1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa

221 440 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nƣớc theo hƣớng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, Đảng đã xác định vai trò quan trọng của di sản văn hóa đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đƣợc đặt ra nhƣ một vấn đề quan trọng của quốc gia. Thái độ ứng xử với di sản văn hoá cũng phản ánh quan điểm, đƣờng lối, chính sách của quốc gia, dân tộc trong từng thời điểm nhất định. Chúng ta cần phải tìm hiểu sâu sắc và giới thiệu các loại hình kiến trúc truyền thống để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về những giá trị kết tinh tiềm ẩn trong tinh hoa văn hóa dân tộc của ông cha ta để lại cho hậu thế. Đây là việc làm hết sức cần thiết trong thời kỳ hiện nay, bởi bất kỳ ngƣời nào muốn bƣớc tới tƣơng lai đúng hƣớng đều phải nhìn lại quá khứ. Theo định hƣớng đó, thời gian gần đây các di tích lịch sử văn hóa nhƣ: các di chỉ khảo cổ học, các địa điểm ghi dấu chứng tích lịch sử, các công trình kiến trúc nghệ thuật v.v…đã và đang là đối tƣợng đƣợc đặc biệt quan tâm nghiên cứu, trong đó có đình làng. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đình làng - một di sản kiến trúc văn hóa tín ngƣỡng của cộng đồng làng xã Việt Nam trên nhiều phƣơng diện khác nhau. Những công trình nghiên cứu này đã và đang góp phần khẳng định giá trị văn hóa đặc sắc, độc đáo của đình làng Việt Nam, cũng trên cơ sở đó giúp chúng ta hiểu biết thêm về làng xã truyền thống, về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nghiên cứu đình làng và khai thác các giá trị của đình làng dƣới góc độ khảo cổ học lịch sử sẽ góp phần cung cấp nguồn tƣ liệu khoa học cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng Việt cổ truyền. Những ngôi đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm là những công trình có nhiều giá trị về lịch sử - văn hóa. Mặc dù những ngôi đình này đã đƣợc xếp hạng di tích cấp quốc gia, song đến nay chƣa có một công trình nghiên cứu nào toàn diện, sâu sắc từ góc độ khảo cổ học. Để khẳng định giá trị và tìm hiểu một cách có hệ thống, góp phần vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích trong giai đoạn hiện nay, tôi xin chọn đề tài: “Đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) - những giá trị lịch sử và văn hoá” là đối tƣợng để nghiên cứu của luận án này. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Luận án đặt ra bốn mục tiêu nghiên cứu nhƣ sau: - Tập hợp, hệ thống hóa tƣ liệu và kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc nghiên cứu về đình làng nói chung và đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội). - Nghiên cứu, đánh giá giá trị lịch sử và những giá trị văn hóa – nghệ thuật đƣợc biểu hiện dƣới dạng vật thể và phi vật thể của các đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm, tìm ra những đặc trƣng cơ bản của các di tích này, xác định vai trò của nó đối với cộng đồng làng xã và các vùng lân cận. - Xác định niên đại khởi dựng qua tƣ liệu và phong cách nghệ thuật. - Đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử của các ngôi đình này. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc các mục tiêu nghiên cứu đề ra, nhiệm vụ cần thực hiện là: - Khảo sát điền dã, ghi vẽ hiện trạng kiến trúc và tổng hợp các tài liệu nghiên cứu đã có để xác định và hệ thống hoá đặc điểm cơ bản của đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm. - Thống kê, khảo tả hiện trạng kiến trúc, trang trí trên kiến trúc làm cơ sở đánh giá giá trị về lịch sử, văn hoá của các đình làng thế kỷ XVII – XVII ở Gia Lâm trong đời sống xã hội, làm cơ sở cho việc thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THẾ QUÂN

ĐÌNH LÀNG THẾ KỶ XVII – XVIII Ở GIA LÂM (HÀ NỘI)

NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHẢO CỔ HỌC

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THẾ QUÂN

ĐÌNH LÀNG THẾ KỶ XVII – XVIII Ở GIA LÂM (HÀ NỘI)

NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu nêu trong luận án là trung thực; các nhận xét và kết luận đƣợc rút ra một cách tự nhiên và độc lập; những phát hiện mới trong luận án chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2016

Tác giả luận án

Bùi Thế Quân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Danh mục bản đồ, bản ảnh, bản vẽ, bảng thông kê v

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2

2.1 Mục đích nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 3

4.1 Phương pháp luận 3

4.2 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5

7 Cơ cấu của luận án 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6 1.1 Vài nét về đình làng 6

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 16

1.3 Khái niệm thường sử dụng trong luận án 29

1.4 Tiểu kết chương 1 36

Trang 5

CHƯƠNG 2

ĐÌNH LÀNG THẾ KỶ XVII – XVIII Ở GIA LÂM

38

2.1 Vài nét về vị trí địa lý và lịch sử vùng đất Gia Lâm 38

2.2 Những đình làng tiêu biểu ở Gia Lâm thế kỷ XVII – XVIII 45

2.3 Tiểu kết chương 2 94 CHƯƠNG 3

NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA ĐÌNH LÀNG Ở GIA

LÂM THẾ KỶ XVII – XVIII

97

3.1 Những đặc trưng chung của đình làng thế kỷ XVII - XVII ở

Gia Lâm

98

3.2 Đình làng ở Gia Lâm thế kỷ XVII – XVIII trong hệ thống

kiến trúc đình làng Việt Nam

104

3.3 Giá trị lịch sử và văn hóa của các ngôi đình ở Gia Lâm 135

3.4 Định hướng hoạt động đối với các di tích đình làng thế kỷ

XVII – XVIII ở Gia Lâm

147

3.5 Tiểu kết chương 3 153

KẾT LUẬN 154 TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 2.1: Kích thước cắt dọc của đại đình đình Xuân Dục

Bảng 2.2: Kích thước cắt ngang của đại đình đình Xuân Dục

Bảng 2.3: Các đề tài sử dụng trang trí đình Xuân Dục

Bảng 2.4: Kích thước cắt dọc của đại đình đình Công Đình

Bảng 2.5: Kích thước cắt ngang của đại đình đình Công Đình

Bảng 2.6: Các đề tài sử dụng trang trí đình Công Đình

Bảng 2.7: Kích thước cắt dọc của đại đình Tình Quang

Bảng 2.8: Kích thước cắt ngang của đại đình Tình Quang

Bảng 2.9: Các đề tài sử dụng trang trí đình Tình Quang

Bảng 2.10: Kích thước cắt dọc của đại đình Trân Tảo

Bảng 2.11: Kích thước cắt ngang của đại đình đình Trân Tảo

Bảng 2.12: Các đề tài sử dụng trang trí đình Trân Tảo

Bảng 2.13: Kích thước cắt dọc của đại đình Thanh Am

Bảng 2.14: Kích thước cắt ngang của đại đình Thanh Am

Bảng 2.15: Các đề tài sử dụng trang trí đình Thanh Am

Bảng 3.1: So sánh tổng số đo cắt dọc của Đại đình đình Tình Quang, Thanh

Am, Xuân Dục, Trân Tảo, Công Đình

Bảng 3.2: So sánh tổng số đo cắt ngang của Đại đình

đình Tình Quang, Thanh Am, Xuân Dục, Trân Tảo, Công Đình

Bảng 3.3: Kích thước mặt cắt dọc của Đại đình đình Tây Đằng

Bảng 3.4: Kích thước cắt dọc của đại đình đình Trân Tảo

Bảng 3.5: Kích thước cắt dọc của đại đình đình Phù Lưu

Trang 7

Bản ảnh số 2: Đình Xuân Dục (Toàn cảnh phía trước) (Tác giả)

Bản ảnh số 3: Đình Xuân Dục (Toàn cảnh phía sau) (Tác giả)

Bản ảnh số 4: Kết cấu vì nóc đình Xuân Dục (Tác giả)

Bản ảnh số 5: Trang trí trên cốn phía sau đình Xuân Dục (Đề tài: tiên múa)

(Tác giả)

Bản ảnh số 6: Trang trí trên xà nách gian đốc phía trước đình Xuân Dục (Đề

tài: vân xoắn) (Tác giả)

Bản ảnh số 7: Trang trí “Cánh gà” gian giữa phía sau đình Xuân Dục (Đề tài:

tiên cưỡi rồng) (Tác giả)

Bức ảnh số 8: Trang trí “Cánh gà” gian cạnh phía sau đình Xuân Dục (Đề tài:

tiên cưỡi rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 9: Kết cấu cốn, kẻ phía sau đình Xuân Dục (Tác giả)

Bản ảnh số 10: Trang trí đầu dư gian cạnh đình Xuân Dục (Đề tài: rồng) (Tác

Trang 8

Bản ảnh số 13: Trang trí ván gió hậu gian cạnh đình Xuân Dục (Đề tài: cá

chép hoá rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 14: Trang trí ván gió hậu gian cạnh đình Xuân Dục (Đề tài: cá

chép hoá rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 15: Trang trí ván gió hậu gian cạnh đình Xuân Dục (Đề tài: cá

chép hoá rồng chầu tiền múa) (Tác giả)

Bản ảnh số 16: Trang trí thân kẻ đình Xuân Dục (Đề tài: rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 17: Sắc phong Cảnh Trị thứ 8 (1671) đình Xuân Dục (Đề tài:

Bản ảnh số 20: Trang trí cốn gian cạnh phía sau đình Xuân Dục (Đề tài: tùng

hoá long) (Tác giả)

Bản ảnh số 21: Trang trí cốn gian giữa phía sau đình Xuân Dục (Đề tài: mai

hoá long, ban thờ) (Tác giả)

Bản ảnh số 22: Trang trí cốn gian giữa phía sau đình Xuân Dục (Đề tài: hồi

văn lá lật) (Tác giả)

Bản ảnh số 23: Chân tảng kê cột hiên phía trước đình Xuân Dục tu sửa thời

Nguyễn (Giáp Tuất niên: 1934) (Tác giả)

Bản ảnh số 24: Đình Công Đình (Toàn cảnh phía trước) (Tác giả)

Bản ảnh số 25: Đình Công Đình (Toàn cảnh phía đầu hồi) (Tác giả)

Bản ảnh số 26: Trang trí góc mái đình Công Đình (đề tài lân, lá lật, hoa

chanh) (Tác giả)

Bản ảnh số 27: Kết cấu vì nóc gian giữa đình Công Đình (Tác giả)

Bản ảnh số 28: Kết cấu cốn gian giữa phía sau đình Công Đình (Tác giả)

Trang 9

Bản ảnh số 29: Kết cấu cốn gian giữa phía trước đình Công Đình (Tác giả) Bản ảnh số 30: Lòng câu đầu gian giữa đình Công Đình (Ghi niên đại khởi

dụng năm Cảnh Trị thứ 6 (1668) (Tác giả)

Bản ảnh số 31: Trang đầu dư gian giữa đình Công Đình (Đề tài: đầu rồng)

(Tác giả)

Bản ảnh số 32: Trang trí cửa võng gian giữa đình Công Đình (Đề tài: lưỡng

long chầu hổ phù) (Tác giả)

Bản ảnh số 33: Trang trí “Cánh gà” gian giữa đình Công Đình (Đề tài: đầu

rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 34: Trang trí đầu dư, “Cánh gà” gian giữa đình Công Đình (Đề

tài: đầu rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 35: Trang trí kẻ phía sau gian cạnh đình Công Đình (Tác giả) Bản ảnh số 36: Trang trí cốn góc phía sau đình Công Đình (Tác giả)

Bản ảnh số 37: Trang trí kẻ hiên gian giữa đình Công Đình (Tác giả)

Bản ảnh số 38: Bia đá đình Công Đình (Thế kỷ XVII) (Tác giả)

Bản ảnh số 39: Bia đá “Hậu thần bi ký” đình Công Đình (Cảnh Hưng thứ 3 –

Bản ảnh số 42: Trang trí đầu dư gian cạnh đầu hồi phía trước đình Công Đình

(Đề tài: đầu rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 43: Trang trí đầu dư gian cạnh phía sau đình Công Đình(Tác giả) Bản ảnh số 44: Trang trí giếng trời đình Công Đình (Đề tài: bầu trời nhị thập

bát tú) (Tác giả)

Bản ảnh số 45: Nghi môn đình Tình Quang (Tác giả)

Trang 10

Bản ảnh số 46: Đình Tình Quang (Toàn cảnh phía trước) (Tác giả)

Bản ảnh số 47: Tả vu đình Tình Quang (Tác giả)

Bản ảnh số 48: Hữu vu đình Tình Quang (Tác giả)

Bản ảnh số 49: Trang trí đầu đao, đầu guột đình Tình Quang (Tác giả)

Bản ảnh số 50: Đình Tình Quang (Đầu hồi khi giải hạ) (Tác giả)

Bản ảnh số 51: Kết cấu cốn gian đốc đình Tình Quang (Tác giả)

Bản ảnh số 52: Trang trí đầu dư gian giữa đình Tình Quang (Đề tài: đầu rồng)

(Tác giả)

Bản ảnh số 53: Trang trí đầu dư gian đốc đình Tình Quang (Đề tài: đầu rồng

ngoảnhvào) (Tác giả)

Bản ảnh số 54: Trang trí trên cốn đình Tình Quang (Đề tài: Tiên cưỡi rồng)

(Tác giả)

Bản ảnh số 55: Trang trí dường trên cốn gian giữa đình Tình Quang (Đề tài:

đao lá, cúc) (Tác giả)

Bản ảnh số 56: Trang trí giường trên cốn gian giữa đình Tình Quang (Đề tài:

người cưỡi đầu thú) (Tác giả)

Bản ảnh số 57: Trang trí trên cốn gian giữa đình Tình Quang (Đề tài: rồng ổ)

Trang 11

Bản ảnh số 62: Trang trí trên cốn gian cạnh đình Tình Quang (Đề tài: Lân)

(Tác giả)

Bản ảnh số 63: Trang trí trên kẻ hiên gian cạnh đình Tình Quang (Đề tài:

phượng) (Tác giả)

Bản ảnh số 64: Trang trí trên kẻ hiên gian cạnh đình Tình Quang (Đề tài: đao,

vân xoắn) (Tác giả)

Bản ảnh số 65: Trang trí trên kẻ hiên gian giữa đình Tình Quang (Đề tài: trúc

hoá long) (Tác giả)

Bản ảnh số 65: Trang trí trên kẻ hiên gian cạnh đình Tình Quang (Đề tài: Lân)

(Tác giả)

Bản ảnh số 66: Lăng đá tại đình Tình Quang (Thế kỷ 18) (Tác giả)

Bản ảnh số 67: Bia đá tại đình Tình Quang (Thế kỷ 17) (Tác giả)

Bản ảnh số 68: Cổng đình Trân Tảo (Tác giả)

Bản ảnh số 69: Toàn cảnh phía trước đình đình Trân Tảo (Tác giả)

Bản ảnh số 70: Nhà Tả vu đình Trân Tảo (Tác giả)

Bản ảnh số 71: Toàn cảnh phía sau đình đình Trân Tảo (Tác giả)

Bản ảnh số 72: Kết cấu vì nóc đình Trân Tảo (Tác giả)

Bản ảnh số 73: Trang trí cốn gian giữa phía trước, mặt bên phải đình Trân

Tảo (Đề tài: Rừng thú) (Tác giả)

Bản ảnh số 74: Trang trí cốn gian giữa phía trước, mặt bên trái đình Trân Tảo

(Đề tài: “Tam đa”, Tùng, hươu, dơi (Tác giả)

Bản ảnh số 75: Trang trí cốn gian giữa phía trước, mặt nhìn vào giữa đình

Trân Tảo (Đề tài: Tiên cưỡi rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 76: Trang trí cốn gian cạnh phía sau, mặt nhìn vào giữa đình Trân

Tảo (Đề tài: Tiên múa) (Tác giả)

Bản ảnh số 77: Trang trí cốn gian cạnh phía sau, mặt bên đình Trân Tảo (Đề

tài: Rồng mây chầu mặt trời) (Tác giả)

Trang 12

Bản ảnh số 78: Trang trí cốn gian cạnh phía trước, mặt bên đình Trân Tảo (Đề

tài: Hồi văn đồ thờ) (Tác giả)

Bản ảnh số 79: Trang trí cốn gian cạnh phía trước, mặt bên đình Trân Tảo (Đề tài: Tùng, trúc, cúc) (Tác giả)

Bản ảnh số 80: Trang trí cốn gian cạnh phía sau, mặt bên đình Trân Tảo (Đề

tài: Rồng, vân xoắn) (Tác giả)

Bản ảnh số 81: Trang trí đầu dư gian giữa đình Trân Tảo (Đề tài: đầu rồng)

(Tác giả)

Bản ảnh số 82: Trang trí đầu dư gian cạnh đình Trân Tảo (Đề tài: Đầu rồng)

(Tác giả)

Bản ảnh số 83: Trang trí cốn gian giữa phía trước, mặt bên phải đình Trân

Tảo (Đề tài: Hổ vồ nai) (Tác giả)

Bản ảnh số 84: Trang trí rường cốn gian giữa phía trước, mặt nhìn vào giữa

đình Trân Tảo (Đề tài: Lân cầm rắn) (Tác giả)

Bản ảnh số 85: Trang trí rường cốn gian giữa phía trước, mặt nìn vào giữa

đình Trân Tảo (Đề tài: Trẻ vui đùa) (Tác giả)

Bản ảnh số 86: Trang trí rường cốn gian cạnh phía trước, mặt nhìn ra đình

Trân Tảo (Tác giả)

Bản ảnh số 87: Trang trí cột trụ cốn gian góc phía trước, mặt nhìn vào đình

Trân Tảo (Đề tài: Tiên cưỡi rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 88: Trang trí rường cốn gian góc phía sau, mặt nhìn vào đình Trân

Tảo (Đề tài: người và khỉ) (Tác giả)

Bản ảnh số 89: Trang trí rường cốn gian cạnh phía sau, mặt nhìn vào đình

Trân Tảo (Đề tài: sư tử hý cầu) (Tác giả)

Bản ảnh số 90: Trang trí rường cốn gian cạnh phía trước, mặt nhìn vào đình

Trân Tảo (Đề tài: sư tử) (Tác giả)

Trang 13

Bản ảnh số 91: Trang trí rường cốn gian cạnh phía sau, mặt nhìn vào đình

Trân Tảo (Đề tài: Rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 92: Trang trí ván cốn gian cạnh phía trước, mặt nhìn ra đình Trân

Tảo (Đề tài: đàn nai) (Tác giả)

Bản ảnh số 93: Trang trí nghé gian cạnh phía trước, mặt nhìn vào đình Trân

Tảo (Đề tài: Lá lật) (Tác giả)

Bản ảnh số 94: Trang trí đầu kẻ gian giữa, mặt nhìn ra đình Trân Tảo (Đề tài:

Mai hoá long) (Tác giả)

Bản ảnh số 95: Cổng đình Thanh Am (Tác giả)

Bản ảnh số 96: Toàn cảnh đầu hồi đình Thanh Am (Tác giả)

Bản ảnh số 97: Toàn cảnh đầu hồi đình Thanh Am (Tác giả)

Bản ảnh số 98: Đầu hồi đình Thanh Am (Tác giả)

Bản ảnh số 99: Kết cấu vì nóc đình Thanh Am (Tác giả)

Bản ảnh số 100: Kết cấu và trang trí cốn phía trước gian cạnh đình Thanh Am

(Đề tài: cụm vân, lá lật) (Tác giả)

Bản ảnh số 101: Trang trí cốn phía trước gian giữa đình Thanh Am (Đề tài:

rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 102: Trang trí đầu dư phía trước gian giữa đình Thanh Am (Đề

tài: đầu rồng) (Tác giả)

Bản ảnh số 103: Trang trí đầu dư phía sau gian cạnh đình Thanh Am (Đề tài:

Trang 14

Bản ảnh số 107: Trang trí đình Thanh Am cốn gian giữa phía sau bên phải,

mặt nhìn vào (Đề tài: Rồng mây) (Tác giả)

Bản ảnh số 108: Trang trí đình Thanh Am cốn gian giữa phía sau bên phải,

mặt nhìn ra (Đề tài: Trúc, cuốn thư) (Tác giả)

Bản ảnh số 109: Trang trí đình Thanh Am cốn gian giữa phía sau bên trái,

mặt nhìn vào (Đề tài: tùng, cuốn thư) (Tác giả)

Bản ảnh số 110: Trang trí đình Thanh Am cốn gian giữa phía sau trái, mặt

nhìn ra (Đề tài: cúc) (Tác giả)

Bản ảnh số 111: Dấu vết mộng sàn cột cái đình Thanh Am (Tác giả)

Bản ảnh số 112: Dấu vết mộng sàn cột quân đình Thanh Am (Tác giả)

Bản ảnh số 113: Trang trí đầu kẻ bên trái gian giữa mặt nhìn vào đình Thanh

Am (Đề tài: Ly) (Tác giả)

Bản ảnh số 114: Trang trí đầu kẻ bên phải gian giữa mặt nhìn vào đình Thanh

Am (Đề tài: Rùa cõng cuốn sách) (Tác giả)

Bản ảnh số 115: Trang trí đầu kẻ bên trái gian giữa mặt nhìn ra đình Thanh

Am (Đề tài: Rùa cõng sách) (Tác giả)

Bản ảnh số 116: Trang trí đầu kẻ bên phải gian giữa mặt ra vào đình Thanh

Am (Đề tài: Ly) (Tác giả)

Bản ảnh số 117: Trang trí đầu kẻ gian cạnh bên trái mặt nhìn vào (Tác giả) Bản ảnh số 118: Trang trí Lân trên rường vì nóc đình Thuỵ Phiêu (Đình làng

Trang 15

Bản ảnh số 122: Trang trí ván cốn vì nóc đình Lỗ Hạnh (Đề tài: tiên cưỡi

Bản ảnh số 126: Trang trí vì nách đình Thổ Hà (Đề tài: tiên cưỡi rồng, tiên

cưỡi phượng) (Đình làng vùng châu thổ Bắc Bộ, Nxb Thế giới)

Bản ảnh số 127: Trang trí “cánh gà” đình Thanh Lũng (Đề tài: rồng) (Đình

làng vùng châu thổ Bắc Bộ, Nxb Thế giới)

Bản ảnh số 128: Trang trí kẻ hiên đình Chu Quyến (Đề tài: thú) (Đình làng

vùng châu thổ Bắc Bộ, Nxb Thế giới)

Bản ảnh số 129: Trang trí rường vì nách đình Chu Quyến (Đề tài: người bám

râu rồng) (Đình làng vùng châu thổ Bắc Bộ, Nxb Thế giới)

Bản ảnh số 130: Trang trí “cánh gà” đình Dư Hàng, Hải Phòng (Đề tài: rồng)

Trang 16

Bản vẽ số 4: Mặt cắt 1-1 đình Xuân Dục (Công ty cổ phần Nguyễn An)

Bản vẽ số 5: Mặt cắt 2-2 đình Xuân Dục (Công ty cổ phần Nguyễn An)

Bản vẽ số 6: Bản vẽ mặt bằng kiến trúc đình Công Đình (Công ty cổ phần xây dựng và tôn tạo công trình văn hóa)

Bản vẽ số 7: Mặt cắt 1-1 đình Công Đình (Công ty cổ phần xây dựng và tôn tạo công trình văn hóa)

Bản vẽ số 8: Mặt cắt 2-2 đình Công Đình (Công ty cổ phần xây dựng và tôn tạo công trình văn hóa)

Bản vẽ số 9: Mặt đứng trục 1 đình Công Đình (Công ty cổ phần xây dựng và tôn tạo công trình văn hóa)

Bản vẽ số 10: Mặt đứng trục A đình Công Đình (Công ty cổ phần xây dựng

và tôn tạo công trình văn hóa)

Bản vẽ số 11: Bản vẽ mặt bằng kiến trúc đình Tình Quang (Công ty cổ phần đầu tƣ - xây dựng công trình văn hóa và đô thị)

Bản vẽ số 12: Bặt cắt A-A đình Tình Quang (Công ty cổ phần đầu tƣ - xây dựng công trình văn hóa và đô thị)

Bản vẽ số 13: Mặt cắt B-B đình Tình Quang (Công ty cổ phần đầu tƣ - xây dựng công trình văn hóa và đô thị)

Bản vẽ số 14: Bản vẽ mặt bằng kiến trúc đình Trân Tảo (Công ty cổ phần tu

bổ di tích và thiết bị văn hóa Trung ƣơng)

Bản vẽ số 15: Mặt đứng đình Trân Tảo (Công ty cổ phần tu bổ di tích và thiết

bị văn hóa Trung ƣơng)

Bản vẽ số 16: Mặt bên đình Trân Tảo (Công ty cổ phần tu bổ di tích và thiết

bị văn hóa Trung ƣơng)

Bản vẽ số 17: Chi tiết vì trục 6 đình Trân Tảo (Công ty cổ phần tu bổ di tích

và thiết bị văn hóa Trung ƣơng)

Trang 17

Bản vẽ số 18: Chi tiết vì trục C8-5 đình Trân Tảo (Công ty cổ phần tu bổ di tích và thiết bị văn hóa Trung ƣơng)

Bản vẽ số 19: Bản vẽ mặt bằng kiến trúc đình Thanh Am (Công ty cổ phần xây dựng và phục chế công trình văn hóa)

Bản vẽ số 20: Mặt đứng trục 1-16 đình Thanh Am (Công ty cổ phần xây dựng

và phục chế công trình văn hóa)

Bản vẽ số 21: Mặt đứng trục A-N đình Thanh Am (Công ty cổ phần xây dựng

và phục chế công trình văn hóa)

Bản vẽ số 22: Mặt cắt 1-1 đình Thanh Am (Công ty cổ phần xây dựng và phục chế công trình văn hóa)

Bản vẽ số 23: Mặt cắt 2-2 đình Thanh Am (Công ty cổ phần xây dựng và phục chế công trình văn hóa)

4 Bảng thống kê một số đình làng ở Gia Lâm có thông tin tƣ liệu xây dựng vào thế kỷ XVII - XVIII

Trang 18

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Văn hóa Dân tộc

Trang 19

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước theo hướng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, Đảng đã xác định vai trò quan trọng của di sản văn hóa đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc được đặt ra như một vấn đề quan trọng của quốc gia Thái độ ứng xử với di sản văn hoá cũng phản ánh quan điểm, đường lối, chính sách của quốc gia, dân tộc trong từng thời điểm nhất định Chúng ta cần phải tìm hiểu sâu sắc và giới thiệu các loại hình kiến trúc truyền thống để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về những giá trị kết tinh tiềm ẩn trong tinh hoa văn hóa dân tộc của ông cha ta để lại cho hậu thế Đây là việc làm hết sức cần thiết trong thời kỳ hiện nay, bởi bất kỳ người nào muốn bước tới tương lai đúng hướng đều phải nhìn lại quá khứ Theo định hướng đó, thời gian gần đây các di tích lịch sử văn hóa như: các di chỉ khảo cổ học, các địa điểm ghi dấu chứng tích lịch sử, các công trình kiến trúc nghệ thuật v.v…đã và đang là đối tượng được đặc biệt quan tâm nghiên cứu, trong đó có đình làng

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đình làng - một di sản kiến trúc văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng làng xã Việt Nam trên nhiều phương diện khác nhau Những công trình nghiên cứu này đã và đang góp phần khẳng định giá trị văn hóa đặc sắc, độc đáo của đình làng Việt Nam, cũng trên cơ sở đó giúp chúng ta hiểu biết thêm về làng xã truyền thống, về bản sắc văn hóa Việt Nam Nghiên cứu đình làng và khai thác các giá trị của đình làng dưới góc độ khảo cổ học lịch sử sẽ góp phần cung cấp nguồn tư liệu khoa học cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng Việt cổ truyền

Những ngôi đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm là những công trình có nhiều giá trị về lịch sử - văn hóa Mặc dù những ngôi đình này đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia, song đến nay chưa có một công trình

Trang 20

nghiên cứu nào toàn diện, sâu sắc từ góc độ khảo cổ học Để khẳng định giá trị

và tìm hiểu một cách có hệ thống, góp phần vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích trong giai đoạn hiện nay, tôi xin chọn đề tài: “Đình làng thế

kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) - những giá trị lịch sử và văn hoá” là đối tượng để nghiên cứu của luận án này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án đặt ra bốn mục tiêu nghiên cứu như sau:

- Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu và kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước nghiên cứu về đình làng nói chung và đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội)

- Nghiên cứu, đánh giá giá trị lịch sử và những giá trị văn hóa – nghệ thuật được biểu hiện dưới dạng vật thể và phi vật thể của các đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm, tìm ra những đặc trưng cơ bản của các di tích này, xác định vai trò của nó đối với cộng đồng làng xã và các vùng lân cận

- Xác định niên đại khởi dựng qua tư liệu và phong cách nghệ thuật

- Đề xuất phương hướng và giải pháp bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử của các ngôi đình này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, nhiệm vụ cần thực hiện là:

- Khảo sát điền dã, ghi vẽ hiện trạng kiến trúc và tổng hợp các tài liệu nghiên cứu đã có để xác định và hệ thống hoá đặc điểm cơ bản của đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm

- Thống kê, khảo tả hiện trạng kiến trúc, trang trí trên kiến trúc làm cơ

sở đánh giá giá trị về lịch sử, văn hoá của các đình làng thế kỷ XVII – XVII ở Gia Lâm trong đời sống xã hội, làm cơ sở cho việc thực hiện các nghiên cứu tiếp theo

Trang 21

- Thu thập những thông tin về những đình làng khác ở Gia Lâm, vùng phụ cận liên quan để so sánh sự tương đồng và khác biệt về kiến trúc và trang trí kiến trúc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tập trung nghiên cứu tổng quan và chuyên sâu về 5 đình làng tiêu biểu thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) Cụ thể là đình Xuân Dục (xã Yên Thường), đình Tình Quang (phường Giang Biên), đình Thanh Am (phường Thượng Thanh), đình Trân Tảo (xã Phú Thị), đình Công Đình (xã Đình Xuyên)

- Mở rộng đối tượng nghiên cứu đến một số đình làng khác ở Gia Lâm và phụ cận để so sánh các giá trị lịch sử, văn hóa cùng các giá trị chính trị - xã hội của các ngôi đình làng trong đời sống xã hội hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển cùng giá trị văn hóa nghệ thuật của các đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) từ khi khởi dựng cho đến nay Đặc điểm kiến trúc, hệ thống di vật trong đình làng

- Phạm vi thời gian và không gian: Tập trung khảo sát, nghiên cứu các đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm ( Hà Nội), sau đó mở rộng phạm vi nghiên cứu đối với các di tích đình làng ở khu vực phụ cận liên quan

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng

để lý giải các vấn đề thuộc lịch sử, văn hoá và quá trình hình thành, phát triển của đình làng Việt Nam và đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm

Trang 22

- Phương pháp được triển khai qua những tiếp cận đa ngành, liên ngành, trong đó chú trọng việc kết hợp giữa các tiếp cận nghiên cứu khảo cổ học, sử học, mỹ thuật học, dân tộc học, bảo tàng học, văn hóa học với ứng dụng khoa học kỹ thuật trong việc đánh giá hiện trạng, ghi vẽ kiến trúc

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

- Phương pháp tập hợp, hệ thống hóa những kết quả nghiên cứu của các tác giả, các công trình nghiên cứu có liên quan của những người đi trước

- Phương pháp Khảo cổ học truyền thống: điều tra, quan sát, tham dự, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh, phỏng vấn, nghiên cứu các tư liệu cổ, tư liệu Hán Nôm liên quan

- Phương pháp điền dã thực tiễn từ đời sống xã hội của các cộng đồng dân cư ở trong các làng xã, dòng họ nơi các di tích tồn tại và phát triển

- Phương pháp khảo cứu trực tiếp tại các đình làng thông qua các hoạt động lễ hội tín ngưỡng thường niên và các hoạt động văn hóa – xã hội đã và đang diễn ra tại các đình làng ở Gia Lâm

- Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp tư liệu

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án chính là công trình đầu tiên giới thiệu có hệ thống và đầy đủ về

5 di tích đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) dưới góc độ Khảo cổ học

- Luận án xác định tổng quan giá trị lịch sử - văn hóa của các di tích thông qua tài liệu và phong cách nghệ thuật

- Nghiên cứu toàn diện giá trị lịch sử, văn hóa của đình làng thế kỷ XVII – XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội), góp phần bổ sung và làm rõ những nghiên cứu

về đình làng thế kỷ XVII – XVIII và đình làng Việt Nam nói chung

- Kết quả nghiên cứu của luận án cũng góp một phần quan trọng trong việc xác định, đánh giá vai trò của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa nói chung,

hệ thống di tích đình làng nói riêng trong quá trình đô thị hóa, Công nghiệp

Trang 23

hóa – Hiện đại hóa đất nước ở một địa bàn quan trọng của Thủ đô, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của di tích

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Đóng góp vào lịch sử nghiên cứu về đình làng Việt Nam nói chung, đình làng ở Gia Lâm (Hà Nội) nói riêng từ góc độ kiến trúc, trang trí kiến trúc với giá trị lịch sử và văn hoá dưới góc độ khảo cổ học Thông qua việc so sánh sự tương đồng và khác biệt để thấy rõ cái riêng và cái chung của đình làng ở Gia Lâm so với các đình làng khác trong vùng và đình làng cùng niên đại thế kỷ XVII – XVIII vùng phụ cận liên quan

- Thông qua nghiên cứu khảo cổ học, luận án cung cấp thông tin đầy đủ hơn về cấu trúc, niên đại xây dựng đình làng, bước phát triển về đình làng Việt Nam và đặc biệt bổ sung vào “phần khuyết’’ ngôi đình đầu thế kỷ XVII, những ngôi đình thời Vĩnh Trị, Cảnh Trị làm cơ sở nở rộ các ngôi đình làng vào thời Chính Hòa

- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các hoạt động về bảo tồn và phát huy giá trị của chính những ngôi đình làng nói riêng và các di tích đình, đền, chùa nói chung trong điều kiện hiện nay

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung nghiên cứu của luận án được chia làm ba chương:

Trang 24

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Vài nét về đình làng

Trong các công trình kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo ở mỗi làng quê Việt Nam, đình làng có một vị trí quan trọng Đây là công trình kiến trúc tín ngưỡng chung mang đặc tính riêng Việt của mỗi cộng đồng, được xây dựng trên vị trí trang trọng, linh thiêng nhất, quy mô lớn và đảm nhận nhiều chức năng khác nhau Theo nhiều nhà nghiên cứu đình làng là công trình kiến trúc công cộng của làng xã, dùng làm nơi diễn ra các hoạt động chính trị tinh thần – văn hóa xã hội của nhân dân ở nông thôn làng xã dưới thời phong kiến Với

vị thế đó ngôi đình đã trở thành một trong những công trình có vẻ oai nghiêm nhất trong phong cảnh Việt Nam [113], và được coi là nơi hội tụ của nguồn gốc tư tưởng Việt thuần khiết [30]

1.1.1 Khái quát nguồn gốc và sự hình thành, phát triển của đình làng Việt Nam

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu, đình làng xuất hiện ở Việt Nam từ bao giờ vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp cụ thể Song, trên thực tế, đình làng hẳn đã có một bề dày lịch sử lâu đời Một trong những nguyên nhân khiến việc xác định cội nguồn của đình làng gặp nhiều khó khăn là bởi vì đến thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn chưa tìm được một di tích có đủ độ tin cậy, để xác định một cách chính xác thời điểm xuất hiện của đình làng Việt Nam

Thời điểm xuất hiện và nguồn gốc của đình làng Việt Nam đến nay vẫn

có nhiều giả thuyết khác nhau Từ “đình” xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là vào thế kỷ II – III Theo “Lục bộ tập kinh” của Khương Tăng Hội có đoạn viết: “Đêm đến ông lặng lẽ chốn đi Đi hơn trăm dặm vào nghỉ ở một ngôi đình trống Người giữ đình hỏi: “Ông là người nào” Ông trả lời:

“Tôi là người xin nghỉ nhờ” [66, tr.23] Đoạn văn trên cho biết, đình ở đây là

Trang 25

ngôi đình trạm Theo Nguyễn Văn Huyên “Cái đình ngày xưa là nhà nghỉ chân của vua khi nhà vua đi tuần thú trong vùng Ở tỉnh có hành cung để vua dừng chân nghỉ ngơi Ở các làng ven đường cũng có những ngôi nhà có chức năng như hành cung Ví dụ hành cung Lỗ Giang của vua Trần ở Thái Bình

Về sau vua ít đi tuần thú, dân làng đã sử dụng các hành cung này để thờ thần” Ông cho rằng: “Những đình hiện nay có bốn đại tự “Thánh cung vạn tuế” có nguồn gốc từ đó” Ý kiến thứ hai : dựa vào dòng chữ ghi trên kẻ của đình Phù Lưu, Bắc Ninh “ kẻ nào cho khách đi đường và bọn công thương trú ngụ (trong đình) thì xin thần linh tru diệt”, căn cứ vào đó Chu Quang Trứ cho rằng đình làng không có nguồn gốc từ đình trạm Ý kiến thứ ba cho rằng đình làng là một kiểu nhà chung, một sản phẩm của làng kiểu trung đại từ sau

Lê Sơ Thuộc ý kiến này có hai tác giả là Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thượng Ý kiến thứ tư của L.Bezacier cho đình làng Việt Nam là một trong những vết tích của người Anh-đô-nê-diêng xưa kia cư trú ở miền Đông Nam

Á, về sau có một số ảnh hưởng của Trung Hoa ghép thêm vào Tất cả các ý kiến nêu trên, Hà Văn Tấn cho rằng: “Mặc dù còn thiếu chứng cứ, ta tin rằng đình – ngôi nhà chung của làng xã đã xuất hiện từ lâu đời, nếu không phải là thời tiền sử thì cũng là thời sơ sử của dân tộc Tất nhiên thời đó chưa được gọi

là đình, một từ vay mượn của Trung Hoa”[66, tr.31]

Tài liệu lịch sử cho biết vào thời nhà Đinh – thế kỷ X, ở kinh đô Hoa

Lư đã có dựng đình cho sứ thần nghỉ chân trước khi vào chầu Sau này được gọi là dịch đình Đình cho người đi đường nghỉ chân gọi là đình trạm, xuất hiện ở thế kỷ XIII [13, tr.87]

Trên thực tế ở châu thổ Bắc Bộ còn tồn tại Quán đình Quán đình thường lợi dụng dưới gốc cây cổ thụ giữa cánh đồng, hoặc ở đầu làng, người

ta dựng một ngôi nhà bằng tranh tre nứa lá hoặc xây bằng gạch đơn sơ để làm

Trang 26

chỗ cho trẻ chăn trâu và người đi làm đồng về dừng chân nghỉ ngơi Những quán đình nêu trên chắc chắn không phải là nguồn gốc của đình làng

Theo nhiều sử liệu, đình làng ra đời từ nhu cầu quản lý hành chính của triều đình đối với đơn vị hành chính làng với sự gia nhập của vị Thành Hoàng vào công trình kiến trúc công cộng Bia ký của đình Quảng Văn ở Kinh đô Thăng Long có ghi rằng: “Nay nhà vua lo chính sự nhiều, thần dân đông, không thể bảo tận mặt, nói tận tai được, nên mới gọi thợ vẽ kiểu, dùng tài ông Thuỳ, khéo ông Thâu, xây dựng lên ngôi đình ở cửa Đại Hưng” [12, tr.7] Nội dung văn bia nói lên ý nghĩa thực tiễn của ngôi đình trong việc công bố chính lệnh của nhà nước đương thời Và, về mặt nào đó cũng phản ánh được việc sáng tạo ra một kiến trúc mới Tạm có thể cho rằng, đây là tiền đề của ngôi đình làng về sau

Bia đình Thanh Hà (Hà Nội), vốn xưa thuộc làng Thanh Hà cổ, nay thuộc phố Ngõ Gạch, quận Hoàn Kiếm Bia đề năm Thuận Thiên thứ 3 (1433) được coi là tấm bia cổ nhất ghi chép về ngôi đình Các cứ liệu trên cho phép ta khẳng định đình làng đã có mặt từ thời Lê Sơ, đầu thế kỷ XV Điều này hoàn toàn phù hợp với bối cảnh xã hội thời đó, khi nhà Lê, với chính sách quân điền (1429) và chính sách lộc điền (1477) đã đẩy mạnh quá trình tan rã của chế độ thái ấp, điền trang thời Lý - Trần; đồng thời bắt đầu sử dụng Nho giáo làm hệ

tư tưởng chính thống Với cơ cấu tổ chức xã hội kiểu phụ quyền (trong đó, quốc gia là một đại gia đình, nhà vua đứng đầu quốc gia như một người “cha” chung), các tổ chức xã hội địa phương như làng, xã đều có một người đứng đầu Và để khẳng định vai trò quyền lực tập trung của nhà vua cũng như của chính quyền trung ương (tức triều đình), cần phải có những dạng kiến trúc như đình làng, đảm nhiệm chức năng trụ sở của chính quyền để ban bố chính lệnh của triều đình Như vậy đình làng có thể xuất hiện vào thế kỷ XV và trước đó, những đình làng hiện biết có niên đại thế kỷ XVI : đình Tây Đằng thuộc xã

Trang 27

Tây Đằng, thị trấn Quốc Oai được dựng vào thế kỷ XVI, trên một đầu cột có dòng chữ Hán “Quý Mùi niên tạo” Nhiều người cho rằng đình dựng năm

1583 Đình Thụy Phiêu ở thôn Thụy Phiêu, xã Thụy An, Ba Vì, Hà Nội Đình

có niên đại tuyệt đối, niên hiệu Đại Chính của Mạc Thái Tông (1530 – 1540) Đình Lỗ Hạnh ở thôn Lỗ, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Đình

có niên đại Sùng Khang của Mạc Mậu Hợp năm thứ 11 (1576) Đình La Phù, tên nôm là đình Là, thuộc thôn La Uyên, xã Tân Minh, huyện Thường Tín, Hà Nội Niên hiệu Diên Thành thứ 4 của Mạc Mậu Hợp (1581) Dựa vào tài liệu

bi ký còn biết thêm: Đình Đại Đoan xã Đoan Bái, huyện Gia Lương, Bắc Ninh dựng năm Quý Tỵ, niên hiệu Diên Thành của Mạc Mậu Hợp (1583) Đình Trường Hoài huyện Thái Thụy, Thái Bình dựng năm Diên Thành thứ 8 (1585) Đình Nghênh Phúc, xã Lam Cầu, huyện Gia Lộc, Hải Dương dựng năm Hưng Trị thứ 4 của Mạc Mậu Hợp (1591) Đến thế kỷ XVII, đình làng mọc lên khắp nơi Có thể nói thế kỷ XVII là thế kỷ của đình làng

- Đình là nơi thờ các vị Thành Hoàng Thành Hoàng có thể là nhân thần như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Quang Trung v.v Có đình thờ người góp phân như ở Đồng Kỵ

- Đình là nơi họp làng để tổ chức lễ hội, trung tâm cố kết các thành viên trong một cộng đồng làng xã

- Về sau đình làng là một trung tâm chính trị, một trụ sở hành chính để định sưu thuế, bắt phu, bắt lính

- Đến thời kỳ Cách mạng nhiều đình trở thành một nơi họp bí mật của Đảng như “ Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”

1.1.2 Chức năng và vai trò của đình làng trong đời sống văn hoá Việt Nam

Đình làng là một thiết chế văn hóa – tín ngưỡng tổng hợp, có ba chức năng cơ bản: Hành chính, văn hóa, tín ngưỡng Ba chức năng đan xen, hòa

Trang 28

quyện với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất tạo nên nền tảng văn hóa của mỗi cộng đồng cư dân

Làng quê Việt trước đây là những công xã nông thôn, nay đã trở thành những đơn vị hành chính cơ sở truyền thống Tổ chức nhà nước được củng cố chặt chẽ theo hướng quy mô hơn Với việc xác lập lại hệ thống hành chính theo mô hình nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, thì phần nào đình làng đã được Nho giáo hoá để trở thành nơi thờ cúng Thành hoàng làng, vị vua tinh thần, thần hộ mệnh của làng “Thành hoàng” vốn du nhập từ Trung Quốc với vai trò là vị thần bảo vệ thành lũy Tuy nhiên, tới Việt Nam, từ này lại mang ý nghĩa khác Thành Hoàng làng là “vị thần cai quản, che chở, định đoạt phúc hoạ cho một cộng đồng người sống trong một đơn vị hành chính” [34, tr.69] Mỗi làng, với tư cách là một đơn vị hành chính, thường thờ một đến hai vị Thành hoàng, nhưng cũng có một số ngôi đình do đặc điểm lịch sử của địa phương nên thờ nhiều vị Thành hoàng, như đình Thổ Khối (Gia Lâm) thờ sáu vị là: Linh Lang, Cao Sơn, Bố Cái, Bạch Đa, Dị Mệ, Đào Đại vương Các vị Thành hoàng làng được thờ trong đình đều phải được sự công nhận của nhà nước, phải được nhà vua phong tước vị Như vậy, việc phong tước vị cho các thần để họ trở thành Thành hoàng làng cùng với sự xuất hiện của các ngôi đình làng và nhà nước phong kiến đã chính thức hoá việc thờ cúng các vị thần này ở các vùng quê của người Việt Triều đình thực hiện việc “sắc

phong” cho Thành hoàng bao giờ cũng kèm theo thần phả, ghi lại “lý lịch”,

công tích của thần đối với làng xã Bản thần phả được đọc một cách trang nghiêm, kính cẩn tại lễ tế thần ở đình, không chỉ cho thấy uy lực linh thiêng của vị thần được thờ, nó còn chứng tỏ uy quyền của Nhà vua, của chính quyền trung ương đối với cộng đồng làng Cũng thông qua việc chính thức hoá vị Thành hoàng như là người đại diện của nhà nước, chính quyền phong kiến đã thống trị người dân về mặt thần quyền của triều đình Với những ý nghĩa đó, ta có thể xem làng xã như là một đơn vị trung gian giữa quốc gia và

Trang 29

gia đình Vì vậy, làng có tính độc lập tự chủ tương đối Bởi thế, dân gian mới

có câu: “Phép vua thua lệ làng”; Hay “Trống làng nào làng ấy đánh; Thánh làng nào làng ấy thờ”

Các vị thần được thờ ở đình đều được gọi chung là Thành hoàng làng

và đều có cội nguồn từ tín ngưỡng dân gian người Việt Thành hoàng làng có thể là một nhân vật trong lịch sử, hay là một nhân vật hư cấu, như thần sông, thần nước, thần biển, thần mưa, thần gió, thần mây, thần đất, thần đá, thần núi…

Một trong những nét văn hoá đặc thù của vùng Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng là tục thờ cúng tổ tiên Một dạng thức thờ cúng nhân thần đầu tiên, đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định đã xuất hiện từ thời tiền sử, bên cạnh hệ thống các nhiên thần Vì vậy, việc thờ cúng tổ tiên, cộng đồng dòng họ đã là một hành vi, tập quán nằm sâu trong tâm thức của mỗi con người Việt Nó đã xuất hiện và tồn tại trong đời sống tinh thần và xã hội của các cộng đồng làng từ xa xưa, trước khi có sự xuất hiện của các vị Thành hoàng làng Do đó, những vị Thành hoàng làng được thờ ở đình làng sau này có thể coi là những “tổ tiên” của họ, sau khi đã được khắc hoạ thêm những đường nét linh thiêng và huyền bí Người Việt tin rằng, mọi sự việc trong đời sống hàng ngày đều phụ thuộc vào sự giúp đỡ của các vị tổ tiên; mọi họa, phúc của cá nhân hay cộng đồng đều được giải thích như là một hậu quả tất yếu về sự trừng phạt hay ban ơn của các vị thần

Như vậy, Thành hoàng làng ra đời trên cơ sở kết hợp cả tín ngưỡng thờ cúng nhiên thần và nhân thần, vốn là những tín ngưỡng bản địa nguyên thủy của người Việt Nhưng dù được hiện diện trong diện mạo nào, thì cũng là sản phẩm của tinh thần, thể hiện sự mong ước mà cả cộng đồng làng hướng tới

Vì vậy, việc thờ cúng Thành hoàng làng bao giờ cũng là sự kiện trọng đại và

vô cùng linh thiêng đối với mọi người dân làng, được thể hiện qua những nghi

Trang 30

lễ, hành vi được thực hiện ở các buổi tế lễ thần; cũng như qua việc chọn vị trí xây cất ngôi đình… Trong những lần cúng tế Thành hoàng, mỗi người dân đều ý thức mình là một thành viên, một nhân tố trong cộng đồng làng, mà ở đó, mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng gắn bó mật thiết với nhau Phẩm chất này, qua thời gian đã in sâu vào tâm thức của mỗi con người và có một vị thế vững chắc trong cộng đồng làng của người Việt Như vậy, với những hoạt động thờ cúng diễn ra thường xuyên, đình làng không đơn thuần chỉ là nơi thờ Thành hoàng làng, mà còn trở thành biểu tượng tâm linh của cả cộng đồng làng

Ngoài chức năng thờ và cúng tế Thành hoàng làng, với tư cách là một

cơ sở hành chính của chính quyền phong kiến, đình làng còn là nơi để triều đình ban bố các sắc lệnh xuống toàn thể người dân trong làng, là nơi họp bàn những vấn đề hành chính có tính nội bộ của làng (như chia ruộng công; phân

bổ thuế khoá; sưu dịch; quyên góp tiền của xây dựng các công trình công cộng cho làng cũng như để cúng tế Thành hoàng…); là nơi xử án, phạt vạ những người dân vi phạm lệ làng; nơi diễn ra các hoạt động vui chơi trong các dịp hội làng sau lễ tế Thành hoàng.v.v

Hệ thống trật tự, đẳng thứ được xác lập rất rõ ràng trong việc tổ chức thờ cúng Thành hoàng Nguyên tắc trật tự tôn ti, đẳng thứ phụ quyền theo lối gia đình mở rộng của Nho giáo đã thể hiện đậm nét trong ngôi đình Đó là một chế độ đẳng cấp, mà quyền lực và uy tín, các mối quan hệ giữa các cá nhân, vị thế và vai trò, cách ứng xử, sự phân công lao động và các nghĩa vụ… được xác định theo giới tính, tuổi tác, chức sắc và thứ hạng Thông qua những vị trí đã được xác định khá cụ thể cho mỗi thành viên tham dự lễ thờ cúng Thành hoàng, tại ngôi đình làng, người ta cũng có thể nhận biết vị trí của họ trong xã hội làng xã trên tinh thần của thể chế Nho giáo Trật tự này còn được biểu thị rất rõ ở các đám rước thần…

Trang 31

Đám rước, dù thuộc dạng nào, đều được phân thành nhiều bộ phận, mỗi

bộ phận phụ trách một thể loại nghi trượng, hay thủ một thể loại vai có liên quan đến chi tiết được dựng lại Mà mỗi bộ phận như thế lại gồm trai tráng của một giáp Trong khi đó, các vị chức sắc, dù đã từng là vị thành niên của giáp nào, đều tập trung với nhau, đi theo kiệu, kẻ trước, người sau, tuỳ theo thứ tự phẩm trật [34, tr.127]

Như vậy, ngôi đình làng với trật tự tôn ti đẳng cấp trong lễ tế đã phản ánh rõ nét những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo ở làng quê, một đơn vị hành chính của nhà nước phong kiến Mặt khác, do Thành hoàng là hiện thân cho những khát vọng, mong ước của cả cộng đồng làng, đồng thời là nhân tố quyết định sự thưởng phạt trong cộng đồng, nên sự hiện diện của thần ở ngôi đình làng cũng mang ý nghĩa như là sự chỉ dẫn về phép tắc cư xử và đạo lý chung cho mọi người dân trong làng Với việc thực hiện các hành vi mang tính biểu tượng hóa trong “giao tiếp” với Thành hoàng, ngôi đình đã trở thành nơi truyền thụ những giá trị, chuẩn mực, phép tắc ứng xử chung của làng Trật

tự và hiệu quả xã hội của làng theo hệ tư tưởng Nho giáo, nhờ đó đã được đảm bảo

Thành hoàng “là hiện thân của cái quyền lực cao thiêng bắt nguồn và tiếp thu sức mạnh từ bản thân xã hội ( ), là sợi dây liên kết mọi thành viên của làng xã lại thành một khối, một thứ nhân cách tinh thần mà mọi thuộc tính chủ yếu đều thấy có ở mỗi cá nhân” [34, tr 135] Song hành với việc phổ biến, giáo dục những quy tắc, chuẩn mực chung của xã hội, ngôi đình còn là nơi xử án, xử tội những người đã vi phạm lệ làng; đồng thời cũng là nơi hòa giải bất đồng trong nội bộ Thành hoàng đã trở thành người “chứng giám” tối thượng, và ngôi đình đã được coi như một “pháp đình” Ta còn có thể chứng kiến ở đình những cuộc xét xử tranh chấp, hòa giải những xích mích xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của làng, do các viên kỳ mục làm chủ toạ “Việc phát thệ dù

Trang 32

đơn giản hay có tính chất pháp lý thì vẫn là một sự kiện tôn giáo được tiến hành trước bàn thờ thần, và sau khi tuyên thệ thì việc tranh chấp coi như chấm dứt” [34, tr 137]

Mặc dù ngôi đình không tiến hành việc rửa tội cho các thành viên của làng như ở những nhà thờ Thiên chúa giáo, nhưng khi giao cảm với thần trước bàn thờ, mỗi người đều có thể tìm lại sự giải đáp và tái khẳng định việc làm và ứng xử của mình Xét trên phương diện này, ngôi đình cũng là nơi để các thành viên trong làng có thể tự điều chỉnh các hành vi, việc làm của cá nhân cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, giá trị của xã hội

Ngôi đình còn là nơi công nhận hôn thú cho các cặp trai gái trong làng

cả về mặt pháp lý (tục lệ làng) và tín ngưỡng (được Thành hoàng làng chứng giám, bảo trợ) Theo lệ tục của các làng người Việt xưa, chú rể phải “nộp cheo”, giống như một thứ thuế hay phí hôn nhân, tại đình Nếu chú rể kết hôn với người cùng làng, thì nộp cheo ít hơn là khi kết hôn với người khác làng Chỉ khi cheo nộp là tiền hay hiện vật được đặt lên bàn thờ Thành hoàng ở đình, cùng các lễ vật thờ cúng, thì đôi trai gái mới nhận được sự chuẩn y, được Thành hoàng bảo trợ và được chính quyền làng xã cho phép như là một vật chứng về tính hợp pháp cho cuộc hôn nhân của họ Cũng bởi vậy mà dân gian thường lưu truyền:

Có cưới mà chẳng có cheo Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài

Trong những sinh hoạt của cộng đồng làng, tính lễ giáo cũng được quy định rất nghiêm ngặt Một người đàn ông trong làng đã đủ tiêu chuẩn lên lão (tức 50 tuổi) nhưng nếu không làm lễ khao vọng, tức không mang lễ vật lên đình, báo cáo với Thành hoàng, thì anh ta mãi cũng chỉ là bạch đinh Hay như một người đã thi đỗ trạng, nhưng không về làm lễ khao vọng (Khao làng, vọng thần) “vinh qui bái tổ” với Thành hoàng làng thì anh ta cũng không

Trang 33

được sự công nhận của cả làng Có thể thấy, mọi sự chuyển đổi vị thế xã hội của các thành viên trong làng chỉ có giá trị khi được sự chứng nhận của Thành hoàng làng

Ngoài những chức năng đã nêu, đình làng còn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa văn nghệ, vui chơi giải trí…được gọi là “hội hè đình đám” của người dân Hội hè, với vô số trò chơi, cùng với các loại hình văn nghệ dân gian, nhằm tạo không khí vui vẻ, sảng khoái sau những tháng ngày làm việc vất vả Với người nông dân xưa, hội hè là dịp duy nhất để họ có thể quên đi cuộc sống đầy lo toan, là dịp để họ vươn tới một đời sống văn hóa tinh thần cao hơn; đồng thời, đó cũng là dịp để mọi năng lực sáng tạo tiềm ẩn trong mỗi con người có điều kiện thể hiện và thăng hoa

Do đều được tiến hành bởi các nhóm xã hội của cả cộng đồng, nên ngoài giải trí, các hoạt động vui chơi, văn nghệ còn củng cố, tăng cường và làm bền chặt hơn những mối liên hệ giữa các thành viên trong làng Mọi người trong làng càng thêm gắn bó, thân thiện với nhau hơn Vào những dịp hội hè bao giờ cũng đi kèm với những bữa cỗ “đình đám” Ở đó, mọi đàn ông

đã thành niên của làng đều được tham dự theo hệ thống phân định ngôi thứ đã được ấn định chặt chẽ và được chia phần Với những bữa ăn ấy, mỗi người dân làng chẳng những ý thức sâu sắc về cội nguồn chung của mình (có chung một vị thần thành hoàng - một người cha tinh thần) mà còn ý thức được vị trí, cũng như nghĩa vụ và trách nhiệm của họ đối với cộng đồng làng

Với những chức năng như đã nêu trên, đình làng thực sự đã trở thành một biểu tượng có ý nghĩa đặc biệt: nơi thể hiện đậm nét những đặc điểm mang tính truyền thống của cả cộng đồng làng: Nơi ngự trị của vị thần bảo trợ của mỗi làng xã, là trung tâm đời sống cộng đồng của làng, đây là nơi các kỳ hào hội họp, nơi bàn định những vấn đề hành chính và tư pháp thuộc nội bộ

Trang 34

làng xã; nơi tiến hành những nghi lễ tôn giáo, nói tóm lại là nơi thực hiện tất

cả những sự kiện của đời sống xã hội làng [12, tr.7]

Sự xuất hiện của đình làng và mở rộng về chức năng cho ta thấy, đình làng ra đời từ nhu cầu phát triển của xã hội người Việt Đình làng phát triển

và biến đổi theo sự phát triển chung của lịch sử, xã hội Điều này sẽ càng sáng

tỏ hơn khi chúng ta tìm hiểu quy mô kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc trang trí của ngôi đình làng

Từ những vấn đề nêu trên, tựu chung lại đình làng có ba chức năng cơ bản, đó là:

- Chức năng tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của cộng đồng làng xã

- Chức năng là trung tâm hành chính của chính quyền làng xã thời phong kiến

- Chức năng là trung tâm văn hóa làng của làng xã

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong khoảng một thế kỷ qua, nghiên cứu về đình làng và những giá trị tiêu biểu của loại hình kiến trúc này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, những kết quả nghiên cứu đã được xuất bản thành sách hoặc đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Nghiên cứu về đình làng trước năm 1954

Dưới thời Pháp thuộc, có một số học giả phương Tây, điển hình là P.Giran, Clayes J.Y, P.Gourou Về phía Việt Nam có Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Bá Lăng, Nguyễn Văn Khoan

Trước năm 1954, đình làng ít được quan tâm nghiên cứu Một số học giả nêu trên, nghiên cứu về đình làng chỉ tập trung vào hai lĩnh vực: tín ngưỡng và kiến trúc nghệ thuật Kết quả mới chỉ dừng lại nghiên cứu cơ bản

1.2.2 Nghiên cứu về đình làng từ năm 1954 đến nay

Từ sau cách mạng tháng Tám (1945), nghiên cứu đình càng được quan tâm nhiều hơn Đặc biệt sau năm 1954 nhiều cán bộ khoa học mới đã đi sâu hơn về đình làng, song chủ yếu chỉ dừng lại ở mô tả Tới tận những năm 60

Trang 35

của thế kỷ XX, lực lượng nghiên cứu mới đã phát triển mạnh, bên cạnh ngành Khảo cổ học, ngành Bảo tồn Bảo tàng thì với sự vươn lên của các ngành có liên quan, nhất là một hệ thống chân rết ở địa phương được hình thành, đã cho chúng ta thấy rõ hơn về thực chất và thực trạng của kiến trúc đình làng

1.2.2.1 Nghiên cứu về đình làng dưới góc độ kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc

Trong giáo trình của kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh của trường Đại học Kiến trúc, ông cho rằng, các kiến trúc sư dựng đình là những bậc thầy của Khoa kiến trúc đô thị [64]

Trước năm 1975, ở miền Nam giới nghiên cứu đình làng có Nguyễn Đăng Thục, người khởi xướng thuật ngữ “Văn hoá đình làng” để chỉ văn hoá Việt Nam thời quân chủ cho rằng cái đình và cái chùa là một trong những kiến trúc có ý nghĩa nhất ở Bắc Việt [72]

Năm 1972, có một cuộc trưng bày các tác phẩm “Điêu khắc gỗ dân gian Việt Nam” hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung và các nhà nghiên cứu trẻ đã giới thiệu 91 bản tuyển chọn từ 32 di tích – trong đó có 12 đình làng, góp phần nhận định được phong cách “Nghệ thuật đình làng” qua các thời đại [20]

Cuốn Về tính dân tộc của nghệ thuật tạo hình (1973),do Trần Đình Thọ

(chủ biên) và nhóm tác giả tập hợp nhiều bài viết về tính dân tộc trong các tác phẩm nghệ thuật tạo hình Có nhiều bài đề cập tới chạm khắc đình làng nhìn

từ góc độ văn hóa Các tác giả cho rằng, các chủ đề thể hiện trong những công trình kiến trúc đình, đền, chùa đều mang hình tượng thực sự của hiện thực…

Nó là hình tượng của một cảnh sinh hoạt cụ thể, nhưng lại mang tinh thần của thời đại [71]

Bài viết “Điêu khắc đình làng” trong Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3 (1984), tác giả Trương Duy Bích đã nhận định, sự phát triển của phù điêu

đình làng không chỉ đơn thuần nhằm giải quyết trang trí, làm giảm nhẹ cảm

Trang 36

giác nặng nề của các cấu kiện kiến trúc mà đã làm bật lên một tiếng nói mới Tiếng nói của tâm tư, tình cảm người lao động; về những suy nghĩ, nguyện ước của cuộc đời thường, bằng âm điệu tươi mát, mộc mạc, như cỏ hoa nói lời của đất [5]

Cuốn sách Về tính dân tộc của nghệ thuật tạo hình (1989), gồm nhiều

bài viết về tính dân tộc trong các tác phẩm nghệ thuật tạo hình Ngoài góc độ văn hóa, nhiều bài viết đã đề cập tới những giá trị nghệ thuật của chạm khắc đình làng thông qua cách thức thể hiện Hình chạm không cầu kỳ, không tỉa gọt tỉ mỉ, nhưng đầy sức sống, có sức thu hút mọi người mạnh mẽ “Tâm hồn Việt Nam” mà các nghệ sĩ xưa có được đã truyền đọng trong từng nhát đục và thớ gỗ khiến tác phẩm của họ mang màu sắc dân tộc rõ nét [71]

Trong cuốn sách Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt (1993), tác giả Trần Lâm Biền đã đi sâu phân tích về hình

tượng con người trong các loại hình nghệ thuật truyền thống, trong đó có nghệ thuật chạm khắc đình làng Việt Tác giả khẳng định, chạm khắc đình làng phát triển rực rỡ nhất là vào TK.XVII, gắn liền với các đề tài về con người và những cảnh sinh hoạt thường nhật, chứ ít thấy các đề tài về vua quan phong kiến Tìm hiểu những bức chạm khắc đó, chúng ta đều có cảm giác chúng như tái hiện diện mạo xã hội đương thời Tác giả đã chỉ ra một số đề tài thường thấy trên các chạm khắc đình làng thời kỳ đó như: vũ nữ thiên thần, cảnh đấu

võ (đấu vật, đấu khiên, cưỡi ngựa đấu giáo…), săn đấu với thú dữ, chèo thuyền, chọi gà, các trò vui ngày hội (chơi cờ, hát cửa đình, đá cầu, uống rượu), cảnh múa nhạc Nhưng nổi bật hơn cả là cảnh trai gái tình tự, đàn bà khỏa thân Qua việc miêu tả một số mảng chạm về đề tài này trên các đình, tác giả nhấn mạnh: Những hình ảnh như nêu trên thực ra không phải để nói về hiện tượng dâm bôn hay một hình thức đả phá trực tiếp vào đạo đức Nho giáo (…) Chúng ta nghĩ tới những điều cầu mong phồn thực cho hạnh phúc của cư

Trang 37

dân nông nghiệp nước ta Người đàn bà với các bộ phận sinh nở và nuôi dưỡng được thể hiện sung mãn, như chứa đựng ở trong đó một nguồn của cải bất tận Tuy nhiên, bởi ý nghĩa của các hình ảnh được bảo lưu một cách vô thức, và thời gian đã làm phai mờ dần tính chất linh thiêng của buổi khởi nguyên để nghệ nhân tạo nên nhiều nét dí dỏm [7]

Cũng cùng chung quan điểm này, tác giả Trần Lâm trong cuốn Mỹ thuật thời Mạc (1993), đã đưa ra và phân tích về các đặc điểm của trang trí thời Mạc

trên một số ngôi đình Đó chính là những hoạt cảnh người, thể hiện rất rõ tính chất dân dã: đồng thời đề tài này như nét khởi đầu cho sự phát triển rầm rộ của nghệ thuật tạo hình nhiều nét dân gian cuối TK.XVII [8]

Nguyễn Duy Hinh trong cuốn Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (1996), bên cạnh việc nêu lên nguồn gốc, ý nghĩa, sự tích cũng như hình thức

thờ cúng Thành hoàng làng tại các ngôi đình Việt, đã đưa ra một số nhận định

về nghệ thuật chạm khắc đình làng Theo tác giả, các mảng trang trí đình vốn là một hệ thống tranh liên hoàn có nội dung tổng thể rõ ràng và phân thành từng cảnh riêng biệt nhau Tuy nhiên, thời gian đã làm hủy hoại, thay đổi khá nhiều diện mạo chạm khắc của đình làng, khiến giờ ngôi đình làng chỉ còn những mảng còn lọt lại rời rạc, từng cảnh nhỏ trở nên khó hiểu và lạc ý ban đầu Mặc

dù vậy, chạm khắc đình làng vẫn mang nhiều ý nghĩa, đặc biệt là về mỹ thuật [34]

Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân trong cuốn Tiếp xúc với nghệ thuật (1997), qua bài nghiên cứu “Điêu khắc đình làng” đã viết một cách rất sâu sắc

về nền nghệ thuật điêu khắc đình làng Theo đó, ông nhận định về loại hình nghệ thuật này dưới góc độ văn hóa, là sự tiếp nối nền mỹ thuật truyền thống của dân tộc, có đủ mặt những đóng góp hàng dọc của nghệ thuật Lý, Trần, Mạc Điều đó chứng tỏ sự phát triển liên tục của một dòng nghệ thuật Tác giả cũng khẳng định, nghệ thuật điêu khắc đình làng mang tính truyền thống,

Trang 38

có kế thừa và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử, đó chính là biểu hiện của

sự tiếp diễn văn hóa, của mạch nguồn văn hóa dân tộc tuôn chảy qua nhiều thời kỳ Căn cứ vào cấu trúc tạo hình, vào cách dựng đường viền cởi mở, cách dàn bố cục từ nhiều điểm mắt, dụng ý vứt bỏ đăng đối để diễn bằng những nhịp lệch, lối tạo đường hình chuyển động, phương pháp vạc những mặt khối thô dỡ, xếp các lớp ra vào đường đột, dùng tầm sâu để tả tầm rộng, làm cho không gian của những bức phù điêu được mở ra nhiều chiều [100]

Họa sĩ Ngô Quang Nam trong bài viết Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam thuộc cuốn Hỏi và đáp về văn hóa Việt Nam (1998), đã nêu một cách

khái quát về nghệ thuật chạm khắc của các nghệ sĩ dân gian trên các kiến trúc truyền thống Đặc biệt nhấn mạnh rằng, ngôi đình làng với những đề tài xã hội được thể hiện trên các thành phần kiến trúc như đầu bẩy, vì kèo, cửa võng Đó là những con vật rất gần gũi với người nông dân như mèo, tôm, cá, chó, lợn, gà, v.v hoặc tả cảnh ngày hội xuống đồng, cảnh bắn hổ, cảnh đá cầu Tác giả còn nhận định về những hình chạm thể hiện tính phồn thực qua góc nhìn văn hóa truyền thống của người Việt Người nghệ sĩ dân gian đã miêu tả cảnh trai gái tình tự, hoặc đùa giỡn được chạm lộng trên các đầu bẩy

Từ những biểu hiện đó, tác giả đặt vấn đề phải chăng tính phồn thực này bắt nguồn từ thời Hùng Vương, trải qua hàng nghìn năm vẫn sống mãi trong dân gian Đặc biệt trong các mảng chạm khắc đã được các nghệ sĩ dân gian đua tài

mô phỏng trên những hiện vật đặt ở chốn tôn nghiêm nhất [57]

Trong sách Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt (2001), tác giả Trần Lâm Biền và các tác giả khác đã kết luận về hoa văn

trang trí hình tượng con người trong chạm khắc trang trí truyền thống như sau: Về đề tài con người, tổ tiên chúng ta đã đi từ những con người vũ trụ (thần linh hoặc linh nhân nơi thiên quốc) là những nhạc sĩ thiên thần, vũ nữ thiên thần, nhạc công đầu người mình chim… đang chuyển dần sang thiên

Trang 39

thần dưới dạng thế nhân Để rồi từ TK.XVI, nhất là trong TK.XVII, sự náo nức làm ồn ào tâm tưởng được thể hiện qua các hoạt cảnh gắn với đời thường,

là các cảnh vui chơi và ước vọng trong ngày hội Đặc biệt là cảnh tình tự nam

nữ quá mạnh bạo, khiến chúng ta ngờ vực về vai trò của đạo Nho trong xã hội bình dân, mà chuyển sự suy tư sang mối quan hệ âm dương Phải chăng đó là một gợi ý, đầy chất linh thiêng, cho Trời cha Đất mẹ giao hoan để muôn loài hưởng phúc Trong cuốn này dành hẳn một chương nói về những hình tượng con người trong chạm khắc kiến trúc làng Việt, trong đó có ngôi đình làng Nhóm tác giả đã so sánh hình tượng này nhìn từ góc độ mỹ thuật ở các thời

kỳ lịch sử khác nhau Nếu như TK.XVI, XVII là: Trong hoạt cảnh con người

đã mang hình thức tượng trưng với tỷ lệ như không theo chuẩn mực nào cả, tuy nhiên vẫn thể hiện một bố cục sống động Cách chạm tự nhiên, thoải mái,

rõ ràng đã tạo được một phong cách, hầu như không biểu lộ về “bài bản” có sẵn nào, mà vẫn phản ánh được thực tế cuộc sống Tới cuối TK.XVIII, đầu TK.XIX, những đề tài về hình tượng con người đã: mang nét nghiêm trang, mất đi sự dí dỏm, thiếu hẳn sự mạnh bạo… Điều đáng lưu ý là trong sự thể hiện đề tài lúc này đã xuất hiện một quan niệm mới về luật xa gần [11]

Tác giả Chu Quang Trứ, trong cuốn Văn hóa Việt Nam nhìn từ Mỹ thuật, tập1(2002), nói về tính dân tộc trong các tác phẩm nghệ thuật tạo hình

TK.XVI Những hình tượng nghệ thuật thời kỳ này đã bỏ qua các quy định nghiêm ngặt, khắt khe của chế độ đương thời Điều này không chỉ được biểu hiện ở hình chạm hoa lá, chim muông mà còn ở hình tượng con người dân dã: Con người trở thành trung tâm của nghệ thuật, đặc biệt là người lao động luôn được thể hiện hồn nhiên nhất, yêu đời nhất Những đôi trai gái ở lứa tuổi yêu đương đàng hoàng tự tin, những cặp vợ chồng đang âu yếm nhau, những bà

mẹ trìu mến chăm sóc bầy con, những cảnh lao động của người dân, những trai làng bơi thuyền và đấu vật thật là hào hứng [96]

Trang 40

Trong cuốn sách Cảm luận nghệ thuật (2002), tác giả Trần Duy đã nói

về văn hóa đình làng trong nền văn hóa Việt Nam Đặc biệt, qua việc phân tích những hình chạm khắc trên kết cấu đình làng, tác giả đã đưa ra nhiều nhận định sâu sắc về ý nghĩa, vai trò của những mảng chạm khắc đó Tiêu biểu, khi nói tới hình ảnh người phụ nữ xưa được hiện diện trong những mảng chạm khắc tại ngôi đình làng tôn kính (nơi vốn dĩ chỉ dành cho đàn ông, phụ

nữ không được tới), ông thấy được biểu hiện văn hóa, quan niệm của người nghệ nhân dân gian được thể hiện rất rõ ràng Ông khẳng định, đình là nơi người phụ nữ xuất hiện tự khẳng định giá trị cơ thể và trí tuệ của mình Tính tiến bộ của văn hóa đình bắt đầu từ cách định hướng giá trị thật của con người, nhất là người phụ nữ [26]

Trong bài viết “Một số đồ án trang trí trong nghệ thuật cổ Việt Nam”

Kỷ yếu hội thảo đồ họa ứng dụng (2002), tác giả Nguyễn Hải Phong đã phân

tích một số đồ án trang trí ở các công trình kiến trúc nghệ thuật cổ Việt Nam theo những nguyên tắc chi phối nghệ thuật trang trí, cụ thể là thành ba nhóm: lạ hóa bề mặt, bổ ô trang trí và phân tầng trang trí Ở mỗi nhóm, ngoài phân tích những trang trí ở chùa, tác giả còn nhấn mạnh tính đặc thù rất độc đáo của các trang trí trên phù điêu đình làng Về nguyên tắc phân chia theo tầng và khu vực rõ nét ở các đình với trung tâm trang trí hướng vào gian giữa, nơi đặt bàn thờ Thành hoàng, có nguyên một tổ hợp cửa võng gồm nhiều môtip hoa văn trang trí, kết hợp với những hoành phi và câu đối tạo nên sự hài hòa, đăng đối và không khí tôn nghiêm trong đình Việc phân tầng, chia ô trang trí còn thể hiện ở những hình trang trí trên “liên ba” (là phần kiến trúc chạy dài tới hai đầu hồi, bề mặt phẳng, mỏng, ghép với nhau thành mảng lớn từ nhiều ô chữ nhật, to nhỏ khác nhau) [59]

Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam (2004), do Trần Quốc Vượng (chủ

biên) và nhóm tác giả đã nhận định về sự phát triển của các ngành văn hóa

Ngày đăng: 11/07/2016, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1964), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1964
2. Toan Ánh (1968), Hội hè đình đám, Nxb Lá Bối, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội hè đình đám
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Lá Bối
Năm: 1968
3. Nguyễn Bích (1993), Cái đình và điêu khắc đình làng, Kỷ yếu Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, (số 8), tr. 36-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái đình và điêu khắc đình làng
Tác giả: Nguyễn Bích
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1993
4. Nguyễn Bích (1996), Điêu khắc trang trí đình làng ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Tạp chí VHNT (số 6), tr. 32-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi"ê"u khắc trang trí đình làng ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bích
Năm: 1996
5. Trương Duy Bích (1984), Điêu khắc đình làng, Tạp chí Văn hóa dân gian (số 3), tr. 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điêu khắc đình làng
Tác giả: Trương Duy Bích
Năm: 1984
6. Trần Lâm Biền (1983), Quanh ngôi đình làng - lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật (số 4), tr. 38- 43, 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quanh ngôi đình làng - lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1983
7. Trần Lâm Biền (1993), Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 1993
8. Trần Lâm Biền (1993), Mỹ thuật thời Mạc, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật thời Mạc
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 1993
9. Trần Lâm Biền (1996), Đôi nét về các di tích kiến trúc Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (số 3), tr. 61-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về các di tích kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1996
10. Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 2000
11. Trần Lâm Biền (chủ biên) (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb VHDT – Tạp chí VHNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb VHDT – Tạp chí VHNT
Năm: 2001
12. Trần Lâm Biền (2003), Quanh ngôi đình làng - nghệ thuật, Bản tin của Trung tâm Thiết kế và Tu bổ di tích, Hà Nội, tr. 26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quanh ngôi đình làng - nghệ thuật
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 2003
13. Trần Lâm Biền (chủ biên) (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống vùng châu thổ sông Hồng, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống vùng châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2008
14. Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh (2011), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội, Tủ sách Thăng Long 1000 năm, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội
Tác giả: Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2011
15. Trần Lâm Biền - Đào Hùng (1985), Con rồng trong mỹ thuật Việt Nam, Tạp chí Mỹ thuật (số 2), tr. 47-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con rồng trong mỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Trần Lâm Biền - Đào Hùng
Năm: 1985
16. Nguyễn Đức Bình (20026), Nghiên cứu về Mỹ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về Mỹ thuật
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
17. Cục Bảo tồn bảo tàng và Bảo tàng Hồ Chí Minh (1996), 50 năm bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
Tác giả: Cục Bảo tồn bảo tàng và Bảo tàng Hồ Chí Minh
Năm: 1996
18. Cục Di sản văn hóa (2005, 2006, 2008, 2010, 2012), Một con đường tiếp cận lịch sử, 6 tập, Nxb Thế giới và Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Nhà XB: Nxb Thế giới và Xây dựng
19. Cục Di sản văn hóa (2014), Văn bản quản lý nhà nước về di sản văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Tác giả: Cục Di sản văn hóa
Năm: 2014
20. Nguyễn Đỗ Cung (1975), Lời tựa cho cuốn sách ảnh Việt Nam điêu khắc dân gian thế kỷ XVI, XVII, XVIII. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời tựa cho cuốn sách ảnh Việt Nam điêu khắc dân gian thế kỷ XVI, XVII, XVIII
Tác giả: Nguyễn Đỗ Cung
Năm: 1975

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ mặt bằng khu di tích đình Xuân Dục - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Sơ đồ m ặt bằng khu di tích đình Xuân Dục (Trang 65)
Bảng 2.2:Kích thước cắt ngang của đại đình đình Xuân Dục (Bản vẽ số 3) - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 2.2 Kích thước cắt ngang của đại đình đình Xuân Dục (Bản vẽ số 3) (Trang 66)
Bảng 2.4: Kích thước cắt dọc của đại đình đình Công Đình (Bản vẽ số 7) - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 2.4 Kích thước cắt dọc của đại đình đình Công Đình (Bản vẽ số 7) (Trang 76)
Bảng 2.5: Kích thước cắt ngang của đại đình đình Công Đình (Bản vẽ số 8) - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 2.5 Kích thước cắt ngang của đại đình đình Công Đình (Bản vẽ số 8) (Trang 77)
Sơ đồ mặt bằng khu di tích đình Tình Quang - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Sơ đồ m ặt bằng khu di tích đình Tình Quang (Trang 84)
Bảng 2.7: Kích thước cắt dọc của đại đình Tình Quang (Bản vẽ số 13) - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 2.7 Kích thước cắt dọc của đại đình Tình Quang (Bản vẽ số 13) (Trang 85)
Bảng 2.9: Các đề tài sử dụng trang trí đình Tình Quang - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 2.9 Các đề tài sử dụng trang trí đình Tình Quang (Trang 92)
Sơ đồ mặt bằng khu di tích đình Trân Tảo - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Sơ đồ m ặt bằng khu di tích đình Trân Tảo (Trang 94)
Bảng 2.12: Các đề tài sử dụng trang trí đình Trân Tảo - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 2.12 Các đề tài sử dụng trang trí đình Trân Tảo (Trang 103)
Bảng 2.13: Kích thước cắt dọc của đại đình Thanh Am (Bản vẽ số 20) - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 2.13 Kích thước cắt dọc của đại đình Thanh Am (Bản vẽ số 20) (Trang 106)
Bảng 2.15: Các đề tài sử dụng trang trí đình Thanh Am - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 2.15 Các đề tài sử dụng trang trí đình Thanh Am (Trang 115)
Bảng 3.3: Kích thước mặt cắt dọc của đại đình đình Tây Đằng - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 3.3 Kích thước mặt cắt dọc của đại đình đình Tây Đằng (Trang 140)
Bảng 3.5: Kích thước cắt dọc của đại đình đình Phù Lưu - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
Bảng 3.5 Kích thước cắt dọc của đại đình đình Phù Lưu (Trang 142)
PHỤ LỤC 4: BẢNG THỐNG KÊ MỘT SỐ ĐÌNH LÀNG Ở GIA LÂM - Đình làng thế kỷ XVII - XVIII ở Gia Lâm (Hà Nội) những giá trị lịch sử và văn hóa
4 BẢNG THỐNG KÊ MỘT SỐ ĐÌNH LÀNG Ở GIA LÂM (Trang 220)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w