1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn l u “nóng” ở khu vực sân bay biên hoà

56 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 514,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu của Yoko Hiabayashi, Atsushi Miyajma và cộng sự khi sử dụng liều gây nhiễm Dioxin 0,3; 3,0 hay 30,0 ng/ml, kết quả cho thấy số lượng tế bào tiền lympho B gốc giảm rõ rệt

Trang 1

bộ y tế chương trình 33 trường đại học y hà nội

báo cáo tổng kết đề tài nhánh

Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật bộ đội mới

vào sinh sống tại vùng tồn lưu “nóng”

ở khu vực sân bay biên hoà chủ nhiệm đề tài nhánh: GS.TS Nguyễn Văn Nguyên cơ quan chủ trì: Học Viện Quân Y

thuộc đề tài cấp nhà nước (ct 33):

nghiên cứu các biến đổi về mặt di truyền, miễn dịch, sinh hoá, huyết học và tồn lưu Dioxin trên các đối tượng phơi nhiễm có nguy cơ cao

chủ nhiệm đề tài: PGS.TS nguyễn văn tường

cơ quan chủ quản: bộ y tế

cơ quan chủ trì: trường đại học y hà nội

hà nội – 2003

5462-6

Trang 2

bộ y tế chương trình 33

trường đại học y hà nội

báo cáo tổng kết đề tài nhánh

đề tài cấp nhà nước

đề tài nhánh: Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật

bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn lưu

“nóng”ở khu vực sân bay biên hoà

chủ nhiệm đề tài nhánh: GS.TS Nguyễn Văn Nguyên

cơ quan chủ trì: Học Viện Quân Y

thời gian thực hiện: 2001-2003

Kinh phí được cấp: 241.000.000 VND

hà nội – 2003

Trang 3

danh s¸ch nh÷ng ng−êi thùc hiÖn

Trang 4

Đặt vấn đề

Mặc dù chiến tranh chống Mỹ cứu nước đã đi qua gần 30 năm nay nhưng ảnh hưởng của nó vẫn còn dai dẳng Các nhà khoa học trong và ngoài nước vẫn băn khoăn lo ngại về những gì đã xảy ra và còn xảy ra đối với môi trường và con người đã và đang sinh sống ở những vùng chịu tác động nhiều bởi chất độc mầu da cam mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh

Người ta đã biết rõ trong các chất độc da cam(CĐDC) diệt cỏ được

sử dụng ở miền Nam Việt Nam chứa hàm lượng cao chất 2, 3, 7, 8 tetraclorodibenzo - p - Dioxin (TCDD) gọi tắt là Dioxin, là một trong những chất độc mạnh và nguy hiểm nhất được biết hiện nay Khi vào cơ thể người và

động vật máu nóng có khả năng tích tụ trong cơ thể gây bệnh nhiều ở các cơ quan, tổ chức, gây ung thư, quái thai, gây đột biến gen, suy giảm miễn dịch, tổn thương hệ thống men chuyển hoá Tính từ đầu năm 1980, có hơn 700 công trình nghiên cứu về chất độc da cam/Dioxin và các bệnh có liên quan với CĐDC/Dioxin Viện Hàn lâm khoa học Mỹ cũng đã công nhận một số bệnh

có liên quan với CĐDC/Dioxin trong đó có 04 bệnh có bằng chứng liên quan chắc chắn với CĐDC/Dioxin và 07 bệnh được coi là có bằng chứng liên quan với CĐDC/Dioxin

Năm 1995 Nhà nước đã giao cho Học viện Quân y nghiên cứu phần y

- sinh học tại khu vực sân bay Biên Hoà Và từ đó đến nay Học viện Quân y liên tục được Bộ quốc phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu tác động hậu quả lâu dài của chất độc da cam đến sức khoẻ nhân dân vùng sân bay Biên Hoà Dự án Z1 đã hoàn thành trong năm 1996, 1997 được Hội đồng cấp bộ đánh giá mức xuất sắc Tiếp theo đó có nhiều dự án nghiên cứu ảnh hưởng chất độc Dioxin tới con người ở những khu vực khác nhau, đối tượng khác nhau ví dụ như dự

án Z2 nghiên cứu trên khu vực sân bay Đà Nẵng

Kết quả của các nghiên cứu đều khẳng định ảnh hưởng rất lớn của chất độc Dioxin tới sức khoẻ con người nó làm giảm đáp ứng của hệ thống miễn dịch, biến đổi các chỉ số sinh hoá máu, hệ thống men chuyển hoá, biến

đổi gen Đặc biệt độ tồn lưu trong mỡ rất cao Tiếp tục mở rộng nghiên cứu

đề tài này nhưng chúng tôi đi sâu nghiên cứu đối tượng là thanh niên mới nhập ngũ vào sing sống tại “vùng tồn lưu nóng” Phương pháp nghiên cứu của

Trang 5

chúng tôi là tiến hành nghiên cứu dọc khác với các nghiên cứu trước đây là

nghiên cứu cắt ngang nhằm mục tiêu:

1 Lập hồ sơ theo dõi dọc diễn biến sức khoẻ thể lực và những bệnh tật có liên quan đến Dioxin trong 2 năm cho bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn lưu “nóng” Sân bay Biên Hoà

2 Tư vấn sức khoẻ, điều trị cho các quân nhân sống trong khu vực nghiên cứu

3 Lấy mẫu huyết thanh để định lượng Dioxin

Trang 6

1 tổng quan tài liệu

1.1 Nguồn gốc và tính chất hóa học của Dioxin

Tên chính xác của Dioxin là Polychlorinated-dibenzo-para-dioxin (PCDD) là một nhóm gồm 75 chất cùng loại, được chia thành 8 nhóm hoá vhất dựa trên số lượng các nguyên tử clo trong phân tử, trong đó có một chất

được nhiều người biết đến là 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-para-dioxin TCDD)

(2,3,7,8-Đặc tính của CĐDC/Dioxin là ổn định ở nhiệt độ cao, nhiệt độ nóng chảy 3050C, bốc hơi rất thấp, hoà tan rất ít trong nước (0,2ppb ở 250C), hoà tan vừa phải trong các dung môi hữu cơ, trơ với kiềm và axit, phân hủy sinh vật cực kỳ chậm TCDD chỉ phân huỷ khi đun nóng trên 7500C Phản ứng thế 4 nguyên hydro tử có trong phân tử thường được thực hiện trong điều kiện gắt gao bằng các tác nhân phản ứng mạnh Đồng thời TCDD tạo thành dễ dàng gốc cation ổn định khác thường khi hoà tan vào các acid mạnh hay là khi khử một electron

Có thể xác định bản chất của TCDD trong môi sống nhờ những tính chất của nó như độ bốc hơi thấp, ít hoà tan trong nước, trơ về mặt hoá học và

có khả năng cao đối với các tương tác cho-nhận Sự phối hợp đặc biệt các tính chất của TCDD cũng như phân huỷ sinh học cực chậm bới các vi sinh vật cấp thấp quyết định một thực tế là các đối tượng khác nhau của môi trường , kể cả

đất đều là những môi bình chứa không phản ứng chất độc đó Sự tích tụ TCDD trong đất cực kỳ nguy hiểm, từ đó bằng con đường di chuyển sinh học nó có thể đi vào cơ thể con người Bởi vậy, nghiên cứu bản chất TCDD trong đất đã

được chú ý rất nhiều

Chất Dioxin có 4 phân tử Clor là chất có độc tính hàng đầu đối với sức khỏe con người và loài vật Người ta thấy rằng, càng có nhiều nguyên tử Clor thì chất Dioxin càng có độc tính giảm đi Để có thể tính toàn bộ độc tính của các chất Dioxin, người ta đưa ra khái niệm về Teq - Độc tính tương đương

- của các chất Dioxin ( Toxicity equivalence factors)

Ngoài chất Dioxin có 4 nguyên tử Clor có trong chất Da cam mà ta

đề cập trên đây, còn có nhiều chất Dioxin khác, có nhiều nguyên tử Clor hơn, như penta hoặc hexa, hepta octachloroDD (có 5 hoặc 6,7,8 nguyên tử Clor)

được sử dụng trong hoá chất bảo quản gỗ, quá trình làm trắng bột giấy, quá

Trang 7

trình đốt các phế liệu, ngoài ra còn được tìm thấy trong các sản phẩm có nguồn gốc từ thịt và sữa ở những vùng gần các lò thiêu phế liệu, trong cá và các loài dã thú khác

Liều có thể gây chết của Dioxin rất thấp Động vật thí nghiệm có thể

bị chết trong vòng từ 2 đến 6 tuần khi gây ngộ độc với liều từ 1mcg đén 5000 mcg/kg thể trọng Để có một ý niệm về số lượng Dioxin đã được sử dụng ở Việt nam, người ta đã đưa ra thí dụ sau: với 80 mg chất Dioxin nếu hòa tan trong bồn chứa nước của thành phố New York thì có thể giết chết cả 11 triệu dân của thành phố này

Thời gian bán hủy của Dioxin khoảng 3-5 năm ở môi trường bên ngoài ở môi trường của nước ta, Dioxin còn có thể bị hủy sớm hơn sau khi

được rải do có nhiều nắng, gió, mưa, sông rạch Trong cơ thể con người không tham gia trao đổi chất, kỵ nước cao nên tích tụ trong mô mỡ và mô giàu lipit chu kỳ bán hủy chậm, ngoài ra Dioxin trong cơ thể con người còn được tồn lưu gan (khoảng từ 25 đến 35% lượng Dioxin của cơ thể), thời gian bán hủy kéo dài hơn bên ngoài, được ước tính trung bình khoảng 11,3 (7-12 năm)năm

đối với những người đã bị phơi nhiễm trong thời gian chiến tranh ở Việt nam

Nồng độ của Dioxin thay đổi tùy theo lượng hấp thu khi phơi nhễm

và lượng mỡ của cơ thể Dioxin còn có thể bị thải ra theo sữa mẹ, nên sữa mẹ

là nguồn phơi nhiễm trực tiếp cho bé sơ sinh nếu bà mẹ đã có Dioxin trong người

Cơ chế tác động hiện được chấp nhận của Dioxin là như sau:

+ TCDD gắn kết với một Receptor có trong bào tương (được gọi

là Receptor Ah) tạo thành phức hợp Receptor – TCDD

+ Phức hợp này được vận chuyển vào nhân tế bào nhờ một protein có tên là ARNT (Ah receptor nuclear transport)

+ ở trong nhân, phức hợp gắn kết với các yếu tố nhận dạng Dioxin có tên là DRE (Dioxin recognition elements) và gây kích hoạt của gen

đích ở phía sau vị trí nhận dạng

+ Biểu hiện của các gen đích còn chưa được biết hoàn toàn, nhưng có lẽ bao gồm một số các enzym, các receptor của màng và receptor của hormone Một số tác động khác của TCDD cũng đã được phát hiện như:

Trang 8

cảm ứng UDP - glucoronyltransferaza (gây tăng bài xuất Thyroxin), làm giảm

số receptor của estrogen

Với cơ chế tác động như trên, TCDD có thể được xem như là hormone của môi trường Chỉ với một lượng rất nhỏ, nó có thể gây nhiều tác

động khác nhau và kéo dài trên tế bào Vì vậy mặc dù tác hại của Dioxin là rõ rệt, việc đo lường chính xác nồng độ Dioxin còn rất khó khăn

Từ cơ chế tác dụng trên, chúng ta có thể thấy TCDD không trực tiếp làm tổn thương AND mà chỉ làm kích thích tăng sinh những tế bào đã bị tổn thương Tác động của Dioxin lên sức khỏe được giả định chủ yếu phụ thuộc vào ái lực của nó với receptor Ah đã được nêu ở trên

Nghiên cứu hậu quả y học lâu dài do tác động của các hợp chất chứa Dioxin là một trong những nhiệm vụ phức tạp của dịch tễ học môi trường

Điều này là do Dioxin có hoạt tính sinh học cao, có cơ chế tác động tương tự như cơ chế tác động của hoocmon, Dioxin có thể gây ra các hiệu ứng rất đa dạng ở người và động vật trong đó có thể gây rối loạn điều hoà và rối loạn thích nghi Điều đặc biệt quan trọng là động lực học và động thái học của Dioxin phụ thuộc vào đặc điểm tác động, vào nhiều yếu tố ngoại cảnh, vào

đặc điểm sinh học của cơ thể, vào thời gian sau tác động

1.2 Quy mô và hình thức sử dụng chất da cam và các thuốc diệt

cỏ khác của quân đội Mỹ ở Việt Nam

Từ năm 1962 đến 1971, Quân đội Hoa kỳ đã dải nhiều loại chất hóa học để diệt cỏ và làm trụi lá trên một diện rộng và với số lượng rất lớn, kéo dài trong nhiều năm tại miền Nam Việt nam Chất diệt cỏ mà người Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam nguy hiểm nhất là 2,3,7,8-tetraclorodibenzo-p-dioxin(TCDD) được gọi là chất màu da cam Đó là một trong những chất độc mạnh và nguy hiểm nhất được biết hiện nay

Năm 1974, học viện khoa học quốc gia Mỹ đã đưa ra các đánh giá về quy mô và sự phân bố các thuốc diệt cỏ đã dải xuống Bảng kiểm kê việc phun dải đã cho thấy nhiều hơn 7 triệu lít, đặc biệt là với các thuốc diệt cỏ chứa hàm lượng cao chất dioxin đã phun rải xuống Việt Nam Số liệu điều tra dân

số ở xã cho thấy hàng triệu người Việt Nam có khả năng đã bị dải trực tiếp từ trên xuống

Trang 9

Giữa năm 1961 và 1971, các hợp chất diệt cỏ, tên hiệu được đặt theo màu sắc băng được sơn bên ngoài ở các thùng có dung tích 208 lít, đã được sử dụng bởi Quân đội Mỹ và Quân đội Việt Nam cộng hoà để làm rụng lá cây rừng và cây đước, làm quang vòng ngoài các doanh trại quân đội và để phá huỷ mùa màng ‘thân thiện’, đó được xem như là một chiến thuật để giảm cung cấp lương thực cho kẻ thù Hợp chất được biết tới nhiều nhất là chất da cam Khoảng 65% thuốc diệt cỏ có chứa 2,4,5-trichlorophoxyacetic acid (2,4,5-T), chứa nồng độ khác nhau chất 2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin (TCDD) Các hợp chất diệt cỏ được liệt kê trong bảng dưới đây

Sự ô nhiễm phóng xạ do chất 2,4,5-T cùng TCDD xảy ra rộng rãi do cách thức sản xuất, quá trình sản xuất và phần trăm chất 2,4,5-T trong công thức Đầu năm 1966, chất màu trắng không chứa TCDD bắt đầu thay thế chất

da cam Các áp lực thị trường hoá chất đã dẫn đến khan hiếm chất da cam Để

đạt được mục đích chiến thuật, chất màu trắng này không đáp ứng tốt bằng chất da cam do yêu cầu làm rụng lá mới bắt đầu phát huy tác dụng sau vài tuần Tuy nhiên Bộ quốc phòng Mỹ vẫn chấp nhận nó do chất da cam rõ ràng không còn đủ số lượng Chất màu xanh là một chất được lựa chọn để phá huỷ mùa màng trong suốt chiến tranh do tác dụng làm khô cây cối Tuy nhiên, có hơn 4 triệu các chất khác có chứa 2,4,5-T, cũng được sử dụng trong việc phá hoại mùa màng

Các tài liệu thu được chỉ ra rằng có ít nhất 464.161 lít chất màu hồng, 1,9 triệu lít chất màu tím và 31.026 lít chất màu xanh lá cây đã đựoc phun rải xuống Việt Nam

Việc ước tính có bao nhiêu chất TCDD còn tích luỹ ở Việt Nam được dựa trên thể tích thuốc diệt cỏ có chứa chất 2,4,5-T đã được phun rải xuống và dựa vào nồng đọ ô nhiễm chất TCDD Nồng độ TDD rất khác nhau trong các hợp chất Nồng độ TCDD trong phạm vi từ 6,2 đến 14,3 p.p.m và trung bình 13,25 p.p.m trong các mẫu lấy từ chất thải tiêu huỷ 28 thùng NCBC khác nhau

được lựa chọn bởi USAF được xem là đại diện cho 7 nhà sản xuất NCBC Tuy nhiên, trong những mẫu khác nhau lấy ra từ kho chứa NCBC, nồng độ TCDD trong phạm vi 0,05 đến 13,3 p.p.m ( nặng trung bình 1,77p.p.m) NAS-1974 tính thành 1 dãy từ <0.05 đến 17,0 p.p.m và trung bình số học là 2,99p.p.m từ cùng một số liệu phân tích

Theo tài liệu của Viện Hàn lâm khoa học Hoa kỳ năm 1974, có

Trang 10

khoảng 18,85 triệu gallon tức là hơn 72 triệu lít các chất độc hóa học đã được

ải ở miền Nam Việt Nam gồm:

Các loại chất dioxin đã sử dụng tại miền Nam Việt Nam

Tên Thành

phần hoá học

Nồng độ chất tác dụng

Năm sử dụng

ước tính số lượng sử dụng

Chất màu

hồng

60%-40% Butyl:isobutyl este của 2,4,5-T

n-961-1081g/l trong dung môi acid++

1961;1965 50312 đã được

rải;thêm 413,852 so với tái liệu trước đóChất màu

xanh lá

cây

n-Butyl este 2,4,5-T

Có cùng dung môi acid như

chất màu hồng

Không rõ ràng nhưng trong thời gian sử dụng chất màu hồng

31026 đã được trình bày trong tài liệu trước đó

Chất màu

tím+

50%n-Butyl este 2,4-D;

30%n-Butyl este 2,4,5-T;

20%n-isobutyl este 2,4,5-T;

1033g/l trong dung môi acid

1962-1965 1892773

Chất da

cam +

50%n-Butyl este 2,4-D;

50%n-Butyl este 2,4,5-T;

1033g/l trong dung môi acid

1965-1970 45677937(có

thể bao gồm cả chất da cam II)

Chất da

cam II +

50%n-Butyl este 2,4-D;

50% isobutyl este 2,4,5-T;

910g/l trong dung môi acid

Sau năm 1968(?)

Không biết nhưng ít nhất

3591000 được trở bằng tàu

Trang 11

Chất màu

trắng II

Cơ bản acid 21,2%; muối tri-isopropanolamine của 2,4-D và 5,7%

aicd) và muối cacodylate

Trọng lượng acid :360,3 g/l

và 2,4,5-T), Trinoxol(1455 lít)(40%ethanol este của 2,4,5-T) Và 3871 Conc D (30% ethyl este của 2,4-D trong nước) cũng đã được thử nghiệm trong năm

1961

Tỷ lệ áp dụng thông thường là 4,78 kg/l

+ chứa nồng độ khác nhau chất TCDD

++ dung môi acid là một khối lượng acid trong suốt, là sản của quá trình đề este hoá hoàn toàn hoặc đề amin của muối và este Tổng khối lượng este xấp xỉ 20%

Từ các số liệu đó các nhà khoa học đã ước tính có khoảng 368 pounds (Hoa kỳ) đến 500 kg (Việt nam) chất 2,3,7,8-TCDD đã được rải xuống

Trang 12

miền Nam Việt nam, hay ít nhất là 170 kg theo công bố của Mỹ Những con

số đó nhận được từ kết quả nghiên cứu đã được tiến hành vào những năm

1972, 1974 và 1975 đối với các mẫu của hỗn hợp da cam, trong đó đã tìm

được từ 0,02 đến 15 ppm dioxin Những thông số phân tích không phù hợp với trình độ sản xuất 2,4,5-T của những năm 60 và gồm những thông số của các mẫu 2,4,5-triclophenol và 2,4,5-T được sản xuất vào những năm 70

Khi đánh giá số lượng thực tế dioxin đưa vào môi trường sống Việt Nam trong các năm 1964-1971 cần chú ý đến hàm lượng đáng kể các chất tiền dioxin có trong các chất diệt cỏ trên cơ sở 2,4,5-T được sản xuất vào những năm 60, bởi thế có thể giải thích sự tăng hàm lượng dioxin trong các chế phẩm khi sử lý nhiệt Điều quan trọng là phải tính đến khuynh hướng biến đổi thành dioxin của 2,4,5-T, muối và ester của nó cũng như 2,4,5-triclophenol khi nhiệt phân và đốt cháy trong những điều kiện thiếu oxy Bởi vì trong vùng dùng các tác nhân diệt cỏ, quân đội Mỹ sử dụng vũ khí gây cháy nên cũng đốt cháy luôn cả thực vật chết trên những diện tích rộn lớn lại thêm những trận ném bom và nã pháo Trong những điều kiện đó có thể tạo thành bổ sung hàng trăm kilogam dioxin

Từ những phân tích trên đây cho phép dự kiến trong thời gian từ năm

1961 đến 1971, trong môi trường sống nhiều vùng rộng lớn miền Nam Việt Nam đã có thể xuất hiện không ít hơn 1 tấn TCDD Với những quy mô nhiễm

độc như thế do một chất độc quá nguy hiểm có độ bền vững khác thường gây nên cho môi trường sống thì vấn đề hậu quả lâu dài của chiến tranh hoá học có liên quan tới sử dụng dioxin nên được xem là một trong những vấn đề cấp thiết nhất

Trong số lượng chất độc da cam được đưa vào Việt Nam, khoảng 65% các chất diệt cỏ được tàu biển chuyển tới kho hậu cần 20 tại Sài Gòn và 35% tới kho hậu cần 51 tại Đà Nẵng Sau đó chúng được đóng vào các tao kiểu rơ mooc và vận chuyển tới phi đội 12 (ở Đà Nẵng, Phù Cát và sân bay Biên Hoà) Sau khi đã phun dải xong, các trang thiết bị sử dụng như quần áo, bình phun, máy bay được giặt, rửa trước khi dùng lại Những chỗ bị dính chất diệt cỏ vãi ra được rửa bằng dầu diesel hoặc nước, sau đó nước được rửa cho chẩy vào bể hoặc hố để ngấm vào đất Chính vì vậy, hiện nay tại sân bay Biên Hoà vẫn còn tồn động một lượng khá lớn chất độc dioxin trong đất nên chúng ta gọi sân bay Biên Hoà là một vùng “nóng” chất dioxin

Trang 13

1.3 Tác hại của Dioxin trên động vật có vú

1.3.1 Tác dụng độc lên sự phát triển của động vật

Nhiễm TCDD trong thời kỳ mang thai gây một loạt tác dụng độc đặc trưng ở động vật thí nghiệm bao gồm: giảm sản tuyến ức, phù dưới da, giảm tăng trưởng trước sinh, chết trước sinh, hở hàm ếch ở chuột, thừa xương sườn

ở thỏ, xuất huyết ruột non ở chuột ở liều đủ lớn, TCDD có thể gây chết trước sinh Trong vài trường hợp nhiễm độc trước sinh và chết trước sinh có thể đi kèm theo nhiễm độc ở mẹ, mà dấu hiệu nhạy cảm nhất là giảm cân và phù Gần đây các nghiên cứu còn cho biết nhiễm TCDD ở chuột có thể phá vỡ hàng rào máu giữa mẹ và phôi, điều này dẫn đến xuất huyết máu thai vào tuần hoàn

mẹ

Viluksela-M và cs nghiên cứu trên 20 chuột đực và 20 chuột cái trưởng thành và đã chứng minh có mối liên quan giữa nhiễm độc Dioxin và mắc bệnh máu, gan từ 64-126 ngày bị nhiễm độc

Năm 1992, tại Mỹ đã nghiên cứu trên chuột và đưa ra kết luận rằng TCDD ức chế sự hấp thu glucose qua màng ruột Một nghiên cứu khác cho thấy khả năng gây độc của TCDD là giảm tiết ở đường tiêu hóa và tăng tích lũy ở gan và tổn thương gan nặng hơn

Tác dụng gây quái thai ở chuột gồm: biến đổi tăng sinh tế bào, dị sản, biến đổi biệt hóa tế bào mầm Các cơ quan thường bị là: vòm hầu, thận, tuyến ức, chủ yếu là: chẻ vòm hầu, thận nước (do tăng sinh biểu mô - tắc

nghẽn - phá hủy nhú thận do áp lực)

1.3.2 Tác động lên cơ quan sinh sản

1.3.2.1 Thay đổi nồng độ các hormon sing dục

Nghiên cứu của Gil’manov-Azh năm1997 cho thấy có sự thay đổi nồng độ hormon trên chuột thực nghiệm TCDD có thể truyền từ mẹ sang con qua sữa và nó gây giảm nồng độ testosteron và DHT (dihydortestosteron) trong huyết tương của chuột đực lớn nên những con chuột bị nhiễm TCDD trong suốt thời gian phát triển có thể ảnh hưởng đến hệ sinh sản Người ta đã mô tả các hậu quả của việc nhiễm TCDD lên hệ sinh sản của chuột đực nhưng

sự thay đổi của nồng độ testosteron ở phôi thai chuột thì chưa được biết Nồng

Trang 14

độ nhiễm ở chuột mẹ thấp đến nỗi chính hậu quả đó được xem là dấu hiệu nhạy cảm nhất của việc nhiễm độc TCDD ở động vật có vú

- Nồng độ hormon trước sinh: Nhiễm TCDD trước sinh gây giảm

nồng độ testosteron/huyết tương ở thai chuột được lấy ra trược ngày sinh ở phôi chuột đực không nhiễm, nồng độ testosteron/huyết tương trung bình lớn hơn ở chuột cái không nhiễm vào ngày 17 - 21 của thời kỳ mang thai ( bình thường chuột sinh vào ngày 20 - 22) Sự khác biệt về giới tính này rõ nhất trong suốt thời gian tăng nồng độ testosteron xảy ra ở chuột đực vào ngày 17 -

19 Theo dõi những chuột mẹ nhiễm liều 1mcg TCDD/kg vào ngày 15 của thời kỳ mang thai, nồng độ testosteron/huyết tương giảm ở chuột đực thì cho thấy sự phân biệt giới tính bị giảm vào ngày thứ 18 - 21

- Nồng độ hormon sau sinh: ở chuột đực không nhiễm, nồng độ đỉnh

testosteron/huyết tương sau sinh đạt được sau 2 giờ, ở chuột đực bị nhiễm trước sinh từ chuột mẹ nhiễm liều 1mcg TCDD/kg vào ngày thứ 15 của thời

kỳ mang thai thì nồng độ này chỉ bằng 1/2 Thêm vào đó, thời gian đạt nồng

độ đỉnh ở chuột đực nhiễm TCDD kéo dài đến 4 giờ sau sinh

1.3.2.2 Tác động lên cơ quan sinh sản của giống đực

Khi thú trưởng thành nhiễm chất thuộc dẫn xuất TCDD sẽ gây ra các dấu hiệu sau : giảm nồng độ androgen/huyết tương, dị dạng tinh hoàn, giảm sinh tinh, giảm khả năng sinh sản Hiện tượng giảm sinh tinh được thể hiện bằng thoái hóa tinh bào và tinh trùng trưởng thành trong ống chứa tinh, và giảm số lượng ống chứa tinh trùng trưởng thành

Cơ chế giảm nồng độ androgen trong huyết tương được cho là do ảnh hưởng độc lên sự sinh tổng hợp steroid ở tinh hoàn và lên sự điều hòa bài tiết

LH ở trục tuyến yên - hạ đồi ở tinh hoàn chuột bị nhiễm, TCDD ức chế sản xuất testosteron bằng cách giảm rate - limiting step (cholesteron mobilization) trong con đường sinh tổng hợp testosteron Mặc dù nồng độ androgen giảm nhưng nồng độ LH vẫn không tăng tương ứng Điều này xảy ra là vì TCDD làm tăng khả năng ức chế (feedback) đối với sự tiết LH từ tuyến yên của androgen và oestrogen Như vậy trục hạ đồi - tuyến yên là cơ quan đích của nhiễm độc TCDD ở thú lớn gây giảm androgen bằng cách không tăng tiết LH khi nồng độ androgen/huyết tương thấp

1.3.2.3.Tác động lên cơ quan sinh sản của giống cái

Trang 15

Một nghiên cứu 3 thế hệ chuột cho thấy TCDD gây ảnh hưởng lên khả năng sinh sản và kích thước lứa đẻ ở liều 0,1 mcg/kg/ngàyđối với thế hệ F1 và F2 Hơn nữa, nếu chuột cái nhiễm 1 - 2mcg/kg/ngày ở tuần thứ 13 thì có hiên tượng rối loạn chức năng buồng trứng và không rụng trứng cũng như triệt tiêu chu kỳ oestrogen

Một nghiên cứu khác trên khỉ cho thấy: khỉ mẹ nhiễm 500ppt TCDD

có dấu hiệu nhiễm độc trên lâm sàng và bị giảm cân trong suốt quá trình nghiên cứu 5/8 khỉ chết trong vòng 1 năm sau khi nhiễm 7/8 khỉ được phối giống với khỉ đực không nhiễm 3/7 khỉ có thụ thai và chỉ có 1 khỉ mang thai

đến ngày sinh

Cũng một nghiên cứu trên khỉ nhiễm TCDD suốt tam cá nguyệt thứ 1 (tuổi thai 25 - 40 ngày) Với tổng liều là 1mcg/kg chia 9 lần tiêm, 3/4 khỉ bị sảy thai, 2/3 không có dấu hiệu nhiễm độc ở mẹ Với tổng liều 0,2 mcg/kg, 1/4 khỉ bị sảy thai

1.3.2.4 Tác động lên hệ thống miễn dịch

Tác dụng của TCDD khi phơi nhiễm dưới liều tử vong trên tất cả các loài động vật là teo tuyến ức Suy giảm lympho bào gây ức chế hiện tượng miễn dịch của tế bào T Huang - W và cộng sự nghiên cứu so sánh giữa liều

đơn và liều nhắc lại của chuột Long Evan sau 9 ngày ở tế bào lách cho thấy có giảm tế bào TCD4 nhưng không có sự thay đổi tế bào TCD8 Lympho bào B cũng chịu ảnh hưởng của TCDD, nhưng phải liều cao hơn mới ức chế miễn dịch thể Trong nghiên cứu của Yoko Hiabayashi, Atsushi Miyajma và cộng

sự khi sử dụng liều gây nhiễm Dioxin 0,3; 3,0 hay 30,0 ng/ml, kết quả cho thấy số lượng tế bào tiền lympho B gốc giảm rõ rệt do tiếp xúc với TCDD với liều phụ thuộc Các dòng tế bào gốc tiền B kém trưởng thành nhạy cảm hơn với độc tính của TCDD Tỷ lệ dòng tế bào B kém biệt hoá trên tổng số tế bào giảm khi tăng nồng độ TCDD Sự khác nhau trong khả năng nhạy cảm với độc tính của TCDD giữa hai nhóm tế bào gốc biệt hoá và chưa biệt hoá có thể do một phần là sự khác nhau trong việc trình diện thụ cảm thể Ah cùng với sự

biệt hoá của tế bào B

1.4 Tác động lên cơ thể con người

1.4.1 Tác động lên cơ quan sinh sản

Khi Dioxin tác động trực tiếp qua đường nhau thai, các rối loạn di

Trang 16

truyền tế bào có ảnh hưởng đặc biệt nguy hiểm đến sự phát triển của bào thai vì các tế bào thai nhi đang ở trong giai đoạn biệt hoá cao và sự thể hiện gen có thể bị rối loạn do sự hoạt hoá của hệ thụ cảm Ah(AhR)

1.4.1.1 Tác động đến khả năng sinh sản

- ở nam giới: ảnh hưởng lên sự sinh tinh, sự di động của tinh trùng, hình dạng của tinh trùng, nồng độ của các hormon quan trọng như gonadotropin, LH, FSH, testosteron và các androgen khác, cơ quan đáp ứng với androgen, hành vi tình dục và khả năng sinh sản lúc trưởng thành Nhiễm Dioxin còn có thể gây bất thường tinh hoàn (tinh hoàn nhỏ), có thể có hội chứng tinh trùng ít, yếu, hình dạng bất thường Nói chung, nam giới bị nhiễm Dioxin khó có con khi lập gia đình và khi có con ít có con gái vì gen bị thay

đổi gây tử vong thai nhi nằm trên nhiễm sắc thể X của người cha Bệnh rối loạn nhiễm sắc thể dẫn đến teo tinh hoàn, tinh hoàn lạc chỗ Tự kháng thể chống tinh trùng cũng đã được để tâm nghiên cứu trong những trường hợp nhiễm Dioxin song chưa đưa lại kết quả mong muốn

- ở nữ giới: ảnh hưởng lên chu kỳ kinh, độ dài và cường độ hành kinh, tần suất của chu kỳ không phóng noãn, nồng độ các hormon quan trọng như FSH, LH, oestrogen, progesteron, hành vi tính dục, khả năng thụ thai, khả

năng mang thai đủ ngày

1.4.1.2 Bất thường thai sản

Các bất thường thai sản gồm có sảy thai tự nhiên, thai chết lưu, thai chết lúc sinh, chết trẻ em dưới 1 tuổi, sơ sinh chậm phát triển tâm thần, thai trứng, ung thư tế bào nuôi và dị dạng bẩm sinh

- Sảy thai tự nhiên: vấn đề này đã được nghiên cứu với nhiều thiết kế

và hình thức phơi nhiễm khác nhau của cha mẹ Biến cố thường được xác nhận bởi tự sản phụ hoặc chồng Nếu dùng hồ sơ bệnh viện như trong một nghiên cứu mà các biến cố theo định nghĩa chỉ bao gồm những trường hợp sảy thai phát hiện được trên lâm sàng, như vậy nhiều biến cố đã bị bỏ sót tuy nhiên cũng cho thấy 30 - 50% trường hợp bị sảy thai tự phát Bằng chứng trên người gợi ý mối liên quan giữa Dioxin và sảy thai cần được nghiên cứu thêm

- Các bất thường thai sản khác: những nghiên cứu về bất thường thai sản ở 2 nhóm có tiếp xúc và không tiếp xúc với Dioxin như: tỷ lệ các cháu bé

Trang 17

chậm phát triển tâm thần, thai trứng và ung thư tế bào nuôi, thai chết lưu, thai chết ngay lúc sinh không rõ nguyên nhân đều cho thấy mức độ tai biến sinh sản tăng theo lượng Dioxin bị nhiễm Nghiên cứu bệnh chứng tại bệnh viện cũng khẳng định điều này với RR ≥ 5 Tuy nhiên những nghiên cứu khác lại cho rằng cỡ mẫu nhỏ, khó kết luận đựơc về tử vong sơ sinh Y văn hiện hành không cho thấycó liên quan giữa nồng độ Dioxin ở cha và hiện tượng thiếu cân lúc sinh và vẫn chưa thấy có nghiên cứu nào đánh giá hậu quả truyền từ các bà mẹ có bằng chứng tiếp với TCDD sang con

- Dị dạng bẩm sinh: Một số điểm làm cho các dị dạng bẩm sinh do Dioxin có những nét khác biệt với các dị dạng bẩm sinh do các tác nhân khác Dioxin có thể tạo ra những thương tổn rất sớm trong thời kỳ bào thai làm rối loạn sự phát triển tiếp theo của bào thai chủ yếu theo hướng thiểu sản làm cho thai phát triển không hoàn chỉnh Tần số xuất hiện cao bất thường trong điều kiện môi trường và sinh sống như nhau ở trên một cộng đồng Dioxin là tác nhân gây ra một số dị dạng bẩm sinh cao hơn số dị dạng bẩm sinh do tác nhân khác khoảng hai lần Các loại dị dạng do Dioxin gây ra bao gồm: Đơn dị dạng (Trên cơ thể của một trẻ em chỉ có 1 dị dạng rõ ràng tạo thành 1 thương tật riêng ví dụ như câm, điếc, sứt môi…); Đa dị dạng (Trên cơ thể của một trẻ em

có nhiều dị dạng phối hợp theo nhiều hình thức khác nhau)

Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Oing Wu, Seiichiroh Ohsako chỉ ra rằng giai đoạn trước phôi đến làm tổ, giai đoạn có từ 1-8 tế bào, có thể xuất hiện một số tác động trên gen ví dụ như gen H19 và Grb 10, những gen này sẽ phát triển trong giai đoạn sau khi phôi đã làm tổ

1.4.2 Tác động của Dioxin gây ra các bệnh khác

1.4.2.1 Rối loạn tâm thần kinh

Có thể có sự liên quan giữa phơi nhiễm Dioxin và tăng tỷ lệ rối loạn tâm thần kinh Tuy nhiên sự khác biệt còn chưa rõ trên phương diện thống kê Ngoài ra, còn có thể có một thời gian tiềm ẩn từ khi phơi nhiễm đến khi khởi phát ra các triệu chứng rối loạn tâm thần kinh Người ta còn thấy, có thể Dioxin gây ra hiện tượng lão hóa sớm bộ não con người, làm các tế bào neurone bị phá hủy sớm, đã tìm thấy có sự liên hệ giữa phơi nhiễm Dioxin và bệnh Parkinson

Cơ chế bệnh sinh của tổn thương thần kinh gây ra bởi Dioxin còn

Trang 18

đang được tiếp tục nghiên cứu nhưng đều có những nhận định chung là : Dioxin thâm nhập được vào hàng rào máu não và được cơ thể thải trừ rất chậm Dioxin làm chết tế bào thần kinh, tác động hóa học trên sợi trục, trên bao myêlin, làm biến chất các hệ thống dẫn truyền thần kinh, gây tổn thương

mạch máu nuôi thần kinh

1.4.2.2 Rối loạn hô hấp

Qua nghiên cứu cho thấy những cá nhân tiếp xúc với Dioxin gia tăng

tỷ lệ mắc các bệnh của đường hô hấp cả nhiễm trùng cấp và mãn, hen suyễn, giãn phế quản, tràn dịch màng phổi, khí phế thũng… Nhiều nghiên cứu không tìm thấy có sự liên hệ giữa Dioxin và các rối loạn hô hấp Nhưng O' Tole và cs (1996) đã nghiên cứu trên các CCB úc và đã tìm thấy các rối loạn hô hấp có nguy cơ tương đối RR bằng 1,6 đến 4,1 ở những người có phơi nhiễm với Dioxin Theo Lawton và cộng sự nghiên cứu thấy có 16,2% các bệnh nhân tiếp xúc với Dioxin bị hạn chế chức năng hô hấp nhưng nếu khảo sát trễ hơn trong giai đoạn sau tiếp xúc thì tỷ lệ hạn chế chức năng hô hấp này giảm còn 2,9%

1.4.2.3 Rối loạn hệ thống miễn dịch

Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng bệnh nhiễm trùng ở các đối tượng có nhiễm Dioxin, RR ước tính bằng 2,8 và cho thấy những cá nhân tiếp xúc với Dioxin dễ bị rối loạn hệ thống miễn dịch Một nghiên cứu của tác giả

Lê Cao Đài cũng cho thấy tỷ lệ tử vong của trẻ em ở vùng có bị rải chất độc da cam cao hơn ở vùng không bị rải Faustiny và cs đã nghiên cứu trên các công nhân xí nghiệp sản xuất chất diệt cỏ và thấy rằng, từ 1 đến 12 ngày sau phơi nhiễm, các tế bào CD4+T cells, CD8+ T cells, các thực bào giảm trong mạch máu so với trước khi bị nhễm, kết quả này cho thấy không giống như nghiên

cứu trên động vật là chỉ giảm tế bào CD4 9 ngày sau phơi nhiễm

1.4.2.4 Đái tháo đường

Nhiều nghiên cứu trên vấn đề này đã cho kết quả không giống nhau Henriksen và cs nghiên cứu trên các CCB Hoa kỳ đã vận chuyển chất độc da cam và các chất diệt cỏ và trụi lá khác tức là những người bị nhiễm nặng Dioxin, có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê RR = 1,5 bệnh đái tháo đường so với nhóm chứng Tuy nhiên, do cơ chế bệnh sinh phức tạp và chỉ khoảng 50%

Trang 19

người có bệnh đái tháo đường là được chẩn đoán ra, nên cần có thêm nghiên cứu có loại trừ những yếu tố liên quan đến cơ chế bệnh sinh để có thể khẳng

định mối liên hệ nhân quả giữa Dioxin và bệnh này

1.4.2.5 Rối loạn chuyển hóa Lipid và Lipoprotein

Một nghiên cứu trên 281 công nhân có phơi nhiễm và 260 công nhân không có phơi nhiễm với Dioxin cho thấy có sự liên quan giữa triglyceride huyết thanh và nhiễm Dioxin (p = 0,05) Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu bác

bỏ vấn đề này Hàm lượng Dioxin trong cơ thể người sinh sống ở miền Nam Việt Nam nơi bị rải chất diệt cỏ trong thời gian chiến tranh cao gấp khoảng 10 lần so với người sinh sống ở miền Bắc là nơi không bị rải và gấp từ 2 tới 3 lần

so với người sinh sống ở các nước công nghiệp phát triển

Có thể thấy, lượng Dioxin trong cơ thể tăng theo lứa tuổi Người trên

40 tuổi (tới năm 1990) có hàm lượng Dioxin cao hơn người trẻ, có thể vì bị tiếp xúc trực tiếp với chất độc hoá học trong chiến tranh Dioxin trong cơ thể con người được tồn lưu trong mô mỡ và gan (khoảng từ 25 đến 35% lượng Dioxin của cơ thể), thời gian bán hủy kéo dài hơn bên ngoài, được ước tính trung bình khoảng 11,3 năm đối với những người đã bị phơi nhiễm trong thời

gian chiến tranh ở Việt nam

1.4.2.6 Bệnh đường tiêu hóa

Các nghiên cứu hiện tại chưa chứng minh được mối liên hệ nhân quả giữa Dioxin và các bệnh đường tiêu hóa, nhưng có thể có tăng men gan ở những người bị nhiễm Dioxin Tỷ lệ tử vong do các bệnh đường tiêu hóa tăng

ở người đã bị nhiễm Dioxin 15 năm về trước Đây là vấn đề còn đang bàn cãi vì có một số nghiên cứu cho rằng có sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa trên các bệnh nhân tiếp xúc với Dioxin như các bệnh viêm loét dạ dày và viêm gan Tuy nhiên cũng có một số nghiên cứu cho rằng không có sự liên quan rõ ràng giữa Dioxin và các bệnh đường tiêu hóa

1.4.2.7 Rối loạn tuần hoàn

Qua các nghiên cứu người ta thấy rằng Dioxin nguyên nhân gia rtăng tỷ lệ mắc bệnh của hệ tuần hoàn như : cao huyết áp, suy tim, suy động mach vành, tai biến mạch máu não, các bệnh của hệ tuần hoàn ngoại biên Chưa có nghiên cứu khẳng định mối liên hệ nhân quả giữa Dioxin và các bệnh

này Tuy nhiên theo hai nghiên cứu thuần tập của tác giả James H.Dwyer và

Trang 20

cộng sự cho thấy, nồng độ của TCDD có mối liên hệ với nguy cơ tăng huyết

áp có ý nghĩa thống kê Lời giải thích cho kết quả này là ở chỗ nồng độ TCDD trong mô là yếu tố chỉ điểm cho của các yếu tố chuyển hoá mà yéu tố này là nguyên nhân làm tăng huyết áp

1.4.2.8 Các bệnh lý ở da do Dioxin (Cloracne)

Tiến hành nghiên cứu trên các cựu chiến binh có tiếp xúc với Dioxin thấy có gia tăng tỷ lệ các bệnh ở da như sau : có mẩn ở da, hồng ban, dày da, sưng, đổi màu và biến dạng của móng tay, móng chân, mụn ở da, viêm nang bã, mụn mủ, bất thường ở kết mạc và mi mắt Đặc biệt có sự liên quan mật thiết giữa người tiếp xúc với Dioxin và bệnh Porphyria cutanea tarda là một bệnh do rối loạn chuyển hóa porphyrin biểu hiện là khi da tiếp xúc dưới ánh nắng bị mỏng và tróc da, tăng sắc tố da và tăng mọc lông

1.4.2.9 Rối loạn chuyển hoá hormon thuyến giáp

Các kết quả nghiên cứu trên động vật và trẻ nhỏ cho thấy việc tiếp xúc với TCDD có thể ảnh hưởng tới trục tuyến yên tuyến giáp qua việc làm tăng nồng độ TSH Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng về việc gây rối

loạn nội tiết của TCDD ở người lớn

1.3.2.3 Dioxin và ung thư

Tính chất sinh ung thư của Dioxin đã bắt đầu được chứng minh trên

động vật thực nghiệm vào năm 1977, sau đó một số công trình nghiên cứu về dioxin và các chất liên quan đã xác nhận các kết quả trên

Các nghiên cứu đã chỉ ra Dioxin có thể gây ra một số loại ung thư sau:

- Ung thư đường hô hấp và phổi

- Ung thư tuyến giáp

Trang 21

- Ung thư tiền liệt tuyến, thận, tinh hoàn

- Ung thư não - ung thư vú ở phụ nữ

1.5 Những nghiên cứu về Dioxin trên thế giới

Trên thế giới hàng năm có rất nhiều công trình nghiên cứu (CTNC)

về CDDC/Dioxin với nhiều cách đánh giá tình trạng bệnh tật của con người khác nhau Những CTNC về tác hại của Dioxinlên sức khỏe con người đã

được bắt đầu từ năm 1957 khi có bài báo về mụn trứng cá do tiếp xúc nghề nghiệp với các ether vòng thơm có Clor Năm 2000 Neuberger-M và cs đã chứng minh rằng TCDD có liên quan đến một số bệnh mãn tính thậm chí sau

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lennart Hardell (năm 2002) cho thấy sự phơi nhiễm trước sinh và trong quá trình nuôi con là một nguồn gốc quan trọng của các ảnh hưởng sức khoẻ đã được nghiên cứu thấy ở trẻ em, ví

dụ sự thiếu hụt về mặt di truyền Ung thư tinh hoàn cũng có thể là một hậu quả tương tự

Một nghiên cứu của Thụy sỹ về sự vận chuyển của Dioxin qua nhau thai (từ mẹ sang con) đã đo được nồng độ Dioxin tập trung ở mô gan và mỡ

đặc biệt là tập trung nồng độ cao ở sữa mẹ, là nguyên nhân gây nên bệnh máu

ở trẻ sơ sinh

Tiến hành đo dung tích phổi của 41 trẻ em (7-12 tuổi) có phơi nhiễm với Dioxin trước hoặc sau sinh trong một nghiên cứu ở Hà Lan cho kết quả có liên quan giữa giảm chức năng phổi với phơi nhiẽm Dioxin trước sinh (P=0,045) và sau sinh (P=0,0002)

Trang 22

Nghiên cứu của Hoa Kỳ năm 1997 trên cơ quan sinh sản nữ cho thấy TCDD có thể làm thay đổi yếu tố phát triển và sản phẩm của cytokin trên tế bào tử cung tạo nên sự phát triển bệnh của tử cung

Trên phương diện sức khoẻ cộng đồng, những nguy hiểm về sinh sản

và sinh trưởng của Dioxin trong môi trường có thể phải được đánh giá với những lưu ý rằng Dioxin hiện nay có thể xuất hiện đồng thời cùng với các loại hoá chất khác mà các hoá chất này cũng có tiềm năng hiển nhiên về tính gây quái thai Tuy nhiên, ngày nay người ta đã xác định được rằng TCDD là một chất độc sinh trưởng gây ra sứt vòm miệng và ứ nước thận ở miệng bào thai, cũng như những tật dị thường bào thai khác ở đó của các loài động vật

có vú khác

Nghiên cứu trong các quần thể CCB Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam cho thấy có những bất thường tâm thần kinh sau: suy nhược thần kinh, trầm cảm, viêm đa đây thần kinh, yếu hai chi dưới, rối loạn giác quan Khảo sát dịch tễ học về ảnh hưởng của Dioxin trên sức khoẻ của lính không quân Mỹ cho thấy có những biểu hiện : mệt, trầm cảm, rối loạn cơ thể hoá, triệu chứng hoang tưởng và chống đối xã hội, tăng nguy cơ tương đối của các rối loạn dây thần kinh sọ, có mối liên quan có ý nghĩa giữa nồng độ Dioxin trong máu với các bất thường về test khảo sát chức năng hệ thần kinh trung ương

Các nghiên cứu ở Mỹ, Liên Xô cũ và nhiều nước khác cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa phơi nhiễm Dioxin và một số bệnh của cơ quan tạo máu như : porphyria cutanea tarda, u lympho Hodgkin và non - Hodgkin, đa u tuỷ xương

Trong ngiên cứu thuần tập của Marcella Warner, Brende Eskenazi và cộng sự (2002) cho thấy nồng độ TCDD trong huyết thanh của người có mối tương quan có ý nghĩa với bệnh ung thư vú

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Kai Riecke và cộng sự cho thấy, TCDD và các hợp chất có liên quan có khả năng gây tăng TGF trong tế bào

động vật có vú, chính chất này gây ra xơ hóa ở nhiều cơ quan bao gồm cả tim Theo như thí nghiệm nhóm nghiên cứu này, với liều 3-5 ng/kg cân nặng sẽ dẫn đến nồng độ 12-20 ppt trong gan và mỡ Kết quả này phù hợp nồng độ của toàn bộ PCDD được đo trong ngày trong mỡ của một nhóm dân cư trung bình

ở châu Âu

Trang 23

Kết quả nghiên cứu của Masahiko Ikeda cộng sự chỉ ra rằng khi giống đực tiếp xúc với TCDD làm xuất hiện các đặc điểm cái hoá trong khi nó gây ra các biểu hiện đực hoá ở giống cái ở loài thú bốn chân, con đực mới sinh tiếp xúc với TCDD, trọng lượng cơ thể và các cơ quan có liên quan tới tinh hoàn, số lượng ống dẫn tinh, túi tinh trong phần đuôi mào tinh giảm không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, trong lượng tuyến tiền liệt ở nhóm có tiếp xúc với TCDD thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm trứng Tỷ lệ sinh con đực (F2) thấp hơn có ý nghĩa thống kê khi con đực (F1) tiếp xúc với TCDD khi còn bú sữa và được con mẹ nuôi so với nhóm chứng Mọi con cái giao phối với con đực có tiếp xúc TCDD (F1) sinh con cái nhiều hơn co đực Tóm lại, khi cho tiếp xúc nhiều lần vào tử cung và giai đoạn cho con bú, sẽ

ảnh hưởng tới hình thành giới tính, trọng lượng tiền liệt tuyến ở F1 và tỷ lệ giới tính F2 ở thế hệ con kế tiếp

Theo yêu cầu của các CCB Mỹ và gia đình họ, Quốc hội Mỹ đã đề

nghị Viện Hàn Lâm Khoa Học Mỹ (National Academy of Sciences - NAS) xem xét lại các dữ kiện khoa học về ảnh hưởng của việc tiếp xúc với chất da cam và các chất diệt cỏ đối với sức khỏe Một ủy ban về ảnh hưởng trên sức

khỏe của CCB ở Việt Nam có tiếp xúc với chất diệt cỏ đã được thành lập và

theo kết quả thẩm định của ủy ban này, Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ chỉ công nhận 9 loại ung thư có liên quan với sự tiếp xúc dioxin là: Sarcom phần mềm, Lympho non - Hodgkin, Bệnh Hodgkin, Ung thư thanh quản, Ung thư phổi, Ung thư khí- phế quản, Ung thư tiền liệt tuyến và Bệnh đa

u tủy Trong một bản tường trình của một cựu Đô đốc Hải quân Mỹ đã phân tích nhiều vấn đề liên quan đến chất da cam được rải trong chiến tranh Việt Nam cũng đi đến kết luận tương tự

Nhà xuất bản Mỹ National Academy Press cũng đã xuất bản cuốn

“Veterans and Agent Orange” năm 1996, 1998 công bố nhiều báo cáo khoa học trong các hội thảo Quốc tế về Dioxin, trong đó có các công trình nghiên cứu về Dioxin taị Việt Nam và trên các CCB Mỹ đã tham gia vào các vụ rải chất độc Dioxin xuống Việt Nam

ủy ban về ảnh hưởng trên sức khỏe của CCB ở Việt Nam có tiếp xúc với chất diệt cỏ của Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ đã xem xét tất cả các công trình nghiên cứu – khoảng hơn 700 công trình nghiên cứu từ

Trang 24

đầu những năm 1980 đến những công trình nghiên cứu vào các năm cuối

1999 Trên cơ sở các khảo sát, Viện Hàn lâm Y học Mỹ đã công nhận một số bệnh có chứng cớ chắc chắn có liên quan với CĐDC/Dioxin, một số bệnh có liên quan hạn chế và một số khác thì chưa đủ chứng cứ liên quan

Một số bệnh có bằng chứng liên quan chắc chắn với Dioxin gồm:

- Ung thư tiền liệt tuyến

- Bệnh đa u tủy xương ác tính (multipe Myeloma)

- Gai sống chẻ đôi (Spina Bifida)

- Porphyra Cutanea Tarda (bệnh rối lọan chuyển hóa

porphyrin, đặc trưng bởi sự tăng mẫn cảm với ánh sáng, xuất hiện các nốt phỏng trên da và các tổn thương khác, có tăng hàm lượng porphyrin trong gan, trong nước tiểu)

- Rối loạn thần kinh ngoại biên

- Bệnh đái đường

Một số bệnh khác thì chưa đủ chứng cứ để nói có liên quan với Dioxin hay không Trong mấy năm gần đây, hầu như môĩ năm có một hội thảo Quốc tế về Dioxin Tại Montere bang California của Mỹ đã diễn ra hội nghị Dioxin 2000 từ 13 đến 17/8/2000 Cũng tại hội nghị này, một danh mục

về bệnh tật bổ sung có liên quan tới Dioxin cũng được đề xuất Từ ngày 9 đến 14/9/2001 hội nghị Quốc tế về Dioxin đã được tổ chức tại Gyconju - Nam Triều Tiên Tại đây , các nghiên cứu đều khẳng định những ảnh hưởng của

CĐdc/Dioxin đối với sức khỏe con người

Trang 25

1.6 Những nghiên cứu về Dioxin ở Việt Nam

Chiến tranh trong tiềm thức của con người Việt Nam đã lùi vào dĩ vãng gần 30 năm, nhưng hậu quả của chiến tranh hoá học để lại cho con người không lường hết được, những tác hại do CĐDC/Dioxin để lại di hoạ cho con người ngày càng rõ rệt đã và đang gây ra thảm cảnh đau lòng về sức khoẻ và nòi giống

Nhận thức được tác hại của chất độc trong chiến tranh hoá học đến sức khoẻ con người, từ sau giải phóng miền Nam các nhà khoa học Việt Nam cũng đã tiến hành đánh giá tác hại của CĐDC/Dioxin, tất cả những nghiên cứu đó đều cho thấy có những biến đổi nhất định ở chức năng các cơ quan của cơ thể con người có tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với CĐDC/Dioxin Đặc biệt tiến hành nghiên cứu định lượng Dioxin trong mô mỡ người còn rất cao, vượt trên 20 lần cho phép

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Ân về tình trạng Vitamin A ở những người có mức độ tiếp xúc khác nhau với chất da cam cho thấy tỷ lệ thiếu Vitamin A do suy giảm nhạy cảm chiếm 35,7% số đối tượng (p <0,005) Tỷ lệ thiếu Vitamin A do suy giảm nhạy cảm ở nhóm ngời bị tác động trực tiếp của chất độc da cam lớn hơn gấp 10 lần so với nhóm người không tiếp xúc với chất độc, gấp 5 lần so với nhóm tiếp xúc gián tiếp Những công trình nghiên cứu khác ở Tây Nguyên trong chiến tranh và ở các cư dân nông thôn miền Nam Việt Nam bị tác động bởi chất da cam đều đưa ra nhận định rằng: Nguyên nhân của bệnh khô mắt là do thiếu tất cả các sinh tố trong đó thiếu sinh tố A cấp tính mà Dioxin có vai trò nhất định trong hội chứng này, tỷ lệ thiếu Vitamin A cao gặp phải trong những người bị tác động bởi chất độc da cam có đặc trưng là dạng suy giảm nhạy cảm với liều dược lý Vitamin

Các nghiên cứu của trung tâm nhiệt đới Việt Nga cho thấy đối với thế

hệ phụ nữ đầu tiên sau chiến tranh đang ở lứa tuổi sinh đẻ có sự gia tăng đáng

kể tỷ lệ phần trăm thai chết lưu, dị tật bẩm sinh và sảy thai tự phát Có những bằng chứng khẳng định những hiên tượng dưới đây:

+ Rối loạn chức năng sinh sản ở những phụ nữ trẻ trong giai đoạn

hiện tại

+ Những tổn thương bộ máy di truyền của lymphoxit máu ngoại

Trang 26

vi và các tế bào biểu mô niêm mạc miệng

Cũng ở trung tâm này, trong các nghiên cứu dịch tễ chức năng sinh sản đã tập trung chú ý đến nghiên cứu tần suất bệnh lý thai nghén như : sảy thai tự phát, chết khi sinh và dị tật bẩm sinh và thấy rằng ở Việt Nam, trung bình có khoảng 30% phụ nữ trong những vùng bị rải CĐDC/Dioxin có các biểu hiện tai biến thai nghén, thường liên quan với doạ sảy thai, suy thai hoặc giảm o xy thai

Trong một nghiên cứu hồi cứu từ 1952 - 1985, khi so sánh các tỷ lệ sảy thai tự nhiên, thai chết lưu của nhóm có tiếp xúc với CĐDC/Dioxin và nhóm không tiếp xúc thì nguy cơ bị các bất thường trên tăng cao gấp từ 2,2 lần (nhóm sảy thai) tới 26,6 lần (nhóm thai chết lưu) Kết quả này chứng tỏ có mối liên quan chặt chẽ giữa việc nhiễm chất độc hóa học và các bệnh lý trên Kết quả nghiên cứu về tình hình sảy thai tự nhiên ở 848 cặp vợ chồng ở tỉnh Bến Tre năm 1983 cho thấy tần số sảy thai đều tăng lên một cách đáng tin cậy (P<0,05 - 0,001)

Nghiên cứu của Học Viện Quân Y năm 1998 trong dự án Z1 cho thấy tỷ lệ chung có biểu hiện bất thường thai sản, tính chung cho cả mẹ và con (sảy thai, chửa trứng, đẻ non, con chết khi đẻ, con nhẹ cân, con khuyết tật) là 13,33% đến 34,45% Tỷ lệ này cao nhất ở nhóm tiếp xúc trực tiếp với CĐDC/Dioxin so với nhóm tiếp xúc sinh thái và nhóm không tiếp xúc

Trong một báo cáo của Nguyễn thị Xiêm về tình hình chửa trứng tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về chất diệt cỏ trong chiến tranh đã có nhận xét là : tỷ lệ chửa trứng/thai nghén gặp nhiều hơn trong điều tra dân số ở miền Nam (có tiếp xúc với chiến tranh hóa học) so với miền Bắc (không tiếp xúc với chiến tranh hóa học) Tỷ lệ chửa trứng/ chorio khác nhau không có ý nghĩa giữa các Trung tâm y tế có các chức năng tương đương của 2 miền Nguy cơ cao của chửa trứng giống nhau ở cả 3 miền: tuổi mẹ cao, có thai nhiều lần, môi trường - điều kiện vệ sinh sinh sống thấp, mẹ có tiếp xúc với hóa chất

Cũng trong Hội nghị này, một báo các khác về tình hình chửa trứng tại Việt Nam đã đi đến kết luân rằng tần suất chửa trứng bán phần ở Việt Nam cao gấp 10 lần so với ở Châu Âu và Bắc Mỹ

Kết quả nghiên cứu của Lê Cao Đài và cộng sự (Năm 2002) chỉ rằng

sự ô nhiễm ở Việt nam chỉ do TCDD Nồng độ TCDD ở Biên Hoà khác nhau

Trang 27

từ 2,4-413 ppt, với trung bình là 67 ppt Sự ô nhiễm là do tràn đổ chất Dioxin xảy ra ở Biên Hoà năm 1970, một căn cứ không quân Nồng độ TCDD tăng cao thấy cả ở trẻ em và người trưởng thành và những người ở miền Bắc mới chuyển vào miền Nam.Hầu hết gánh nặng Dioxin lên cơ thể do ăn uống thịt

mỡ động vật có ô nhiễm Dioxin như cá, sản phẩm động vật khác Nồng độ TCDD rất cao trong cá đã ủng hộ giả thuyết này, nồng độ từ 18-810 ppt, cao hơn 120-27000 lần so với cá ở Mỹ Nồng độ TCDD trong sữa từ 200-1850 pp Một số thực phẩm ở miền Nam có nồng độ TCDD cao hơn rất nhiều ở miền Bắc

Các công trình nghiên cứu về một số bệnh lý khác gây nên do CĐDC/Dioxin ở người Việt Nam : đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này

và các tác giả đã có một số nhận định như sau :

+ Tỷ lệ hiện mắc các dị dạng bẩm sinh của những người sinh ra

từ 1975-1997 ở vùng có bị nhiễm chất độc hóa học có phần cao hơn so với các vùng không bị nhiễm chất độc hóa học của Quân đội Mỹ từ trước

+ Nhóm có tiếp xúc với CĐDC/Dioxin mắc nhiều bệnh hơn nhóm chứng, sự khác biệt giưã 2 lô rõ rệt nhất ở nhóm bệnh : thần kinh, ngoài

da, tiêu hóa và truyền nhiễm ( P< 0,001; P<0,05; P<0,01; P< 0,001)

+ Theo mức độ tiếp xúc ( nhẹ và nặng) sự khác biệt giữa 2 nhóm cũng khá rõ đối với bệnh thần kinh (48,8% và 19,6%), tiêu hóa (78,3% và 73,7%)

+ Tần số mắc bệnh cấp tính trong vòng 2 tuần kể từ ngày điều tra qua kết quả phỏng vấn hồi cứu cho thấy : bệnh cảm cúm thông thường và viêm nhiễm đường hô hấp cấp có tỷ lệ mắc cao hơn, sau đó là nhóm bệnh viêm tai - mũi - họng và tiêu chảy cấp

+ Tần số mắc bệnh mãn tính được hỏi qua điều tra thì các loại bệnh suy nhược thần kinh, đau đầu, viêm khớp mãn, viêm dạ dày tá tràng là các loại bệnh có tỷ lệ cao nhất, sau đó tới tình trạng huyết áp cao và viêm

đường hô hấp, viêm đại tràng mãn

+ Tần số mắc bệnh qua khám thực thể cao ở các bệnh : tim mạch, tiêu hóa, cơ khớp Sau đó là nhóm các bệnh thần kinh, da liễu và tai mũi họng

+ Tỷ lệ mắc một số bệnh mãn tính qua phỏng vấn chủ quan và tỷ

Trang 28

lệ mắc một số nhóm bệnh qua khám khách quan ở nhóm có tiếp xúc trực tiếp với CĐDC/Dioxin cao hơn nhóm có tiếp xúc sinh thái và nhóm không tiếp xúc

Hiệu lực gây đột biến và gây ung thư của TCDD đối với người đã

được đề cập đến trong một nghiên cứu sự phân bố của các biến loạn hình thái cấu trúc theo nhóm các thể nhiễm sắc và nhận thấy có sự phù hợp với những nghiên cứu trước đó, chứng tỏ hiệu lực gây đột biến nhiễm sắc thể của TCDD

là thành phần có độc tính cao nhất trong các chất hoá học Mỹ đã rải ở miền Nam Việt Nam

Qua 4 lần Hội thảo về tác hại của CĐdc/Dioxin tại Việt Nam, đã có17 chương trình nghiên cứu về vấn đề Dioxin và ung thư, những vấn đề

được quan tâm đến là :

+ Ung thư gan tiên phát và chiến tranh hóa học ở Việt Nam Vì

số ca nghiên cứu còn ít nên các tác giả đã dè dặt kết luận rằng khả năng bị ung thư nguyên phát ở những người được coi là có tiếp xúc với CĐDC/Dioxin tăng gấp 5 lần hơn so với những người không tiếp xúc

+ Ung thư gan nguyên phát và nhiễm chất da cam Kết quả của nghiên cứu này cho thấy khả năng bị ung thư gan nguyên phát ở những người

được coi là có tiếp xúc với CĐDC/Dioxin tăng gấp 4,1 lần so với những người không tiếp xúc

+ Ung thư tổ chức phần mềm và u ác tính Lympho Nghiên cứu này đã chỉ ra 1 tỷ lệ cao những người bị nhiễm chất độc hóa học trong chiến tranh và cho thấy có mối liên quan giữa nhiễm CĐDC/Dioxin và khả năng gây

ra ung thư phần mềm và Lympho non – Hodgkin

Nhìn chung các báo cáo này đều kết luận rất dè dặt về mối liên quan giữa sự tiếp xúc với CĐDC/Dioxin và bệnh ung thư

1.7 Những nghiên cứu về sự phát triển thể lực ở lứa tuổi trưởng thành

Một số tác giả như Đỗ Xuân Hợp (1943), Trần Nhật úc (1959), Ngô Thế Phương (1960), Nguyễn Quang Quyền (1960 - 1975) đã có những nghiên cứu có giá trị về thể lực của người Việt nam trưởng thành Đặc biệt, từ sau

Ngày đăng: 11/07/2016, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Triệu An, Phan Thu An “Góp phần thay đổi chỉ tiêu miễn dịch ở những người có thể bị nhiễm độc Dioxin tại chiến trường miền Nam Việt Nam”, Y học Việt Nam – Tổng hội y d−ợc học Việt Nam 1992, Tập 166 - Số 6, tr 2- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần thay đổi chỉ tiêu miễn dịch ở những người có thể bị nhiễm độc Dioxin tại chiến trường miền Nam Việt Nam”", Y học Việt Nam – Tổng hội y d−ợc học Việt Nam 1992
2. Nguyễn Quốc Ân, Vũ Hồng Diệp, Đỗ Bích Hà và cs Nghiên cứu tình trạng sức khoẻ của các cựu chiến binh ở quận Cầu Giấy - Hà Nội (Đề c−ơng nghiên cứu), Bộ Y Tế – Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng sức khoẻ của các cựu chiến binh ở quận Cầu Giấy - Hà Nội (Đề c−ơng nghiên cứu)
3. Trịnh Văn Bảo, Trần Thị Thanh H−ơng, Trần Đức Phấn Và cs Phân tích một số biến đổi di truyền và mô hình bệnh tật di truyền ở các đối tượng bị ảnh hưởng do tiếp xúc với chất độc hoá học trong chiến tranh, (Đề c−ơng nghiên cứu) Bộ Y Tế – Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số biến đổi di truyền và mô hình bệnh tật di truyền ở các đối t−ợng bị ảnh h−ởng do tiếp xúc với chất độc hoá học trong chiến tranh, (Đề c−ơng nghiên cứu)
4. Bộ quốc phòng – Học viện Quân Y Nghiên cứu hậu quả của chất độc hoá học do Mỹ rải ở miền Nam Việt Nam và khởi thảo biện pháp khắc phục, Hà Nội 1985 tr39-40-65-70-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hậu quả của chất độc hoá học do Mỹ rải ở miền Nam Việt Nam và khởi thảo biện pháp khắc phục
5. Hoàng Đình Cầu, Phùng Trí Dũng, Lê Thị Thái Hằng “ Các bệnh do chất da cam ( Dioxin)”, Về tác hại của chất độc hóa học sử dụng trong chiến tranh đối với sức khỏe người Việt nam, Bộ Y Tế - Hà Nội 12/1998 (Hội thảo khoa học) tr1-26. Lê Văn C−ờng“ Một số bệnh lý khác gây nên do tiếp xúc với Dioxin”, Tổng quan tình hình nghiên cứu tác hại của Dioxin, Bộ Y Tế - TP. Hồ Chí Minh 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh do chất da cam ( Dioxin)”, "Về tác hại của chất độc hóa học sử dụng trong chiến tranh đối với sức khỏe ng−ời Việt nam", Bộ Y Tế - Hà Nội 12/1998 ("Hội thảo khoa học") tr1-2 6. Lê Văn C−ờng “ Một số bệnh lý khác gây nên do tiếp xúc với Dioxin”, "Tổng quan tình hình nghiên cứu tác hại của Dioxin
8. Bùi Đại, Lê Cao Đài, Bích Thủy Tình hình bệnh tật của những quân nhân hoạt động ở vùng rải chấtđộc hóa học và tai biến sinh sản của gia đình họ so với những quân nhân không tiếp xúc với chất độc hóa học”, Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về chất diệt cỏ trong chiến tranh, tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên Hà Nội 15-18/11/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về chất diệt cỏ trong chiến tranh, tác hại lâu dài đối với con ng−ời và thiên nhiên
9. Phạm ngọc Đính, Nguyễn văn Nguyên, Lê bách Quang Một số đặc điểm bệnh lý do nhiễm chất độc hóa học ở một điểm dân c− phía Nam”, Kỷ yếu công trình khoa học – Học Viện Quân Y, tr 328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu công trình khoa học – Học Viện Quân Y
10. Phạm Ngọc Đính, Đoàn Huy Hậu, Đào Xuân Vinh Điều tra dịch tễ và lâm sàng trên một số nhóm dân c− ở Biên Hoà và Hà Đông, Học Viện Quân Y – Dự án Z1- Hà Nội – 1998 tr 79-80-81-82-83- 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dịch tễ và lâm sàng trên một số nhóm dân c− ở Biên Hoà và Hà Đông
11. Phạm Ngọc Đính, Lê Bách Quang, Đoàn Huy Hậu Điều tra tình trạng dị tật bẩm sinh trong dân c− ở các xã xung quanh sân bay quân sự Biên Hoà, Học Viện Quân Y – Dự án Z1- Hà Nội – 1998 tr 3-4-5-6-7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình trạng dị tật bẩm sinh trong dân c− ở các xã xung quanh sân bay quân sự Biên Hoà
12. Nguyễn văn Nguyên, Lê Bách Quang và cộng sự Báo cáo kết quả nghiên cứu tác động hậu quả lâu dài của chất độc da cam/Dioxin đối với con người ở khu vực sân bay Biên Hòa và biện pháp khắc phục, Học Viện Quân Y – Dự án Z1 – Hà Nội – 1998 tr 7-8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu tác động hậu quả lâu dài của chất độc da cam/Dioxin đối với con ng−ời ở khu vực sân bay Biên Hòa và biện pháp khắc phục
13. Đỗ Trung Phấn, Thái Quý, Phạm quang Vinh và cs Nghiên cứu về ảnh h−ởng của Dioxin lên máu và hệ tạo máu, (Đề c−ơng nghiên cứu) Bộ Y Tế – Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về ảnh h−ởng của Dioxin lên máu và hệ tạo máu, (Đề c−ơng nghiên cứu)
17. Jose L. Domigo, Marta Shuhmacher and Juan M. Llobet “ T−ơng tácgiữa TCDD và các chất sinh quái thai khác trong tínhđộc sinh trưởng : sự liên quan tới sức khoẻ cộng đồng”, Dioxin 96 – Quyển 30 – Amstevdam 12 – 16, tháng 8 – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T−ơng tácgiữa TCDD và các chất sinh quái thai khác trong tính độc sinh trưởng : sự liên quan tới sức khoẻ cộng đồng”
19. Parkin D.M, Kogevinas M, Cordier S, Cung Thị Tuyết Anh, Lê Cao Đài, Nguyễn Chấn Hùng“ Nghiên cứu ca bệnh đối chứng về ung th− tổ chức phần mềm và uác tính Lympho ở Việt Nam”, Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về chất diệt cỏ trong chiến tranh, tác hại lâu dài đối với con người và thiên nhiên Hà Nội 15- 18/11/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ca bệnh đối chứng về ung th− tổ chức phần mềm và u ác tính Lympho ở Việt Nam”, "Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về chất diệt cỏ trong chiến tranh, tác hại lâu dài đối với con ng−ời và thiên nhiên
20. Lê cao Đài, Nguyễn Thị Ngọc Ph−ợng, Lê Hồng Thơm A comparison of ×nfant mortality rates between two Vietnames Villages sprayed by defoliants in wartime and one unsprayed villages, Presented at Dioxin 89, Toronto, Canada, September, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comparison of ×nfant mortality rates between two Vietnames Villages sprayed by defoliants in wartime and one unsprayed villages
18. E.S.Brodsky, TrÇn Xu©n Thu Đặc điểm ô nhiễm Dioxin tại miền Nam Việt Nam”, Dioxin 96 – Quyển 30 – Amstevdam 12 – 16, tháng 7 – 1996 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Theo dõi sự xuất hiện bệnh tật trong nhóm nghiên cứu. - Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn l u “nóng”  ở khu vực sân bay biên hoà
Bảng 1 Theo dõi sự xuất hiện bệnh tật trong nhóm nghiên cứu (Trang 35)
Bảng 2: Sự biến đổi các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao. - Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn l u “nóng”  ở khu vực sân bay biên hoà
Bảng 2 Sự biến đổi các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao (Trang 37)
Bảng 4: Kích th−ớc bề dày lớp mỡ d−ới da, chỉ số BMI, Pignet - Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn l u “nóng”  ở khu vực sân bay biên hoà
Bảng 4 Kích th−ớc bề dày lớp mỡ d−ới da, chỉ số BMI, Pignet (Trang 38)
Bảng 6: Thay đổi  chất l−ợng hồng cầu - Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn l u “nóng”  ở khu vực sân bay biên hoà
Bảng 6 Thay đổi chất l−ợng hồng cầu (Trang 40)
Bảng 5.  Thay đổi số l−ợng hồng cầu ở máu ngoại vi - Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn l u “nóng”  ở khu vực sân bay biên hoà
Bảng 5. Thay đổi số l−ợng hồng cầu ở máu ngoại vi (Trang 40)
Bảng 8 : Sự biến đổi đường máu ở 3 đợt xét nghiệm. - Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn l u “nóng”  ở khu vực sân bay biên hoà
Bảng 8 Sự biến đổi đường máu ở 3 đợt xét nghiệm (Trang 41)
Bảng 9 : Tỷ lệ bất th−ờng các chỉ tiêu sinh hoá n−ớc tiểu. - Theo dõi biến đổi sức khoẻ, bệnh tật bộ đội mới vào sinh sống tại vùng tồn l u “nóng”  ở khu vực sân bay biên hoà
Bảng 9 Tỷ lệ bất th−ờng các chỉ tiêu sinh hoá n−ớc tiểu (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w