1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN lý NHÀ TRƯỜNG THỰC HIỆN xã hội hóa GIÁO dục của HIỆU TRƯỜNG các TRƯỜNG mầm NON TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ bắc GIANG

104 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 177,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trẻ emhôm nay sẽ là chủ nhân đất nước những thập niên đầu thế kỷ XXI, vì thế cầnphải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ em tuổi mầm non và trách nhiệmnày không chỉ thuộc về các nhà t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -NGUYỄN THỊ DUYấN

Quản lý nhà trờng thực hiện xã hội hóa giáo dục

của Hiệu trờng các trờng mầm non

trên địa bàn thành phố Bắc Giang

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -NGUYỄN THỊ DUYấN

Quản lý nhà trờng thực hiện xã hội hóa giáo dục

của Hiệu trờng các trờng mầm non

trên địa bàn thành phố Bắc Giang

Chuyờn ngành : Quản lý giỏo dục

Mó số : 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu Hằng

HÀ NỘI - 2016

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

Với tất cả sự thành kính và tình cảm chân thành của người học trò, tácgiả xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáotrường Đại học sư phạm Hà Nội Đặc biệt, tác giả xin trân trọng cảm ơn sựquan tâm chỉ dạy, sự giúp đỡ tận tình, thân thiện của TS.Nguyễn Thị ThuHằng, người thầy đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu

và hoàn thành luận văn này

Do thời gian nghiên cứu chưa nhiều, mặc dù bản thân đã có nhiều cốgắng, song không tránh khỏi những thiếu sót trong nội dung trình bày luậnvăn Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý chân thành của các thầygiáo cô giáo trong hội đồng khoa học

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, tháng 06năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Duyên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

8 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON 5

1.1Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục 5

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục mầm non 9

1.2Hệ thống khái niệm cơ bản 11

1.2.1Xã hội hóa 11

1.2.2Xã hội hóa giáo dục 12

1.2.3Xã hội hóa giáo dục mầm non 17

1.2.4Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 21

1.2.5Nội dung chính trong xã hội hóa giáo dục 22

1.3Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 25

1.3.1Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 25

1.3.2Vai trò của giáo dục mầm non 31

1.3.3Vai trò xã hội hóa giáo dục mầm non 32

1.3.4Nguyên tắc xã hội hóa giáo dục mầm non 34

1.4Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 35

Trang 6

1.4.1Vai trò của Hiệu trưởng trong công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 35

1.4.2Nội dung quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 37

1.5Nhân tố ảnh hưởng 40

Kết luận chương 1 40

Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC GIANG 41

2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 41

2.1.1 Đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên và dân số 41

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 43

2.2 Thực trạng hoạt động xã hội hóa giáo dục ở trường mầm non 43

2.3 Thực trạng quản lý công tác xã hôi hóa giáo dục ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang 51

2.3.1 Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang 51

2.3.2 Thực trạng kết quả đã đạt được về công tác xã hội hóa giáo dục của Hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang 52

2.3.3 Thực trạng những biện pháp quản lý đã áp dụng trong công tác xã hội hóa giáo dục của Hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang 58

2.4 Đánh giá chung về công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang 59

2.4.1 Ưu điểm 59

2.4.2 Hạn chế trong việc thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục của các trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang 59

2.4.3 Thuận lợi trong công tác xã hội hóa giáo dục của trường cac trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang 60

Trang 7

2.4.4 Những khó khăn 60

2.5 Nhân tố ảnh hưởng 62

Kết luận chương 2 62

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TRƯỜNG MẦM NON THAM GIA VÀO CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀNTHÀNH PHỐ BẮC GIANG 64

3.1 Nguyên tắc đề xuất 64

3.1.1 Nguyên tắc tuân thủ nhiệm vụ, chức năng của tổ chức 64

3.1.2 Nguyên tắc Dân chủ - Tự nguyện – Đồng thuận 64

3.1.3 Nguyên tắc tuân thủ pháp lý 66

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất ngành – lãnh thổ 66

3.2 Đề xuất các biện pháp quản lý trường mầm non tham gia vào xã hội hóa giáo dục trên địa bàn thành phố Bắc Giang 68

3.2.1 Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức 68

3.2.2 Nhóm biện pháp phát huy tác dụng của nhà trường mầm non vào đời sống cộng đồng 71

3.2.3 Nhóm biện pháp huy động tiềm năng của cộng đồng hỗ trợ cho quá trình tổ chức giáo dục 74

3.2.4 Nhóm biện pháp tác động đến cơ chế quản lý 80

Kết luận chương 3 87

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

1 Danh mục bảng

Bảng 2.3 Nội dung thực hiện XHHGDMNcủa các đối tượng được khảo sát 46Bảng 2.4 Đánh giá mức độ thực hiện các nội dungXHH giáo dục mầm non ởđịa phương 49Bảng 2.6 Mức độ tham gia của cha mẹ học sinh vào các hoạt động xã hội hóagiáo dục mầm non 57

2 Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của XHH Giáo dục 44Biểu đồ 2.2 Mục tiêu của xã hội hóa giáo dục 45Biểu đồ 2.3 Vai trò và mức độ tham gia của các lực lượng trong việc huyđộng cộng đồng tham gia phát triển giáo dục mầm non 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Mục tiêu giáo dục nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triểntoàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp nhằm hìnhthành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ, có đạo đức, lý tưởng, có kiếnthức - tư duy và trí tuệ, là người làm chủ tương lai Muốn đạt được mục tiêutrên thì phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non Giáo dục mầmnon có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Trẻ em hôm nay sẽ

là chủ nhân đất nước ngày mai, vì thế cần phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáodục trẻ em tuổi mầm non và trách nhiệm này thuộc về toàn xã hội

Chiến lược giáo dục, chiến lược con người là bộ phận quan trọng củachiến lược kinh tế - xã hội Thời đại mới đặt ra nhiều yêu cầu mới đối vớigiáo dục Giáo dục đang đứng trước những thời cơ phát triển cực kỳ thuận lợi,nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức to lớn Chức năng chủ yếu củagiáo dục là hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, Phát triển giáo dụckhông chỉ quan tâm đến qui mô, tốc độ, số lượng mà đặc trưng chủ yếu là tổchức các quá trình giáo dục thông qua việc tổ chức hoạt động dạy và học dướinhiều hình thức tổ chức nhằm đạt được chất lượng tốt nhất chuẩn bị cho thế

hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội Nhất là đối với giáo dục mầm non mà đặctrưng của nó là mang tính giáo dục gia đình và tính tự nguyện cao Trẻ emhôm nay sẽ là chủ nhân đất nước những thập niên đầu thế kỷ XXI, vì thế cầnphải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ em tuổi mầm non và trách nhiệmnày không chỉ thuộc về các nhà trường mầm non, mà còn là trách nhiệm củagia đình và của toàn xã hội để thực hiện được việc đặt nền móng cho sự hìnhthành và phát triển nhân cách trẻ thơ

Luật giáo dục sửa đổi năm 2005 đã khẳng định “công tác quản lý chỉđạo, phát triển giáo dục mầm non cần phải gắn với công tác vận động xã hội

Trang 10

mới đem lại hiệu quả cao Phát triển giáo dục luôn đi liền với xã hội hóa giáodục” Đối với giáo dục mầm non, xã hội hóa để phát triển luôn là quy luật tồntại và phát triển Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xãhội hóa giáo dục mầm non là một trong những nhân tố hàng đầu để thực hiệnphát triển giáo dục mầm non có chất lượng, phục vụ cho mục tiêu hình thànhnhân cách trẻ em, tạo điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục ở các bậc học khác.

Nhận thức được tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục và xã hội hóagiáo dục mầm non, Đảng và Nhà nước đã ban hành một số văn bản chỉ đạothực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục Thực tiễn về giáo dục mầm non vàquản lý giáo dục mầm non ở thành phố Bắc Giang đã đạt những kết quả nhấtđịnh, trong đó công tác quản lý thực hiện xã hội hóa giáo dục có chuyển biếntích cực Tuy nhiên giáo dục mầm non tại các trường mầm non trên địa bànthành phố Bắc Giang còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế Việc thực hiện các chủtrương, chính sách xã hội hóa giáo dục còn chung chung, chưa khuyến khích,huy động các lực lượng trong xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non

Để tiếp tục thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộgiáo dục và đào tạo về công tác xã hội hóa giáo dục mầm non, tôi xin chọn đề

tài: “Quản lý nhà trường thực hiện xã hội hóa giáo dục của Hiệu trường

các trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang”, góp phần thựchiện mục tiêu phát triển giáo dục mầm non

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý và thực trạng quản lý, đề tài

đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục cho Hiệu trưởng các trường mầmnon tham gia vào xã hội hóa giáo dục trên địa bàn thành phố Bắc Giang

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý của Hiệu trưởng cáctrường mầm non

Trang 11

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Những biện pháp quản lý trường mầm nontham gia vào công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn thành phố Bắc Giang.

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Công tác xã hội hóa giáo dục tại các trường mầm non trên địa bànthành phố Bắc Giang đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, tuy nhiêntrước yêu cầu đổi mới giáo dục thì vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác quản

lý Nếu thực hiện một cách phù hợp và đồng bộ một số biện pháp quản lýcông tác xã hội hóa giáo dục mầm non mà đề tài đề xuất thì sẽ nâng cao hiệuquả công tác xã hội hóa giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác xã hội hóa giáo dụcmầm non

5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý trường mầm non tham giavào công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn thành phố Bắc Giang

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm thực hiện hiệu quả côngtác xã hội hóa giáo dục mầm non

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trong điều kiện thời gian và khả năng, đề tài tập trung nghiên cứu thựctrạng quản lý trường mầm tham gia vào công tác xã hội hóa giáo dục của Hiệutrưởng các trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Bắc Giang Đi sâuvào các lĩnh vực: Nhận thức về xã hội hóa giáo dục mầm non; sự phối hợp vớichính quyền địa phương và cộng đồng trách nhiệm; cơ chế chính sách để pháttriển giáo dục tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Giang

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện nhiệm vụ đề tài, tôi xin tiến hành ba nhóm phương pháp sau:7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Dựa vào các văn bản pháp quy, các công trình nghiên cứu khoa học,các tài liệu lý luận về công tác xã hội hóa giáo dục để phân tích, tổng hợp

Trang 12

khái quát, xác định cơ sở lý luận của việc phối hợp hoạt động của các lựclượng giáo dục trong công tác xã hội hóa giáo dục mầm non.

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Trò chuyện phỏng vấn, quan sát, tổng kết kinh nghiệm các hoạt động

xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non công lập trên địa bàn thành phốBắc Giang để thu thập số liệu và phát hiện vấn đề mới

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi với đối tượng là giáo viên cáctrường mầm non, cha mẹ học sinh để đánh giá thực trạng về quản lý công tác

xã hội hóa giáo dục mầm non

- Phương pháp chuyên gia nhằm kiểm chứng tính khả thi của các biệnpháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non đã đề xuất trong đề tài

7.3 Phương pháp thông kế toán học

Sử dụng các công thức thống kê để xử lý kết quả khảo sát; phân tích kếtquả về công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non công lập trên địabàn thành phố Bắc Giang

Chương 3: Biện pháp quản lý trường mầm non tham gia vào công tác

xã hội hóa giáo dục trên địa bàn thành phố Bắc Giang

Trang 13

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA

GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục

Nhìn từ bản chất vấn đề, xã hội hóa giáo dục không phải là vấn đề hoàntoàn mới Đó là bước phát triển mới của một chủ trương giáo dục được thựcthi từ nhiều năm qua: Giáo dục là sự nghiệp quần chúng Lật lại những trang

sử dựng nước giữ nước của dân tộc, chân lý về vai trò của quần chúng nhândân đã được khẳng định Người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã từng tổngkết rằng: “Dâng thuyền lên cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” Tư tưởng

“lấy dân làm gốc” đã thể hiện sâu sắc trong quá trình phát triển lịch sử dân tộc

và trở thành bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam Những tư tưởng đó đãđược vận dngj có hiệu quả trong công tác giáo dục và trở thành sức sống tiềmtàng trong truyền thống giáo dục Việt Nam

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sự nghiệpgiáo dục vẫn phát triển mạnh mẽ Đó là một kỳ tích hiếm có trong lịch sửnhân loại Bài học là nếu biết phát huy được lực lượng của toàn xã hội thì sựnghiệp giáo dục vẫn phát triển, ngay trong những điều kiện khó khăn nhất

Khi đất nước hoàn toàn thống nhất Ở giai đoạn này, giáo dục nước tacũng đã đạt được những thành tựu nhất định, thống nhất được hệ thống giáodục của hai miền Nam – Bắc Bên cạnh đó do một phần cơ chế tập trung quanliêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta đã không khai thác triệt để bài họccực kỳ quý giá đó Thay vì thực hiện “sự quản lý giáo dục của nhà nước”,chúng ta đã “Nhà nước hóa giáo dục”, làm cho ngành giáo dục rơi vào thếđơn độc, không thu hút các nguồn lực của toàn xã hội Do đó, cơ sở vật chấtcủa giáo dục xuống cấp và lạc hậu, động lực của người dạy và người học

Trang 14

giảm sút, sự phát triển giáo dục cả về số lượng và chất lượng đều không đápứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đất nướcchuyển sang thời kỳ đổi mới, trong đó có giáo dục đã bước vào một giai đoạnphát triển thuận lợi Đường lới đổi mới đã mở đầu cho sự phát triển mới trong

tư duy giáo dục Giáo dục đứng trước thử thách buộc phải phát triển với mộttrình độ mới để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Bài học lịch sử của

sự phát triển giáo dục được khơi dậy và nâng cao trên tầm tư duy mới ĐếnHội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục đổimới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sửxây dựng và phát triển giáo dục Việt Nam Đây là lần đầu tiên hội nghị toànthể Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận và ra Nghị quyết về sự nghiệpgiáo dục và đào tạo Cũng từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các văn kiện củaĐảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo chúng tathường gặp thuật ngữ “xã hội hóa” đối với các lĩnh vực hoạt động như chămsóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, dân số-kế hoạch hóa gia đình, thể dục thểthao, giáo dục và đào tạo… Có thể dẫn ra một số sự kiện và Nghị quyết quantrọng sau đề cập đến xã hội hóa giáo dục:

-Tháng 6/1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sảnViệt Nam đã khẳng định “xã hội hóa” là một trong những quan điểm để hoạchđịnh hệ thống các chính sách xã hội

- Ngày 21/8/1997, Chính phủ ra Nghị quyết số 90/NQ-CP về “phươnghướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa

- Ngày 11/12/1998 Chủ tịch nước công bố Luật giáo dục đã được Quốchội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua, ở chương Inhững quy định chung, điều 11 ghi rõ: Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục

Trang 15

- Ngày 4/10/2004, Nghị quyết số 12/2004/NQ-CP phiên họp Chính phủthường kỳ tháng 9/2004 đã đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số90/NQ-CP và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP.

- Ngày 18/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số

05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thểdục thể thao

Cũng trong thời kỳ đổi mới này, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáodục đã bàn luận nhiều về xã hội hóa giáo dục Đặc biệt tác giả Phan Minh Hạc

đã viết nhiều tài liệu về xã hội hóa giáo dục, nhiều bài phát biểu chỉ đạophong trào xã hội hóa giáo dục Trong cuốn “xã hội hóa công tác giáo dục”xuất bản năm 1997 do ông làm tổng chủ biên đã khẳng định “xã hội hóa côngtác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục,một con đường phát triển giáo dục nước ta Trong cuốn “Giáo dục Việt Namtrước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả Phan Minh Hạc một lần nữa khẳngđịnh “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ của là nhà nước mà là của toàn xãhội: mọi người cùng làm giáo dục, nhà nước và xã hội, trung ương và địaphương cùng lam giáo dục, tạo nên một cao trào học tập toàn dân”

Tác giả Phan Tất Dong trong cuốn “xã hội hóa công tác giáo dục” đãlàm rõ khái niệm về xã hội hóa công tác giáo dục và coi xã hội hóa là mộtkhái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, quamỗi giai đoạn, khái niệm đó lại được phát triển thêm, nội hàm phong phú hơn

Trang 16

Trong lời giới thiệu cuốn sách “Những nhân tố mới về giáo dục công cuộc đổimới” Phạm Tất Dong đã nhấn mạnh “phát triển giáo dục theo tinh thần xã hộihóa” Ông đề cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó làmột tư tưởng chiến lược của Đảng, tư tưởng đó được tổng kết lại không chỉ làmột bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử mà trở thành nguyên lý cách mạngViệt Nam Tư tưởng xã hội hóa giáo dục được thừa nhận như một nhân tố mớitrong sự phát triển giáo dục hiện nay Hơn thế, với tư cách là nhân tố mới của

sự phát triển giáo dục, tư tưởng xã hội hóa công tác giáo dục lại tạo ra nhữngđiều kiện để xuất hiện những nhân tố mới khác trong quá trình vận động đilên của các phong trào giáo dục Những điều kiện đó chính là những kinhnghiệm rút ra từ thực tế sinh động của giáo dục, trên cơ sở đó tư duy giáo dụctrở lên sâu sắc, nhờ đó nhiều bài toán giáo dục- đào tạo đã được giải một cáchhợp lý

Việ khoa học giáo dục đã triển khai khá nhiều năm một hệ thống đề tài

về xã hội hóa giáo dục, tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận, đề xuất cơ chế

xã hội hóa giáo dục Năm 1999, cuốn sách “Xã hội hóa công tác giáo dục-Nhậnthức và hành động” của viện khoa học giáo dục do tập thể tác giả Bùi GiaThịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình là một bước hoàn thiện về nhậnthức lý luận và hướng dẫn thực tiễn Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có “Đề

án xã hội hóa giáo dục và đào tạo” đánh giá thực trạng và đưa ra những giảipháp xã hội hóa giáo dục ở tầm vĩ mô, nhằm tạo ra những chuyển biến cơ bảntrong giáo dục-đào tạo, chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước trong hai chục năm đầu thế kỷ XXI Nhân dịp kỷniệm 40 năm thành lập Viện khoa học giáo dục-năm 2011, từ góc độ giáo dụchọc, cuốn sách “Xã hội hóa giáo dục” do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thểcác tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình, Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên,Đào Huy Ngận, Nguyễn Văn Đản đã khẳng định: Xã hội hóa công tác giáo

Trang 17

dục-một phương thức thực sự giáo dục nhằm xã hội hóa cá nhân Lần đầu tiêncuốn sách với ý nghĩa một chuyên khảo đã đề cập đến đặc trưng của xã hội hóagiáo dục ở các cấp học, bậc học và ở địa bàn nông thôn, vấn đề quản lý nhànước trong việc thực hiện xã hội hóa giáo dục để có sự định hướng đúng đắnhoạt động xã hội hóa giáo dục ở các nhà trường và địa phương.

Bàn về xã hội hóa giáo dục còn có nhiều tài liệu, bài viết của các tácgiả: Vũ Văn Thảo, Nguyễn Thanh Phong, Lê Khanh, Nguyễn Nghĩa Dân, HàNhật Thăng…

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục mầm non

Trước năm 1945, dưới thời Pháp thuộc ở Việt Nam không có nền giáodục trước tuổi đi học Trong cả nước chỉ có vài trại tế bần nuôi trẻ mồ côi, saucách mạng Tháng Tám, cùng với việc hình thành chế độ mới, lần đầu tiên ởViệt Nam có bậc giáo dục trước tuổi đi học chính thức ra đời Nghị định số 05ngày 10/9/1945 của Bộ Cứu tế xã hội đã ghi: “Khuyến khích các nhà bảo anh,dục anh, ấu trĩ viên…” Sắc lệnh số 146/SL ngày 10/8/1946 điều 3 đã khẳngđịnh: “Bậc học ấu trĩ nhận giáo dục trẻ em dưới 7 tuổi và sẽ tổ chức tùy theođiều kiện do Bộ Quốc gia giáo dục ấn định sau”

Trải qua những tháng năm gian khổ của hai cuộc kháng chiến, vượt quathời kỳ chao đảo trong sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, nhờ thực hiện chủ trương xã hội hóa, giáo dục mầmnon từ chỗ còn rất khó khan đã khắc phục được tình trạng suy giảm, giữ được

sự ổn định trên diện rộng, phát triển ở những khu vực có điều kiện, tạo nên sựchuyển biến rõ rệt

Nhìn vào các hình thức giáo dục mầm non có thể khẳng định là bậc họcđược xã hội hóa cao hơn bất kỳ bậc học nào Giáo dục mầm non là sự thể hiệnsinh động nguyên tắc nhà nước, xã hội hóa và nhân dân cùng làm Song việcnghiên cứu về xã hội hóa giáo dục mầm non còn hạn chế Trong báo cáo tổng

Trang 18

quan về tình hình nghiên cứu xã hội hóa giáo dục của Ban Khoa giáo Trungương đã nhận định: Có thể thấy đã có một số nghiên cứu chuyên đề về xã hộihóa sự nghiệp giáo dục Các nghiên cứu này góp phần làm rõ, bổ sung thêmnhững nghiên cứu chung Tuy nhiên vẫn còn có những vấn đề chưa đượcnghiên cứu sâu như xã hội hóa đối với giáo dục mầm non, dậy nghề… Đó lànhững vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu.

Trong nhánh Đề án xã hội hóa giáo dục và đào tạo năm 1998, Vụ Giáodục mầm non-Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đánh giá những thành tựu và hạnchế, thiếu sót của hơn mười năm qua trong hoạt động xã hội hóa giáo dục vàđào tạo, trên cơ sở đó xã định mục tiêu, nhiệm vụ xã hội hóa đối với giáo dụcmầm non Năm 1999-2000, Ban nghiên cứu mầm non, viện nghiên cứu pháttriển giáo dục đã có đề tài: Nghiên cứu các giải pháp phát triển giáo dục mầmnon nông thôn, trong đó xã hội hóa giáo dục cũng chỉ được đề cập là mộttrong những giải pháp của hệ thống, chưa đi sâu nghiên cứu riêng giải pháp

xã hội hóa giáo dục mầm non Năm 2001, cuốn sách Xã hội hó giáo dục củaviện Khoa học giáo dục ra đời mới đề cập một cách hết sức khái quát đến một

số điểm xuất phát của việc định hình xã hội hóa giáo dục mầm non và vậndụng phương thức xã hội hóa trong hoạt động giáo dục mầm non

Đứng trước những yêu cầu và thách thức của việc thực hiện chiến lượcphát triển giáo dục mầm non, nhằm phát triển giáo dục mầm non theo tinhthần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thứ IX, ngày 25/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghịbàn về công tác giáo dục mầm non Hội nghị đã đề ra những giải pháp cơ bảntrong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hóa giáo dục mầmnon, đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non Ngày 15/11/2002 Thủtướng Chính phủ đã ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sáchphát triển giáo dục mầm non đã khẳng định rõ ở điều 1 nhiệm vụ phát triển

Trang 19

giáo dục mầm non đến năm 2010: Nhà nước tiếp tục đầu tư phát triển giáodục mầm non, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non,

mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư…Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg được coi như chiếc chìa khóa vàng để mởcánh cửa cho giáo dục mầm non phát triển đến năm 2010 Để việc thực hiệnQuyết định số 161/QĐ-TTg có hiệu quả, liên tịch Bộ Giáo dục và Đào tạo, BộNội vụ, Bộ Tài chính

1.2 Hệ thống khái niệm cơ bản

Trong tâm lý học và xã hội học, thuật ngữ “xã hội hóa” được dùng đểchỉ quá trình cá nhân trẻ ( đứa trẻ lúc sơ sinh ) tiếp thu những kinh nghiệm xãhội – lịch sử loài người đã tích lũy được, biến nó thành kinh nghiệm riêng, từ

đó hình thành những năng lực người, đảm bảo mỗi người có thể sống và hoạtđộng với tư cách là một thành viên tích cực của xã hội Với ý nghĩa đó, có thểđịnh nghĩa xã hội hóa như sau:

- Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội (tập thể),trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, kỹ năng và nhữngphương thức cần thiết để hội nhập xã hội

- Xã hội hóa được định nghĩa như một quá trình, trong đó suốt cả đời

cá nhân con người học hỏi và biến thành của mình những yếu tố xã hội – vănhóa của môi trường của mình, thu nhận chúng vào cơ cấu nhân cách của mình

Trang 20

dưới ảnh hưởng của những kinh nghiệm và những tác nhân xã hội quan trọng,

và do đó mà thích nghi với môi trường xã hội mà mình phải sống trong đó

Cho dù các định nghĩa có khác nhau nhưng cốt lõi của xã hội hóa là sựtương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng nhằmđáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội Hoạt động của con người,của cộng đồng diễn ra trên tất cả lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội, trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau Có thể hiểu xã hội hóa một cáchđầy đủ nhất theo định nghĩa sau:

Xã hội hóa là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, tiếp thu giáo dục, giao lưu… mà học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống xã hội và phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách vừa là cá thể vừa là một thành viên của xã hội.

Khái niệm xã hội hóa (socialization) đã được các nhà xã hội học sửdụng để mô tả những phương cách mà con người học hỏi, tuân thủ theo cácchuẩn mực, các giá trị, các vai trò mà xã hội đã đề ra và chính quá trình xã hộihóa này tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người Kháiniệm “xã hội hóa” chủ yếu được xem xét và hiểu biết ở bình diện xã hội học.Đây là một lý thuyết khoa học về sự hình thành và phát triển nhân cách conngười Lý thuyết này được đề xuất từ những năm cuối thế kỳ XIX, mà ngườidùng thuật ngữ này đầu tiên là là Emili Durkheim (1858-1917) – nhà xã hộihọc Pháp

Từ khái niệm xã hội hóa cá nhân, ngày nay chúng ta mở rộng khái niệm

xã hội hóa một loại hình hoạt động, một lĩnh vực hoạt động, ví dụ: xã hội hóahoạt động giáo dục – thường gọi tắt là xã hội hóa giáo dục Vấn đề này sẽđược phân tích dưới đây

1.2.2 Xã hội hóa giáo dục

Xã hội hóa giáo dục là quá trình tương tác giữa giáo dục và xã hội,trong đó giáo dục gia nhập và hòa nhập vào xã hội, vào cộng đồng, đồng thời

Trang 21

xã hội tiếp nhận giáo dục như là công việc của mình, do mình và vì mình Đó

là mối quan hệ biện chứng Xã hội hóa giáo dục có tác dụng tích cực đến quátrình xã hội hóa con người, xã hội hóa cá nhân

Ở đây, cần phân biệt rõ khái niệm xã hội hóa cá nhân và xã hội hóagiáo dục Nội hàm xã hội hóa cá nhân và cá thể hóa trong lý thuyết này khôngphải là nội dung chủ yếu của xã hội hóa giáo dục như chúng ta đang bàn, mặc

dù xét đến cùng cũng phải tiến tới một cách đúng hướng là xã hội hóa giáodục phải nhằm xã hội hóa cá nhân và cá thể hóa Vì vậy, cần thấy nội hàm củakhái niệm xã hội hóa giáo dục của ta không tương đồng với nội hàm kháiniệm xã hội hóa của nhiều nước trên thế giới, nhất là trong khu vực

Đặt vấn đề xã hội hóa giáo dục là tìm cách hoàn nguyên bản chất xã hộicủa giáo dục, gắn giáo dục với xã hội, với cộng đồng Cơ sở tư duy của xã hộihóa giáo dục là đặt giáo dục vào đúng vị trí của nó Giáo dục là bộ phậnkhông thể tách rời của hệ thống xã hội Giáo dục cùng với khoa học và côngnghệ là động lực phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, xã hội hóa giáo dục làthực hiện mối liên hệ phổ biến, có tính quy luật giữa giáo dục và cộng đồng

xã hội Thiết lập được mối quan hệ này là làm cho giáo dục phù hợp với sựphát triển xã hội Nội dung quy luật này là ở chỗ: “Mọi người phải làm giáodục để giáo dục cho mọi người” Xã hội hóa giáo dục gồm hai vế: mọi người

có nghĩa vụ chăm lo cho giáo dục để giáo dục phục vụ mọi người, để mọingười được quyền đi học, học thường xuyên, học suốt đời Hai vế trên đã nêu

rõ hai yêu cầu của xã hội hóa giáo dục là phải xã hội hóa trách nhiệm, nghĩa

vụ đối với giáo dục và phải xã hội hóa quyền lợi về giáo dục đối với mọingười Hai yêu cầu đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau vàthực hiện kết hợp, đồng thời Yêu cầu thứ hai là hệ quả của yêu cầu thứ nhất

và là biện pháp thúc đẩy yêu cầu thứ nhất Yêu cầu thứ hai chính là đỉnh caocủa xã hội hóa giáo dục Lâu nay chúng ta vẫn Nghị quyết 05/2005/NQ-CP

Trang 22

của Chính phủ: Thực hiện xã hội hóa nhằm hai mục tiêu lớn: thứ nhất là pháthuy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm

lo sự nghiệp giáo dục…, thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là cácđối tượng chính sách, người nghèo được thụ hưởng thành quả giáo dục… ởmức độ ngày càng cao

Chính vì lẽ đó, trong hoạt động thực tiễn cần phân biệt rõ tính chất xãhội của giáo dục và xã hội hóa giáo dục, hai cái đó không phải là một vàkhông đồng nhất Nếu không có định hướng rõ rang thì tự thân hoạt động giáodục vẫn có tính chất xã hội nhưng không bao giờ đạt tới trình độ xã hội hóađích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó Và cũng phải nhận địnhrằng: Nội hàm xã hội hóa giáo dục nói ở đây thuộc phương thức, phươngchâm, cách làm giáo dục Nó thuộc phương thức tổ chức và quản lý giáo dục

Xã hội hóa giáo dục là: Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viêncác tầng lớp nhân dân đóng góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sựquản lý của Nhà nước để xây dựng một xã hội học tập

Khi nói về những chủ trương, chính sách và các biện pháp lớn, Nghịquyết 04-NQ/HNTW Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảngkhóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã ghi: “Huy độngcác nguồn đầu tư trong nhân dân, viện trợ của các tổ chức quốc tế, kể cả vayvốn của nước ngoài để phát triển giáo dục.”

“ Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, mọi giađình và mọi người cùng với ngành giáo dục – đào tạo chăm lo xây dựng sựnghiệp giáo dục theo phương châm: “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”, xâydựng môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội”

Quan điểm này đã được thể chế hóa ở Điều 11 của Luật giáo dục về Xãhội hóa sự nghiệp giáo dục”

Trang 23

“Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sựnghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và mội trường giáo dục lànhmạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục.

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thựchiện đa dạng hóa các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyếnkhích huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sựnghiệp giáo dục”

Như vậy, Luật giáo dục đã xác định vai trò chủ đạo của Nhà nước, vaitrò tham gia của xã hội, vai trò chủ động của giáo dục, nhà trường Nội dung

cơ chế thể hiện ở chỗ: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển giáo dục;Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân đều có trách nhiệm góp phần xây dựnggiáo dục một cách đa dạng trên mọi mặt, từ việc mở các loại hình trường cônglập, bán công, dân lập, tư thục, đến việc xây dựng phong trào học tập và môitrường giáo dục lành mạnh, từ Nhà nước ưu tiên đầu tư và giữ vai trò chủ yếutrong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đến khuyến khích mọi nguồn đầu

tư phi nhà nước trong và ngoài nước Giáo dục nói chung và nhà trường nóiriêng luôn giữ vai trò chủ động trong việc phối hợp với các lực lượng xã hội,với gia đình thực hiện phát triển giáo dục về các mặt: quy mô, chất lượng vàhiệu quả giáo dục; nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Sự kết hợp ba yếu tố: “Nhà nước – Xã hội – Giáo dục” trong mọi hoạtđộng của sự nghiệp giáo dục đã được thể chế hóa ở Luật giáo dục, trở thànhmột quy định pháp lý mang tính động lực, chỉ đạo hành động “liên kết đồngbộ” ba yếu tố đó, tạo nên tác động tổng hợp cho sự phát triển giáo dục và choviệc giải quyết các mâu thuẫn của giáo dục

Xã hội hóa giáo dục là một quan điểm cơ bản, có tính chiến lược trongviệc xây dựng và phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Đó là

sự thể hiện đường lối vận động quần chúng, huy động sức mạnh của toàn xã

Trang 24

hội vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng ta luôn coi trọng trongsuốt quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng Tùy từng thời kỳ cách mạng vàtùy từng lĩnh vực công tác, tư tưởng đó được thể hiện trong những nội dungkhác nhau Khi bàn về công tác giáo dục, Hồ chủ tịch đã chỉ rõ: “Giáo dục là

sự nghiệp của quần chúng, cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủnghĩa xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữathầy và trò, giữa trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhândân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó

Xã hội hóa giáo dục không phải là một ý đồ chiến thuật được vận dụngmột cách nhất thời cho một giải pháp tình thế, mà là một tư tưởng chiến lược,

có sức mạnh của toàn xã hội là điều kiện “cần” và “đủ” để giáo dục phát triển

có chất lượng và hiệu quả Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo Nguyễn Minh Hiểnnhấn mạnh: “Nếu giáo dục là chìa khóa đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóathì việc thực hiện chủ trương xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là chìa khóa gópphần mở cánh cửa của giáo dục trên các bình diện quy mô, chất lượng, hiệuquả và công bằng xã hội”

Từ định hướng chiến lược này đòi hỏi phải làm chuyển biến hoạt độnggiáo dục, vốn là hoạt động có tính chuyên môn, nghiệp vụ của một thiết chế

xã hội (ngành giáo dục), trở thành một hoạt động rộng lớn, thâm nhập và tácđộng vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, khoahọc kỹ thuật ) thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ không ngừng của xã hội

Xã hội hóa giáo dục đòi hỏi phải huy động mọi nhân lực, vật lực, tàilực, tiềm năng của xã hội tham gia giải quyết mọi nhiệm vụ, mọi vấn đề củagiáo dục Có thể coi xã hội hóa giáo dục là một cách làm giáo dục được xácđịnh bởi những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Huy động sức mạnh tổng hợp của các ngành có liên quan đến giáo

dục vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục

Trang 25

- Huy động các lực lượng của cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục.

- Đa dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường.

- Huy động các nguồn đầu tư trong xã hội vào sự nghiệp giáo dục.

- Xã hội hóa giáo dục là cuộc vận động lớn trong xã hội có sự lãnh

đạo chặt chẽ của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt củangành giáo dục

Để từ đó mọi người có cơ hội được hưởng quyền lợi về giáo dục, đượchọc tập, học tập suốt đời, xây dựng một xã hội học tập nhằm đáp ứng yêu cầucông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.3 Xã hội hóa giáo dục mầm non

Khái niệm xã hội hóa giáo dục mầm non được xây dựng từ khái niệm

xã hội hóa giáo dục và vận dụng vào đặc thù của ngành học mầm non

Đó là việc huy động nhân lực, tài lực, vật lực của xã hội vào quá trìnhchăm sóc giáo dục trẻ thơ (dưới 6 tuổi) và đưa mục tiêu giáo dục mầm nonvào đời sống cộng đồng để trẻ trong lứa tuổi này “Phát triển cơ thể cân đốikhỏe mạnh, nhanh nhẹn, biết kính trọng yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ,thầy cô và người trên, yêu quí anh chị em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồnnhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học”

Xã hội hóa giáo dục mầm non là một tư tưởng giáo dục lớn của Đảng

và chủ trương của Nhà nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồidưỡng nhân tài để giáo dục tạo ra lớp người lao động mới phát triển toàn diện,năng động, sáng tạo để đáp ứng đòi hỏi của nền công nghiệp hóa nước ta vàonăm 2020 vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và IX đã nêu ra

Những năm qua, công tác xã hội hóa giáo dục mầm non đã trở thànhquan niệm phổ biến và rộng rãi trong toàn xã hội, nhất là những ai làm côngtác quản lý trực tiếp giáo dục trẻ thơ Song trong thực tế, vẫn còn nhiều điều

Trang 26

phải bàn để làm sáng tỏ phạm trù khái niệm và cách tiếp cận thực tiễn chođúng nhằm biến chủ trương này của Đảng và Nhà nước thành hiện thực.

Ở đây, công tác xã hội hóa giáo dục mầm non cần được hiểu theo hai nghĩa:

Một là, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước

tổ chức quản lý, mọi người, mọi nhà, mọi tổ chức xã hội đều phải chăm sóc,giáo dục trẻ em Có như vậy trẻ em hôm nay mới trở thành người lao độngxây dựng và bảo vệ tổ quốc mai sau Vì vậy phải huy động mọi nguồn lực của

xã hội để làm công tác giáo dục mầm non

Hai là, trẻ em không chỉ được quyền nhận sự chăm sóc, giáo dục củatoàn xã hội mà còn phải biến sự chăm sóc giáo dục của toàn xã hội thành chấtlượng giáo dục của chính mình, phải có nghĩa vụ đối với xã hội mà trước hết

là đối với mình để trở thành con ngoan, trò giỏi; có như thế sau này mới trởthành người công dân tốt của đất nước

Đây là hai mặt của một vấn đề, vừa có tính nhân văn sâu sắc vừa có ýnghĩa giáo dục to lớn khi quan niệm về công tác xã hội hóa giáo dục mầmnon Trong hoàn cảnh nước ta chưa phải mọi trẻ em trong lứa tuổi mầm nonđều được ra lớp thì giáo dục mầm non phải phấn đấu giúp các bậc cha mẹ cókiến thức và thái độ đúng đắn trong việc nuôi dưỡng các em theo mục tiêu màLuật Giáo dục đề ra

Công tác xã hội hóa là:

- Làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục

và vị trí, vai trò của giáo dục mầm non đối với việc xây dựng và phát triểnnguồn nhân lực, chính là giai đoạn đầu tiên hết sức quan trọng để tạo ranguồn lực con người

- Xây dựng, huy động và tổ chức cộng đồng trách nhiệm của từngngười dân, của từng gia đình, tập thể và các tổ chức Đảng, chính quyền cáccấp, của các đoàn thể quần chúng, của các tổ chức kinh tế, xã hội đối với việc

Trang 27

phát triển giáo dục mầm non và đối với việc xây dựng môi trường giáo dụclành mạnh ở mọi lúc mọi nơi Môi trường đó trước hết là sự kết hợp giữa cáctrường mầm non với gia đình để giúp trẻ phát triển, là việc giúp các gia đình

có những kiến thức cần thiết để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ở ngaytại gia đình

- Đa dạng hóa các loại hình và hình thức giáo dục mầm non, củng cốcác trường công lập hiện có và mở rộng các loại, dân lập, tư thục Tùy theohoàn cảnh của địa phương có thể có nhiều hình thức học tập khác nhau như: 1buổi, 2 buổi/ ngày, cả ngày và phổ biến kiến thức cho các bậc cha mẹ để nuôidạy ở nhà nếu có điều kiện

- Huy động và tổ chức các lực lượng xã hội tham gia trực tiếp hoặc giántiếp vào quá trình chăm sóc giáo dục trẻ:

+ Tham gia việc xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục mầm non tại địabàn phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn sinh sống củangười dân

+ Tham gia vào việc tổ chức hoạt động tham quan, tìm hiểu môi trườngxung quanh theo kế hoạch của nhà trường

+ Tham gia sưu tầm tài liệu, sách vở, tranh ảnh hoặc vẽ tranh ảnh phục

vụ cho từng chủ đề học và chơi của trẻ

+ Tham gia cùng giáo viên lựa chọn các chủ đề mà họ cho là cần thiết

để tổ chức hoạt động vui chơi và học tập cho trẻ

+ Tham gia các hội thi nấu ăn và các hội thi khác có sự phối hợp giữagiáo viên, trẻ em và cha mẹ để giúp đỡ trẻ

- Tổ chức sự phối hợp liên ngành trong khi triển khai thực hiện kếhoạch phát triển giáo dục mầm non Đây là một trong những yếu tố then chốtcủa xã hội hóa giáo dục mầm non Trong khi thực hiện sự phối hợp này, mỗingành vẫn thực hiện đúng chức năng riêng có của mình, thông qua đó thực

Trang 28

hiện mục tiêu giáo dục mầm non Sự phối hợp liên ngành để thực hiện mụctiêu giáo dục mầm non cần được thể chế hóa về mặt nhà nước dưới hình thứcvăn bản pháp quy, để đảm bảo thực hiện được lâu dài nghiêm túc và triệt để.Việc phối hợp liên ngành còn được thể hiện trong quá trình thống nhất xâydựng các chính sách, chế độ để tạo điều kiện phát triển giáo dục mầm non phùhợp làm cơ sở để Nhà nước ban hành.

- Tổ chức việc chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên về mọi mặt, trình

độ, chất lượng chuyên môn, tinh thần và vật chất tôn vinh nghề nghiệp đểgiáo viên không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ đồngthời tạo nên một lực lượng nòng cốt duy trì và phát triển cuộc vận động xã hộihóa giáo dục mầm non

- Huy động và tổ chức lực lượng xã hội thực hiện đa dạng hóa nguồnlực đầu tư cho giáo dục mầm non

- Huy động nguồn nhân lực: Làm cho lực lượng lao động xã hội và cánhân trong cộng đồng mang sức lực và tài năng của mình tham gia vào mọihoạt động của giáo dục mầm non, từ việc tích cực đưa tạo điều kiện đưa trẻđến lớp, đóng góp xây dựng trường lớp, làm đồ chơi, sưu tầm tranh ảnh chonhà trường… đến việc tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc biên soạnchương trình tài liệu, phổ biến kiến thức đến các gia đình…

+ Huy động vật lực: Nhằm tăng cường cơ sở vật chất cho trường, lớpmầm non Luôn giành đất đai thuận lợi cho việc xây dựng trường, lớp, sânchơi, đóng góp ngày công xây dựng, sửa chữa trường lớp, hỗ trợ các thiết bị

đồ dùng đồ chơi phục hoạt động dạy và học cho nhà trường

+ Huy động nguồn tài chính: Đối tượng huy động nguồn tài chính trongcuộc vận động xã hội hóa giáo dục mầm non bao gồm: Nhà nước và các cơquan chức năng của Nhà nước, các tổ chức chính phủ, các tổ chức chính trị,kinh tế, xã hội, các đoàn thể và hội quần chúng, các gia đình và cá nhân đóng

Trang 29

góp trên cơ sở tự nguyện, công khai, dân chủ Để thực hiện chủ trương này,cần phải khắc phục hai khuynh hướng: Một là giao phó và chỉ trông chờ vàongân sách nhà nước mà không chịu đóng góp; Hai là kêu gọi nhân dân và mọilực lượng đóng góp, lạm thu quá khả năng của người dân.

- Tăng cường nguồn thông tin: Đảm bảo dân chủ trong các hoạt động;công khai trong các khâu thu và chi

1.2.4 Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non

1.2.4.1 Vai trò của hiệu trưởng trong công tác xã hội hóa giáo dục mầm non

Hiệu trưởng là người nắm giữ vai trò quyết định quan trọng trong quản

lý công tác xã hôi hóa giáo dục, thông qua một chu trình cụ thể như sau:

a Kế hoạch hóa

Bất cứ chương trình xã hội hóa giáo dục mầm non nào của nhà trườngcũng phải đưa vào chu trình kế hoạch hóa

Chu trình này quán triệt các yêu cầu:

- Phân tích được tình hình, nêu rõ được điểm mạnh, điểm yếu của nhàtrường về công tác xã hội hóa; phân tích được khó khăn, thuận lợi của nhàtrường về công tác xã hội hóa

- Xác định được các nhu cầu trong xã hội hóa

- Vạch ra được mục tiêu trong xã hội hóa

- Cụ thể hóa thành các nhiệm vụ cần tiến hành

- Gắn nhiệm vụ vào trục thời gian

b Tổ chức thực hiện

- Phân công, phân nhiệm các mục tiêu nhiệm vụ đề ra ứng với các tổchức con người cụ thể có trong trường

- Phát hiện được các nguồn lực cần huy động

- Tổ chức huy động được nguồn lực

- Phân phối nguồn lực huy động được phù hợp với nhà trường

Trang 30

c Chỉ đạo, chỉ huy, điều phối

- Chỉ dẫn mọi thành viên trong đơn vị thực hiện các công việc đề ra về

xã hội hóa giáo dục

- Điều phối, điều chỉnh các nhiệm vụ để công việc tiến hành nhịp nhàng

d Kiểm tra đánh giá kết quả

- Tổ chức kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, đổi chiếu kết quả đạtđược so với yêu cầu đặt ra để xem công việc đề ra đã đạt kết quả đến mức độnhư thế nào

Nên có một sự đánh giá qua việc lượng hóa kết quả (Định lượng kếtquả qua các phép đo hiện hành như chiều cao, cân nặng, phát triển của trẻ, sựcải tiến về chất lượng và số lượng của đội ngũ; sự cải tiến về chất lượng và sốlượng của cơ sở vật chất sư phạm nhà trường)

1.2.5 Nội dung chính trong xã hội hóa giáo dục

a Nâng cao nhận thức của các lực lượng trong xã hội về tầm quan trọng của giáo dục mầm non

Nâng cao nhận thức cho mọi người về giáo dục mầm non là vấn đề rấtquan trọng Nhiều ý kiến cho rằng vấn đề này thường mang tính hình thức,song trong thực tế lại là vấn đề đáng để quan tâm và chú trọng tới

Nhiều gia đình, tổ chức xã hội, cán bộ quản lý cộng đồng thường cóquan điểm hạn hẹp cho rằng chỉ có giáo dục phổ thông hoặc giáo dục ở cácbậc học cao hơn mới quan trọng, còn giáo dục mầm non thì làm được chừngnào hay chừng ấy Sẽ là một quan niệm rất sai lầm nếu cho rằng các bậc họcphổ thông, cao đẳng, đại học mới cần thiết cho việc hình thành và phát triểnnhân cách Chính quan niệm đó sẽ là bước trở ngại trong việc thực hiệnđường lối của Đảng về giáo dục mầm non

Những năm tháng của tuổi mầm non là những năm tháng đặt các tiền

đề thiết yếu cho việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ trong suốt

Trang 31

cuộc đời Hiện nay đất nước ta còn nghèo nên chưa giành được nhiều kinh phícho công việc này, nhưng quyết không vì thế mà coi nhẹ công tác giáo dụcmầm non.

b Quản lý công tác truyền thông giáo dục kiến thức nuôi dạy trẻ đúng với khoa học cho cha mẹ của trẻ và nhân dân, cán bộ quản lý cộng đồng

Như Bác Hồ đã chỉ ra giáo dục nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếugiáo dục gia đình, giáo dục xã hội thì cũng không thể hoàn thành tốt nhiệm vụtrồng người

Phải kết hợp ba môi trường giáo dục và nhà trường phải có vị trí chủđạo trong sự phối hợp này

Một bộ phận cha mẹ có con đi học trường mầm non thường có tư tưởngkhoán trắng cho Nhà trường, khi con đi học về do áp lực từ khối lượng côngviệc cũng ít quan tâm đến sự biểu hiện nhân cách của bé

Cũng có khi do không đủ kiến thức nên có những việc làm lệch hướng

so với nội dung đã được hình thành tại nhà trường

Nếu nhà trường mầm non không tác động vào gia đình, phổ biến chogia đình các kiến thức sơ đẳng về giáo dục trẻ thì kết quả giáo dục trẻ thơ sẽhạn chế

Ngoài môi trường gia đình còn có môi trường xã hội Dù nhà trường cótích cực, gia đình rất quan tâm nhưng xã hội lại thờ ơ thì kết quả cũng khôngtheo chiều hướng tích cực

Hiện nay, ở nhiều địa phương có các trung tâm học tập cộng đồng hoặcsinh hoạt các đoàn thể: Thanh niên, phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc, Hội cựu chiếnbinh Nhà trường mầm non thông qua các tổ chức này có kế hoạch truyềnthông kiến thức nuôi dạy trẻ, điều này sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho côngtác giáo dục

Trang 32

c Huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc đầu tư cho phát triển các trường mầm non

Nguồn lực ở đây bao gồm: Nhân lực, vật lực, tài lực

Ngoài ba nguồn lực hiển thị và có thể lượng hóa như đã nêu trên, ngày

ta còn nói đến hai nguồn lực: Tâm lực và tin lực

Tâm lực có thể hiểu là tấm lòng, là tâm huyết của nhân dân của cộngđồng, của cha mẹ trẻ mong muốn hiến kế cho sự phát triển nhà trường

Nhiều trường mầm non hiện nay đã biết dựa vào lực lượng cán bộ vềhưu trên địa bàn dân cư tham gia vào công việc giáo dục lễ giáo cho trẻ, dẫntrẻ đi tham quan, làm quen với môi trường tự nhiên và xã hội mà trẻ đangsống, tham gia cùng nhà trường bảo vệ trẻ, trông trẻ khi cha mẹ chưa đón kịp

Tin lực là nguồn thông tin về khoa học giáo dục mầm non mà các giađình hoặc những người hiểu biết trong cộng đồng mang đến cho nhà trường

Sự phát triển của thông tin ngày nay đa dạng và diễn ra với tốc độnhanh chóng Các cô giáo mầm non cũng là những công dân, đội ngũ nàycũng cần phải được nâng cao hiểu biết chung để có thái độ công dân đúng đắn

về nghiệp vụ chuyên môn sư phạm mầm non

Nguồn lực của cộng đồng nói chung rất phong phú cho mục tiêu này,nếu nhà trường biết khai thác đúng đắn và có hiệu quả

d Quản lý cơ chế phối hợp giữa trường mầm non với trường phổ thông

và các tổ chức đoàn thể xã hội để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non

Sự phát triển các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân khiếnngày nay ở bất cứ một vùng lãnh thổ nào cũng có mạng lưới nhà trường của

Hệ thống giáo dục quốc dân

Các nhà trường này dù đa dạng về hình thức: Công lập, ngoài công lậpsong đều chịu sự quản lý của nhà nước và hoạt động trong mối liên hệ tươngtác với nhau

Trang 33

Trường mầm non có nhiệm vụ chuẩn bị cho sản phẩm của mình thíchứng vào lớp một của trường phổ thông Như vậy, là trường mầm non có mốiliên hệ chặt chẽ với trường tiểu học trên địa bàn.

Trường mầm non cũng có mối liên hệ gián tiếp với các nhà trường kháctrên địa bàn Ngoài ra nhà trường còn có các mối liên hệ với các đoàn thểchính trị xã hội khác trên địa bàn dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chínhquyền địa phương

Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện hiệu quả các mụctiêu xã hội hóa giáo dục là điều rất cần thiết

Các nhà trường mầm non trên cùng một địa bàn trước hết phải phối hợpvới nhau thông qua sự điều phối chung của bộ phận chuyên môn ở cấp trên làphòng giáo dục để tạo ra cơ chế phối hợp với các thiết chế xã hội chính trịkhác trên địa bàn nhằm huy động sự tài trợ của cộng đồng, tránh các sự chồngchéo, trùng lặp lấn sân nhau, gây ra các hậu quả tiêu cực

1.3 Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.1 Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.1.1 Giáo dục

Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người Giáo dụcvốn là một hiện tượng xã hội, một phương thức để tồn tại và phát triển của xãhội loài người với đặc trưng của nó là sự truyền thụ tri thức từ người này chongười khác để thành người

Giáo dục là tác động có hệ thống để con người có thêm năng lực vàphẩm chất cần thiết Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động (hay quátrình) chuyển giao hệ thống tri thức, kinh nghiệm xã hội của thế hệ này chocác thế hệ kế tiếp nhằm hình thành và phát triển nhân cách, đáp ứng nhu cầutồn tại, phát triển đời sống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử Theo nghĩa hẹpgiáo dục gắn với quá trình hình thành và phát triển hệ thống nhà trường (giáo

Trang 34

dục nhà trường) là các hoạt động giáo dục có mục đích và nội dung xác địnhcho từng bậc học và loại hình nhà trường, được thực hiện một cách có kếhoạch, có hệ thống trong khuôn khổ tổ chức nhà trường.

Vì vậy, khái niệm của A.Cardinet: Sự giáo dục cơ bản tương tự như

“nhân cách cơ bản” đã được Tổ chức Giáo dục – Khoa học – Văn hóa củaLiên Hợp Quốc (UNESSCO) chấp nhận: là toàn bộ những hoạt động để tácthành cho một nhóm người thiếu tổ chức hợp lý về những yếu tố văn hóa cầnthiết cho sự phát triển

Khái niệm này được nâng cao thành Quyền được giáo dục Hầu hết cácquốc gia trên thế giới đều tiến tới ban bố Luật giáo dục cho mọi người trong

xã hội Quyền được giáo dục là một tiêu chuẩn quan trọng trong hệ thống bảo

vệ nhân quyền trong xã hội văn minh hiện nay Rất nhiều định nghĩa về giáodục đã minh họa cho khái niệm quan trọng và có phạm trù rộng lớn này

Theo Kant: Giáo dục phải “phát triển cho mỗi cá nhân tới độ hoàn mỹcao nhất có thể đạt được”

Theo GS Hà Thế Ngữ: “Giáo dục là quá trình đào tạo con người mộtcách có mục đích, nhằm chuẩn bị con người tham gia đời sống xã hội, thamgia lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội nhữngkinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người”

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, từ góc độ khác nhau, nhưngchung quy lại có thể khẳng định: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hìnhthành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông quacác hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục,nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người

Như vậy, giáo dục với tư cách là một hoạt động của con người trong xãhội có bốn đặc trưng chủ yếu:

Trang 35

- Là quá trình đào tạo con người, hình thành những sức mạnh bản chất

của con người, tác động đến sự phát triển của con người

- Đó không phải là một quá trình tự phát, mà là một quá trình tự giác

có mục đích đã được ý thức trước

- Là quá trình chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội ( với

những yêu cầu cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử ), tham gia các lĩnh vực khácnhau của đời sống xã hội, mà lĩnh vực chủ yếu là lao động sản xuất

- Quá trình đó được tiến hành bằng nhiều con đường, nhiều phương

tiên, nhiều biện pháp khác nhau, song tất cả đều phải nhằm tổ chức người dạy

và người học truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm đã tổng kết đượctrong lịch sử xã hội loài người

1.3.1.2 Hệ thống giáo dục quốc dân

Khái niệm Hệ thống giáo dục là tập hợp các loại hình giáo dục (hoặcloại hình trường) được sắp xếp theo một trình tự nhất định trong các bậc họcnhất định từ thấp (Mầm non) đến cao (Đại học và Sau đại học) Hệ thống giáodục là một chỉnh thể hữu cơ nhiều tầng bậc, nhiều nhân tố, nhiều hình thái,chức năng Hệ thống giáo dục là một hệ thống con trong hệ thống lớn xã hội.Mối liên hệ hữu cơ của nó với các hệ thống con khác như kinh tế, chính trị,khoa học, văn hóa… thể hiện đặc điểm xã hội nhất định Ngoài ra hệ thốnggiáo dục lại là chỉnh thể độc lập tương đối Tính độc lập của nó chủ yếu biểuhiện ở sự khác biệt về cơ cấu so với các hệ thống con khác Thông thường hệthống giáo dục được hiểu theo hệ thống nhà trường trong đó phản ảnh các loạihình trường, sự sắp đặt vị trí, chức năng và mối quan hệ giữa chúng trong cácbậc học và trong toàn bộ hệ thống

Nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử hệ thống giáo dục Việt Namcho thấy, dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học, nhưng suốt hàng nghìnnăm tồn tại, trong đó đã có hơn một nghìn năm tính đến năm 1945, nền giáo

Trang 36

dục của nước ta bị kìm hãm bởi ách ngoại xâm đô hộ Trong các thời kỳ bịngoại xâm đô hộ, các thế lực ngoại bang có mở các trường công và cho phép

mở trường tư, chủ yếu cho con em họ học để trở thành những người phục vụcho guồng máy cai trị Trong thời kỳ phong kiến, suốt gần 10 thế kỷ, hệthống giáo dục cũng mới chỉ hạn chế ở việc đào tạo quan lại phong kiến cáccấp Thời kỳ Pháp thuộc giáo dục Việt Nam được xây dựng phát triển theo tưtưởng chỉ đạo chủ yếu tập trung mở trường sơ học gồm 3 lớp đầu bậc học tiểuhọc Năm 1945, hơn 95% dân ta bị mù chữ Quy mô giáo dục quá nhỏ chỉ thuhút khoảng 3% dân số ( dân số lúc đó khoảng 22 triệu người), chủ yếu tọanguồn đào tạo thầy cai, thầy ký và quan lại nhỏ phục vụ bộ máy cai trị củathực dân Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nền giáo dục của nước ViệtNam độc lập ra đời là nền giáo dục nhân dân, được gọi là nền giáo dục dânchủ mới với ba tính chất: dân tộc, khoa học và đại chúng Trải qua nhiều cuộccải cách giáo dục để phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc đất nước,như cuộc cải cách năm 1950 nhằm chuyển dổi cơ cấu hệ thống giáo dục phùhợp với hoàn cảnh kháng chiến; năm 1956 điều chỉnh để tiến tới hoàn thiện

hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền tảng giáo dục kịp thời phục vụ cho côngcuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội theo mô hình xã hội chủ nghĩa đangđược tiến hành trên miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam Sau giảiphóng miền Nam thống nhất đất nước, cuộc cải cách giáo dục năm 1979nhằm xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân mới thống nhất trong cả nước.Cuộc cải cách giáo dục này đã hoàn chỉnh hệ thống giáo dục bao gồm đầy đủcác bậc học: tiền học đường, tiểu học, trung học, đại học và sau đại học, Saumười năm đất nước hoàn toàn thống nhất, vấn đề xây dựng và phát triển kinh

tế - xã hội trở thành một trong những mục tiêu hàng đầu Công cuộc đổi mớinăm 1986 do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đưa nền kinh tế - xã hội nước

ta nói chung và nền giáo dục cách mạng nói riêng bước sang giai đoạn pháttriển mới

Trang 37

Luật giáo dục 2005 quy định hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo

- Giáo dục phổ thông có các bậc: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung

học phổ thông

- Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề

- Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ

đại học; giáo dục sau đại học đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ

1.3.1.3 Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

Giáo dục mầm non là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dụcquốc dân, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba thángtuổi đến sáu tuổi Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển vềthể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên củanhân cách, cuẩn bị cho trẻ em vào học lớp 1

Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốcdân Nó có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và đào tạo thế

hệ trẻ, vì giáo dục mầm non là giai đoạn khởi dầu đặt nền móng cho sự hìnhthành và phát triển nhân cách trẻ em Nhiều công trình nghiên cứu đã chứngminh rằng nhân cách của con người được hình thành tương đối đầy đủ trong 5năm đầu tiên của cuộc đời Đây là thời kỳ tăng trưởng về cơ thể và phát triểncác mặt trí tuệ, tình cảm, xã hội nhanh nhất, nhân cách bắt đầu hình thành,khối lượng những thu hoạch đạt được rất lớn khiến ta có thể coi sự phát triểntrong những năm đó có tác dụng quyết định rất lớn đến toàn bộ tương lai saunày Ngược lại, những trục trặc về tăng trưởng và phát triển trong thời kỳ nàynếu không được phát hiện và khắc phục thích đáng có thể để lại những hậuquả lâu dài, ảnh hưởng không ít đến việc rèn luyện những năng lực cần thiếtmai sau Nhà giáo dục Xô Viết lỗi lạc A.S Makarenco có nói: Những điều dạycho trẻ trong thời kỳ đó đã được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều

Trang 38

dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việcgiáo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả,còn những nụ hoa thì đã được vun trồng trong 5 năm đầu tiên.

Do vậy, giáo dục mầm non có một vị trí ngày càng được khẳng địnhtrong toàn bộ sự nghiệp giáo dục – đào tạo con người Điều này hoàn toànphù hợp với chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục của UNESCO bao gồm

21 điểm, ở điểm 5 nhấn mạnh: “ Giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phải làmột mục tiêu lớn trong chiến lược giáo dục.”

Muốn vậy, công tác chăm sóc, giáo dục trẻ càng phải được quan tâmngay khi trẻ mới ra đời, thậm chí ngay từ khi khi trẻ còn là bào thai trongbụng mẹ Hơn nữa, công tác chăm sóc và giáo dục trẻ một cách khoa học, mộtkhi thâm nhập vào từng gia đình sẽ thúc đẩy và nâng cao tính tự giác củacông tác kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và cải thiện môi trường sống, xâydựng gia dình văn hóa, văn minh, hạnh phúc Mặt khác, xã hội chăm lo côngtác chăm sóc và giáo dục trẻ, nhất là trẻ khó khăn và những trẻ ở vùng kinh tế

- văn hóa kém phát triển, nơi mà trẻ nhỏ là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi làbiểu lộ sự nỗ lực trên hành động nhằm đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội

Chăm sóc – giáo dục trẻ ngay từ khi còn bé, chính là sự đầu tư lâu dài,tạo cơ sở cho sự tăng tốc trong sự phát triển kinh tế - xã hội tương lai Trẻđược chăm sóc đầy đủ, hợp lý và dạy dỗ chu đáo khoa học bao giờ cũngnhanh nhẹn, vui vẻ, hồn nhiên, mạnh dạn và hoạt bát, dễ hòa mình vào cộngđồng Việc nuôi dạy “con người” bắt đầu từ những năm tháng đầu tiên củacuộc sống là một việc làm hết sức quan trọng và ý nghĩa lớn lao ( cả về tínhnhân văn, tính kinh tế và xã hội) Nếu không có sự chăm sóc, giáo dục củangười lớn, đứa trẻ không thể lớn lên và không thể thành người Đứa trẻ càng

bé bao nhiều thì càng cần đến sự chăm sóc, giáo dục của người lớn bấynhiêu Nếu người lớn không kịp thời hoặc bỏ qua việc chăm sóc trẻ ngay từ

Trang 39

những năm tháng đầu tiên của cuốc sống thì khó tránh khỏi những ảnhhưởng xấu đến sự phát triển lành mạnh của trẻ cũng như khó có thể “giáodục lại” cho trẻ.

Chính vì lẽ đó, Nghị quyết Hội nghĩ lần thứ hai Ban chap hành Trungương Đảng khóa VIII đã định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạotrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tiếp tục khẳng định mục tiêucủa giáo dục mầm non đến năm 2020 là: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triểnbậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôidạy trẻ cho các gia đình.” và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảngtieps tục nhấn mành: “Chăm lo phát triển giáo dục mầm non, mở rộng hệthống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư…

Hội nghị Thủ tưởng Chính phủ ( 25/06/2002) bàn về phát triển giáo dụcmầm non theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyếtĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã một lần nữa khẳng định: Giáo dục mầmnon là bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân, góp phầnđào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện

1.3.2 Vai trò của giáo dục mầm non

Giáo dục muốn phát triển bền vững thì phải đầu tư vào chương trìnhchăm sóc và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần củachiến lược cơ bản Tạo tiền đề vững chắc cho trẻ em trước khi vào trường tiểuhọc Do đó từ lúc lọt lòng cho đến lúc lên 6 tuổi, trẻ em cần được sự đầu tư hỗtrợ phát triển thể chất, tinh thần và hiểu biết xã hội Việc giáo dục trẻ emtrong những năm học ở nhà trường có thành công hay không một phần lớn làtùy thuộc vào những tảng đá làm nền, tạo được trong những năm phát triển trẻthơ, sau này từ những tảng đá đó làm nền cho sự nghiệp giáo dục, cho tất cảmọi người

Trang 40

Giáo dục mầm non góp phần giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳngnam nữ Phụ nữ luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội Những phẩmchất chịu thương, chịu khó chăm lo công việc gia đình luôn làm nổi bật hìnhảnh phụ nữ Việt Nam Phát triển giáo dục mầm non làm tăng cơ hội bình đẳngcho phụ nữ: Nhờ sự phát triển giáo dục mầm non, phụ nữ có thể yên tâmtrong sản xuất, có điều kiện học hành nâng cao hiểu biết và hưởng thụ nhữngphúc lợi trong gia đình cũng như có cơ hội đóng góp cho xã hội Để cải thiệnđịa vị của phụ nữ, tăng cơ hội bình đẳng cho phụ nữ, phát triển giáo dục mầmnon là một trong những giải pháp hữu hiệu cần được coi trọng.

1.3.3 Vai trò xã hội hóa giáo dục mầm non

a Xã hội hóa giáo dục mầm non góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non

Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non sẽ tạo ra các nhân tố đồngthuận giữa nhà trường và xã hội thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non

Nhà trường thông qua con đường này đưa chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước về giáo dục mầm non, thông điệp tới cộng đồng, tới cán

bộ, nhân dân, tới cha mẹ của trẻ

Nhà trường thông qua con đường này để huy động tâm lực, tài lực, vậtlực, của cộng đồng phát triển trường mầm non

Xã hội hóa giáo dục mầm non đóng vai trò vô cùng quan trọng trongviệc huy động cộng đồng xây dựng môi trường giáo dục thuận lợi cho trẻ pháttriển có ý nghĩa rất cần thiết cho ngành giáo dục này

b Xã hội hóa giáo dục mầm non nhằm góp phần nâng cao tri thức

về nuôi dạy trẻ cho nhân dân và cộng đồng

Kiến thức về nuôi dạy trẻ đúng khoa học hiện nay là điều rất cần thiếtcho sự phát triển xã hội

Ngày đăng: 11/07/2016, 22:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4.  Đánh giá mức độ thực hiện các nội dung - QUẢN lý NHÀ TRƯỜNG THỰC HIỆN xã hội hóa GIÁO dục của HIỆU TRƯỜNG các TRƯỜNG mầm NON TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ bắc GIANG
Bảng 2.4. Đánh giá mức độ thực hiện các nội dung (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w