo cho gia đình mà còn là một
bộ phận lớn trong lực lượng lao động Đảng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của phụ nữđối với thế hệ tương lai của đất nước: là người thầy đầu tiên của con người, cũngtức là người đặt dấu ấn nền tảng, tạo nhân cách, tâm hồn, tư duy cho thế hệ sau Cóthể nói, đây là sự khẳng định và ghi nhận của Đảng, Nhà nước về vai trò đặc biệtquan trọng của phụ nữ Người mẹ chính là người chăm lo, chỉ bảo, uốn nắn nhâncách của trẻ thơ – tương lai của đất nước Coi “giải phóng phụ nữ là một mục tiêu
và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xãhội ở nước ta” là Đảng đặc biệt coi trọng sự nghiệp giải phóng phụ nữ, nâng quyền
Trang 27cho phụ nữ; khẳng định mục tiêu tất cả vì con người của sự nghiệp đổi mới đấtnước Vai trò của phụ nữ trong xã hội vô cùng quan trọng cũng đồng nghĩa với việc
họ phải có quyền bình đẳng với nam giới trong đời sống xã hội Giải phóng phụ nữ
là mục tiêu đặt ra trong mọi thời kỳ cách mạng của Việt Nam, thể hiện tính nhânvăn của chế độ xã hội ở Việt Nam
Nghị quyết 04 cũng đề ra được phương hướng xây dựng người phụ nữ ViệtNam trong thời kỳ mới vừa phát huy những giá trị nhân cách tốt đẹp của người phụ
nữ Việt Nam truyền thống vừa năng động, sáng tạo để phù hợp với yêu cầu mới của
sự phát triển; đề ra được những công tác lớn phải thực hiện để Nhà nước, các đoànthể và các cấp chính quyền định hướng trong hoạt động, đề ra các chính sách vàchương trình hành động phù hợp Đồng thời, Nghị quyết đã khẳng định giải phóngphụ nữ là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân Nếu không có sự thay đổi nhận thứccủa toàn xã hội với những việc làm, hành động cụ thể thì sự nghiệp giải phóng phụ
nữ không thể thực hiện được
Nghị quyết 04/NQ-TW là tiền đề, tạo cơ sở cho việc hoạch định các chínhsách cụ thể về bình đẳng giới, tạo ra những bước ngoặt tiếp theo trong nỗ lực thựchiện bình đẳng giới của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ mới
Để tạo điều kiện cho giới nữ tham gia ngày càng nhiều vào lĩnh vực lãnhđạo, quản lý, coi đây là dấu hiệu cao nhất của công tác bình đẳng giới, ngày16/5/1994 Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 37-CT/TW “Về một số vấn đề công tác cán bộ
nữ trong tình hình mới”, trong đó nhấn mạnh: việc tăng cường đội ngũ cán bộ nữtham gia vào các cương vị lãnh đạo, quản lý và ra quyết định là đòi hỏi khách quancủa sự phát triển xã hội, xuất phát từ vai trò, khả năng của phụ nữ Chỉ thị khẳng
định: “Việc nâng cao tỉ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã
hội là yêu cầu quan trọng để thật sự thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ
nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ Chống những biểu hiện lệch lạc, coi thường phụ nữ, khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ”[30, tr 364].
Chỉ thị đưa ra mục tiêu phải có nữ tham gia lãnh đạo trong các ngành, các cấp,các doanh nghiệp và nhiều vấn đề khác có liên quan đến phụ nữ như: có quy hoạch, tạo
Trang 28nguồn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ; nâng cao tỉ lệ cán bộ nữ trong các cấp, cácngành; xây dựng chính sách, tạo điều kiện cho cán bộ nữ làm việc và khuyến khích tàinăng nữ phát triển; đẩy mạng công tác phát triển Đảng trong phụ nữ.
Với việc đề cao vai trò, khả năng lãnh đạo của phụ nữ và đặt ra yêu cầu nângcao tỷ lệ cán bộ nữ, Chỉ thị 37-CT/TW đã tạo ra bước chuyển trong mọi cấp, mọingành trong việc quy hoạch cán bộ và là cơ sở quan trọng trong việc thực hiện bìnhđẳng giới, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị Theo quan niệm truyền thống, phụ nữphải phụ thuộc vào phái mạnh, không quyết đoán và không có khả năng lãnh đạo, vìvậy Chỉ thị 37-CT/TW tạo ra những thay đổi nhận thức của nhân dân về vai trò củaphụ nữ trong đời sống chính trị, xã hội Việc phụ nữ tham gia lãnh đạo không nhữngkhẳng định vai trò, khả năng của phụ nữ mà còn tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy khảnăng của mình, bảo vệ quyền lợi của giới mình Mọi chủ trương của các cấp, cácngành đều có phụ nữ tham gia đóng góp ý kiến, xây dựng chương trình, đặc biệt lànhững vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ
Nghị quyết 04/NQ-TW và Chỉ thị 37-CT/TW thể hiện bước phát triển vềquan điểm giới trong nhận thức của Đảng, về vấn đề bình đẳng giới và vai trò củaphụ nữ trong đời sống xã hội Sự thay đổi này phù hợp với thực tiễn và yêu cầu pháttriển của đất nước, mở ra những cơ hội mới cho phụ nữ khẳng định vai trò, vị trí củamình trong gia đình và ngoài xã hội
Nối tiếp những quan điểm trên, ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm
1996) của Đảng tiếp tục đề ra chủ trương về công tác phụ nữ: “Đặc biệt coi trọng
việc đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ chị em có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ em Quan tâm phát triển Đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, tăng tỷ lệ cán bộ nữ trong các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành”[31, tr 366] Đảng nhấn mạnh phải đào
tạo nghề và tạo cơ hội việc làm cho phụ nữ, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đờisống là tạo cơ hội cho phụ nữ bình đẳng với nam giới về kinh tế và việc làm Phụ
nữ không những đảm bảo được cuộc sống của bản thân mình, không phải phụ thuộc
nam giới về kinh tế mà còn góp phần xây dựng kinh tế gia đình, xây dựng đất nước
giàu mạnh
Trang 29Trong “Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
1996 - 2000”, ĐH đặt ra nhiệm vụ: “Cải thiện các tiêu chí cơ bản về sức khỏe cho
mọi người, từng bước nâng cao thể trạng và tầm vóc, trước hết là nâng cao thể lực
bà mẹ và trẻ em…Thực hiện chương trình dinh dưỡng quốc gia: chăm sóc phụ nữ
có thai, sinh đẻ, giảm tỉ lệ tử vong của phụ nữ khi đẻ xuống 0,5 phần nghìn”[31, tr.
418] ĐH đặt ra mục tiêu: “Đến năm 2000, tất cả các xã trong nước đều có trạm y
tế, 40% trạm có bác sĩ, tất cả các trạm có y sĩ sản, nhi hoặc nữ hộ sinh, các thôn có
y tá”[31, tr 419] Vấn đề sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản của phụ nữ có ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn lao động, tác động tới các vấn đề xã hội khác,nhất là ảnh hưởng tới thế hệ tương lai của đất nước ĐH đại biểu toàn quốc lần thứVIII của Đảng dành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề sức khỏe của phụ nữ cũng làtạo điều kiện cho phụ nữ phát triển toàn diện
Đây cũng là giai đoạn Đảng và Chính phủ ta đã cam kết với cộng đồng quốc
tế về việc thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh với 11 mục tiêu cụ thể nhằmphát huy vai trò của nữ giới và thực hiện bình đẳng giới Đảng đã chỉ đạo Chính phủxây dựng Chiến lược và kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đếnnăm 2000 Lần đầu tiên Việt Nam có một Chiến lược và kế hoạch hành động nhằmthúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới như đã cam kết với quốc
tế Ngoài Chiến lược và kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam,Đảng đã nhấn mạnh phải có định hướng phát triển cho nữ giới, tạo việc làm, pháttriển nghề nghiệp cho họ trong Chiến lược tổng thể phát triển đất nước… Đây chính
là cơ sở, nền tảng để Nhà nước và Chính phủ lồng ghép giới trong các chương trìnhphát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
1.3 Đảng chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới từ năm 1991 đến năm 2000
Cam kết trước cộng đồng quốc tế về thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ, thựchiện bình đẳng giới, Đảng đã chỉ đạo Chính phủ, các tổ chức xã hội phấn đấu thựchiện các mục tiêu về bình đẳng giới đã đề ra
Ngày 25/2/1993, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 72/TTg chính thứcthành lập Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam trực thuộc Chính phủtrên cơ sở Ủy ban Quốc gia về Thập kỷ của phụ nữ Việt Nam được thành lập từ
Trang 30năm 1985 Ủy ban có chức năng cơ bản tham mưu, tư vấn cho Đảng, Chính phủ vềthực hiện bình đẳng giới nhằm đạt tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Hội nghị Thế giới về phụ nữ lần thứ 4 do LHQ tổ chức tại Bắc Kinh, TrungQuốc vào tháng 9 năm 1995 đã thông qua Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ
nữ đến năm 2000, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cường quyền lực cho phụ nữ trêntoàn thế giới Bản cương lĩnh hành động cũng khuyến nghị các Chính phủ xây dựng vàthực hiện kế hoạch hành động quốc gia của mỗi nước Tại Hội nghị quan trọng này,Chính phủ ta đã công bố Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đếnnăm 2000 đã được Chính phủ Việt Nam phê chuẩn ngày 24/8/1995 với 11 mục tiêu cụthể: Tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng caochất lượng cuộc sống cho phụ nữ; Tạo điều kiện bình đẳng cho phụ nữ trong giáo dụcđào tạo, nâng cao trình độ của phụ nữ về mọi mặt; Cải thiện điều kiện chăm sóc, bảo vệsức khỏe phụ nữ và trẻ em; Nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ tham gia vào bộ máylãnh đạo, tư vấn và ra quyết định; Bảo vệ, phát huy quyền của phụ nữ và tạo điều kiệncho phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội; Tăng cường vai trò của gia đình; Phát huyvai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường và nguồn tự nhiên, đóng góp vào sự pháttriển bền vững và cải thiện điều kiện sống; Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền
vì mục đích góp phần nâng cao nhận thức về quyền bình đẳng nam nữ; Phụ nữ thamgia góp phần củng cố và xây dựng hòa bình; Nâng cao năng lực của bộ máy hoạt động
vì sự tiến bộ của phụ nữ; Bảo vệ và tạo điều kiện để trẻ em gái phát triển về mọi mặt
Có thể nói, đây là lần đầu tiên Đảng và Chính phủ Việt Nam đề ra một chiến lược hànhđộng toàn diện và cụ thể nhằm nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ hướng tới bình đẳnggiới với những mục tiêu cụ thể Chiến lược đề ra là cơ sở định hướng cho các Bộ,ngành, các đoàn thể, các địa phương thực hiện mục tiêu chung của quốc gia cũng nhưcủa toàn nhân loại
Trong thời gian thực hiện Chiến lược trên, Việt Nam bước đầu đã đạt kết quảnhất định so với 11 mục tiêu đã đề ra, trong đó có các mục tiêu về tạo việc làm, giáodục đào tạo; các mục tiêu về sức khỏe, chăm sóc phụ nữ, trẻ em; vấn đề gia đình vàmột số mục tiêu có tính cộng đồng Tuy vậy, trong từng mục tiêu đó, vẫn còn cónhững mục tiêu cụ thể chưa đạt được, đặc biệt là mục tiêu phụ nữ tham gia bộ máy
Trang 31lãnh đạo và ra quyết định Tuy nhiên, nhìn chung Kế hoạch hành động quốc gia vì
sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đã khẳng định được đường lối của Đảng, khẳngđịnh quyết tâm của Chính phủ không ngừng nâng cao địa vị của phụ nữ trong cáchoạt động chính trị, kinh tế, xã hội cũng như trong gia đình Chiến lược là cơ sởquan trọng để các cấp, các ngành làm căn cứ xây dựng các chương trình, kế hoạchhành động cụ thể vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn này
Trên cơ sở những chủ trương đã đề ra, Đảng đã lãnh đạo thực hiện bảo đảmbình đẳng giới trên mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và thu đượcnhững thành quả nhất định
1.3.1 Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
Hiến pháp năm 1992 quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước phápluật” Trên nguyên tắc đó, các bộ luật và luật có liên quan đến quyền lợi chính trịđều không có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ Nam, nữ có cơ hội như nhautrong việc tham gia hoạt động xã hội, tham gia hoạt động quản lý nhà nước, giữ cácchức vụ lãnh đạo trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xãhội, quyền được tham gia hoạt động đối ngoại, hội thảo, diễn đàn trong nước vàquốc tế, quyền được thể hiện chính kiến… theo quy định của pháp luật
Điều 125 Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định: “người nào dùng vũ lực hay
có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế,khoa học, văn hóa, xã hội thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm.Như vậy, về cơ bản, pháp luật Việt Nam bảo đảm cho phụ nữ quyền bình đẳng vớinam giới, quyền không bị phân biệt đối xử trong các quan hệ dân sự, đồng thời phápluật bảo vệ người phụ nữ khi các quyền này bị vi phạm Điều 8 Bộ luật Dân sự năm
1995 quy định: “Trong quan hệ dân sự các bên đều bình đẳng, không được lấy lý dokhác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội… để đối xử không công bằng vớinhau” Theo quy định tại các điều 16, 17, 18, 19 Bộ luật Dân sự năm 1995, phụ nữ
có quyền bình đẳng với nam giới hưởng thụ các quyền và làm các nghĩa vụ dân sự
do pháp luật quy định Như vậy, từ các quy định trên cho thấy, pháp luật Việt Nam
đã thực sự bảo đảm cho phụ nữ và nam giới quyền bình đẳng ngang nhau trong cácgiao dịch dân sự, không có bất cứ một hạn chế nào, phân biệt hay phủ nhận quyền
Trang 32này của phụ nữ Nhiều văn bản pháp lý của Nhà nước đã cụ thể hóa quyền bìnhđẳng nam nữ, nghiêm cấm việc phân biệt đối xử với phụ nữ trong việc tham gia cáchoạt động chính trị, số lượng phụ nữ đảm nhận các chức vụ chính quyền và đoànthể ngày một tăng.
Về quyền bầu cử, ứng cử: Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định phụ nữ
có quyền bình đẳng với nam giới trong việc bầu cử và ứng cử Điều 2 Luật Bầu cửđại biểu Quốc hội năm 1992 và năm 1997, Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 1989
và 1994 quy định: Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội,tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trởlên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốchội, HĐND theo quy định của pháp luật
Trong các kỳ bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp phụ nữ tiếp tục được tạo điềukiện thuận lợi để tham gia bầu cử và ứng cử bình đẳng với nam giới Tỷ lệ phụ nữtham gia bầu cử trong kỳ bầu cử Quốc hội năm 1997 là 99,9% Trong các kỳ bầu
cử, các cấp chính quyền, đoàn thể nhân dân đã có nhiều hình thức linh hoạt để bảođảm quyền tham gia đầy đủ của phụ nữ nghèo, vùng xa xôi, phụ nữ dân tộc, thươngtật hoặc mù chữ Vấn đề ứng cử của phụ nữ cũng được quan tâm: phụ nữ là mộttrong 4 nhóm đối tượng mà luật bầu cử quy định cần bảo đảm tỉ lệ đề cử, ứng cửnhất định Một loạt các hoạt động đã được triển khai để hỗ trợ các ứng cử viên là nữtrong các kỳ bầu cử, đặc biệt Hội phụ nữ các cấp chủ trì giới thiệu ứng cử viên nữ
và vận động bầu cử cho nữ; tập huấn về kỹ năng cho các ứng cử viên nữ, tổ chứcgặp gỡ các cử tri… Vị trí của phụ nữ Việt Nam ngày càng được tăng cường trongđời sống chính trị và xã hội Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là nữ ngày càng tăng từ 17%khóa VIII (1987 – 1992) lên 18,48% khóa IX (1992 – 1997) và đến khóa X (1997 –2002) đạt tỷ lệ là 26,2% (với 118 đại biểu nữ trúng cử trong số 450 đại biểu quốchội) Theo tư liệu của Liên minh Quốc hội thế giới, Việt Nam đã là nước đứng thứ9/135 nước thành viên của tổ chức này và đứng thứ 2 trong các nước khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội[66, tr 39] Trong nhiệm kỳ 5năm của Quốc hội, phụ nữ đã thực sự tham dự vào đời sống chính trị của đất nước ở
Trang 33vị trí quyền lực Nhà nước cao nhất, trực tiếp xây dựng các văn bản pháp luật, trong
đó có các điều luật liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ
Điều đáng ghi nhận là sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng nữ đại biểu Quốchội Nếu khóa VII, tỷ lệ nữ có học vấn từ đại học trở lên so với tổng nữ đại biểu Quốchội là 11,1% thì khóa VIII, tỷ lệ này đạt 48,9% và khóa IX là 58,9% và đến khóa X(1997 – 2002) tỷ lệ này đạt 87,28%[66, tr 39] Nữ đại biểu Quốc hội đều có năng lực,đại diện trên nhiều lĩnh vực hoạt động và các đoàn thể nhân dân Cũng tại khóa X, tại
61 tỉnh – thành trực thuộc TW đều có đại biểu Quốc hội là nữ Tỷ lệ nữ tham giaHĐND các cấp cũng có sự gia tăng: cấp tỉnh từ 12,1% Khóa 1989 – 1994 lên 20%Khóa 1994 – 1997; cấp huyện từ 12,2% Khóa 1989 – 1994 lên 18,4% Khóa 1994 –
1999 Riêng ở cấp cơ sở giảm từ 16,5% Khóa 1989 – 1994 xuống còn 14,1% Khóa
1994 – 1999[66, tr 39] Đặc biệt, năm 1999, Việt Nam đã tiến hành bầu cử HĐND 3cấp (tỉnh thành, huyện thị và xã phường) nhiệm kỳ 1999 – 2004 Một số biện pháp đãđược triển khai nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng cường sựtham gia của phụ nữ: Đảng và Chính phủ đã ban hành văn bản chỉ đạo trong đó xácđịnh phụ nữ là một trong số 4 nhóm đối tượng cần được chú trọng, quan tâm và đề rachỉ tiêu phấn đấu ít nhất có 20% phụ nữ trong HĐND các cấp; HLHPNVN các cấpchủ động giới thiệu các đại biểu nữ ứng cử vào HĐND và vận động bỏ phiếu cho phụnữ; Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam phối hợp với HLHPNVN tổchức tập huấn về kỹ năng lãnh đạo cho 18.000 ứng cử viên nữ ở 61 tỉnh thành trongkhuôn khổ dự án VIE/96/011 do UNDP và một số nước tài trợ Có khoảng một vạnứng cử viên khác được tập huấn bằng nguồn ngân sách trong nước, nâng tỷ lệ nữ ứng
cử viên được tập huấn lên gần 50%; bên cạnh đó còn tổ chức chiến dịch tuyên truyềnvận động bỏ phiếu cho phụ nữ được phát động trên quy mô toàn quốc Kết quả bầu
cử cho thấy tỷ lệ nữ trúng cử HĐND đều tăng ở cả 3 cấp so với khóa trước (1994 –1999): cấp tỉnh đạt 22,5% tăng 2,15%, cấp huyện đạt 20,7% tăng 2,6% và cấp xã đạt16,34% tăng 1,94% [6, tr 23]
Có thể khẳng định, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước quyền bình đẳngnam nữ trong lĩnh vực bầu cử, ứng cử trong giai đoạn này đã được thực hiện mộtcách nghiêm túc ở Việt Nam Nhờ đó phụ nữ Việt Nam đã và đang đóng góp vai trò
Trang 34tích cực trong đời sống chính trị và xã hội của đất nước ở vị trí quyền lực nhà nướccác cấp cao nhất; trực tiếp tham gia vào việc lập pháp và hoạch định chiến lược pháttriển của đất nước Tuy vậy, tỷ lệ nữ tham gia trong Quốc hội, HĐND các cấp vẫncòn thấp hơn nhiều so với nam giới và chưa tương xứng với tiềm năng, khả năngthực tế của phụ nữ.
Về quyền của phụ nữ trong việc tham gia quản lý Nhà nước, kinh tế và xã hội:
Điều 53 Hiến pháp năm 1992 quy định: Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước
và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghịvới cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý Trong cácvăn bản quy định về tổ chức nhân sự của các cơ quan quản lý Nhà nước, kinh tế và xãhội không có bất cứ điều khoản nào ngăn cản, hạn chế hoặc phân biệt đối xử với phụ
nữ khi tuyển chọn bổ nhiệm nhân sự vào các cương vị công tác
Trên tinh thần Nghị quyết 04 và Chỉ thị 37 của Đảng, Nhà nước cụ thể hóathành những chính sách về cán bộ nữ Nghị định 95/1998/NĐ-CP về tuyển dụng, sửdụng và quản lý công chức được thông qua ngày 17/11/1998 đã tạo điều kiện chomọi công dân không phân biệt nam nữ khi hội đủ các tiêu chuẩn nghiệp vụ và phẩmchất đạo đức có quyền được tham gia thi tuyển vào các cơ quan Nhà nước Cùngvới nghị định trên là Nghị định 96/1998/NĐ-CP về chế độ thôi việc đối với cán bộcông chức Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ đã có văn bản quy định tuổi đề bạt cán
bộ lãnh đạo đối với nam và nữ như nhau Theo quy định tại điều 87 của Hiến phápViệt Nam năm 1992, HLHPNVN có quyền đề xuất sáng kiến về pháp luật, quyềntrình dự án luật, pháp lệnh Thực hiện quyền này, HLHPNVN đã góp phần tích cựcvào việc xây dựng các chính sách pháp luật của đất nước nói chung; chính sách,pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ nói riêng
Nhờ những chính sách của Đảng và Nhà nước, phụ nữ Việt Nam đã tham gia
và có những đóng góp tích cực trong việc xây dựng luật pháp, chính sách Tổng kếttrong những năm 1992 – 1997 đã có 3,6 triệu phụ nữ tham gia đóng góp 1,6 triệu ýkiến trong quá trình soạn thảo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Bộ luật Dân
sự năm 1995, Bộ luật Lao động năm 1994…
Trang 35Việc phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý trong các cơ quan Nhà nước ở cáccấp, các ngành không chỉ nói lên sự bình đẳng nam nữ trong đời sống chính trị ởViệt Nam mà còn bảo đảm cho phụ nữ có người đại diện bảo vệ quyền lợi của giớimình trong việc thực hiện chính sách ở các cấp, các ngành Trên tinh thần đó, nhiềuphụ nữ đã đảm nhiệm các vị trí quan trọng trong các cơ quan quyền lực các cấp.Khóa 1996 - 2000 có 1 nữ Ủy viên Bộ Chính trị và 18 ủy viên BCHTW Đảng (khóa
1991 – 1995 có 12 ủy viên nữ), 1 nữ Phó Chủ tịch nước, 1 nữ Phó Chủ tịch Quốchội, 5 nữ Bộ trường chiếm 11,91%, 25 thứ trưởng chiếm 7,29% (năm 1996)[66, tr.100-101] Năm 1997 có 37 vạn Đảng viên là nữ, chiếm tỷ lệ 17,3% tăng hơn so vớigiai đoạn trước Trong chính quyền cơ sở, phụ nữ tham gia vai trò lãnh đạo ngàycàng tăng Tính đến năm 2000, một số bộ, ngành, địa phương đã chú ý nâng tỷ lệcán bộ lãnh đạo như: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã làm tốt công tác quy hoạchcán bộ nữ trong toàn ngành từ TW đến địa phương: năm 1995 có 1 Phó Thống đốcngân hàng là nữ, đến năm 2000 nâng lên thành 2 chiếm 40%, 18 nữ lãnh đạo cấp vụ
và tương đương (chiếm 17% tổng số cấp vụ); Bộ Tài chính có 2/7 thứ trưởng là nữ,chiếm 28,6% tổng số cán bộ lãnh đạo Bộ…[9]
Nhìn chung, trong giai đoạn này, phụ nữ Việt Nam đã tham gia thực sự vàocông tác lãnh đạo và quản lý trong hầu hết các mặt hoạt động của đời sống đấtnước Tuy vậy, vai trò và vị trí của phụ nữ trong công tác lãnh đạo và quản lý vẫnchưa tương xứng với tiềm năng và nguyện vọng của phụ nữ: tỷ lệ cán bộ nữ thamgia lãnh đạo ở cấp Bộ, cấp vụ còn rất thấp, mới khoảng 8 - 15% (ví dụ: nữ cán bộcấp Vụ ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư là 7,75%, Bộ Ngoại giao là 11%), chưa tươngxứng với lực lượng lao động và năng lực đóng góp của phụ nữ Trong ngành Giáodục và Đào tạo, tỷ lệ nữ chiếm trên 70%, song tỷ lệ cán bộ lãnh đạo Ngành tại nhiềuđịa phương quá ít, cấp Bộ chưa có lãnh đạo nữ Nhiều Bộ, Ngành khác cũng tương
tự như vậy[9] Một số nơi, tỷ lệ nữ trong các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan dân
cử còn thấp và có xu hướng giảm Tình trạng tỷ lệ cán bộ nữ ở cấp dưới thấp gâytrở ngại cho việc bổ sung cán bộ nữ ở cấp trên Cán bộ lãnh đạo nữ thường giữ chức
ở cấp phó Nguyên nhân là do các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, các ngànhchưa nhận thức đúng vai trò, khả năng của cán bộ nữ, thiếu những chính sách và
Trang 36biện pháp cụ thể trong việc chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng và đề bạt cán bộ
nữ, có nơi tư tưởng coi thường cán bộ nữ còn nặng nề Việc chỉ đạo công tác cán bộ
nữ thiếu chặt chẽ, chưa thường xuyên Một bộ phận cán bộ nữ còn an phận, thiếu ýchí vươn lên, ngại tham gia vào công tác xã hội
Về quyền của phụ nữ tham gia các tổ chức chính trị - xã hội: Điều 69 Hiến
pháp năm 1992 cho phép công dân, không phân biệt nam nữ có quyền lập hội.HLHPNVN được thành lập năm 1930 và đến năm 1998 có 10,1 triệu hội viên,chiếm 62,6% phụ nữ từ 18 tuổi trở lên Tính đến năm 1998, Tổng Liên đoàn Laođộng Việt Nam có trên 40% nữ đoàn viên với Ban nữ công ở tất cả các cấp; ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có 47% đoàn viên nữ và Hội Nông dân ViệtNam có 31% hội viên nữ[66, tr 41] Ngoài ra, phụ nữ còn tham gia trong các tổchức có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của Việt Nam như: Mặttrận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hòabình hữu nghị Phụ nữ cũng nắm giữ những chức vụ lãnh đạo quan trọng ở các tổchức này: chức vụ chủ tịch chiếm 20% ở cấp TW và 31% ở cấp tỉnh; chức phó chủtịch chiếm 44% ở cấp TW và 49,6% ở cấp tỉnh; Ủy viên Ban chấp hành chiếm26,6% ở cấp TW và 45,4% ở cấp tỉnh[66, tr 41] Bên cạnh đó, trong các tổ chứcnhư Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật, Liên hiệp các hội Văn học và nghệthuật, Hội chữ thập đỏ… phụ nữ cũng tham gia với tỷ lệ cao, có nhiều thành tích nổibật và đóng góp quan trọng trong hoạt động của hội
Như vậy, nối tiếp những thành tựu đạt được trong các giai đoạn trước, tronggiai đoạn này, dưới sự chỉ đạo thực hiện của Đảng, bình đẳng giới trong lĩnh vựcchính trị tiếp tục được thực hiện và thu được nhiều thành tựu, mang lại quyền và lợiích chính đáng cho phụ nữ, tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào đời sống chính trịcủa đất nước bình đẳng với nam giới
1.3.2 Thực hiện bình đẳng giới về kinh tế, việc làm
Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã đem lại nhiều cơ hội cho phụ
nữ trong việc thực hiện các quyền kinh tế như: quyền được làm việc, quyền được sởhữu tài sản, quyền được bình đẳng trong trả lương và bảo hiểm xã hội Vì thế, vị thếcủa phụ nữ trong xã hội được nâng cao
Trang 37Vấn đề việc làm luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm nhằm đảm bảođời sống ổn định cho nhân dân, trong đó có phụ nữ Chính sách về việc làm của Nhànước Việt Nam bảo đảm cho phụ nữ bình đẳng với nam giới về quyền được làmviệc, các cơ hội việc làm, sự tự do lựa chọn ngành nghề và các phúc lợi xã hội kèmtheo Điều này thể hiện rõ trong hệ thống văn bản quản lý, pháp luật và các chủtrương, chính sách của Đảng và Chính phủ được xem xét, điều chỉnh phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển của đất nước.
Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của côngdân” (Điều 55) Riêng lao động nữ, Điều 63 của Hiến pháp quy định: “Lao động nữ
và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởngchế độ thai sản Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương cóquyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy địnhcủa pháp luật” Bộ luật Lao động năm 1994 đã tiếp tục khẳng định tại điều 5: “Mọingười đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề vànâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc,thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo” Đặc biệt Bộ Luật đã dành riêng Chương Xgồm 10 điều quy định riêng về lao động nữ Nội dung chính là Nhà nước bảo đảmquyền làm việc cho phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách vàbiện pháp giúp lao động nữ phát huy năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa laođộng và cuộc sống gia đình; quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động nữ, quyđịnh riêng về chế độ thai sản đối với lao động nữ; đặc biệt chú ý tới sự khác nhau vềgiới trong việc quy định cho phụ nữ trong chế độ thai sản và quy định những côngviệc không được sử dụng lao động nữ
Nhằm đảm bảo vấn đề việc làm cho lao động nữ, Chính phủ đã có nhiều nỗlực thông qua các văn bản: Nghị quyết 120-HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về chủ trương, phương hướng, biện pháp giải quyếtviệc làm trong những năm tới; Nghị định 72-CP năm 1995 của Chính phủ quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm gồm:tuyển lao động, trợ cấp mất việc làm do thay đổi công nghệ, lập quỹ dự phòng vàđào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ; Nghị định số 23/CP năm 1996 của Chính
Trang 38phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động vềnhững quy định riêng đối với lao động nữ Để thực hiện tốt chủ trương của Đảng vàChính phủ, năm 1996 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành thông tư
số 16/LĐTBXH-TT hướng dẫn thực hiện nghị định số 72/CP của Chính phủ, theo
đó, lao động nữ là một trong những đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng vào làm việctrong các doanh nghiệp Ngoài ra, để bảo vệ lao động nữ, Bộ trưởng Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 20 ngày 3/8/1995 quy định một sốnghề lao động nữ không được làm ở nước ngoài là phục vụ gia đình, vũ nữ, ca sĩ,massage tại các nhà hàng, khách sạn, trung tâm giải trí công cộng Mặc dù Nhà nước
đã có nhiều biện pháp nhằm bảo đảm cho phụ nữ có cơ hội có việc làm, song trên thực
tế, tính hiệu quả và sức cạnh tranh của lao động nữ trên thị trường còn thấp, một số đơn
vị và cá nhân ngại tuyển dụng lao động nữ vì họ có thời gian nghỉ thai sản và chăm sóccon cái Để giải quyết những tồn tại trên, trong năm 1998 Thủ tướng Chính phủ đã phêduyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000 (Quyết định số126/1998/QĐ-TTg) nhằm bảo đảm cho người lao động nói chung và người lao động
nữ nói riêng có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có cơ hội có việc làm, tiếntới có việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả và tự do lựa chọn việc làm Tính đến năm
2000, Việt Nam đã phê chuẩn 14 Công ước của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO),trong đó có Công ước 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ chomột công việc có giá trị ngang nhau; Công ước 111 về chống phân biệt đối xử trongviệc làm và nghề nghiệp Công ước 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môitrường làm việc; và Công ước 45 về sử dụng phụ nữ vào những công việc dưới mặtđất, trong hầm mỏ [6, tr 32] Kể từ khi gia nhập các Công ước này, Việt Nam đã thựchiện nội luật hóa các công ước trong hệ thống pháp luật lao động quốc gia nhằm ghinhận và tạo cơ sở pháp lý đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trên các lĩnh vực việclàm, nghề nghiệp và trả công lao động
Kể từ năm 1986, cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế, việc chuyển đổi cơcấu kinh tế vĩ mô, phát triển các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất đãmang lại nhiều cơ hội việc làm cho lao động nữ Chính vì vậy, tỷ lệ lao động nữ làmviệc thường xuyên tăng lên theo các năm Nếu như năm 1996, tỷ lệ lao động nữ là
Trang 3949,8% trong đó khu vực thành thị là 49,3%, nông thôn là 51,5%; thì năm 1997, tỷ lệnày là 50% trong đó thành thị chiếm 48,87%, nông thôn chiếm 50,3% và năm 1998,
tỷ lệ này là 50,19%, trong đó thành thị chiếm 48,87%, nông thôn chiếm 50,53%[66,
tr 54] Bên cạnh việc tăng tỷ lệ lao động nữ trong nền kinh tế, một kết quả đángmừng nữa là trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thịtrường, quan niệm về vấn đề việc làm của phụ nữ đa dạng hơn, tiến bộ hơn, năngđộng hơn theo xu hướng xã hội hóa, tạo cho phụ nữ nhiều cơ hội lựa chọn việc làm,
có thu nhập ổn định Tính từ năm 1996 đến năm 2001, tỷ lệ thất nghiệp của laođộng nữ là 6,29% thấp hơn so với nam giới (7,51%) Tỷ lệ lao động nữ trong cáchoạt động kinh tế tăng lên: trong nông – lâm – ngư nghiệp là 53%, công nghiệp nhẹ
là 65%, thương nghiệp dịch vụ là 68,65%, tài chính tín dụng 65%, y tế 52,35%, giáodục đào tạo 73,4%, du lịch 56,3%, văn hóa nghệ thuật 30%[64, tr.757]
Về bình đẳng trong trả lương và phúc lợi xã hội: Điều 63 Hiến pháp năm
1992 khẳng định: “Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì được hưởng tiềnlương như nhau” Đây là quy định có tính nguyên tắc Trong Chương X – Điều 111của Bộ luật Lao động năm 1994 cũng quy định rõ: “Người sử dụng lao động phảithực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương vàtrả công lao động” Để cụ thể hóa vấn đề này, ngày 31/12/1994 Chính phủ đã banhành nghị định số 197/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Bộ luật Lao động năm 1994 về tiền lương Ngoài ra, trong các văn bản hướng dẫnthực hiện không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về quy định mức lương, các loạitrợ cấp, phụ cấp, mức thưởng, các tiêu chuẩn đánh giá lao động kể cả các quy định
về phụ cấp chức vụ trong các cơ quan Nhà nước Đại diện người lao động, Ban Nữcông, Hội phụ nữ được cử tham gia thành phần các Hội đồng xét duyệt lương, khenthưởng, có quyền đóng góp ý kiến và giám sát quá trình thực hiện Đặc biệt, xuấtphát từ thiên chức của người phụ nữ là mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, Điều
63 Hiến pháp năm 1992 còn quy định: “Lao động nữ có quyền được hưởng chế độthai sản Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉtrước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật”
Cụ thể hóa nội dung quy định của Hiến pháp, Bộ luật Lao động quy định quyền của
Trang 40phụ nữ khi mang thai và nuôi con nhỏ: trong thời gian phụ nữ mang thai, được phépnghỉ khám thai 3 lần và mỗi lần 1 ngày, trong thời gian nuôi con nhỏ, lao động nữđược nghỉ 60 phút trong một ngày để cho con bú mà vẫn được hưởng nguyênlương… Trong thời gian phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ, người sử dụng lao độngkhông được bắt chị em làm thêm giờ ban đêm, đi công tác xa, giảm bớt giờ làm việccho lao động nữ khi phải làm những công việc nặng nhọc… Những quy định đó đãtạo điều kiện, cơ hội cho phụ nữ làm việc, thực hiện quyền bình đẳng giữa nam và
nữ trong lĩnh vực lao động việc làm, góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữtrong xã hội
Về quyền được hưởng bảo hiểm xã hội: Quyền lợi của lao động nữ được
hưởng theo Điều lệ bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số 12/CP của Chính phủnăm 1995: quy định về chế độ và thời gian nghỉ của bố mẹ để chăm sóc con ốm đau(Điều 8), quy định về mức trợ cấp ốm đau, nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau (Điều9), quy định về chế độ trợ cấp thai sản (từ Điều 10 đến Điều 14) Bộ trưởng Bộ Laođộng – Thương binh và Xã hội đã ban hành thông tư số 06/LĐTB-XH-TT ngày4/4/1995 hướng dẫn thi hành một số điều để thực hiện Điều lệ bảo hiểm xã hội nóitrên Lao động nữ cũng được quyền nghỉ hưởng nguyên lương trong các dịp lễ theoquy định, nghỉ phép nguyên lương từ 12 đến 16 ngày tùy thuộc vào các ngành nghề
và tùy thâm niên (cứ 5 năm nghỉ thêm 1 ngày) Các cơ quan cũng tổ chức kỷ niệmvào các ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 và ngày thành lập HLHPNVN 20/10 hàng năm.Các chế độ hưu trí và tử tuất của phụ nữ ngang bằng với nam giới Riêng về chế độtrợ cấp thai sản, phụ nữ được nghỉ đẻ hưởng nguyên lương từ quỹ bảo hiểm xã hội
từ 4 đến 6 tháng tùy thuộc vào điều kiện lao động Thực tế cho thấy, chính sách bảohiểm xã hội được đổi mới qua từng thời kỳ đã dần bảo đảm quyền bình đẳng củalao động nữ Tuy nhiên, do hoàn cảnh đất nước trong giai đoạn này còn nhiêu khókhăn, nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi nên không tránh khỏi sự bất cậpcủa hệ thống bảo hiểm xã hội
Bên cạnh việc được hưởng bảo hiểm xã hội, do đặc điểm riêng của giới tính,nên Đảng và Nhà nước ta cũng đặc biệt quan tâm tới vấn đề sức khỏe, kể cả chứcnăng sinh đẻ và bảo đảm an toàn cho lao động nữ Trong thực tế, quyền được bảo