Vì vậy theo dự đoán của các chuyên gia công nghệ thông tin Việt Nam, trong một vài năm tới, bất kì tổ chức nào, đoàn thể nào không có Website hoặc các hình thức đưa thông tin đến rộng rã
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HÀ
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 PHẦN CƠ
KHÍ
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Kỹ thuật công nghiệp
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Huy Hoàng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của khoa Sư phạm Kĩ thuật - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và được sự đồng ý của Thầy giáo hướng dẫn PGS - TS Lê Huy Hoàng, tôi đã thực hiện đề tài: “Xây dựng và sử dụng Website hỗ trợ dạy học Công nghệ 8 phần Cơ khí”
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đối với PGS.TS
Lê Huy Hoàng - người thầy đã hướng dẫn, chỉ đạo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình,bạn bè và đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh được những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong nhận được góp ý của Thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 09 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 3CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC MÔN
CÔNG NGHỆ 8 PHẦN CƠ KHÍ 1
ND kiÕn thøc c¬ b¶n 91
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công nghệ thông tin (CNTT) không ngừng tác động mạnh mẽ đến giáo dục và đào tạo Làm thay đổi cách suy nghĩ của GV và HS Quá trình dạy học trở nên tích cực hơn, sinh động hơn, linh hoạt hơn, trực quan hơn khi nó được gắn liền với những phương tiện nghe nhìn hiện đại Công nghệ thông tin vừa như một phương tiện vừa như một nhân tố mới trong quá trình dạy học, chi phối toàn bộ quá trình này nhằm đạt đến mục tiêu nhanh nhất và hiệu quả nhất Với ưu thế của một nguồn thông tin khổng lồ, đầy màu sắc, sống động phản ánh sự đa dạng của thế giới, Internet đã và đang trở thành một công cụ
hỗ trợ tích cực trong việc dạy và học Tuy nhiên làm thế nào để khai thác Internet một cách hiệu quả đang là vấn đề đặt ra đối với các GV
Trước những biến đổi về thời đại mới một yêu cầu đặt ra đối với con người đó là muốn chiếm lĩnh được tri thức của nhân loại phải tự chủ, sáng tạo
và có tư duy khoa học Trước tình hình đó đã đặt ra cho nền giáo dục nước ta phải có những đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ, vươn tới ngang tầm với
sự phát triển chung trên Thế giới và Khu vực Trong đó đổi mới phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng, cân thiết nhằm đáp ứng yêu cầu trên
Phát triển giáo dục là chìa khóa, là đòn bẩy tạo nên sự phát triển nhanh chóng và bền vững cho đất nước trong thời gian tới và lâu dài về sau Quan điểm này đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) : “ Thực sự coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu” Trong những năm qua, giáo dục nước ta đã có nhiều đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường vai trò chủ thể của HS Phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, trong đó việc giúp các em có khả năng
Trang 6tự chiếm lĩnh tri thức là một trong những phương pháp cần thiết Vì dù GV có truyền đạt kiến thức nhiều đến đâu cũng không thể hết được kho tàng kiến thức của nhân loại.
Trong chương trình giáo dục phổ thông, có một số kiến thức, khái niệm, hiện tượng khá trừu tượng HS gặp nhiều khó khăn khi phải tìm hiểu bản chất của hiện tượng đó Tuy nhiên với những ưu thể về khả năng đồ họa,
mô phỏng mà các phương tiện dạy học đem lại sẽ hỗ trợ khắc phục những khó khăn trên Qua bài giảng dưới dạng Trang Web, GV có thể phát huy tất cả các giác quan của các em HS trong quá trình truyền thụ kiến thức, làm cho
HS nhận biết được các quan hệ giữa các hiện tượng, tái hiện những khái niệm, quy luật…làm cơ sở cho việc áp dụng kiến thức đã học vào trong thực tế đời sống sản xuất
Các website phục vụ cho công tác giáo dục xuất hiện ngày càng nhiêu
Vì vậy theo dự đoán của các chuyên gia công nghệ thông tin Việt Nam, trong một vài năm tới, bất kì tổ chức nào, đoàn thể nào không có Website hoặc các hình thức đưa thông tin đến rộng rãi công chúng bằng các phương tiện ICT (Information and Communication Technology), thì tổ chức, đoàn thể đó sẽ trở nên lạc hậu
Từ những lí do trên, Tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”, mong rằng nội dung
này sẽ giúp thầy cô và các em HS thuận tiện hơn trong việc nghiên cứu và tiếp cận với kiến thức mới
Trang 7dạy học công nghệ ở THCS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”
Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn công nghệ 8 phần cơ khí
Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của
đề tài nghiên cứu
Trang 84 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
− Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Công nghệ 8 phần cơ khí
ở THCS
− Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng website và sử dụng hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần cơ khí
− Phạm vi nghiên cứu của đề tài hướng tới việc:
Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần cơ khí
Phạm vi tiến hành thực nghiệm ở một số trường THCS trên địa bàn Hà Nội, Bắc Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp sau:
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, so sánh, hệ thống
hóa, khái quát hóa các tài liệu liên quan đến đề tài
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
5.2.1 Phương pháp quan sát: Dự giờ, chủ động quan sát việc dạy và học môn Công nghệ của GV và HS
5.2.2 Phương pháp điều tra: Phương pháp quan sát nhằm tiếp cận tình hình thực tế, nắm được thực trạng của việc sử dụng hệ thống mạng máy tính
và máy tính phục vụ giảng dạy ở các trường THCS
Nhiệm vụ điều tra quan sát là tìm hiểu thái độ, tình hình của GV và HS thông qua việc trao đổi và phỏng vấn trực tiếp, dự giờ để đánh giá chính xác việc sử dụng phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT, mạng máy tính vào giờ học Trên cơ sở đó xem xét những điều kiện cần và đủ, những thuận lợi cũng như những hạn chế của việc khai thác và ứng dụng website vào trong dạy-học lớp
8 của GV và HS
5.3 Phương pháp thống kê toán học:
Trang 9Vận dụng lí thuyết xác suất và thống kê toán học để phân tích, xử lí các kết quả thu được sau khi thực nghiệm sư phạm nhằm xác định xu hướng phát triển của các đối tượng và làm tăng tính chính xác khách quan cho kết quả nghiên cứu của đề tài.
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Nhằm tiến hành kiểm nghiệm, kiểm chứng, điều tra, khảo sát lấy ý kiến, đánh giá về tính khả thi thực tiễn của việc xây dựng website
Sử dụng phiếu điều tra để lấy thông tin nhanh về việc ứng dụng CNTT trong dạy học và sử dụng
Qua thực nghiệm rút ra những nhận xét cần thiết liên quan đến các giải pháp đề xuất trong nội dung của đề tài Kết quả thực nghiệm là cơ sở để kiểm chứng tính khả thi của đề tài
5.5 Phương pháp chuyên gia:
Dùng phương pháp này để đóng vai trò là người hướng dẫn thiết kế và sử dụng website đúng với nguyên tắc, quy trình và nội dung chương trình, góp phần phát triển năng lực của HS và đổi mới phương pháp dạy hoc trong nhà trường phổ thông
5.6 Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, trò chuyện: Trò chuyện, đàm
thoại với HS nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học môn công nghệ
5.7 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trao đổi kinh nghiệm với các thầy,
cô giáo, đồng nghiệp và của chính bản thân
6 Giả thuyết khoa học
Nếu “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí” đảm bảo nguyên tắc và quy trình hợp lí thì sẽ phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ ở trường THCS
7 Cấu trúc của đề tài
Trang 10Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương là:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”
Chương 2: “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”
Chương 3: Kiểm nghiệm và đánh giá
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG WEBSITE
HỖ TRỢ DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 PHẦN CƠ KHÍ
1.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước có liên quan
Web xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1989 khi nhà vật lý học Tim Lee muốn tìm ra một cách thức giúp các nhà khoa học trao đổi tài liệu nghiên cứu thông qua Internet Berners-Lee muốn rằng đó không chỉ là cách in các văn bản trực tiếp trên Internet mà còn là cách hiển thị các đường dẫn để đưa người đọc đến các phần khác của tài liệu, hoặc thậm chí là dẫn đến các tài liệu được đặt ở một nơi khác trên mạng Internet
Berners-Thực ra thì Berners-Lee không phải là người đưa ra ý tưởng này đầu tiên Ngay từ những năm 40, các nhà nghiên cứu khác cũng đã từng mô tả một hệ thống tương tự, và vào khoảng những năm 80, các ứng dụng như Ngôn ngữ đánh dấu tổng quát chuẩn (SGML) cũng đã sử dụng một tập hợp phức tạp các siêu liên kết để kết nối các tài liệu lại với nhau Nhưng Berners-Lee đã phát triển một hệ thống mà trong đó không đòi hỏi phải sử dụng các phần mềm mắc tiền hay những kỹ năng lập trình cao Ông đã phát minh ra một giao thức cơ bản cho việc chuyển tải các tài liệu lên mạng Internet, gọi là Giao thức truyền siêu văn bản (HTTP) cũng như phát minh ra một bộ đơn giản các lệnh gọi là Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML) để mô tả cấu trúc của một tài liệu.Web đã bùng nổ vào năm 1993 khi một sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Illinois tên là Marc Andreessen phát triển thành công một phần mềm giúp hiển thị các trang Web dưới dạng đồ họa Phần mềm của Andreessen, được gọi
là một “trình duyệt” , cho phép người sử dụng có thể hiển thị hình ảnh cũng như văn bản trên các trang web Kết quả là Web đã lớn mạnh nhanh
Trang 12chóng,vượt ra khỏi cả phạm vi sử dụng nhỏ hẹp ban đầu của các nhà khoa học Sau đó Andreessen đã đồng sáng lập Netscape Communications, đánh dấu cho
sự khởi đầu của cuộc Cách mạng Internet
Chỉ trong vài năm, Web đã phát triển lớn mạnh với một tốc độ theo cấp số nhân Tính đến nay, có lẽ đã có tới một triệu mũ mười số trang Web được đặt trên hàng ngàn ngàn máy vi tính khắp thế giới Khởi nguyên của mạng thông tin toàn cầu WWW thực tế chỉ là một dịch vụ chia sẻ thông tin qua Internet, được phát triển bởi viện sĩ Viện Hàn lâm Anh Tim Berners-Lee và Robert Cailliau (Bỉ) khi còn làm việc Hiệp hội nghiên cứu các vấn đề hạt nhân CERN thuộc thành phố Geneva (Thụy Sỹ) Tuy nhiên, với việc chia sẻ thông tin một cách nhanh chóng, mạng thông tin toàn cầu WWW đã phát triển rộng khắp Cùng với việc ra đời và phổ biến của Internet, ngày nay việc thu thập và
xử lí thông tin trên mạng là một kĩ năng cần thiết trong nghiên cứu và học tập cũng như trong lao động nghề nghiệp
Trên thế giới việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã được quan tâm từ lâu nhất là các nước tư bản phát triển Từ những năm 1984, 1985 tổ chức NSCU (National Sofwware – Cordination Unit) được thành lập, cung cấp chương trình giáo dục máy tính cho các trường trung học Các môn học đều có phần mềm dạy học bao gồm: nông nghiệp, nghệ thuật, thương mại, giáo dục kinh
tế, tiếng anh, địa lý, kinh tế gia đình, công nghệ, kỹ thuật công nghiệp, toán…
Ở Ấn độ, tổ chức NCERT (National Council of Education Resarch and Training) ở New Dehli đã thực hiện đề án CLASS (Computer Literacy and Sudies in School) Đề án xem xét việc sử dụng MVT hỗ trợ DH trong lớp, đồng thời quan tâm đến vai trò của máy tính hư là một công cụ ưu việt đánh dấu sự thay đổi về phương pháp luận DH
Năm 1985, các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Xrilanca, Malaysia tổ chức hội thảo về phần mềm dạy học ở Malaysia đã đưa ra tiêu
Trang 13chuẩn đánh giá phần mềm gồm 3 yếu tố: đặt vấn đề, trình bày bày giảng, kỹ thuật lập trình.
Ở Nhật,máy tính và các phần mềm được sử dụng làm công cụ để trình bày kiến thức,rèn luyện kĩ năng, tiếp thu bài mới và giải quyết những vấn đề đặt ra trong tiết học Nhật khẳng định việc sử dụng máy tính trong DH có tác dụng kích thích hứng thú học tập của HS Hiện nay, các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapo việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng đã trở nên phổ biến
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước có liên quan
Vấn đề đưa CNTT vào giảng dạy ở các cấp học ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, đây là vấn đề quan trọng trong xu thế hội nhập với giáo dục thế giới Hiện nay có không ít các đề tài xây dựng website cũng như việc ứng dụng CNTT vào dạy học trong chương trình môn kỹ thuật công nghiệp Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu đều chỉ tập trung vào chương trình ở bâc phổ thông và cao đẳng, đại học Một số đề tài nghiên cứu
sử dụng CNTT trong dạy học như “Sử dụng đồ họa máy tính để nâng cao chất lượng dạy học môn Cơ kỹ thuật ở trường CĐSP” – Đinh Việt Hoàng (2004),
“Ứng dụng CNTT trong dạy học môn Trang bị điện ở trường Cao đẳng Công nghiệp Việt –Hung” – Nguyễn Duy Huấn (2006), “ Ứng dụng CNTT trong dạy học Công nghệ 12 theo định hướng dạy học tích cực và tương tác” – Nguyễn Thị Xuân (2010)
Nội dung của các luận văn này đề cập đến vấn đề đổi mới PPDH trong đó có việc đổi mới theo xu hướng sử dụng CNTT cụ thể là sử dụng các chương trình, phần mềm máy tính để thiết kế các bài giảng hỗ trợ quá trình dạy họcBên cạnh đó, một số đề tài nghiên cứu đề cập đến việc xây dựng website hỗ trợ dạy học như “Thiết kế bài dạy dưới dạng trang WEB phần động cơ đốt trong ở môn Công nghệ 11 ở trường THPT tỉnh Hải Dương” – Bùi Văn Khiên
Trang 14(2005), “Xây dựng trang web tra cứu thuật ngữ kỹ thuật điện trong chương trình Công nghệ 12 THPT” – Phạm Hồng Khoa (2008)…Nội dung của các luận văn đều mong muốn triển khai thiết kế bài dạy dưới dạng trang Web ở
“mức độ vi mô” nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của HS, theo định hướng ứng dụng CNTT và các PTDH
Đề tài “Sử dụng máy vi tính trong dạy học KTCN 8 THCS” – Mai Quốc Khánh (2001) có đề cập đến việc ứng dụng sử dụng CNTT vào việc dạy học KTCN lớp 8 , nhưng ở mức độ sử dụng máy vi tính
Có thể thấy, các đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc ứng dụng CNTT
và sử dụng website ở các trường THPT hoặc các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, chưa có đề tài nào nghiên cứu về xây dựng website hỗ trợ việc thiết kế bài giảng môn công nghệ 8 phần cơ khí Điều này gây trở ngại cho việc tìm kiếm tri thức không những của GV mà còn cả của HS khi tiếp cận phần kỹ thuật cơ khí Do đó việc “Xây dựng và sử dụng Webstite hỗ trợ DH
môn Công nghệ 8 phần Cơ khí” là cần thiết
1.2 Cơ sở lý luận của việc “Xây dựng và sử dụng Webstite hỗ trợ DH môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1 Công nghệ thông tin
Trên thế giới, thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)."
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu
Trang 15là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".[34]
Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin Theo quan niệm này thì công nghệ thông tin là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, chủ yếu là máy tính, mạng truyền thông và
hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế,
xã hội, văn hoá [2]
Theo WikiPedia “Công nghệ Thông tin (CNTT) (Information Technology)
là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin”
Theo tác giả Lê Tuấn Hạnh “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại, chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Công nghệ thông tin được phát triển trên nền tảng của các công nghệ Tin học - Điện tử - Viễn thông và Tự động hoá Công nghệ thông tin mang một ý nghĩa bao trùm rộng rãi, nó vừa là khoa học, vừa là công nghệ, vừa là kỹ thuật, vừa là tin học, viễn thông và tự động hoá.[4, tr12]
Thuật ngữ “công nghệ thông tin” được hiểu là các ứng dụng liên quan đến máy vi tính và được phân loại dựa trên phương thức chúng được sử dụng trong lớp học chứ không dựa trên nguyên lý hoạt động của chúng (Means et
al, 1993)
Trang 16Việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông và internet… trong giáo dục hiện nay đã phát triển nhanh chóng góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học hết sức đa dạng và phong phú.
Đứng trên góc độ giảng dạy, “ CNTT là một công nghệ giúp con người
có thêm khả năng trong hoạt động trí tuệ chứ không phải thay thế con người trong hoạt động đó Có thêm nhiều phương tiên hỗ trợ trong việc dạy học nghĩa là giúp cho GV có thêm thời gian và điều kiện để chăm lo những công việc đòi hỏi chất lượng trí tuệ cao hơn hoạt động dạy học theo phương pháp truyền thống”
Trong nền giáo dục mới, người học không chỉ đòi hỏi biết thêm nhiều tri thức, mà phải có năng lực tìm kiếm tri thức và tạo tri thức Vì vậy, người GV phải làm tốt vai trò người hướng dẫn quá trình tìm kiếm tri thức, gợi mở những con đường phát hiện tri thức Qua đó trau dồi khả độc lập và tư duy sáng tạo cho HS Để ứng dụng chất lượng và hiệu quả cao công nghệ thông tin vào dạy học trong điều kiện của xã hội tri thức, khi mà khối lượng tri thức tăng lên nhanh chóng, những tri thức mà HS cần đến và sử dụng trong cuộc sống của mình trong tương lại có thể là những tri thức mà hiện tại nằm ngoài hiểu biết của GV Thì vốn quý của GV là truyền lại cho HS những phương pháp suy nghĩ, độc lập tìm kiếm và phát hiện tri thức chứ không nhất thiết là tri thức và kỹ năng cụ thể của mình Theo nhà triết học Whitehead, có thể chúng ta là thế hệ đầu tiên trong lịch sử mà những hiểu biết của cha ông ít có giá trị thực tiễn đối với cuộc sống của chúng ta nhưng những tri thức có giá trị lại được sản sinh ra trong quãng đời mà chúng ta sống
Với các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu “Công nghệ thông tin là một lĩnh vực khoa học rộng lớn nghiên cứu các khả năng và phương pháp thu thập, lưu trữ, truyền và xử lý thông tin một cách tự động dựa trên các phương tiện kỹ thuật như máy tính điện tử và các thiết bị thông tin khác”
Trang 171.2.1.2 Website
Website là một tập hợp các trang Web có liên quan với nhau, trên mỗi Website có một trang Web xuất phát gọi là trang chủ và các trang Web khác gọi chung là trang con Nơi trình diễn các trang Web được gọi là Site Tùy theo số lượng thông tin trình bày mà trong một Website có thể có một hoặc nhiều Site
Mạng Internet mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện tử (Email), trò chuyện trực tuyến (chat), máy tính truy tìm dữ liệu (search engine), các dịch vụ thương mại và chuyển ngân, và các dịch vụ về y tế, giáo dục như là chữa bệnh từ xa, hoặc tổ chức các lớp học ảo Chúng cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ trên Internet
Một trang web là tập tin HTML hoặc XHTML có thể truy nhập dùng giao thức HTTP hoặc HTTPS Website có thể được xây dựng từ các tệp tin HTML (trang mạng tĩnh) hoặc vận hành bằng các CMS chạy trên máy chủ (trang mạng động) Website có thể được xây dựng bằng nhiều ngôn ngữ lập trình khác nhau (PHP,.NET, Java, Ruby on Rails )
Hiện nay, để một website có thể vận hành trên môi trường Word Wide, cần bắt buộc có 3 phần chính:
- Tên miền (là tên riêng và duy nhất của website)
- Hosting (là các máy chủ chứa các tệp tin nguồn)
- Source code (là các tệp tin html, xhtml, hoặc một bộ code/cms)
Website được tương tác và hiển thị đến với người dùng thông qua các phần mềm gọi là "Trình duyệt web" với các văn bản, hình ảnh, đoạn phim, nhạc, trò chơi và các thông tin khác ở trên một trang web của một địa chỉ web trên mạng toàn cầu hoặc mạng nội bộ Website được tạo nên bởi các nhà thiết
kế web (website developer)
Trang 18Ngày nay, thuật ngữ website được sử dụng rất phổ thông, người người, nhà nhà đều có thể truy cập một website ở bất kì đâu có kết nối internet hoặc
có kết nối sóng di động Với các doanh nghiệp, cá nhân thường xuyên tương tác với cộng đồng online thì website là công cụ tốt nhất và duy nhất giúp họ quảng bá hình ảnh, sản phẩm, thông tin, của mình Và từ đó các dịch vụ thiết
kế web chuyên nghiệp ra đời nhằm đáp ứng điều đó
1.2.1.3 Website dạy - học
Dưới góc độ nghiên cứu khoa học giáo dục, theo tác giả Chu Vĩnh Quyên : “Website dạy học là một phương tiện dạy học dưới dạng phần mềm máy tính, được tạo ra bởi các siêu văn bản (là các tài liệu điện tử như bài giảng, SGK ) trên đó bao gồm một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện (trình diễn các thông tin multimedia, văn bản âm thanh, hình ảnh)
để hỗ trợ việc dạy học và cung cấp cho những người sử dụng khác trên mạng máy tính”.[35, Tr45]
Website DH sẽ hỗ trợ cho GV, HS, nhà quản lý trao đổi thông tin hai chiều, nhằm giúp cho mọi người định hướng được cách tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả nhât Đồng thời là diễn đàn trao đổi thông tin và chia sẻ với mọi người những vấn đề quan tâm trong công tác giảng dạy và học tập Website DH góp phần tích cực trong việc đổi mới PPDH, sử dụng Website
DH đáp ứng được nhu cầu đa dạng hóa cách tiếp cận kiến thức cho HS, góp phần vào thành công chung của giáo dục hiện nay
Website dạy học còn được gọi là Giáo trình điện tử (GTĐT) hoặc học liệu điện tử (HLĐT) hay còn gọi là các phần mềm học tập hay phầm dạy và học nói chung là những giáo trình sử dụng CNTT để xây dựng [36]
Các website dạy học được sử dụng cho HS có gắn kết với nhà trường –
dù là theo loại hình học tập truyền thống hoặc loại hình vừa học vừa làm, học
Trang 19từ xa và website dạy học sử dụng cho người tự học hoàn toàn là hai lĩnh vực
có những điểm khác biệt cơ bản
1.2.2 Một số vấn đề lí luận về ứng dụng CNTT trong dạy học
1.2.2.1 Mô hình TPACK
a Giới thiệu
Với sự xuất hiện của công nghệ kỹ thuật số, ngày nay công nghệ đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của các nhà giáo dục, của HS sinh viên Nó làm thay đổi cách GV và sinh viên tương tác và học tập trong một môi trường công nghệ phong phú
Với yêu cầu đặt ra là người GV cần phải có một kiến thức để tích hợp công nghệ một cách có hiệu quả trong công tác giảng dạy, các nhà nghiên cứu
đã bắt đầu sử dụng TPACK như một khuôn khổ (khung lý thuyết) cho việc thiết kế và phát triển chương trình để trang bị cho GV sự hiểu biết kiến thức cần thiết để tích hợp công nghệ hiệu quả (Mishra & Koehler, 2006)
Nói theo cách khác TPACK là một thuật ngữ được sử dụng ngày càng nhiều để mô tả những gì GV cần phải biết để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ vào thực tiễn giảng dạy của họ TPACK là mô hình nói lên sự tích hợp giữa kiến thức chuyên môn của người dạy và kiến thức về công nghệ
Mô hình TPACK bàn đầu là các khuôn khổ TPCK từ viết tắt theo Technological Pedagogical Content Knowledge, sau này được đổi tên thành TPACK (phát âm "Tee-pack") với mục đích làm cho nó dễ dàng hơn để nhớ
Mô hình này được xây dựng dựa trên mô hình của ông Lee Shulman về kiến thức chuyên môn sư phạm (PCK) và kiến thức về công nghệ(TK)
Mô hình TPACK là hình ảnh hóa các thành tố quan trọng của quá trình ứng dụng Công nghệ thông tin(CNTT) trọng hoạt động dạy và học Mô hình đưa ra cái nhìn tổng quan về 3 dạng cơ bản của kiến thức mà một GV cần có
để ứng dụng CNTT vào việc dạy học của mình: Kiến thức công nghệ (TK), Kiến thức phương pháp sư phạm (PK) và kiến thức chuyên môn (CK), cũng như mối quan hệ và tương tác giữa chúng.[19]
Trang 20b Lịch sử
TPACK không phải là một ý tưởng mới, rất nhiều các học giả khác đã lập luận rằng, kiến thức về công nghệ không phải là một bối cảnh, mà việc giảng dạy tốt đòi hỏi một sự hiểu biết xem làm thế nào để kết hợp giữa công nghệ, kiến thức chuyên môn và phương pháp sư phạm (Tpack.org)
Mô hình TPACK xây dựng trên mô tả của Lee Shulman (1987, 1986)
về PCK, mô tả làm thế nào để hiểu biết về công nghệ của GV trong giáo dục
và PCK tương tác với nhau để tạo thành một phương pháp giảng dạy ứng dụng công nghệ hiệu quả
TPACK xuất hiện trong các tài liệu nghiên cứu từ năm 1998 Mô hình TPACK là kết quả của một thí nghiệm thiết kế đã đang được tiến hành bởi các Giáo sư: Matt Koehler & Punya Mishra thuộc trường Đại học bang Michigan – Mỹ và sau này có liên quan đến nhiều người khác như Kathryn Hershey, Lisa Peruski, Aman Yadav, Kurnia Yahya, và Yong Zhao
Matthew Koehler: Tiến sĩ Matthew J Koehler là biên tập viên của tpack.org, và tác giả của hơn 20 ấn phẩm liên quan đến TPACK, bao gồm: Mishra & Koehler (2006) Công nghệ nội dung kiến thức sư phạm; Một khuôn khổ cho kiến thức GV GV trường Cao đẳng Record
c Các thành phần:
Trang 21Hình 1: Mô hình TPACK
Technological Knowledge (TK): Kiến thức công nghệ.
“Kiến thức và cách thức nhất định để làm việc với công nghệ Điều này bao gồm sự hiểu biết công nghệ thông tin một cách rộng rãi, đủ để áp dụng hiệu quả trong công việc và trong cuộc sống hàng ngày, có thể nhận ra khi công nghệ thông tin có thể giúp hoặc cản trở việc đạt được một mục tiêu, và
có thể tiếp tục thích ứng với những thay đổi trong công nghệ thông tin” (Koehler & Mishra, 2009)
Kiến thức công nghệ là kiến thức về những công nghệ tiêu chuẩn như sách, phấn viết và tấm bảng đen, cũng như nhiều kỹ thuật tiên tiến hơn như Internet và video kĩ thuật số Điều này đòi hỏi phải có những kĩ năng cần thiết
để có thể sử dụng các công nghệ đăc biệt đó
Sử dụng công nghệ kỹ thuật số thì kiến thức kĩ năng cần có là kiến thức
về hệ điều hành, phần cứng máy tính cũng như khả năng sử dụng các bộ công
cụ tiêu chuẩn của các phần mềm như xử lý văn bản, bảng tính, trình duyệt, email,…
Trang 22Kiến thức công nghiệ bao gồm kiến thức về làm thế nào để cài đặt và loại bỏ các thiết bị ngoại vi, cài đặt và gỡ bỏ các chương trình phần mềm, tạo
ra và lưu trữ các tài liệu
Pedagogical Knowledge (PK): Kiến thức phương pháp sư phạm.
"Kiến thức sâu của GV về các tiến trình thực hiện hoặc các phương pháp giảng dạy và học tập Chúng bao gồm mục đích giáo dục tổng thể, giá trị
và mục tiêu Hình thức chung của kiến thức áp dụng đối với sự hiểu biết như thế nào của HS, kỹ năng chung quản lý lớp học, lập kế hoạch bài học, và đánh giá HS" (Koehler & Mishra, 2009)
Content Knowledge (CK): Kiến thức chuyên môn.
Kiến thức của GV về các vấn đề được học hoặc giảng dạy GV phải biết và hiểu được các đối tượng mà họ giảng dạy, bao các kiến thức về các khái niệm, lý thuyết, ý tưởng, khuôn khổ tổ chức, kiến thức về chứng cứ và chứng minh Lee Shulman (1986)
GV cũng phải hiểu được bản chất của kiến thức và những yêu cầu trong các lĩnh vực khác nhau Ví dụ, làm thế nào để một chứng minh trong toán học khác nhau so với một lời giải thích trong lịch sử hoặc giải thích một tác phẩm văn học? GV không có những hiểu biết có thể xuyên tạc những đối tượng khi truyền đạt đến HS của mình (Ball, McDiarmid, 1990)
Technological Pedagogical Knowledge (TPK): Kiến thức công nghệ và
phương pháp sư phạm
"Một sự hiểu biết về cách dạy và học có thể thay đổi khi công nghệ đặc biệt được sử dụng trong những cách riêng Điều này bao gồm biết phương pháp sư phạm và sự phù hợp hay hạn chế của nó với một loạt các công cụ công nghệ có liên quan, từ đó phát triển các thiết kế sư phạm phù hợp và chiến lược "(Koehler & Mishra, 2009)
Technological Content Knowledge (TCK): Kiến thức chuyên môn và công
nghệ
Trang 23Nội dung kiến thức công nghệ đề cập đến cách sử dụng kiến thức công nghệ để có thể cung cấp được những cách thức mới trong nội dung giảng dạy.
Ví dụ, hoạt hình kỹ thuật số có thể cho sinh viên hình thành các khái niệm về cách thức các electron được chia sẻ giữa các nguyên tử khi hợp chất hóa học được hình thành
Pedagogical Content Knowledge (PCK): Kiến thức chuyên môn và phương
PCK bao gồm cốt lõi của việc giảng dạy, học tập, chương trình giảng dạy, đánh giá và báo cáo, chẳng hạn như điều kiện thúc đẩy việc học tập và các liên kết giữa các chương trình giảng dạy, đánh giá và phương pháp sư phạm“ (Koehler & Mishra, 2009)
Technological Pedagogical Content Knowledge (TPACK): Kiến thức nội
dung chuyên môn, phương pháp sư phạm và công nghệ
Công nghệ nội dung kiến thức sư phạm đề cập đến kiến thức và sự hiểu biết về sự tương tác giữa CK, PK và TK khi sử dụng công nghệ để giảng dạy
và học tập (Schmidt, Thompson, Koehler, Shin, và Mishra, 2009)
Nó bao gồm một sự hiểu biết về sự phức tạp của các mối quan hệ giữa
HS, GV, nội dung, phương pháp và công nghệ (Archambault & Crippen, 2009)
d Yêu cầu hiểu biết của GV trên cơ sở tiếp cận TPACK
Trang 24Con người là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học CNTT chỉ là công cụ hỗ trợ cho việc giảng dạy và học tập, làm chủ công nghệ và quyết định lựa chọn sử dụng công nghệ như thế nào vẫn là do con người quyết định, mà cụ thể ở đây
là thầy cô giáo, người trực tiếp ứng dụng CNTT trong việc giảng dạy Do đó,
để ứng dụng CNTT thành công vào dạy học, cần có những điều kiện về con người như có những kiến thức về công nghệ; kiến thức về phương pháp sư phạm; và vững vàng kiến thức chuyên môn kết hợp sử dụng công nghệ vào bài dạy Cụ thể hơn:
Thứ nhất, Kiến thức về công nghệ
− Biết cách giải quyết các vấn đề kỷ thuật máy tính
− Có thể học hỏi và áp dụng công nghệ dễ dàng
− Theo kịp các công nghệ mới quan trọng
− Thường xuyên sử dụng công nghệ
− Biết nhiều về các công nghệ khác nhau
− Có kỹ năng về kỹ thuật sử dụng công nghệ
− Có đủ cơ hội để làm việc với các công nghệ khác nhau
Thứ hai, Kiến thức phương pháp sư phạm
− Đánh giá việc học của HS trong lớp
− Điều chỉnh việc dạy dựa trên việc người học hiểu hay không hiểu
− Điều chỉnh cách dạy phù hợp với nhiều đối tượng người học
− Đánh giá việc học của người học theo nhiều cách
− Sử dụng nhiều cách tiếp cận dạy học khác nhau trong bối cảnh lớp học
− Biết cách tổ chức và quản lý lớp học
Thứ ba, Kiến thức chuyên môn kết hợp sử dụng công nghệ
Trang 25− Biết chọn công nghệ giúp tăng cường phương pháp dạy học và đạt được mục tiêu bài dạy.
− Biết chọn công nghệ giúp tăng cường việc học của người học
− Hiểu rõ mức ảnh hưởng của công nghệ tới các phương pháp dạy mà mình đang sử dụng
− Hoàn thiện cách sử dụng công nghệ mà mình đang sử dụng trong lớp
− Dùng công nghệ để hỗ trợ trình bày nội dung bài dạy sinh động, hấp dẫn.[19]
1.2.2.2 Ba cấp độ sử dụng CNTT trong dạy học
Dựa trên mối quan hệ và tương tác giữa 3 thành phần là “GV”; “HS”; và
“ICT”, có thể đề xuất 3 cấp độ sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học Nội dung cụ thể được thể hiện trong hình 2 dưới đây:
Hình 2: Các cấp độ sử dụng ICT trong dạy học 1
Ở cấp độ 1: Việc dạy học được thực hiện trong môi trường giáp mặt
(thể hiện GV và HS tương tác trực tiếp với nhau); GV sử dụng ICT để tìm hiểu thông tin, tài nguyên, thiết kế các nội dung hỗ trợ dạy học, cũng như để nâng cao chuyên môn và nghiệp vụ của bản thân; HS được tham gia các hoạt động do GV tổ chức với sự hỗ trợ của ICT Trong cấp độ này, HS không sử dụng ICT như là một công cụ hỗ trợ việc học tập của các em Với cấp độ này
1
Trang 26GV thường sử dụng các phương pháp như thuyết trình, đàm thoại, trực quan, trình bày nêu vấn đề.
Ở cấp độ 2: Ngoài những tương tác và ý nghĩa đã mô tả trong cấp độ 1,
HS còn sử dụng ICT như là một công cụ hỗ trợ quá trình học tập của mình Với cấp độ này, GV thường sử dụng các phương pháp dạy học như dạy học dựa trên giải quyết vấn đề, dạy học dựa trên dự án, dạy học dựa trên sự khám phá
Ở cấp độ 3: Cả GV và HS đều sử dụng ICT trong hoạt động dạy học
của mình Tuy nhiên, hoạt động dạy học được thực hiện theo phương thức không giáp mặt Cấp độ này thể hiện các hình thức học tập trong môi trường mạng (web based learning, e-learning, computer based learning) hay HS tự học với phần mềm với sự định hướng của GV Nội dung đề tài này thuộc cấp
độ 3 trong mô hình trên.[19]
1.2.2.3 Khả năng của CNTT trong dạy học
CNTT và truyền thông đã, đang và sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn cho nhiều ngành nghề khác nhau trong xã hội với những khả năng đặc biệt và độc đáo của nó Dưới góc độ giáo dục, Công nghệ thông tin và truyền thông có những vai trò nổi bật dưới đây:
a Là kho dữ liệu: Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ lưu trữ
(từ, quang…), số lượng dữ liệu được lưu trữ ngày càng lớn, đặc biệt với sự ra đời và phát triển của Internet Ngày nay, dữ liệu số đã thực sự chiếm ưu thế so với các loại dữ liệu khác Với giáo dục, các dữ liệu đó có thể tồn tại dưới các dạng như: bách khoa toàn thư, từ điển chuyên ngành, các cơ sở dữ liệu, hệ thống website, các thư viện điện tử,…Với vai trò này, người dạy và người học
có được môi trường thông tin phong phú, hỗ trợ tích cực cho phát triển chuyên môn của GV, hoạt động dạy học của cả thầy và trò, và phù hợp cho những phương pháp dạy học dựa trên sự khám phá
b Là công cụ cho đa phương tiện: Đa phương tiện đã được nghiên cứu
và sử dụng trong dạy học từ lâu Nó đã khẳng định được vai trò và ý nghĩa
Trang 27của nó trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Với công nghệ thông tin, có rất nhiều công cụ cho phép người dạy, người học dễ dàng tạo ra
đa phương tiện, chỉnh sửa đa phương tiện, và trình diễn đa phương tiện hỗ trợ các hoạt động dạy học
c Là môi trường mô phỏng: Lý luận dạy học đã khẳng định rằng, mô
phỏng là một phương pháp không thể thiếu được trong quá trình dạy học khi
mà đối tượng nghiên cứu quá phức tạp, trừu tượng, nguy hiểm, đắt tiền hay đơn giản là không thể trực quan được…Công nghệ thông tin cho phép mô phỏng các đối tượng, xây dựng các thí nghiệm, thực hành ảo sử dụng trong dạy học
d Là công cụ kết nối: Trong môi trường giáo dục hiện đại, việc học và
trao đổi thông tin giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau không bó gọn trong không gian và thời gian của lớp học mà nên được thực hiện với phương thức “mọi lúc”, “mọi nơi” Công nghệ thông tin có nhiều phương thức hỗ trợ rất tốt cho tương tác này như thư điện tử, diễn đàn thảo luận, tán ngẫu, hội thảo từ xa
e Là môi trường học tập trực tuyến: Với sự phát triển mạnh mẽ của
công nghệ thông tin, ngày càng nhiều hình thức học tập được phát triển dựa trên môi trường mạng với nền tảng sư phạm là phương pháp dạy học hợp tác, dạy học dựa trên giải quyết vấn đề, và dạy học dựa trên sự khám phá Với công nghệ thông tin, có hàng loạt các dịch vụ cho phép tạo các môi trường như vậy như groups, wiki, blog…
1.2.3 Website dạy học
1.2.3.1 Vai trò của Website trong DH
a Cung cấp thông tin về nội dung khoa học cho các môn học
Website DH là nơi lưu trữ thông tin, cập nhật kiến thưc, trình bày có hệ thống nội dung kiến thức chương trình và liên kết các nội dung liên quan nên phát huy khả năng tự học, tự tìm tòi phát hiện kiến thức mới của HS góp phần đổi mới PPDH hiện nay
Trang 28Thực tế giảng dạy ở các nước phát triển trên thế giới cho thây MVT đã vượt qua các phương tiện truyền thông như bảng đen, phim ảnh thâm nhập sâu vào một số bước của quá trình DH, những ưu thế của MVT nhờ vào khả năng tính toán nhanh chóng và chính xác, biến đổi số liệu thành đồ họa và ngược lại, khả năng tương tác giữa người sử dụng và máy tính, truyền đạt thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau.
b Cung cấp học liệu đa phương tiện
Cùng với sự phát triển rộng rãi của hệ thống đa phương tiện và mạng lưới Internet trong DH thì Website càng được phát huy hơn bao giờ hết Website không chỉ cung cấp văn bản dưới dạng đơn thuần mà còn cung cấp văn bản dưới dạng hình ảnh, âm thanh, video HS chỉ cần dùng các địa chỉ quen thuộc hoặc tìm kiếm trên Internet là có thể tìm được nội dung cần thiết, cần tham khảo để học tập, khả năng phát huy tính tự học của HS được nâng cao Thông tin được cung cấp trích từ nguồn dữ liệu phong phú từ các Website có trên mạng, qua đó người học tìm kiếm, sắp xếp, phân loại, chon lọc cho phù hợp với khẳ năng và trình độ cửa HS
Nếu tìm được thông tin thích hợp trên Website người học có thể điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển hoạt động học tập của mình, làm kích thích động cơ hứng thú học tập của HS, kích thích tìm tòi phát hiện kiến thức mới, phát huy khả năng tự học của HS, góp phần nâng cao kết quả học tập của HS Website cung cấp thông tin, hình ảnh, phim ảnh với số lượng lớn cũng như khả năng truy cập một cách nhanh chóng và có hệ thống các dữ liệu có trong nó Sử dụng Website HS có thể xem thêm được hình ảnh các hiện tượng một cách nhanh chóng, bên cạnh đó Website cung cấp những thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, những video, clip về các thí nghiệm nghi lại trong phòng thí nghiệm góp phần trực quan hóa những kiến thức mà các em được cung cấp trên lớp học, ngoài ra các em còn được quan sát kỹ hơn trong quá
Trang 29trình tự học ở nhà Nguồn kiến thức phong phú này có thể đến từ các nguồn khác nhau trên mạng Internet thông qua các Website Trực quan hóa cho phép
HS nắm được quan hệ của các đối tượng, đại lượng trong các hiện tượng, quá trình, trực quan hóa giúp HS hiểu sâu hơn về bản chất của quá trình và đặc biệt là nắm vững các khải niệm trừu tượng trong môn học
c Là môi trường thảo luận trao đổi giữa HS với nhau, giữa HS và GV
Sự tương tác giữa GV và HS, giữa HS với nhau khi học tập trên website thường thể hiện rất rõ trong quá trình dạy và học HS có thể dễ dàng nhận được sự hướng dẫn từ GV không những trên lớp mà còn tại nhà Hơn nữa trong quá trình học tập, HS tìm kiếm và cập nhật những thông tin, tài liệu liên quan đến bài học của mình, đồng thời trao đổi với nhau, chia sẻ các tài liệu với nhau cùng nhau tìm ra tri thức mới
Học tập trên Website, HS không chỉ nghe bài giảng mà còn được khuyến khích đặt những câu hỏi và đưa ra những bình luận ý kiến của mình Website
là môi trường học tập giúp HS năng động và độc lập, hình thành ý thức làm việc nhóm ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
d Là nơi thực hiện các bài tự kiểm tra – đánh giá
Dựa vào kết quả học tập của HS được cập nhật thường xuyên trong Website DH mà HS có thể điều chỉnh hoạt động học tập của mình cho thích hợp, việc điều chỉnh đó được tiến hành với nội dung, phương pháp và tiến trình học tập, dựa vào Website DH, HS có thể xác định đúng và nhanh chóng kiến thức nào cần phải ôn lại để bổ sung vào hệ thống kiến thức đã có
Các nội dung luyện tập và kiểm tra dựa trên Website DH giúp cho HS phát huy khả năng tự học ở nhà của mình, từ những nội dung có sẵn trên Web
mà HS tự ôn tập, tự kiểm tra phù hợp với trình độ của bản thân trong quá
Trang 30trình học tập, có hướng điều chỉnh quá trình học tập cho phù hợp với trình độ của bản thân trong quá trình học tập, có hướng điều chỉnh hoạt động học tập cho phù hợp với yêu cầu của bộ môn Việc tự học và tự kiểm tra nên giúp cho
HS phát huy hết khả năng của bản thân và tìm tòi thêm nhiều hơn kiếm thức mới có được từ nội dung cung cấp từ các Website cho HS [7]
1.2.3.2 Phân loại Website
a Phân loại theo dữ liệu
Web tĩnh:
Web tĩnh ở đây được hiểu theo nghĩa là dữ liệu không thay đổi thường xuyên Với dạng web này người để thay đổi nội dung trên trang web người sở hữu phải truy cập trực tiếp vào các mã lệnh để thay đổi thông tin Không có cơ sở
dữ liệu bên dưới hệ thống, không có công cụ để điều khiển nội dung gián tiếp Dạng File của web tĩnh thường là html, htm
Ưu điểm:
Web tĩnh dành cho các web có nội dung đơn giản gọn nhẹ, không có sự can thiệp của người lập trình Web, không phải xử lý những mã lệnh phức tạp vì vậy việc thiết kế đặt để các đối tượng thoải mái tự do sáng tạo của người thiết
kế nên web tĩnh thường sở hữu được một hình thức hấp dẫn và bắt mắt
b Phân loại theo đối tượng sở hữu
Trang 31Web cá nhân: các đối tượng như diễn viên, ca sĩ, người nổi tiếng, người
thiết kế đồ họa, hoặc bất kỳ cá nhân nào thích giới thiệu bản thân mình đều có thể tạo ra một website cho cá nhân mình
Web doanh nghiệp: doanh nghiệp thiết kế web với mục đích quản bá
công ty, giới thiệu các chức năng hoạt động, cập nhật những tin tức, sản phẩm mới của công ty nhằm dễ dàng tiếp cận đến khách hàng thông qua một số kênh quản bá mới là internet Tất cả các loại hình doanh nghiệp đều có nhu cầu quảng bá thương hiệu của mình vì vậy xây dựng một website cho công ty
là điều tất yếu
Web thương mại điện tử: là các dạng web cho phép bán hàng tực
tuyến, việc thanh toán có nhiều hình thức như: tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán bằng thẻ hoặc thông qua cổng thanh toán của các dịch vụ hỗ trợ Dạng web này thường tập hợp rất nhiều loại hàng hóa và chủ sở hữu trực tiếp quản
lý việc bán buôn đây giốn như dạng siêu thị bán hàng trong quầy tự chọn, ngoài ra cũng có thể là loại web mà chủ sở hữu chỉ xây dựng hệ thống web và tạo ra những gian hàng riêng để cho thuê
Web tin tức: Đây là một dạng website cung cấp thông tin chính trị, xã
hội, kinh tế, khoa học, giáo dục, sức khỏe thể loại này được phát triển trên nền tảng từ các thể loại báo giấy truyền thống
Web dành cho các tổ chức, cơ quan nhà nước: các bộ, sở, ban ngành,
hiệp hội tổ chức là đối tượng sở hữu website dạng này Đây cũng là tiếng nói
là ngôi nhà để truyền tải thông tin đến người đọc
Diễn đàn: là dạng Web tương tác với người dùng mà bất kỳ người xem
nào cũng có thể đăng ký tham gia là thành viên và được quyền đăng tải bài viết của mình và dĩ nhiên diễn đàn luôn có người kiểm soát thông tin người dùng đăng tải và có quyền can thiệp vào việc hiển thị thông tin đó hay không
Trang 32Mạng xã hội (blog): là dạng web dành cho người sử dụng được quyền
tạo cho mình một không gian riêng gồm nhiều trang độc lập, ở đây người dùng có thể đăng tải thông tin cá nhân, sở thích, viết nhật ký tại trang của mình, các thành viên trong cùng một mạng xã hội có thể kết bạn liên lạc trao đổi thông tin với nhau Các mạng xã hội nổi tiếng như yahoo, Facebook
Web giải trí: đăng tải phim ảnh, nhạc, game
c Phân loại theo sự tương tác với người dùng
Web 1.0: là web thế hệ đầu tiên, website thường chỉ một chiều thông tin
từ website đến người xem Người được ở vào thế bị động là tiếp nhận thông tin và không có sự phản hồi trực tiếp lên website
Web 2.0:
Khái niệm Web 2.0 đầu tiên được Dale Dougherty, phó chủ tịch của OReilly Media, đưa ra tại hội thảo Web 2.0 lần thứ nhất do OReilly Media và MediaLive International tổ chức vào tháng 10/2004 Dougherty không đưa ra định nghĩa mà chỉ dùng các ví dụ so sánh phân biệt Web 1.0 và Web 2.0:
"DoubleClick là Web 1.0; Google AdSense là Web 2.0 Ofoto là Web 1.0; Flickr là Web 2.0 Britannica online là Web 1.0; Wikipedia là Web 2.0 v.v " Sau đó Tim OReilly, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành OReilly Media, đã đưa ra đặc tính của Web 2.0 là “Tập hợp trí tuệ cộng đồng, phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng, phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị và giao diện ứng dụng phong phú…” [Wikipedia.org]
Trên cơ sở so sánh với web 1.0, web 2.0 được hiểu là thế hệ thứ hai trong sự phát triển của dịch vụ World Wide Web (thế hệ thứ nhất được cho là web 1.0), là sự kết hợp các khái niệm, khuynh hướng, và công nghệ tập trung vào sự hợp tác của người dùng; sự chia sẻ nội dung do người dùng tạo ra; và các mạng xã hội 2
Trang 33Hình 3: So sánh Web 1.0 và Web 2.0
Đặc điểm của Web 2.0
Lấy Internet làm nền tảng: các ứng dụng web 2.0 chạy trực tiếp trong môi
trường mạng Nghĩa là, người dùng không cần cài đặt, chỉ cần kết nối Internet
là có thể khai thác được ứng dụng web 2.0 Hiện nay, phần lớn các ứng dụng web 2.0 đều miễn phí với người sử dụng
Quản lý người dùng: web 2.0 quản lý người dùng theo tài khoản Việc xem
nội dung; bình luận về thông tin, sự kiện; hay tạo nội dung được kiểm soát thông qua việc gán quyền cho tài khoản người dùng Với đặc điểm này, các
sự kiện tham gia của người dùng, danh tính của người dùng sẽ được lưu lại, thuận lợi cho các hoạt động thống kê, giám sát, và đánh giá mức độ tham gia của người dùng
Thể hiện hợp tác và chia sẻ: web 2.0 cho phép tăng cường sự hợp tác của
người dùng trong việc thực hiện một công việc, tạo ra một sản phẩm, tăng cường góp ý và chia sẻ nội dung giữa cộng đồng người dùng Đặc điểm này cho phép thực hiện nhiều ứng dụng trong đó có sự hợp tác của nhiều người dùng cho một nhiệm vụ cụ thể nào đó mà không cần trực tiếp gặp mặt và trao đổi
Trang 34Người dùng tạo nội dung: đây là đặc điểm nổi trội của web 2.0 Theo đó, nhà
cung cấp chỉ xây dựng môi trường, chức năng của trang web Nội dung, các sản phẩm được tạo ra đều do người dùng thực hiện Đặc điểm này sẽ phát huy được trí tuệ tập thể, phát triển khả năng đóng góp, sự sáng tạo của cộng đồng trong việc công bố và phổ biến thông tin [19, Tr12]
Web 3.0: Đây sẽ là web thế hệ thứ 3, giai đoạn hiện nay dạng web này trong
thời kỳ đang hình thành và vẫn còn nhiều khái niệm chưa thống nhất Tuy nhiên nếu nói một cách đơn giản dễ hiểu thì web 3.0 sẽ có bước đột phá về băng thông kèm theo là sự phát triển mạnh mẽ về phim ảnh và truyền hình trên internet
1.2.3.3 Đặc điểm của Website dạy học
Điểm khác biệt cơ bản giữa học tập theo lớp – có GV giảng dạy (face to face) và học tập từ xa hay học qua website là: người tự học thiếu hẳn các tương tác quan trọng sau đây trong quá trình học tập:
Tương tác thầy – trò
Tương tác trò – bạn đồng hành
Tương tác trò – môi trường học tập
Website dạy học sử dụng những thành tựu trong công nghệ nhằm cố gắng tạo ra những tương tác ảo để hỗ trợ người học trong quá trình tự học.Trong các lớp học truyền thống, GV chuẩn bị bài dạy, trực tiếp giảng dạy
và đối thoại với HS, trả lời các câu hỏi của người học HS thường xuyên được trao đổi thảo luận với nhau, khuyến khích động viên lẫn nhau
Ngoài ra, HS còn thường xuyên được nắm bắt các thông tin từ nhà trường, lớp học, các tổ chức xã hội, điều này có tác dụng tích cực đến quá trình học tập Tất cả các giao tiếp trên đều được truyền tải dưới dạng truyền thông: văn bản, âm thanh, hình ảnh, video
Để tạo điều kiện thuận lợi cho người học có thể học mọi nơi, mọi lúc phù hợp với điều kiện sinh hoạt của mình, các tài liệu sử dụng trên website dạy
Trang 35học phải đạt được các yêu cầu: đơn giản, gọn nhẹ, dễ sử dụng, không đòi hỏi
hệ thống thiết bị phức tạp và đặc biệt giá thành rẻ, chi phí sử dụng thấp
Như vậy một website dạy học là tài liệu học được sử dụng thông qua các thiết bị điện tử, website dạy học này phải thay thế được các tài liệu thông thường về nội dung kiến thức đồng thời phải thay thế được giáo án giảng dạy của người GV – tức là website có thể thay người GV truyền đạt kiến thức đồng thời người học có thể phần nào tìm kiếm được các giải đáp khi có thắc mắc cần hỏi Ngoài ra website DH cần có khả năng rèn luyện tư duy và kỹ năng cho người học, có thể tạo tương tác hai chiều người – máy
1.2.3.4 Các loại hình thông tin trên website
Trong trang Web thông tin có thể được hiển thị dưới dạng kênh chữ, kênh hình và kênh tiếng Tất cả chúng sẽ tạo tổng thể cho trang Web, đồng thời gắn kết với nhau, tạo ấn tượng Các kênh thông tin phải tuân theo qui tắc chung để đảm bảo chuẩn trong thiết kế, nhằm tạo trang Web có tính tương thích cao
Quy tắc chung
− Nội dung text: số từ trong một trang 100- 500 từ
− Độ dài trang: 2 đến 4 màn hình
− Kích cỡ File không quá 50KB trên trang không có hoạt hình
− Nếu có Gif hoạt hình thì cho phép trên 500KB trên mỗi trang
− Tốc độ màn hình đầu tiên của Text và các hình xuất hiện dưới 3s
− Màu sắc trong một trang tối đa 4 màu
− Font không được quá 3Font trong cả text và đồ họa
− Độ tương phản: màu nền không được quá gần với màu của text
− Tất cả các Text và đồ họa phải đồng bộ về mặt trạng thái
Trang 36Bên cạnh đó kích thước dữ liệu là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng lưu trữ của sever cũng như tốc độ truyền và đọc dữ liệu, vì vậy mà các dữ liệu của trang Web phải có kích thước nhỏ gọn Bảng sau cho kích thước của các kiểu
dữ liệu:
Kích thước của các kênh dữ liệu trong trang Web
KIỂU DỮ LIỆU KÍCH THƯỚCVăn bản
Âm thanhHình ảnhVideo
1 trang cỡ 4KB1s cỡ 20KB – 200 KB
1 ảnh cỡ 20 KB – 9001s cỡ 0,2 – 2 MB
Định dạng tài liệu (Fomat)
a Kênh chữ
Để trình duyệt hiển thị văn bản bằng Tiếng Việt có dấu chỉ nên sử dụng Font Unicode và dạng chữ là Arial, Times New Roman để soạn thảo Với các tài liệu đã soạn thảo trước bằng các chương trình soạn thảo bình thường (MS Word) thì chúng ta nên chuyển sang File*.pdf bằng chức năng Create PDF File của chương trình Adobe Acrobat Đây là văn bản được lưu dưới dạng ảnh nên không thể sửa đổi, được các trình duyệt thể hiện rất chính xác
b Kênh hình
− Đối với ảnh sử dụng các định dạng ảnh thông thường như GIF, JPEG, BMP, có thể chỉnh sửa chuyển đổi thành dạng khác nhờ phần mềm ACD See
− Đối với video sử dụng dạng File như MPEG, Quick time
− Đối với các hoạt hình sử dụng các định dạng GIF, Flash
c Kênh âm thanh
Sử dụng các File như MP3, MP 4, WMA
Trang 371.2.3.5 Tổ chức DH thông qua Website theo định hướng dạy học tích cực
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo PP tích cực thì GV phải nỗ lực nhiều so với dạy theo PP thụ động Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp HS đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng GV chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp GV hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì HS chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, GV phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho HS PP học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công
PPDH tích cực là dạy học lấy HS làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm
là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của HS trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của GV Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì GV khó có điều kiện chăm lo cho từng HS nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo - đồng loạt" GV quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình
là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa,
cố gắng làm cho mọi HS hiểu và nhớ những điều GV giảng Cách dạy này đẻ
ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế
Trang 38chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng động của xã hội hiện đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính tích cực, chủ động của HS, thực hiện "dạy học phân hóa" quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân HS trong tập thể lớp PPDH tích cực, dạy học lấy HS làm trung tâm ra đời từ bối cảnh đó.
Trên thực tế, trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới
sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không
có PP học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế
Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy TTC chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy HS làm trung tâm không phải là một PPDH cụ thể Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả qúa trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến PP dạy và học
a Hình thức tự học
Trước sự biến đổi không ngừng của xã hội hiện tại, một trong những kỹ năng
không thể thiếu của người lao động là kỹ năng tự học Chỉ có sự nỗ lực học tập và rèn luyện không ngừng mới giúp con người thích ứng với được sự thay đổi không ngừng của xã hội
Phương pháp DH tích cực coi trọng việc rèn luyện PP tự học cho HS như một mục tiêu DH nhấn mạnh đến việc dạy phương pháp học để có thể phát triển khả năng tự học của HS trong những tiết học có người hướng dẫn và cả những lúc không có người hướng dẫn
Tổ chức cho HS tự học ở lớp
Trang 39Có hai hình thức để HS tự học trên lớp đó là để bản thân các tự học độc lập trên lớp và để HS tự học theo nhóm
Bản thân HS tự học độc lập
Với hình thức này lớp học được học trong phòng máy tính của trường, mỗi
HS được sử dụng một máy tính Khi đó nhiệm vụ của cả lớp được GV giao cho từng HS
Đặc điểm của hình thức: giúp cho HS tự tìm tòi, suy nghĩ, đòi hỏi phát huy tối đa khả năng hiểu biết của từng cá nhân HS
Tổ chức cho HS cộng tác theo từng nhóm
Một lớp được chia thành các nhóm nhỏ không quá 7 HS một nhóm, mỗi nhóm được sử dụng ít nhất một máy tính, nhiệm vụ chung của lớp được chia nhỏ cho từng nhóm, do vậy mỗi thành viên trong nhóm phải ý thức được trách nhiệm của bản thân,thành công của bản thân là thành công của cả nhóm cũng như cả lớp và ngược lại
Đặc điểm của hình thức này là GV giao nhiệm vụ cho các nhóm thông qua các định hướng gợi mở hoặc các phiếu học tập Mỗi nhóm HS sử dụng chung ít nhất một máy tính, có trách nhiệm cộng tác, học hỏi trao đổi những ý tưởng của bản thân để từ đó hoàn thành nhiệm vụ chung của cả nhóm cũng như của mỗi thành viên trong nhóm Kết quả của nhóm có tốt hay không phụ thuộc vào toàn bộ thành viên trong nhóm có hoàn thành mục tiêu học tập hay không Như vậy đặc điểm của hình thức này là vai trò bình đẳng như nhau của các thành viên trách nhiệm của mỗi cái nhân và kết quả của cả nhóm phụ thuộc vào mỗi thành viên
Giúp HS tự học ở nhà
Hình thức này chỉ áp dụng được khi trong điều kiện nhiều HS có trang bị máy tính ở nhà riêng và được sử dụng đúng mục đích khi đây là một hình thức cần được khuyến khích và khai thác sử dụng vì thời gian các em học trên
Trang 40lớp quá ít, do đó bắt buộc các em phải tự học ở ngoài phạm vi lớp học Mặt khác, hình thức này không trói buộc HS về mặc thời gian, địa điểm.
Để HS có thể tự học ở nhà mang lại hiệu quả cao vẫn cần có sự giám sát của phụ huynh, thường xuyên khích lệ để HS có tinh thần tự giác cao hơn vì trên thực tế, nhiều em có tinh thần tự giác chưa cao, sa đà vào các trò chơi không bổ ích trên máy mất nhiều thời gian
Với hình thức này giúp HS có thể tự tra cứu tài liệu trực tuyến những kiến thức liên quan đến bài học, tự do trao đổi với HS khác, những điều này khó có thể có ở phương thức học truyền thống
b Phối hợp Website với dạy học giáp mặt
Học giáp mặt là một loại hình học truyền thống, HS được GV trực tiếp tổ
chức hoạt động nhận thức nhằm đạt mục tiêu
Đặc trưng cơ bản của học giáp mặt:
− GV và HS gặp nhau trong suốt quá trình học tập
− Kế hoạch học tập được lập ra chi tiết, với nội dung cụ thể đến từng tiết học và được thực hiện thống nhất trong toàn ngành
− HS sử dụng SGK làm tài liệu học tập, GV sử dụng phương tiện kĩ thuật, máy tính để tổ chức dạy học
− Có sự liên hệ hai chiều trực tiếp giữa GV và HS, điều này giúp GV nắm bắt ngay tình huống, diễn biến xảy ra và kịp thời xử lí
− Hoạt động dạy tiến hành trong một lớp học, với cùng một mục tiêu, cùng một thời gian, song khả năng của người học khác nhau do đó khó