1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xuất khẩu thủy sản việt nam, thực trạng và giải pháp

73 1,9K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 536,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở của hoạt động xuất khẩulà hoạt động mua bán trao đổi hàng hoábao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình trong nước.Có hai hình thức xuất khẩu: Xuất khẩutrực tiếp và xuất khẩu

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm

DNXK Doanh nghiệp sản xuất

GDP Tổng thu nhập quốc nội

HACCP Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn

NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

USD Đơn vị tiền tệ đôla Mĩ

VASEP Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sau khi đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, kinh tế đất nước đã có những bước phát triển vượt bậc Cùng với chiến lược kinh tế hội nhập và phát triển do Nhà nước đặt ra, thương mại quốc tế trở thành một bộ phận quan trọng có vai trò quyết định đến sự phát triển của quốc gia Vì vậy việc đẩy mạng giao lưu thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩuhàng hoá dịch vụ nói riêng là mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của nước ta

Xuất nhập khẩu là một trong những ngành mũi nhọn của nước ta trong giao thương với quốc tế, đem lại lợi nhuận lớn hàng năm Hiện nay Việt Nam đã mở rộng được quan hệ với rất nhiều đối tác như Anh, Mỹ, Nhật Bản, EU… Xuất khẩulà thành công lớn nhất của ngành thủy sản Xuất khẩu thủy sản cònthúc đẩy

sự phát triển của các lĩnh vực như khai thác như nuôi trồng, chế biến và các dịch

vụ hậu cần khác của ngành Như vậy xuất khẩuđóng một vai trò tương đối quan trọng đối với ngành thuỷ sản.Chính vì vai trò quan trọng như vậy, xuất khẩu cần được chú trọng phát triển, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hóa ở Việt Nam hiện nay Trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực hàng đầu của Việt Nam, các mặt hàng thủy sản có nhiều tiềm năng để phát triển, và thực sự đã đạt được nhiều thành tựu trong thời gian qua Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế khiến cho tiềm năng đó chưa được khai thác triệt để

Ngành thủy sản trong những năm gần đây (2013 - 2014) cũng có những tăng trưởng rõ rệt Không chỉ đạt được những con số ấn tượng về kim ngạch xuất khẩu(gần 8 tỷ giá trị thủy sản xuất khẩu), năm 2014 còn là năm thắng lợi về mở rộng thị trường xuất khẩuvới các doanh nghiệpxuất khẩu.Có thể thấy năm 2014, xuất khẩuthủy sản đã tăng mạnh do nhu cầu nhập khẩu tăng vọt, nguồn nguyên

Trang 5

liệu giảm, giá thủy sản nhập khẩu tăng Tuy nhiên, năm 2015, xu hướng này lại đảo ngược, kết thúc quý 3/2015, ngành thủy sản Việt Nam đã không còn hy vọng giữ vững được kim ngạch xuất khẩucác mặt hàng chủ lực như tôm và cá tra Thực trạng tăng trưởng kém bền vững của ngành đã bắt đầu bộc lộ rõ khi các yếu tố thuận lợi khách quan không còn nữa

Vì vậy việc đẩy mạnh xuất nhập khẩu đang là lối đi chính của nước ta hiện nay Tuy nhiên việc đảm bảo giữa tăng trưởng và bền vững của ngành thì còn khá nhiều khó khăn, bất cập Vì vậy em chọn ngành thủy sản trong đề tài “Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, thực trạng và giải pháp” với hy vọng sẽ phần nào làm rõ những vấn đề trên

NỘI DUNG ĐỀÁN

Gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Trang 6

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU

Xuất khẩulà việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Cơ sở của hoạt động xuất khẩulà hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá(bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nước.Có hai hình thức xuất khẩu: Xuất khẩutrực tiếp và xuất khẩugián tiếp, những hình thức này sẽ được các doanh nghiệp sử dụng để làm công cụ thâm nhập thị trường quốc tế.Hoạt động xuất khẩungày nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các nghành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ là hàng hoá hữu hình mà cả hàng hoá vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn

Xuất khẩuhàng hoá có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Thông qua xuất khẩucó thể làm gia tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách, kích thích đổi mới công nghệ, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống của người dân Đối với những nước có trình độ kinh tế còn thấp như nước ta, những nhân tố tiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động, còn những yếu tố thiếu hụt như vốn, thị trường và khả năng quản lý Chiến lược hướng về xuất khẩuthực chất là giải pháp mở của nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách với nước giàu

Xuất khẩu là hoạt động mũi nhọn của quốc gia, giúp thúc đẩy phát triển quan hệ đối ngoại với nhiều nước, giúp chuyển giao vốn và công nghệ vào trong quốc gia, phát triển trình độ sản xuất cả doanh nghiệp và lao động, tạo ra việc làm, kinh nghiệm… và còn nhiều lợi ích khác Đất nước muốn phát triển phải mở rộng ngoại

Trang 7

thương, giao dịch xuyên biên giới Công cụ để thực hiện điều đó chính là xuất nhập khẩu.

1.2 ĐẶC ĐIỂM NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM

Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế trên biển rộng hơn 1 triệu km2 với đường

bờ biển dài hơn 3.200 km, 112 cửa sông rạch và 4000 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên nhiều sông ngòi, đầm phá, đảm bảo cho nguồn tài nguyên thuỷ hải sản rất phong phú Trong vùng biển độc quyền kinh tế, tổng trữ lượng thuỷ sản biển được đánh giá khoảng 4 triệu tấn, trong đó lượng thuỷ sản ở tầng nổi chiếm 62,7% và tầng đáy chiếm 37,3% đảm bảo cho khả năng khai thác 1.4 đến 1.6 triệu tấn thuỷ sản các loại hàng năm trong đó có nhiều loại hải sản quý có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, cá ngừ, sò huyết… Việt Nam cũng có vùng mặt nước nội địa lớn rộng hơn 1,4 triệu ha, tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản dồi dào, khoảng 1,5 triệu tấn mỗi năm.Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm và một số vùng có khí hậu ôn đới Tài nguyên khí hậuđã giúp cho ngành thuỷ sản phát triển một cách thuận lợi.Chủng loại sinh vật đa dạng và phong phú với khoảng 510 loài cá trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi trội để phát triển ngành công nghiệp thủy sản Từ lâu Việt Nam đã trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩuthủy sản hàng đầu khu vực, cùng với Indonesia và Thái Lan Xuất khẩuthủy sản trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế

Trang 8

nhanh, thu được hiệu quả kinh tế – xã hội đáng kể, từng bước góp phần thay đổi

cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn và góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và xoá đói, giảm nghèo Theo kết quả thống kê ở các tỉnh/thành phố, năm 2010, cả nước có trên 1 triệu ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, bình quân giai đoạn 2001-2010, tăng 4,2%/năm Trong đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm nhiều nhất với 70,19% tổng diện tích, tiếp đến là vùng đồng bằng sông Hồng 11,64% Năm 2012, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của cả nước đạt 1.200.000 ha với tốc độ tăng bình quân 4,3%/năm giai đoạn 2001 - 2012

- Nuôi thuỷ sản nước ngọt

Nuôi cá ao hồ nhỏ: Là một nghề có tính truyền thống gắn với nhà nông, từ phong trào ao cá Bác Hồ đến phong trào VAC Xu hướng diện tích ao đang bị thu hẹp do nhu cầu phát triển xây dựng nhà ở Đối tượng cá nuôi khá ổn định: trắm, chép, trôi, mè, trê lai, rô phi nguồn giống sinh sản hoàn toàn chủ động Năng suất cá nuôi đạt bình quân trên 3 tấn/ha Nghề nuôi thuỷ sản ao hồ nhỏ đã phát triển mạnh Đặc biệt, tôm càng xanh là một mũi nhọn để xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, nhất là ở các thành phố, trung tâm dịch vụ góp phần điều chỉnh cơ cấu canh tác ở các vùng ruộng trũng,tăng thu nhập và giá trị xuất khẩu.Vấn đề khó khăn là sự phụ thuộc của năng suất vào điều kiện thời tiết, khí hậu cộng với vấn đề trình độ của người nuôi chưa được giải quyết thích hợp đã dẫn đến sự không ổn định của sản lượng nuôi Các giống đã đưa vào nuôi là: lươn, ếch, ba ba, cá sấu Tuy nhiên, do thiếu quy hoạch, không chủ động nguồn giống, thị trường không ổn định đã hạn chế khả năng phát triển

Nuôi cá mặt nước lớn: Đối tượng nuôi thả chủ yếu là cá mè, ngoài ra còn thả ghép cá trôi, cá rô phi Do khó khăn trong khâu bảo vệ và giá cá mè thấp nên lượng cá thả vào hồ nuôi có xu hướng giảm.Hình thức nuôi chủ yếu hiện nay là lồng bè kết hợp khai thác cá trên sông, trên hồ Hình thức này đã tận dụng được diện tích mặt nước, tạo ra việc làm tăng thu nhập, góp phần ổn định đời sống của

Trang 9

những người sống trên sông, ven hồ ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung, đối tượng nuôi chủ yếu là trắm cỏ, qui mô lồng nuôi khoảng 12–24 m3, năng suất 400–600 kg/lồng ở các tỉnh phía Nam, đối tượng nuôi chủ yếu là cá ba sa, cá lóc, cá bống tượng, cá he Quy mô lồng, bè nuôi lớn, trung bình khoảng 100 – 150 m3 / bè, năng suất bình quân 15 – 20 tấn / bè.

Nuôi cá ruộng trũng: Tổng diện tích ruộng trũng có thể đưa vào nuôi cá theo

mô hình cá - lúa khoảng 580.000 ha Năm 1998, diện tích nuôi cá khoảng 154.200

ha Năng suất và hiệu quả nuôi cá ruộng trũng khá lớn Đây là một hướng cho việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn

Nuôi tôm nước lợ: Nuôi thuỷ sản nước lợ được phát triển rất mạnh thời kỳ qua,

đã có bước chuyển từ sản xuất nhỏ tự túc sang sản xuất hàng hoá, mang lại giá trị ngoại tệ cao cho nền kinh tế quốc dân và thu nhập đáng kể cho người lao động.Những năm gần đây tôm được nuôi ở khắp các tỉnh ven biển trong cả nước, nhất là tôm sú, tôm he, tôm bạc thẻ, tôm nương, tôm rảo, song chủ yếu là tôm sú Tôm được nuôi trong ao đầm theo mô hình khép kín, nuôi trong ruộng và nuôi trong rừng ngập mặn Nhìn chung, khu vực miền Nam thuận lợi nhất cho viêc nuôi tôm Nghề nuôi tôm ở khu vực này phát triển mạnh, chủ yếu dựa vào việc đánh bắt các giống tôm tự nhiên Diện tích nuôi tôm ước tính có tới 200 nghìn ha, trong đó

25 % là nuôi kết hợp với trồng (tôm–lúa, tôm–dừa, tôm–sản xuất muối, đước)

tôm Nghề nuôi trồng thuỷ sản nước mặn

Nghề nuôi biển có tiềm năng phát triển tốt.Đến nay nghề nuôi trai lấy ngọc, nuôi cá lồng, nuôi tôm hùm, nuôi thả nhuyễn thể hai mảnh vỏ, nuôi trồng rong sụn

có nhiều triển vọng tốt Tuy nhiên do khó khăn về vốn, hạn chế về công nghệ, chưa chủ động được nguồn giống nuôi nên nghề nuôi biển thời gian qua còn bị lệ thuộc vào tự nhiên, chưa phát triển mạnh

Trang 10

- Hệ thống sản xuất giống

Hệ thống sản xuất giống thuỷ sản nước ngọt: Các loài cá nước ngọt truyền thống hầu hết đã được sản xuất nhân tạo trong thời gian qua Vấn đề cung cấp giống cho nuôi trồng các đối tượng này tương đối ổn định Số cơ sở sản xuất cá giống nhân tạo trên toàn quốc hiện nay khoảng 354 cơ sở, hàng năm có khả năng sản xuất khoảng trên 4 tỷ cá giống cung cấp kịp thời vụ cho nhu cầu nuôi trên cả nước Tuy nhiên, giá cá giống nhất là các loại đặc sản còn cao, chưa đảm bảo chất lượng giống đúng yêu cầu và chưa được kiểm soát chặt chẽ

Hệ thống sản xuất giống tôm: Giống tôm về cơ bản đã cho đẻ thành công ở cả

3 miền Bắc, Trung, Nam, nhưng sản lượng còn thấp Vấn đề nuôi vỗ tôm bố mẹ thành thục chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn tôm bố mẹ trên cả nước, đặc biệt là vào vụ sản xuất chính Đến nay trên toàn quốc đã có 2.125 trại sản xuất và ươm tôm giống, hàng năm sản xuất được khoảng 5 tỷ tôm P15, bước đầu đã đáp ứng một phần nhu cầu tôm giống cho nhân dân

Hạn chế chủ yếu trong sản xuất giống là sự phân bố không đồng đều của các trại giống theo khu vực địa lý đã dẫn đến tình trạng phải vận chuyển con giống đi

xa, vừa làm tăng thêm giá thành vừa làm giảm chất lượng con giống, chưa có sự phù hợp trong sản xuất giống theo mùa đối với các loài nuôi phổ biến nhất và thiếu các công nghệ hoàn chỉnh để sản xuất giống sạch bệnh

- Tình hình sản xuất thức ăn

Theo thống kê hiện nay trên toàn quốc có khoảng 24 cơ sở sản xuất thức ăn nhân tạo với tổng công suất 47.640 tấn / năm, sản lượng thức ăn đạt được chưa đáp ứng nhu cầu cả và số lượng lẫn chất lượng Giá thành cao do chi phí đầu vào chưa hợp lý ảnh hưởng đến sức tiêu thụ Với một số mô hình nuôi bán thâm canh (nuôi tôm) và thâm canh (nuôi cá lồng) thì thức ăn được nhập từ nước ngoài và phải chi trả một lượng ngoại tệ tương đối lớn

Trang 11

1.2.2 Lĩnh vực khai thác thuỷ sản

- Khai thác hải sản: là việc khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên biển va vùng nước lợ Nhìn chung, nghề khai thác hải sản của nước ta là nghề cá nhỏ, hoạt động ven bờ là chủ yếu Do có sự phát triển về số lượng tàu thuyền, công cụ và kinh nghiệm khai thác mà tổng sản lượng hải sản khai thác trong 10 năm gần đây tăng liên tục (khoảng 6,6%/năm) Riêng trong giai đoạn 1991-1995 tăng với tốc độ 7,5%/năm ; giai đoạn 1996 – 2000 tăng bình quân 5,9 % / năm Cơ cấu sản phẩm khai thác có nhiều thay đổi: ngư dân đã chú trọng khai thác các sản phẩm có giá trị thương mại cao như tôm, mực, cá mập, cá song, cá hồng, góp phần tăng kim nghạch xuất khẩu

Do sự tăng trưởng quá lớn của việc khai thác nên trữ lượng ở vùng biển ven bờ

đã có dấu hiệu bị đe dọa, một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao đã bị khai thác quá mức Vì vậy ngành thủy sản Việt Nam chủ trương cơ cấu lại nghề khai thác để giảm áp lực đối với nguồn lợi trong vùng biển này, bằng cách phát triển khai thác các nguồn lợi còn chưa bị khai thác ở vùng xa bờ, đồng thời chuyển một bộ phận ngư dân sang lĩnh vực hoạt đông kinh tế khác như nuôi trồng, kinh doanh, cung ứng dịch vụ hậu cần nghề cá, tham gia hoạt động phục vụ du lịch, giải trí

- Khai thác thủy sản nội địa: là hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản trong các sông hồ, đầm, phá và các vùng nước ngọt tự nhiên khác Tổng sản lượng thủy sản khai thác nội địa hằng năm dao động từ 200 đến 250 nghìn tấn Đây là nguồn cung cấp thực phẩm tại chỗ quan trọng cho dân cư, đồng thời cũng có nhiều sản phẩm quý

Lao động khai thác: Hiện nay lực lượng lao động khai thác còn khá dư thừa kể

cả lực lượng lao động kỹ thuật và lực lượng lao động đến tuổi được bổ sung hàng năm Nhìn chung lực lượng lao động thành thạo nghề nhưng trình độ văn hoá thấp gây ảnh hưởng nhiều đến việc khai thác

Trang 12

1.2.3 Lĩnh vực chế biến thuỷ sản

Chế biến thuỷ sản là khâu rất quan trọng trong quá trình sản xuất, kinh doanh thuỷ sản bao gồm nuôi trồng – khai thác – chế biến và tiêu thụ Những hoạt động chếbiến trong 15 năm qua được đánh giá là có hiệu quả, nó đã góp phần tạo nên sự khởi sắc của ngành thuỷ sản

Nguyên liệu thuỷ sản được cung cấp từ 2 nguồn chính là khai thác hải sản và nuôi trồng thuỷ sản Nguồn hải sản là chủ yếu trong cơ cấu nguyên liệu trong những năm qua, chiếm 70 % tổng sản lượng thuỷ sản thu gom được ở Việt Nam, trung bình 10 năm từ 1985 – 1995, sản lượng khai thác hàng năm là khoảng 700.000 tấn Trong đó 40% sản lượng là cá đáy, 60 % là cá nổi, sản lượng khai thác phía Bắc chiếm 4,2 %, miền Trung 39,4 % và miền Nam 56,4 % Giai đoạn

1985 –1995 tốc độ tăng bình quân là 4,1 % / năm, riêng giai đoạn 1991 – 1995 là 6,8%/năm Sau năm 1995, do nghề cá xa bờ được đầu tư mạnh hơn nên sản lượng khai thác hải sản tăng rất mạnh, vượt mức một triệu tấn (1.078.000 tấn) vào năm

1997, tăng 15,8 % so với năm 1996, năm 1998 đạt 1.137.809 tấn tăng 12,2 % so với năm 1997, năm 1999 đạt 1.230.000 tấn tăng 8,6 % so với năm 1998

Nguồn nguyên liệu nuôi trồng từ khai thác nội đồng là khoảng 300.000 – 400.000 tấn / năm, nếu tính bình quân 10 năm từ 1985 – 1995 thì tốc độ tăng trưởng là 6,4%/năm Tuy nhiên cũng giống như khai thác hải sản, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản những năm gần đây cũng tăng mạnh, năm 1997 đạt 509.000 tấn, tăng 19,7 % so với năm 1996 và vượt mức 500.000 tấn (537.870 tấn) vào năm 1998

Do tổng sản lượng thuỷ sản tăng mạnh và công nghệ chế biến, thói quen tiêu dùng cũng có nhiều thay đổi nên lượng nguyên liệu được đưa vào chế biến ngày càng nhiều Năm 1991 chỉ có khoảng 130.000 tấn nguyên liệu được đưa vào chế biến xuất khẩu chiếm khoảng 15 % và khoảng xấp xỉ 30 % lượng nguyên liệu được đưa vào chế biến cho tiêu dùng nội địa còn lại dùng dưới dạng tươi sống thì

Trang 13

đến năm 1998 đã có khoảng 400.000 tấn nguyên liệu được đưa vào chế biến xuất khẩu, chiếm khoảng 24,3% tổng sản lượng thuỷ sản và khoảng 41 % nguyên liệu được chế biến cho tiêu dùng nội địa và như vậy chỉ còn khoảng 35 % nguyên liệu được dùng dưới dạng tươi sống.

Nguyên liệu hải sản được đánh bắt từ nhiều loại tàu và ngư cụ khác nhau do đó sản phẩm đánh bắt được cũng có những đặc tính khác nhau Đối với các tàu đi dài ngày, sản phẩm đánh bắt thường được bảo quản bằng đá, cá tạp thì ướp muối, rất ít phương tiện có hầm bảo quản Các loại tàu nhỏ thường đi về trong ngày nên nguyên liệu hầu như không qua xử lý bảo quản

Nguyên liệu hải sản thường bị xuống cấp chất lượng do phương tiện và đầu tư cho khâu bảo quản còn quá ít, quá thô sơ Sau khi hải sản được đánh bắt thông qua

142 bến, cảng cá chưa được xây dựng hoàn chỉnh do đó về mùa nóng các loại hải sản thường bị xuống cấp nhanh chóng, giá trị thất thoát sau thu hoạch lớn (khoảng 30%)

Các loại nguyên liệu từ nuôi trồng nước ngọt, lợ do gần nơi tiêu thụ hoặc là chủ động khai thác nên được đưa trực tiếp ra thị trường hoặc vào thẳng các nhà máy chế biến, hầu như không qua xử lý bảo quản, chúng thường đảm bảo độ tươi, chất lượng tốt

Nghiên cứu công nghệ sau thu hoạch đã được tiến hành song tác động của nó không là bao, một phần do sản phẩm thị trường còn chấp nhận hay do những lý do kinh tế, tài chính, kỹ thuật mà bản thân ngư dân chưa thể áp dụng được Khi phân phối lưu thông nguyên liệu phải trải qua nhiều khâu trung gian nên chất lượng cũng bị giảm sút

Các mặt hàng chế biến thuỷ sản:

Các mặt hàng đông lạnh (HĐL):Trong giai đoạn 1985 – 1995, các mặt hàng này

có tốc độ gia tăng trung bình 25,77 % / năm, giai đoạn 1990 – 1995, lượng HĐL

Trang 14

(trên 20%) Trong các sản phẩm thuỷ sản đông lạnh thì tôm đông lạnh vẫn chiếm

vị trí độc tôn, thời kỳ 1990 – 1995 chiếm khoảng 56 %, năm 1997 chiếm 46 % và

1998 là 52,5 % Mực và các mặt hàng cá đông lạnh cũng có tốc độ tăng trưởng rất mạnh Các loại đông lạnh khác chủ yếu là các loại ghẹ, ốc, cua, sò, điệp có tốc

độ tăng trưởng rất nhanh cùng với sự tăng trưởng của các mặt hàng có giá trị gia tăng Xu hướng tăng của sản phẩm nay còn rất lớn

Mặt hàng tươi sống: gần đây cũng rất phát triển, chủ yếu dùng cho xuất khẩu, bao gồm các loại cua, cá, tôm còn sống hoặc còn tươi như cá ngừ đại dương

Mặt hàng khô: Dạng sản phẩm này được sản xuất khá phổ biến vì đơn giản về thiết bị, công nghệ, các loại sản phẩm chính là mực khô, cá khô, tôm khô, rông câu khô, các loại khô tẩm gia vị

Các mặt hàng khác: Bên cạnh các mặt hàng trên còn có các mặt hàng đồ hộp, bột cá gia súc, các sản phẩm lên men và các sản phẩm dùng cho xuất khẩu như vây, bong, cước cá hay dùng cho nội địa như ngọc trai, arga, dầu gan cá

1.3 VỊ TRÍ, VAI TRÒ NGÀNH THỦY SẢN TRONG NỀN KINH TẾ

 Đối với nền kinh tế quốc dân

- Nghề nuôi trồng thủy sản từ tự cung tự cấp đã đáp ứng được nhu cầu cho tiêu dùng trong và ngoài nước, đáng kể là sản lượng tôm nuôi phục vụ xuất khẩucủa nước ta đứng vào khoảng thứ 5 trên thế giới; thủy sản xuất khẩucũng đã được xác định là đối tượng chủ yếu để phát triển nuôi trồng

- Công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩumà chủ yếu là công nghiệp đông lạnh thủy sản, với 164 cơ sở với tổng công suất là 760 tấn/ngày đã đóng vai trò to lớn hàng đầu về công nghiệp chế biến thực phẩm trong cả nước và thu hút nguyên liệu

để sản xuất hàng hóa xuất khẩu

- Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ, trước hết phải kể đến kỹ thuật sinh sản nhân tạo để tạo nguồn tôm giống vào cuối những năm 80, cung cấp hơn 1 tỷ tôm giống các cỡ Trong công nghiệp đánh cá, dần dần tạo ra các công nghệ để

Trang 15

chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác theo hướng hiệu quả cao, du nhập nghề mới từ nước ngoài để có thể vươn ra khai thác xa bờ.

- Hoạt động hợp tác quốc tế trên cả ba mặt: thị trường xuất khẩu, nguồn vốn nước ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ Từ cơ chế “Lấy phát triển xuất khẩuđể tự cân đối, tự trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác và nuôi trồng” qua các thời kỳ, Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa đến nay, sản phẩm thủy sản nước ta đã có mặt tại hơn 50 nước và vùng lãnh thổ với một số sản phẩm bắt đầu có uy tín trên các thị trường quan trọng Trao đổi quốc tế trên lĩnh vực công nghệ đã góp phần để có kết quả vừa nêu

 Vai trò của trong việc tạo công ăn việc làm

Công nghiệp đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đảm bảo việc làm thường xuyên cho khoảng 3,5 triệu lao động, đặc biệt là từ năm 2011, số lao động thủy sản là 3,53 triệu người Khoảng 4 triệu người sống trong các hộ gia đình làm nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Như vậy, khoảng 7,5 triệu người chiếm 8,3% dân số sống phụ thuộc vào ngành thủy sản như một nguồn sinh sống

Tổng số lao động có thu nhập từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cũng như từ các ngành và các hoạt động hỗ trợ thủy sản ước tính lên tới 8 triệu người Ngoài

ra, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản còn đảm bảo việc làm không thường xuyên và thu nhập phụ cho hơn 20 triệu người.Số dân số dựa vào nghề cá đã tăng lên khoảng 8,5 triệu người vào năm 2010 và 11 triệu người vào năm 2012 Hơn nữa, thu nhập trực tiếp của những người lao động thường xuyên trong nghề cá và nuôi trồng thủy sản dự tínhtăng trung bình 16%/năm

 Đối với hoạt động xuất khẩu

GDP ngành thủy sản đóng góp tương đối yếu trong GDP toàn quốc tuy nhiên ngành đã có sự bù đắp lại bởi sự đóng góp mạnh mẽ vào kim ngạch xuất khẩucả nước Đóng vai trò là một trong những mặt hàng xuất khẩuchủ lực của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩuthủy sản đã không ngừng tăng lên trong một số năm qua, đóng góp một phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩucả nước Từ năm

Trang 16

2009 đến 2014, kim ngạch xuất khẩuthủy sản luôn chiếm tỷ trọng trên dưới 10%

so với tổng giá trị xuất khẩu, đặc biệt năm 2014, tỷ trọng này là 31,1%

Bảng 1.: Kim ngạch xuất khẩu10 mặt hàng chủ yếu của Việt Nam năm 2014 và so sánh với năm 2013

Hàng hóa chủ yếu Kim ngạch (Tỷ USD)

So với cùng kỳ năm 2013 Kim ngạch +/-

(Tỷ USD)

Tốc độ +/- (%)

Điện thoại và các loại linh kiện 24,08 2,36 11,1

tỷ USD, tăng 25% so với năm 2013

Với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 8 tỷ USD, 2014 là năm ngành thủy sản nước

ta có tốc độ tăng trưởng cao nhất và liên tiếp trong vòng 3 năm trở lại đây Không

Trang 17

chỉ đạt được những con số ấn tượng về kim ngạch xuất khẩu, mà 2014 còn là năm thắng lợi về mở rộng thị trường xuất khẩu với các doanh nghiệp xuất khẩu.

1.4 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỐNG TỚI XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

 Yếu tố kinh tế

Kinh tế là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất khẩu hàng hoá của mỗi quốc gia, trong đó có thuỷ sản Các nhân tố chủ yếu là: tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và vấn đề lạm phát Kinh tế của đất nước ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, khi thu nhập người dân giảm xuống thì nhu cầu của người dân về các sản phẩn thuỷ sản nhập khẩu cũng sẽ giảm xuống,

do đó việc xuất khẩu sang các thị trường đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn, có khi là không xuất khẩu được Khi một thị trường nào đó bị rơi vào tình trạng bị khủng hoảng thì việc xuất khẩu sang thị trường đó là rất khó khăn vì khi đó người dân sẽ không muốn tiêu thụ những hàng hoá có giá trị cao, thậm chí là trung bình, do đó giá trị xuất khẩu thu về sẽ không được cao,thậm chí còn bị lỗ Đối với các doanh nghiệp khi xuất khẩu cũng cần phải chú ý đến yếu tố này vì nó sẽ ảnh hưởng đến doanh thu của chính doanh nghiệp đó

Tỷ lệ lạm phát, mức độ thất nghiệp ở thị trường nước nhập khẩu cũng tác động đến cả mặt sản xuất và tiêu dùng Khi tỷ lệ lạm phát cao nó sẽ tác động xấu đến tiêu dùng, lượng cầu giảm, làm cho lượng hàng tiêu thụ giảm, không khuyến khích sản xuất và đầu tư giảm

Chất lượng hoạt động của ngành ngân hàng không chỉ tác động đến kinh doanh của bản thân ngành mà còn tác động nhiều mặt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tác động đến công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát của nhà nước Khi lãi suất thay đổi, điều này ảnh hưởng đến huy động và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp; chi tiêu, tiết kiệm của người dân, ảnh hưởng đến lượng cầu của người tiêu dùng từ đó doanh nghiệp cũng phải chịu tác động lớn

Trang 18

Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa giá đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu Do vậy doanh nghiệp cần quan tâm đến yếu tố tỷ giá vì nó liên quan đến thu đổi ngoại tệ sang nội tệ, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp cũng như của ngành thủy sản.

Do sản phẩm của ngành thủy sản Việt Nam hướng tới việc xuất khẩu là chủ yếu, với hơn 90% hợp đồng hiện nay thanh toán bằng đồng USD nên những biến động của tỷ giá có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của ngành Đây là loại ngoại tệ có giá trị tương đối ổn định, ít rủi ro hơn so với đồng ngoại tệ khác Tuy nhiên sự biến động đồng tiền này những năm gần đây cũng đang ít nhiều ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của DN Việt Nam trên thị trường Mỹ.Còn các doanh nghiệp xuất khẩu sang EU, Nhật Bản, Trung Quốc… tuy cũng thanh toán bằng USD, nhưng do các đồng nội tệ ở những nước này đang mất giá so với đồng USD, nên nhu cầu chưa tăng cao và khách hàng tiếp tục đòi giảm giá nhập khẩu

 Yếu tố tự nhiên

Các nhân tố tự nhiên bao gồm nguồn lực tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác, các điều kiện về địa lý như địa hình, đất đai, thời tiết, khí hậu,… ở trong nước cũng như ở từng khu vực Thời tiết, khí hậu có tác động lớn đến việc chế biến và xuất khẩu thủy sản Địa hình và sự phát triển cơ sở hạ tầng tác động đến việc lựa chọn địa điểm của mọi doanh nghiệp, khí hậu, độ ẩm sẽ ảnh hưởng đến việc bảo quản, nguyên vật liệu, thành phẩm và điều kiện sản xuất của doanh nghiệp

Yếu tố tự nhiên của quốc gia nhập khẩu cũng có những ảnh hưởng nhất định Thị trường của một quốc gia, khu vực khác nhau có những yêu cầu khác nhau, đòi hỏi sản phẩm đưa vào phải thích hợp Chẳng hạn như sản phẩm nào đó sử dụng tốt

ở các nước có khí hậu ôn đới có thể ở khí hậu nhiệt đới lại bị hỏng, hoặc đòi hỏi

Trang 19

phải để ở nhiệt độ lạnh hoặc bôi dầu mỡ bảo quản Những sản phẩm dễ hỏng do sự tác động của khí hậu nóng ẩm thì lại yêu, bảo quản cao hơn khi xâm nhập vào thị trường có nhiệt độ cao, độ ẩm lớn.

Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3260 km, diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng hơn 226.00 km2, có diện tích vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1.000.000 km2, trong vùng biển Việt Nam có trên 400 hòn đảo lớn nhỏ, là nơi có thể cung cấp các dịch vụ hậu cần cơ bản, trung chuyển sản phẩm khai thác, đánh bắt, đồng thời làm nơi neo đậu cho tàu thuyền trong những chuyến ra khơi.Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm và một số vùng có khí hậu ôn đới Tài nguyên khí hậu đã giúp cho ngành thuỷ sản phát triển một cách thuận lợi Chủng loại sinh vật đa dạng và phong phú với khoảng 510 loài cá trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao.Tuy nhiên bên cạnh những điều kiện thuận lợi cũng có những khó khăn do điều kiện địa hình và thuỷ vực phức tạp, hàng năm có nhiều mưa bão, lũ, vào mùa khô lại hay vị hạn hán và gây khó khăn và cả những thổn thất to lớn cho ngành thuỷ sản Những năm gần đây, sự thay đổi khí hậu có tác động đến các hệ sinh thái biển

và nguồn lợi cá biển vì vậy làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cộng đồng ngư dân khu vực ven biển Tại Việt Nam, hiện chưa có các nghiên cứu đầy đủ về tác động của biến đổi khí hậu đối với khai thác hải sản Tuy nhiên, với những nguy

cơ và thách thức đang tiềm ẩn đối với lĩnh vực khai thác thuỷ sản, các ảnh hưởng tiềm tàng của biến đổi khí hậu có thể sẽ rất lớn

 Yếu tố chính trị – pháp luật

Ngoài các yếu tố đã nêu trên, thị trường quốc tế còn chịu sự tác động bởi chính trị và pháp luật Thể hiện ở những ưu đãi và cản trở của Chính phủ nước nhập khẩu đối với các nhà cung ứng khi xâm nhập vào thị trường quốc gia này Điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện dễ xâm nhập vào thị trường hơn, đồng thời có điều kiện mở rộng thị trường của mình Có thể đó là những qui chế hàng rào thuế quan, về bảo hộ, hạn ngạch Nếu mối quan hệ chính trị giữa nước

Trang 20

nhập khẩu và xuất khẩu là bất ổn thì xâm nhập và mở rộng thị trường sẽ là rất khó khăn cho nhà xuất khẩu.

Với việc tham gia vào các FTA và TPP sẽ tạo ra cơ hội không nhỏ cho thủy sản Việt Nam về thuế quan Hiệp định FTA Việt Nam – Hàn Quốc được ký kết giúp nâng khả năng cạnh tranh của Việt Nam với Trung Quốc, Thái lan và Ecuador (đang phải chịu thuế 20%) Hàn Quốc cam kết cấp hạn ngạch thuế quan 10.000 tấn tôm cho Việt Nam trong năm đầu tiên và đạt 15.000 tấn sau 5 năm với thuế suất

NK 0%

Với Nhật Bản trong TPP, tất cả các sản phẩm tôm tươi/đông lạnh sẽ có thuế 0% (trước: 1-10%) ngay khi Hiệp định có hiệu lực; tôm chế biến bị loại trừ khỏi danh mục giảm thuế trong VJEPA.Với Hoa kỳ trong TPP, các sản phẩm tôm tươi/đông lạnh đã có thuế MFN 0%, sản phẩm tôm chế biến có lộ trình 5 năm đưa thuế về 0% Như vậy khi TPP khi có hiệu lực thì tôm Việt Nam có lợi thế cạnh tranh hơn

so với 6 nước cạnh tranh chính là Agentina, Ecuado, Ấn Độ, Thái Lan, Phillipines

và Indonesia vì không tham gia TPP

Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, biện pháp tự vệ, các điều kiện kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ…là những loại rào cản đã và đang được các nước nhập khẩu

sử dụng khá phổ biến Một khi những rào cản này được dựng lên, hoạt động xuất khẩu có thể bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng: những mức thuế bổ sung có thể làm triệt tiêu khả năng cạnh tranh, chi phí tuân thủ cao khiến giá bán hàng tăng, những hạn ngạch khắt khe, thậm chí là những lệnh cấm nhập khẩu có thể dẫn tới nguy cơ mất hẳn một thị trường nào đó

Do lợi thế sản xuất theo quy mô lớn, chi phí nhân công rẻ nên các sản phẩm của ngành thủy sản Việt Nam có giá thành khá cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, chính lợi thế này lại gây ra một rủi ro khá lớn cho ngành thủy sản Việt Nam là rủi ro pháp lý Không ít lần hiệp hội thủy sản của các quốc gia nhập khẩu sản phẩm của chúng ta kiện các doanh nghiệp Việt Nam về việc bán phá giá

Trang 21

 Yếu tố văn hóa

Văn hóa xã hội ảnh hưởng một cách chậm chạp hơn song cũng rất sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanh của mọi doanh nghiệp Các vấn đề về phong tục tập quán, lối sống, trình độ dân trí, tôn giáo, tín ngưỡng,… có ảnh hưởng sâu sắc đến cơ cấu của cầu trên thị trường.Khi xét các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế thì không thể bỏ qua yếu tố văn hoá Chính yếu tố văn hoá đó đã làm cho khách hàng ở mỗi quốc gia phản ứng khác nhau với cùng một loaị sản phẩm Tác động của yếu tố văn hoá đến thị trường thực sự là một vấn

đề rộng, phức tạp, tuỳ cách quan niệm văn hoá theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp nhưng có một điều, yếu tố văn hoá được hình thành trên điều kiện tự nhiên, lịch sử dân tôc, tôn giáo Do đó, thị trường của cùng các loại sản phẩm vào các quốc gia

có nền văn hoá khác nhau thì sẽ khác nhau Một ví dụ đơn giản về ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá tới thị trường quốc tế là việc giới thiệu và bán váy ngắn ở các quốc gia theo đạo hồi là điều không tưởng

 Khoa học-công nghệ

Trong phạm vi môi trường kinh tế quốc dân, yếu tố kỹ thuật – công nghệ đóng vai trò ngày càng quan trọng, mang tính chất quyết định đối với khả năng cạnh tranh, và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Cơ sở vật chất trong doanh nghiệp nói chung doanh nghiệp thủy sản nói riêng bao gồm dây chuyền máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kho bãi, cần được trang bị tiện nghi, đầy đủ và sử dụng những dây truyền công nghệ hiện đại, tiên tiến sẽ góp phần không nho trong việc nâng ca khả năng sản xuất cũng như xuất khẩu của ngành thủy sản

Những năm qua, khoa học công nghệ trong chế biến và bảo quản thủy sản ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho ngành thủy sản Số lượng các nhà máy xây dựng mới trong ngành ngày càng tăng (nhất là nhà máy chế biến cá), đồng thời năng lực sản xuất và chế biến của các nhà máy hiện có không ngừng được nâng lên về quy mô và công nghệ Nhiều

Trang 22

trang thiết bị, máy móc hiện đại, có năng suất cao, đảm bảo chất lượng, đáp ứng các yêu cầu vềATVSTP đã được đưa vào sử dụng như: hệ thống làm đá vảy, đá khô, đá lỏng, dây chuyền chế biến liên hoàn,

Trang 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNGXUẤT KHẨUTHỦY SẢN VIỆT NAM

2.1 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Trong nhiều năm qua, mặt hàng thủy sản luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam ra thị trường thế giới Hoạt động xuất khẩu thủy sản bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước và có tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong nhiều năm trở lại đây Năm 2007 Việt Nam đã đứng thứ 7 trong top 10 nước xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới và luôn giữ vị trí số 5 liên tục trong nhiều năm gần đây Việt Nam được coi là nước có tốc độ tăng trưởng thủy sản nhanh nhất, sản lượng xuất khẩu thủy sản không ngừng tăng giai đoạn 2011-2015

2.1.1 Giá trị kim ngạch xuất khẩumặt hàng thủy sản

Mặc dù năm 2015, tình hình sản xuất, xuất khẩuthủy sản gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên nếu tính chung giai đoạn 2011-2015, ngành thủy sản vẫn giữ được tốc

độ tăng trưởng, cao hơn chỉ tiêu kế hoạch 5 năm của cả giai đoạn

Cụ thể, tổng sản lượng thủy sản giai đoạn 2011-2015 đạt mức tăng trung bình 3,8%/năm, cao hơn 9,3% so với kế hoạch Trong số đó, sản lượng khai thác thủy sản tăng trung bình 4,7% năm, sản lượng nuôi trồng tăng trung bình 3%/năm Kim ngạch xuất khẩuthủy sản tăng trung bình 2,4%/năm

Trong năm 2013, mọi lĩnh vực của ngành thủy sản như khai thác, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu đều nổi trội hơn năm 2012 Trong đó, xuất khẩu tăng vượt trội, đạt trên 6,7 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 10,7% Con số này lại tiếp tục tăng lên 7,84 tỷ USD năm 2014, tăng hơn 17% Tuy nhiên, năm 2015 kim ngạch xuất khẩu thủy sản chỉ đạt 6,72 tỷ USD, giảm 14,3% so với năm 2014 và giảm 10,4% so với mục tiêu đặt ra của năm 2015

Trang 24

Biểu đồ 2.: Giá trị xuất khẩu thủy sản qua các năm (tỷ USD)

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Tính đến giữa tháng 3/2015, tổng xuất khẩuthủy sản của cả nước đạt 1,061 tỷ USD, giảm 22% so với cùng kỳ năm 2014 Tổng xuất khẩuthủy sản quý I năm

2015 đạt khoảng 1,27 tỷ USD, giảm 23% so với Quý I/2014

Biểu đồ 2.: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam QI/2011-2015

Nguồn: VASEP

So với giá trị và mức tăng trưởng xuất khẩuthủy sản cùng thời điểm của 5 năm (2011 – 2015) thì quý I/2015 sụt giảm mạnh nhất Giá trị xuất khẩucũng chỉ tương đương với quý I/2013 và thấp hơn so với cùng kỳ 2012

Theo xu hướng của các năm, xuất khẩuthủy sản quý I thường thấp hơn so với quý IV năm trước và thấp nhất trong năm vì nhu cầu thường tăng từ cuối quý II và tăng dần vào cuối năm, đáp ứng đơn đặt hàng trước các dịp Lễ Giáng sinh và Năm mới.Năm 2014 diễn biến xuất khẩungược lại khi thị trường tăng đột biến vào đầu năm, nhà nhập khẩu gom hàng dự trữ vì sợ thiếu nguồn cung, nhất là với mặt hàng tôm Cùng với các yếu tố khác, năm 2015 được dự báo có thể xuất khẩuthủy sản sẽ

Trang 25

quay về quỹ đạo thông thường của các năm: giảm đầu năm và tăng dần từ giữa

năm đến hết quý III, chững lại trong quý IV

Tuy nhiên, quý III/2015, xuất khẩuthủy sản tiếp tục có mức tăng trưởng âm 16,5% so với cùng kỳ năm 2014 Tính chung 9 tháng đầu năm, xuất khẩuthủy sản

cả nước đạt 4,8 tỷ USD, giảm 16,4% so với cùng kỳ Tổng kim ngạch xuất

khẩuthủy sản tháng 10 đạt khoảng 604 triệu USD, giảm 12% so với cùng kỳ Các

mặt hàng chủ lực như tôm, cá tra, cá ngừ, bạch tuộc đều có mức giảm lần lượt là

33%, 30%, 11% và 28%.Tổng giá trị xuất khẩuthủy sản của Việt Nam 10 tháng

đầu năm 2015 ước đạt 5,45 tỷ USD, giảm gần 18% so với cùng kỳ năm 2014

Trong đó, xuất khẩutôm đạt khoảng 2,4 tỷ USD, giảm 28%, cá tra 1,3 tỷ USD,

giảm 12%, cá ngừ 383 triệu USD, giảm 6%, mực bạch tuộc giảm 13% đạt 345

triệu USD Chỉ có các mặt hàng cá biển khác tăng gần 4% đạt 863 triệu USD

Bảng 2.: Hiện trạng xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm 2015 (Triệu USD)

Hạng mục Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tổng

2014 583,59 457,71 611,56 661,52 661,86 572,04 717,86 751,35 5.017

2015 507,09 347,30 510,23 532,13 566,76 506,50 560,00 600,00 4.130Tăng trưởng -13,11 -24,12 -16,57 -19,56 -14,37 -11,46 -21,99 -20,14 -17,69

Nguồn: Thống kê của Tổng cục Hải Quan và VASEP qua các năm

Biểu đồ 2.: Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2014 và 2015

(triệu USD)

Nguồn: Thống kê của Tổng cục Hải Quan và VASEP qua các năm

Trang 26

2.1.2 Tình hình xuất khẩutheo cơ cấu các mặt hàng thủy sản

Việt Nam hiện đang thuộc top 6 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, khốilượng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ra các thị trường tăng khá mạnh qua mỗi năm.Cùng với sự gia tăng về khối lượng là sự đa dạng về chủng loại mặt hàng, các sảnphẩm mặt hàng thủy sản của Việt Nam ngày càng phong phú đem lại nhiều sự lựachọn cho người tiêu dùng Những năm gần đây, các sản phẩm như Tôm, cá Tra, cá Ngừ, hàng khô, Mực,Bạch Tuộc, Nhuyễn thể…đã tạo được chỗ đứng trên thị trường các nước và chiếm tỉtrọng lớn nhất trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản

Bảng 2.: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam theo mặt hàng

(đơn vị: tỷ USD)

Trang 27

a.Mặt hàng cá tra

So với năm 2013, xuất khẩucá tra năm 2014 đạt gần 1,77 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% Mặc dù giảm mạnh, nhưng EU vẫn là thị trường chủ lực nhập khẩu cá tra của Việt Nam Năm 2014, xuất khẩucá tra sang EU đạt 344,3 triệu USD, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 19,47% tỷ trọng Xuất khẩucá tra vào thị trường Mỹ cũng giảm 11,5%, đạt 336,8 triệu USD, nhưng Mỹ vẫn là thị trường quan trọng đứng thứ hai của cá tra Việt Nam Tiếp đến là xuất khẩuvào ASEAN và Bra-xin với giá trị tương ứng đạt 136,6 triệu USD (tăng 9,4%) và 113,2 triệu USD (tăng 0,9%).Năm 2015, giá trị xuất khẩu cá tra ước đạt gần 1,6 tỷ USD, giảm 10%

so với cùng kỳ năm 2014

Sản phẩm cá tra vẫn luôn được khách hàng ưa chuộng nhờ ưu thế vị ngon, dễ chế biến và giá cả phù hợp Thế nhưng trở ngại, thách thức luôn phải đối diện là việc áp thuế chống bán phá giá tại thị trường Mỹ dai dẳng trong 20 năm qua cùng với các rào cản thương mại, rào cản kỹ thuật bằng các qui định tiêu chuẩn khắt khe

ở một số nước Trong khi đó sản phẩm cá tra còn phải cạnh tranh với một số mặt hàng thủy sản (cá cùng loại có tính thay thế khác) cộng thêm tác động bất lợi là tình hình biến động tỉ giá đồng euro và USD tại thị trường nhập khẩu các nước EU

và Mỹ khiến cá tra xuất khẩu giảm

Biểu đồ 2.: Xuất khẩu cá tra Việt Nam 2011-2016

Nguồn: thuysanvietnam.com

Từ năm 2013 đến nay, ngành cá tra tiềm ẩn nhiều rủi ro do hạn chế về kỹ thuật chăn nuôi, chế biến cũng như khâu tiêu thụ Chi phí sản xuất trong nước cao dẫn đến sản phẩm xuất khẩukém cạnh tranh Sản lượng cá tra cả năm 2013 ước tính đạt 1,17 triệu tấn, giảm 6% so với năm 2012 là 1,28 triệu tấn Năm 2014 và 2015 sản lượng cá tra cũng chỉ đạt mức 1,1 triệu tấn

Trang 28

Tính đến hết tháng 12-2015, nhu cầu nhập khẩu cá tra chưa có dấu hiệu tích cực hơn ở các thị trường nhập khẩu lớn là: Mỹ, EU, ASEAN, Mexico Điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động chế biến, kinh doanh và xuất khẩucủa doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2016 Nhu cầu không cao khiến nhà máy không thể tăng hơn công suất chế biến Đây cũng là một lý do lớn ảnh hưởng đến giá cá tra nguyên liệu giảm.

Tại hầu hết các thị trường lớn, xuất khẩugặp rất nhiều khó khăn, nhu cầu tiêu thụ và nhập khẩu chậm, giá bán không tăng, yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm khắt khe hơn Mỹ và EU là hai thị trường xuất khẩulớn nhất nhưng giá trị xuất khẩugiảm liên tiếp ngay từ đầu năm 2015

Chưa bao giờ nghề cá tra lâm vào cảnh khó khăn như hiện nay khi trong 8 thị trường nhập khẩu chính của cá tra Việt Nam thì có tới 6 thị trường giảm nhập khẩu mạnh như EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Arập Xêút, Ai Cập… do tình hình kinh tế khó khăn, người tiêu dùng giảm chi tiêu Cụ thể năm 2015, Mỹ (giảm 6,3%); EU (giảm 17,2%); ASEAN (giảm 0,8%); Mexico (giảm 16,8%); Brazil (giảm 36,8%)

và Colombia (giảm 16,5%) Chỉ có giá trị xuất khẩusang Anh (tăng 13,9%); Trung Quốc – Hongkong (tăng 42,7%) và Ảrập Xê út (tăng 4,2%) so với cùng kỳ năm trước

Trang 29

Biểu đồ 2.: Xuất khẩu cá tra sang Mỹ theo tháng 2014-2015

Nguồn: VASEP

Khó khăn về thị trường xuất khẩu, giá thành sản xuất cao càng tăng áp lực lên giá thành cá tra nguyên liệu trong nước Tính đến tháng 12-2015, giá cá tra nguyên liệu tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long dù tăng nhẹ khoảng 400 đồng/kg so với tháng trước nhưng vẫn khá trầm lắng Tại Cần Thơ, giá thu mua cá tra nguyên liệu trong size 600-800g/con hiện giữ ở mức 19.500-20.000 đồng/kg (trả chậm); Tại Đồng Tháp giá cá trong size là 19.300-20.000 đồng/kg (trả chậm); tại An Giang là 17.500-19.000 đ/kg Với mức giá này, sau khi trừ các khoản chi phí đầu

tư, nông dân nuôi cá tra đang lỗ khoảng 2.000-3.000 đồng/kg cá nguyên liệu sản xuất ra Đây là mức thấp nhất trong năm trong 3 năm, dự báo trong năm 2016, khó khăn xuất khẩutại hầu hết các thị trường xuất khẩulớn và thị trường tiềm năng sẽ tác động trở lại khiến giá cá tra sẽ giảm thấp hoặc bất ổn hơn so với năm 2015.Hiện cá tra Việt Nam đang chịu sự cạnh tranh mạnh của sản phẩm cá rô phi Trung Quốc tại thị trường Mexico Các DN thủy sản Trung Quốc đang có nhiều chiến dịch quảng bá, xúc tiến thương mại khá tốt tại thị trường tiêu thụ thủy sản

Trang 30

lớn tại Bắc Mỹ này Để khắc phục những khó khăn trên, ngành sản xuất cá tra Việt Nam cần tích cực, chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường mới.

b.Mặt hàng cá ngừ

Cá ngừ Việt Nam đã xuất khẩusang hơn 100 thị trường trong đó 10 thị trường chính chiếm hơn 85% tổng giá trị xuất khẩu, bao gồm: Mỹ, Nhật Bản, EU, ASEAN, Tây Ban Nha, Israel, Canada…

Biểu đồ 2.: Thị trường xuất khẩu cá ngừ tính theo giá trị

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Thống kê của VASEP cho biết, sau khi đạt mức tăng trưởng ấn tượng 58,4% và chiếm tới gần 8% tổng kim ngach xuất khẩuthủy sản của các nước trong năm

2012, ngành cá ngừ liên tục suy giảm trong 3 năm 2013-2015

Mặc dù có sự tiến bộ là áp dụng công nghệ đánh bắt và bảo quản theo phương pháp của Nhật Bản giúp tăng giá trị cá ngừ đại dương của Việt Nam tại một số phiên đấu giá ở thị trường nước này, nhưng trên thực tế xuất khẩucá ngừ của Việt Nam trong năm qua vẫn gặp khá nhiều khó khăn Ngành cá ngừ Việt Nam liên tiếp sụt giảm về xuất khẩutrong những năm gần đây: Năm 2012, giá trị xuất khẩucá ngừ là 567,5 triệu USD; năm 2013 còn 527 triệu USD; năm 2014 xuống còn 484 triệu USD Xuất khẩusang các thị trường xuất khẩuchính như Mỹ, Nhật Bản và ASEAN đều rất ảm đạm.Xuất khẩucá ngừ của cả nước năm 2015 đạt gần 455 triệu USD, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2014

Biểu đồ 2.: Giá trị xuất khẩu cá ngừ 2010-2015 (tỷ USD)

Nguồn: Tổng cục Thống kê qua các năm

Trang 31

Từ năm 2013, do thời tiết không thuận lợi, nhiều mưa bão, thêm vào đó chi phí cho chuyến biển cao do xăng dầu tăng giá nên hoạt động khai thác thuỷ sản ở các vùng biển xa của ngư dân gặp nhiều khó khăn Chất lượng cá sau thu hoạch lại không đủ tiêu chuẩn để xuất khẩudưới dạng hàng có giá trị cao nên giá bán cá ngừ đại dương giảm mạnh khiến nhiều tàu bị lỗ vốn Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương năm 2013 giảm, chỉ đạt 13 nghìn tấn, giảm 15% so với năm 2012 Năm

2014 và 2015 vẫn không có dấu hiệu khả quan khi giá trị xuất khẩucá ngừ vẫn liên tục giảm.Sản phẩm cá ngừ chế biến của Việt Nam tiếp tục tăng tỷ trọng trong tổng giá trị xuất khẩu, trong khi các sản phẩm cá ngừ tươi, sống và đông lạnh có giá trị cao lại giảm tỷ trọng

Biểu đồ 2.: Xuất khẩu Cá Ngừ Việt Nam tính đến tháng 9/2015

Nguồn: VASEP

Đáng chú ý là sự tăng trưởng xuất khẩucá ngừ sang Nga Nếu như năm 2014, Nga còn là thị trường nhỏ đối với xuất khẩucá ngừ của Việt Nam thì sang đến năm

2015, Nga đã trở thành thị trường nhập khẩu lớn thứ 8

Tổng giá trị xuất khẩucá ngừ sang Mỹ trong cả năm 2015 của Việt Nam đạt hơn

190 triệu USD, tăng 8,5% so với năm 2014 Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩucá

Trang 32

ngừ lớn nhất của Việt Nam.Hiện Mỹ đang nhập khẩu nhiều các sản phẩm philê/thăn cá ngừ đông lạnh của Việt Nam hơn so trước Tổng giá trị xuất khẩucác mặt hàng này sang đây cả năm 2015 đạt hơn 101,7 triệu USD, tăng gần 51% sovới cùng kỳ năm 2014 Ngoài ra xuất khẩucác mặt hàng cá ngừ chế biến khác sang

Mỹ trong năm 2015 cũng tăng mạnh, gần 58%, các mặt hàng khác đều giảm

3 tháng cuối năm 2015, xuất khẩucá ngừ sang EU vẫn tiếp tục giảm Do đó, tổng giá trị xuất khẩusang đây trong cả năm 2015 giảm 28%, đạt gần 97,4 triệu USD Trong 3 thị trường nhập khẩu lớn nhất trong khối EU, chỉ có Tây Ban Nha tăng nhập khẩu các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam Tổng giá trị xuất khẩucá ngừ của Việt Nam sang Tây Ban Nha trong quý 4/2015 đạt hơn 4,9 triệu USD, tăng hơn 164% so với cùng kỳ 2014 Năm 2015, xuất khẩucá ngừ tươi, sống và đông lạnh của Việt Nam sang các nước EU tăng đột biết, gần 223%, đạt hơn 13,7 triệu USD Trong khi đó, xuất khẩucác mặt hàng cá ngừ chế biến và philê/thăn cá ngừ đều giảm

Cuối năm 2015, xuất khẩu cá ngừ sang Nhật Bản phục hồi Tuy nhiên, lượng tăng này không đủ bù đắp cho những tháng đầu năm, nên tổng giá trị xuất khẩucá ngừ của Việt Nam sang Nhật Bản cả năm 2015 ước đạt hơn 20,4 triệu USD, giảm 9,5% so với năm 2014 Năm 2015, xuất khẩucá ngừ chế biến của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản vẫn tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm 2014, tăng gần 16% Trong khi đó, xuất khẩucác mặt hàng tươi, sống và đông lạnh giảm

Trước đó, các chuyên gia cũng dự đoán xuất khẩucác ngừ của Việt Nam sẽ khó khởi sắc trong nửa đầu năm 2015 do sức tiêu thụ từ thị trường thế giới vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi, trong khi áp lực về thuế đối với các doanh nghiệpxuất khẩucủa Việt Nam vẫn còn rất cao, đặc biệt là tại các thị trường xuất khẩulớn như Nhật Bản, Mỹ và EU

Nguồn cung nguyên liệu cá ngừ không ổn định là lý do chính khiến xuất khẩumặt hàng này giảm sút Việt Nam hiện vẫn đang phải nhập khẩu 50% nguyên

Trang 33

liệu cá ngừ thô cho chế biến với mức thuế nhập khẩu từ 10-24% Chính điều này

đã khiến các doanh nghiệpxuất khẩucác ngừ của Việt Nam gặp khó khăn khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Hơn thế nữa, các rào cản thương mại cùng với sự cạnh tranh khốc liệt từ các quốc gia khác hiện cũng đang xuất khẩucá ngừ cũng khiến các doanh nghiệp chế biến trong nước lo ngại

Các thị trường nhập khẩu lớn đều yêu cầu doanh nghiệpxuất khẩuthủy sản phải chứng minh nguồn gốc xuất xứ như: Vùng biển khai thác hay tàu khai thác cũng như thắt chặt việc quản lý về vệ sinh và an toàn thực phẩm Điều này cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho cho doanh nghiệpxuất khẩucá ngừ của Việt Nam.Trong khi đó, Việt Nam hiện vẫn chưa xây dựng được một kế hoạch phát triển bền vững cho ngành cá ngừ, do vậy, nguồn cung cấp và chất lượng của cá ngừ trong nước vẫn chưa ổn định Kèm theo đó, các thiết bị đánh bắt và bảo quản

cá ngừ của ngư dân vẫn còn rất lạc hậu

có xu hướng giảm Tôm chân trắng tiếp tục vượt xa tôm sú với giá trị xuất khẩuđạt gần gấp đôi

Trang 34

Có thể thấy năm 2013-2014, mặt hàng tôm đông lạnh xuất khẩuthật sự gây ấn tượng, khi kim ngạch có sự tăng đột biến về giá trị vì trúng giá và gần như không

có đối thủ cạnh tranh Những năm này, hội chứng tôm chết sớm (EMS) xuất hiện đồng loạt tại các nước nuôi tôm, khiến nguồn tôm nguyên liệu cung cấp cho thị trường giảm trong khi nhu cầu không giảm Việt Nam lại là nước có kinh nghiệm trong việc thả nuôi tại một số vùng dịch, việc áp dụng những mô hình nuôi hạn chế sử dụng hóa chất nên nhiều người đã nuôi thành công, hơn nữa giá tôm tăng rất cao do nguồn cung cấp tôm hàng đầu thế giới là Thái Lan bị dịch bệnh EMS hoành hành, điều đó khiến tôm Việt Nam được giá, được mùa nên giá trị xuất khẩutăng

Nhưng năm 2015, diễn biến thị trường đã không còn thuận lợi, cùng với những khó khăn chung của việc xuất khẩunông thủy sản, mặt hàng tôm gặp sự cạnh tranh gay gắt về thị trường và giá từ các nước Do sản lượng tôm của các nước sản xuất

đã phục hồi sau đại dịch EMS, trong khi người dân của nước ít bị dịch bệnh là Việt Nam sau khi được mùa đã mở rộng diện tích nuôi, làm sản lượng tôm cung cấp trên thị trường tăng mạnh Vì vậy nguồn cung tôm quay về mức bình thường Một khi nguồn cung tôm từ các nước như Ấn Độ, Thái Lan… dồi dào, các nhà nhập khẩu sẽđắn đo để làm giá và các doanh nghiệpxuất khẩutôm của Việt Nam ắt hẳn gặp nhiều khó khăn

Năm 2015, tôm Việt Nam được xuất khẩusang 92 thị trường, giảm so với 150 thị trường của năm 2014 Top 10 thị trường chính gồm: Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Australia, Đài Loan, ASEAN và Thụy Sỹ, chiếm gần 95% tổng giá trị xuất khẩutôm Xuất khẩutôm sang các thị trường chính đồng loạt giảm mạnh

Trang 35

Biểu đồ 2.: Lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam 2014-2015

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, xuất khẩutôm Việt Nam sang thị trường

Mỹ năm 2015 đạt 657 triệu USD, giảm 38,3% so với năm 2014 Giá thành sản xuất tôm cao đang là nguyên nhân chính dẫn tới giá xuất khẩutôm của Việt Nam cao hơn khoảng 20% so với mặt bằng chung trên thị trường Mỹ Đồng nội tệ của các đối thủ cạnh tranh với Việt Nam như Ấn Độ, Indonesia, Ecuador, Trung Quốc…phá giá mạnh 15- 30%, trong khi đồng VND chỉ giảm giá nhẹ Đây là những nguyên nhân chính khiến tôm Việt Nam xuất khẩuvào Mỹ khó cạnh tranh với các quốc gia nói trên

Bảng 2.: Nhập khẩu tôm của Mỹ Q1/2014-2015

Trang 36

Nguồn: tintucnongnghiep.com

Tại Mỹ, tôm Việt Nam chịu sự cạnh tranh mạnh từ Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan, Ecuado Giá trị kim ngạch xuất khẩutôm Việt Nam xếp thứ 4 trong năm 2014, tụt xuống thứ 5 trong các tháng đầu năm 2015

Kinh tế thế giới suy thoái, đặc biệt tại các thị trường chính, nhu cầu tiêu thụ giảm tạo ra vòng xoáy giảm giá cho hầu hết các mặt hàng nông thủy sản, đặc biệt

là các loài thủy sản cao cấp như tôm Ví dụ với sản phẩm tôm sú cỡ 16/20 của Việt Nam vốn được ưa chuộng tại thị trường Mỹ, giá đã giảm 14% từ 11,3 USD hồi đầu năm xuống còn 9,75 USD/pao trong quý III Tôm sú vỏ cỡ 21/25 của Việt Nam giảm gần 30% từ 7,5 USD xuống 5,8 USD/pao, trong khi giá tôm cùng loại của Ấn Độ cũng giảm từ 6,9 USD xuống mức tương đương 5,85 USD/pao

Ngày đăng: 11/07/2016, 16:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS. Đặng Đình Đào, GS.TS. Hoàng Đức Thân, Giáo trình Kinh tế thương mại, NXB Đại Học Kinh TếQuốc Dân, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế thương mại
Nhà XB: NXB Đại Học Kinh TếQuốc Dân
2. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam: vasep.com.vnhttp://vasep.com.vn/Tin-Tuc/1218_42925/Nam-2015-Nhung-thanh-tuu-noi-bat-Thuy-san-vuot-kho-tang-truong.htmhttp://vasep.com.vn/Tin-Tuc/778_42867/10-SU-KIEN-NOI-BAT-NGANH-THUY-SAN-NAM-2015.htm Link
3. Tổng cục Thủy sản: http://tongcucthuysan.gov.vn/http://www.fistenet.gov.vn/f-thuong-mai-thuy-san/a-xuat-nhap-khau/tong-ket-xuat-khau-thuy-san-viet-nam-2015/ Link
4. Thủy sản Việt Nam: thuysanvietnam.com.vnhttp://thuysanvietnam.com.vn/2016-xuat-khau-thuy-san-lieu-co-khoi-sac-article-14321.tsvnhttp://thuysanvietnam.com.vn/xuat-khau-ca-tra-sang-trung-quoc-tang-truong-duong-article-14029.tsvn Link
5. Các trang thông tin kinh tế Việt Nam, báo chí:http://cafef.vn/xuat-khau-thuy-san.html Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.: Hiện trạng xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm 2015 (Triệu USD) - Xuất khẩu thủy sản việt nam, thực trạng và giải pháp
Bảng 2. Hiện trạng xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm 2015 (Triệu USD) (Trang 25)
Bảng 2.:  Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam theo mặt hàng - Xuất khẩu thủy sản việt nam, thực trạng và giải pháp
Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam theo mặt hàng (Trang 26)
Bảng 2.: Nhập khẩu tôm của Mỹ Q1/2014-2015 - Xuất khẩu thủy sản việt nam, thực trạng và giải pháp
Bảng 2. Nhập khẩu tôm của Mỹ Q1/2014-2015 (Trang 35)
Bảng 3.: Xuất khẩuthủy sản Việt Nam sang 11 nước thành viên TPP - Xuất khẩu thủy sản việt nam, thực trạng và giải pháp
Bảng 3. Xuất khẩuthủy sản Việt Nam sang 11 nước thành viên TPP (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w