Trong hoàn cảnh đó, việc phân tích tài chính doanh nghiệp trở nên quantrọng và cần thiết không chỉ đối với các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn thu hút sự quan tâm của rất nhiều đối tượng
Trang 1MỤC LỤC
TrangTrang phụ bìa
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
12
1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh
nghiệp
12
1.1.2 Nhiệm vụ, vai trò, chức năng của tài chính doanh nghiệp 141.1.3 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp 18
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp 241.2.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 241.2.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và ý nghĩa của phân tích tình hình tài
nghiệp
35
1.2.3.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 381.2.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 471.2.4.1 Quy trình phân tích và đề xuất các biện pháp cải thiện tình
hình tài chính
47
1.2.4.2 Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 50
1.2.4.5 Phân tích tổng hợp tình hình tài chính 55
Trang 2CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG
TY TNHH IN VÀ GIẤY HẠ LONG
58
2.3 Đánh giá, nhận xét về tình hình tài chính công ty TNHH In và
Giấy Hạ Long
104
CHƯƠNG 3:ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH
HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH IN VÀ GIẤY HẠ LONG
107
3.2 Đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của công ty
TNHH In và Giấy Hạ Long
108
3.2.4 Đẩy mạnh công tác thu hồi các khoản phải thu khách hàng 1153.2.5 Tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp thường xuyên 117
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua bảng CĐKT
Bảng 2.2: Phân tích cơ cấu của tài sản
Bảng 2.3: Phân tích sự biến động của tài sản
Bảng 2.4: Phân tích sự biến động HTK
Bảng 2.5: Phân tích tỷ suất cơ cấu của tài sản
Bảng 2.6: Phân tích tỷ suất đầu tư của TSCĐ
Bảng 2.7: Phân tích cơ cấu của nguồn vốn
Bảng 2.8: Phân tích sự biến động của nguồn vốn
Bảng 2.9: Các yếu tố ảnh hưởng đến ngân quỹ ròng
Bảng 2.10: Phân tích hệ số công nợ
Bảng 2.11: Phân tích tỷ suất tài trợ
Bảng 2.12: Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua báo cáo KQHĐKD
Bảng 2.13: Phân tích biến động của doanh thu, giá vốn, lợi nhuận gộp
Bảng 2.14: Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua báo cáo LCTT
Bảng 2.15: Phân tích khả năng sinh lời trên doanh thu
Bảng 2.16: Phân tích khả năng sinh lời cơ sở
Bảng 2.17: Phân tích khả năng sinh lời của một số đối tượng năm 2014
Bảng 2.18: Phân tích khả năng sinh lời trên tài sản
Bảng 2.19: Phân tích khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Bảng 2.20: Phân tích vòng quay HTK
Bảng 2.21: Phân tích kỳ thu nợ bán chịu
Bảng 2.22: Phân tích vòng quay tài sản ngắn hạn
Bảng 2.23: Phân tích vòng quay tài sản cố định
Bảng 2.24: Phân tích vòng quay tổng tài sản
Bảng 2.25: Phân tích hệ số thanh toán hiện hành
Bảng 2.26: Phân tích hệ số thanh toán nhanh
Bảng 2.27: Phân tích hệ số thanh toán tức thời
Bảng 2.28: Phân tích chỉ số nợ
Bảng 2.29: Phân tích khả năng thanh toán lãi vay
Bảng 2.30: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng của ROA
Bảng 2.31: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng của ROE
Bảng 2.32: Điểm hòa vốn và đòn bẩy kinh doanh DOL
Bảng 2.33: Đòn bẩy tài chính DFL
Bảng 2.34: Đòn bẩy tổng DTL
Bảng 3.1: Cơ cấu nguồn vốn
Trang 5Bảng 3.2: Cơ cấu nợ phải trả
Bảng 3.3: Cơ cấu vốn lưu động năm 2013 và năm 2014
Bảng 3.4: Dự kiến kết quả đạt được
Bảng 3.5: So sánh số liệu
Bảng 3.6: So sánh giá trị HTK sau khi thực hiện các giải pháp
Bảng 3.7: Phân loại các khoản phải thu
Trang 6hỗ trợ tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn, Trường Đại
học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận vănnày
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phạm Thu Trang
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn, Trường Đại học
Bách Khoa Hà Nội
Số liệu được nêu trong luận văn là trung thực và có trích nguồn Kết quảnghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ côngtrình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Thu Trang
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế thế giới đang trên đà hội nhập và phát triển mạnh mẽ, cùng với đó
là sự phát triển ngày càng phong phú, đa dạng các loại hình SXKD Đây vừa là cơhội, vừa là thách thức không nhỏ đối với bất kì doanh nghiệp nào ở cả trong vàngoài nước Trong hoàn cảnh đó, việc phân tích tài chính doanh nghiệp trở nên quantrọng và cần thiết không chỉ đối với các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn thu hút
sự quan tâm của rất nhiều đối tượng khác Việc thường xuyên tiến hành phân tíchtình hình tài chính sẽ giúp nhà quản trị thấy rõ được thực trạng hoạt động, kết quảSXKD của doanh nghiệp mình, xác định được những thuận lợi và khó khăn để từ đóđánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, nắm bắt thông tin nhằm đánh giátiềm năng của doanh nghiệp cũng như những rủi ro và triển vọng trong tương lai,giúp nhà lãnh đạo đưa ra những quyết định chính xác, những giải pháp hữu hiệu vàkịp thời nhằm nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả SXKD của doanh nghiệp.Công ty TNHH In và giấy Hạ Long với quy mô nhỏ hoạt động chủ yếu trênlĩnh vực sản xuất và kinh doanh giấy cũng đang từng bước cải tiến và đổi mới cơcấu tổ chức, công tác quản lý và phương pháp hoạt động để từng bước đối mặt,vượt qua những khó khan và thách thức hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tài chính đối với sự pháttriển sống còn của doanh nghiệp, tôi đã đi sâu nghiên cứu và hoàn thành khoá luận
tốt nghiệp với đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp củng cố tình hình tài
chính tại công ty TNHH In và Giấy Hạ Long”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Xây dựng cơ sở lý luận chung về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài
chính doanh nghiệp làm nền tảng cho hoạt động phân tích và đề xuất các giải phápnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá tình hình tài chính tại công ty TNHH In và Giấy HạLong trong thời gian qua
- So sánh đối chiếu kết quả phân tích với các chỉ tiêu chung và các doanhnghiệp cùng ngành để đưa ra đánh giá chính xác về tình hình tài chính của công ty
Trang 9- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công tyTNHH In và Giấy Hạ Long.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở lý thuyết về tài chính và phân tíchtài chính doanh nghiệp, luận văn tập trung đi vào nghiên cứu và phân tích các báocáo tài chính của công ty; phân tích hệ số an toàn, phân tích hiệu quả tài chính, phântích các đòn bẩy tài chính của Công ty TNHH In và Giấy Hạ Long trong 2 năm
2013 và 2014 (đã được kiểm toán)
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu, vận dụng lý thuyết về tài chính vàphân tích tài chính áp dụng cho Công ty TNHH In và Giấy Hạ Long trong lĩnh vực,tập trung phân tích những vấn đề cơ bản trong tình hình tài chính, từ đó đưa ra cácgiải pháp để cải thiện tình hình tài chính của công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp lý luận và phương pháp phổ biến trong nghiên cứukhoa học: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp lịch sử vớilogic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, từ đó kếthợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở cơ sở để nghiên cứu, giải quyết vấn đềđặt ra của đề tài
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn sử dụng lý luận về tài chính cũng như phân tích tài chính cho doanhnghiệp, nghiên cứu các đặc điểm mang tính đặc thù trong ngành kinh doanh Trên
cơ sở đó, luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng, nêu ra được những ưu,nhược điểm, nguyên nhân của nó, những giải pháp để cải thiện tình hình tài chínhtrong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai của doanh nghiệp
6 Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn gồm 3 phần cơ bản sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phân tích tài chính trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty TNHH In và Giấy Hạ Long Chương 3: Một số giải pháp củng cố tình hình tài chính tại Công ty TNHH In
và Giấy Hạ Long
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm cơ bản về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Khi tiến hành SXKD, các doanh nghiệp phải có một lượng vốn tiền tệ nhấtđịnh, đó là yếu tố quan trọng và cũng là tiền đề trong mọi hoạt động của doanhnghiệp Trong quá trình này đã phát sinh ra các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt độngđầu tư và các hoạt động SXKD của doanh nghiệp, các luồng tiền này tạo nên sự vậnđộng các luồng tài chính của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹtiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tớicác mục tiêu của doanh nghiệp Gắn với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng cácquỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị,
từ là quan hệ tài chính doanh nghiệp Các quan hệ đó là:
- Quan hệ doanh nghiệp với nhà nước: đây là mối quan hệ khi doanh nghiệpthực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp
- Quan hệ giữ doanh nghiệp với thị trường tài chính: mối quan hệ này đượcthể hiện khi doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ hoặc doanh nghiệp tìm kiếm cơhội đầu tư Các hoạt động cụ thể như: vay vốn, phát hành chứng khoán, đầu tưchứng khoán…
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường khác: Trong quá trình hoạt độngkinh doanh, doanh nghiệp phải tham gia vào các thị trường hàng hóa, lao động, bấtđộng sản…và doanh nghiệp phải làm sao để hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạchsản xuất, tiếp thị sao cho thỏa mãn nhu cầu thị trường
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là vấn đề giữa các bộ phậnSXKD, giữa cổ đông và người quản lý, cổ đông với chủ nợ, quyền sử dụng vốn và
sở hữu vốn Các mối quan hệ này thể hiện qua: chính sách cổ tức, chính sách đầu tư,chính sách về cơ cấu vốn, chi phí…Cụ thể:
Trang 11+ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và các phòng ban, xí nghiệp, phânxưởng, tổ đội sản xuất trong việc tạm ứng, thanh toán.
+ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong quátrình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng,tiền phạt, lãi cổ phần
+ Quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hóa vốn giữa các đơn vị trực thuộctrong nội bộ doanh nghiệp
Những quan hệ trên một mặt phản ánh doanh nghiệp là một đơn vị kinh tếđộc lập, chiếm địa vị là một chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõnét mối liên hệ tài chính trong doanh nghiệp với các tổ chức
Tổng quát hơn, tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ về mặt giá trịđược biểu hiện bằng tiền trong lòng một doanh nghiệp và giữa nó với các chủ thể cóliên quan ở bên ngoài mà trên cơ sở đó giá trị của doanh nghiệp được tạo lập
Giá trị của doanh nghiệp là sự hữu ích của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu
và xã hội
Các hoạt động của doanh nghiệp để làm tăng giá trị của nó bao gồm:
- Tìm kiếm, lựa chọn cơ hội kinh doanh và tổ chức huy động vốn
- Quản lý chi phí trong quá trình SXKD, hạch toán chi phí và lợi nhuận
- Tổ chức phân phối lợi nhuận cho các chủ thể liên quan và tái đầu tư
1.1.2 Nhiệm vụ, vai trò, chức năng của tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp giúp nắm vững tình hình kiểm soát vốn SXKD hiện
có về mặt vật chất và giá trị, nắm vững sự biến động vốn của từng khâu, từng thờigian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản lý và điều chỉnh hiệu quả
Tài chính doanh nghiệp giúp tổ chức khai thác và huy động kịp thời cácnguồn vốn nhàn rỗi để phục vụ cho quá trình SXKD, không cho vốn tồn động và sửdụng vốn có hiệu quả Để thực hiện được điều này, tài chính doanh nghiệp phảithường xuyên giám sát và tổ chức sử dụng các nguồn vốn vay và tự có của doanhnghiệp, làm sao so với lượng vốn nhất định đo phải tạo ra lợi nhuận lớn dựa trên cơ
sở sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
Trang 121.1.2.2 Vai trò của tài chính trong doanh nghiệp
Vai trò huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinhdoanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất:
Để có đủ vốn cho hoạt động SXKD, tài chính doanh nghiệp phải thanh toánnhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, bên cạnh đó phải tổ chức huy động và sử dụngđúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả quá trình SXKD ởdoanh nghiệp , đây là vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanhnghiệp trong quá trình cạnh tranh “khắc nghiệt” theo cơ chế thị trường
Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh:
Thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phânphối Thu nhập bằng tiền mà doanh nghiệp đạt được do thu nhập bán hàng trướctiên phải bù đắp các chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất như: bù đắp hao mòn máymóc thiết bị, trả lương cho người lao động và để mua nguyên nhiên liệu để tiếp tụcchu kỳ sản xuất mới, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước Phần còn lại doanhnghiệp dùng hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn, hoặc trảlợi tức cổ phần (nếu có) Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp là quátrình phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp và quá trình phân phối đó luôngắn liền với những đặc điểm vốn có của hoạt động SXKD và hình thức sở hữudoanh nghiệp
Ngoài ra, nếu người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phốicủa tài chính doanh nghiệp phù hợp với qui luật sẽ làm cho tài chính DN trở thànhđòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh tế tác động tớităng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy tăng vòngquay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội
Vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:Tài chính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hànhthường xuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính Cụ thể các chỉ tiêu
đó là: chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, chỉ tiêu đặctrưng về hoạt động, sử dụng các nguồn lực tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về khả năng
Trang 13sinh lời…Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn
cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm lành mạnh hoá tình hình tàichính – kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn
Một doanh nghiệp có thể hoạt động SXKD được thì cần phải có vốn vàquyền sử dụng nguồn vốn bằng tiền của mình một cách chủ động Tuy nhiên cũngcần phải làm rõ một vấn đề là: Các nguồn vốn được lấy ở đâu ? Làm thế nào để cóthể huy động được vốn ?
Trước đây trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung ngân sách nhà nướccấp toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc thiết lập các xí nghiệp quốcdoanh Hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự hoạt động của cácdoanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế khác nhau, nhiều xí nghiệp quốc doanh
đã tỏ ra sự yếu kém của mình Thực trạng đó đặt ra cho các nhà quản lý kinh tế nóichung và các nhà quản lý tài chính nói riêng một vấn đề là: làm thế nào để đưa các
xí nghiệp làm ăn thua lỗ đó thoát khỏi tình trạng hiện nay ? Chính sự bất ổn địnhnày đã tạo ra một sự chưa được nhất quán trong việc định hình các nguồn vốn chocác doanh nghiệp ở nước ta
Tuy nhiên, dù thay đổi cụ thể như thế nào chăng nữa thì mọi doanh nghiệpvới mọi hình thức sở hữu trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ đều có thểhuy động được vốn từ các nguồn sau: Vốn do ngân sách nhà nước cấp hoặc cấp trêncấp đối với doanh nghiệp nhà nước; vốn tự bổ sung; vốn liên doanh liên kết; vốn vay
Để tồn tại và phát triển kinh doanh, trong quá trình SXKD doanh nghiệp vẫnphải tiếp tục đầu tư trung và dài hạn vì vậy doanh nghiệp có thể huy động vốn bêntrong doanh nghiệp như vốn tự tài trợ Nếu như nguồn tự tài trợ mà nhu cầu đầu tưdài hạn vẫn không đáp ứng được thì doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn từ bênngoài như các hình thức đã nêu ở trên
Với chức năng tổ chức vốn, tài chính doanh nghiệp không đơn thuần chỉ thựchiện việc huy động vốn mà còn phải tiến hành phân phối vốn sao cho với số vốn
Trang 14pháp định, vốn tự có và các nguồn vốn huy động, doanh nghiệp có thể sử dụngchúng một cách có hiệu quả Muốn vậy, trong từng thời kỳ kinh doanh doanhnghiệp phải xác định được nhu cầu về vốn là bao nhiêu và kết cấu như thế nào làhợp lý.
Chức năng phân phối
Sau khi huy động vốn và đã sử dụng nguồn vốn đó sẽ thu được kết quả làviệc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp tiến hànhphân phối kết quả hoạt động SXKD của mình
Ở nước ta, do tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, hình thức sở hữu khácnhau, cho nên quy mô và phương thức phân phối ở các loại hình doanh nghiệp cũngkhác nhau Sau mỗi kỳ kinh doanh, số tiền mà doanh nghiệp thu được bao gồm cảgiá vốn và chi phí phát sinh Do vậy các doanh nghiệp có thể phân phối theo dạngchung như sau:
Bù đắp chi phí phân bổ cho hàng hoá đã tiêu thụ bao gồm:
+ Trị giá vốn hàng hoá
+ Chi phí lưu thông và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã đã bỏ ra như lãi vayngân hàng, chi phí giao dịch, lợi tức trái phiếu
+ Khấu hao máy móc
- Phần còn lại sau khi bù đắp các chi phí được gọi là lợi nhuận của doanh nghiệp.Phần lợi nhuận này, một phần phải nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thứcthuế, phần còn lại tuỳ thuộc vào quy định của từng doanh nghiệp mà tiến hành chialãi liên doanh, trả lợi tức cổ phần, trích lập các quỹ doanh nghiệp
Chức năng giám đốc
Đó là khả năng khách quan để sử dụng tài chính làm công cụ kiểm tra, giámđốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng thước đo giá trịvà phương tiệnthanh toán của tiền tệ Khả năng này biểu hiện ở chỗ, trong quá trình thực hiện chứcnăng phân phối, sự kiểm tra có thể diễn ra dưới dạng: xem xét tính cần thiết, quy
mô của việc phân phối các nguồn tài chính, hiệu quả của việc phân phối qua cácquỹ tiền tệ
Trang 15Giám đốc tài chính mang tính chất tổng hợp toàn diện, tự thân và diễn rathường xuyên vì giám đốc tài chính là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt độngtài chính nhằm phát hiện những ưu điểm để phát huy, tồn tại để khác phục.
Hoạt động tài chính diễn ra trên mọi lĩnh vực của quá trình tái sản xuất xãhội trên tầm vĩ mô và vi mô Trong các hoạt động đó tài chính không chỉ phản ánhkết quả sản xuất mà còn thúc đẩy phát triển Động lực để thúc đẩy nhanh nền sảnxuất xã hội không chỉ phụ thuộc vào sự phân phối cân bằng, hợp lý và cân đối giữacác bộ phận mà còn trực tiếp phụ thuộc vào sự kiểm tra, kiểm soát nghiêm nghặtmọi hoạt động tài chính
Nội dung giám đốc tài chính là giám đốc sự vận động và chu chuyển củanguồn vốn tiền tệ với hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc việc lập và chấp hành các chỉtiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, giám đốc quá trình hình thành và sửdụng các quỹ tiền tệ, quá trình hạch toán kinh tế và giám đốc việc chấp hành cácchính sách về tài chính
Thực hiện quản lý tài chính đã khẳng định, để thực hiện triệt để và có hiệuquả việc giám đốc tài chính cần phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện cơ chếquản lý tài chính phù hợp với cơ chế chính sách quản lý kinh tế và thực tiễn SXKD.Thông qua đó giúp cho việc thực hiện các giải pháp tối ưu nhằm làm lành mạnh tìnhhình tài chính và nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
1.1.3 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp
1.1.3.1 Những yếu tố bên trong
Những yếu tố bên trong là những yếu tố mang tính chủ quan của các doanhnghiệp Có các yếu tố sau:
Yếu tố con người
Con người là yếu tố rất quan trọng, đó là những cán bộ quản lý và lực lượnglao động trong doanh nghiệp Cán bộ quản lý là những người cần nhận thức đầy đủ
về tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, những người có toàn quyềnquản lý và sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp và là người chịu tráchnhiệm quyết định mọi vấn đề tài chính trong doanh nghiệp
Trang 16Phân tích tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên viên đủ lớn,lực lượng cán bộ phân tích tài chính cần phải thường xuyên được nâng cao, đảmbảo cả về mặt số lượng và chất lượng.
Yếu tố về công nghệ sản xuất
Việc nghiên cứu chính sách đầu tư của doanh nghiệp vào công cụ sản xuấtcũng là điều rất cần thiết trong việc phân tích chiến lược, nhằm mục đích nghiêncứu và phát triển những chi tiết cho việc đầu tư và máy móc thiết bị, và các tài sảnhữu hình là hoàn toàn cần thiết Ví dụ như khi doanh nghiệp đầu tư vào máy mócthiết bị, doanh nghiệp phải khấu hao từng phần trong nhiều năm, không cho phépkhấu trừ toàn bộ chi phí ngay từ đầu năm Vậy, khi doanh nghiệp nhận thấy có sựgiảm sút về các khoản khấu hao, cũng có nghĩa là tăng về kết quả kinh doanh, thìcần phải biết nguyên nhân vì sao, có phải do máy móc thiết bị đã lỗi thời, hoặc dodoanh nghiệp không có dự án khả thi, dẫn đến nguy cơ suy giảm về sản xuất, giảmsút về năng lực cạnh tranh Do vậy, yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố cóảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất cũng như tình hình tài chính của doanhnghiệp
Yếu tố về chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia những giới khách hàngkhác nhau trong tổng doanh thu của nó Trên thực tế, một doanh nghiệp phải luônphụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp Nếu một khách hàng quen và luôn muavới số lượng nhiều nhưng chuyển sang mua của nhà cung cấp khác thì tình trạng gì
sẽ xảy ra, như vậy doanh nghiệp phải chấp nhận những điều kiện ưu đãi hơn chokhách hàng này Tình hình này sẽ dẫn đến những khó khăn lâu dài về mặt tài chính
Vì vậy, điều quan trọng với một doanh nghiệp là không nên tập trung quá vào mộtnhóm đối tượng khách hàng Mở rộng nhiều nhóm khách hàng tốt hơn là tập trungvào một khách hàng lớn
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp
Hình thức pháp lý của doanh nghiệp khác nhau sẽ chi phối đến việc tổ chức, huyđộng vốn, quản lý vốn và phân phối kết quả kinh doanh
Trang 17Chẳng hạn đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn điều lệ ban đầu có thể được ngânsách nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc một phần, nhà nước quy định quản lý vốn vàphân phối kết quả kinh doanh Đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn là do chủdoanh nghiệp tư nhân bỏ ra, cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài dưới hình thức
đi vay nhưng không được phép phát hành chứng khoán trên thị trường để tăng vốn.Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì vốn điều lệ của công ty là do các thànhviên đóng góp Trong quá trình hoạt động vốn có thể tăng lên bằng cách kết nạpthêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc đi vay bên ngoài nhưng không đượcphép phát hành chứng khoán Việc phân phối kết quả SXKD do các thành viênquyết định, mức lợi nhuận các thành viên nhận được phụ thuộc vào vốn đóng góp…1.1.3.2 Những yếu tố bên ngoài
Yếu tố lạm phát
Khi lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn,lạm phát tăng cao, ngân hàng Nhà nước cũng phải thắt chặt tiền tệ để giảm khốilượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cánhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít kháchhàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độrủi ro cho phép Như vậy, nếu lạm phát tăng cao có thể làm suy yếu, thậm chí phá
vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp
Yếu tố lãi suất
Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm thayđổi hành vi sản xuất và tiêu dung của xã hội, về phương diện lý thuyết cũng nhưthực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất sẽ tác động đến sản lượng vàgiá cả, người ta thường phải đánh giá giá trị của các chi phí và các khoản thu lợi đóqua các đơn vị tiền tệ và chúng được gọi là chi phí và thu nhập Các khoản chi phí
và thu nhập đó lại xảy ra ở các mốc thời gian khác nhau, do đó phải xét đến vấn đềthời giá của tiền tệ hay giá trị theo thời gian của đồng tiền, giá trị theo thời gian củatiền được biểu hiện qua tiền lãi, tiền lãi là giá cả mà người đi vay phải trả để sửdụng vốn vay trong khoảng thời gian nhất định hoặc là tiền thuê vốn để sử dụng
Trang 18 Yếu tố tỷ giá
Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp Chênh lệchhối đoái là khoản chênh lệch dương hoặc âm giữa giá trị nợ phải thu và nợ phải trảbằng đồng ngoại tệ đổi sang đồng nội tệ Chênh lệch này có thể làm lợi nhưngngược lại cũng có thể là khoản lỗ cho doanh nghiệp
Yếu tố tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biếnđộng, đó chính là thách thức đối với doanh nghiệp trong việc cạnh tranh
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh
số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ Thông qua việc phân tích báo cáo tàichính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũngnhư những rủi rao trong tương lai
1.2.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là nhận dạng những điểmmạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chính của doanh nghiệp bao gồmcác tiêu chí:
+ An toàn tài chính (khả năng thanh khoản và khả năng quản lý nợ)
+ Hiệu quả tài chính (khả năng sinh lợi và khả năng quản lý tài sản)
+ Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (đẳng thức Dupont )
Sau khi nhận dạng, tìm hiểu các tiêu chí đó của doanh nghiệp để có thể giải thíchcác nguyên nhân đứng sau thực trạng đó, đánh giá đúng các thực trạng và tiềm năngcủa doanh nghiệp để đưa ra các đề xuất, giải pháp cải thiện vị thế tài chính củadoanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất
Tài chính doanh nghiệp giúp nắm vững tình hình kiểm soát vốn SXKD hiện
có về mặt hiện vật và giá trị, nắm vững sự biến động vốn của từng khâu, từng thời
Trang 19gian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản lý và điều chỉnh hiệu quả.
Tài chính doanh nghiệp giúp tổ chức khai thác và huy động kịp thời các nguồn vốnnhàn rỗi phục vụ cho quá trình SXKD, không cho vốn bị tồn đọng và sử dụng vốn
có hiệu quả Để thực hiện được điều này, tài chính doanh nghiệp phải thường xuyêngiám sát và tổ chức sử dụng các nguồn vốn vay và tự có của doanh nghiệp, làm sao
so với lượng vốn nhất định đó phải tạo ra một lượng lợi nhuận lớn dựa trên cơ sở sửdụng tối đa các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
1.2.1.3 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Thông tinh tài chính của doanh nghiệp được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâmnhư nhà quản lý tại doanh nghiệp, chủ sở hữu vốn, khách hàng, nhà đầu tư, các cơquan quản lý chức năng Tuy nhiên mỗi cá nhân, tổ chức sẽ quan tâm đến nhữngkhía cạnh khác nhau khi phân tích tài chính vì vậy phân tích tài chính cũng có ýnghĩa khác nhau đối với từng các nhân, tổ chức
Đối với nhà quản lý:
Là người trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý hiểu rõ nhấttài chính doanh nghiệp Do đó, họ có nhiều thông tin phục vụ cho việc phân tích
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm đápứng những mục tiêu sau:
- Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đãqua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán vàrủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp…;
- Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tếcủa doanh nghiệp, như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận…;
- Cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính;
- Căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp
Phân tích hoạt động tài chính làm rõ điều quan trọng của dự đoán tài chính, mà
dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ, không chỉ chính sách tàichính mà còn làm rõ các chính sách chung trong doanh nghiệp
Trang 20 Đối với các nhà đầu tư:
Các nhà đầu tư là người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý sửdụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro Đó là những cổ đông, các cá nhân hoặcđơn vị, doanh nghiệp khác Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến những tínhtoán về giá trị của doanh nghiệp Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền lời được chia
và thặng dư giá trị của vốn Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuậnthu được của doanh nghiệp Trong thực tế, các nhà đầu tư thường tiến hành đánh giákhả năng sinh lời của doanh nghiệp Các nhà đầu tư phải dựa vào những nhà chuyênnghiệp trung gian nghiên cứu các thông tin kinh tế, tài chính, có những cuộc tiếpxúc trực tiếp với ban quản lý doanh nghiệp, làm rõ triển vọng phát triển của doanhnghiệp và đánh giá các cổ phiếu trên thị trường tài chính
Phân tích hoạt động tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp
và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, khảnăng sinh lời, phân tích rủi ro trong kinh doanh
Đối với nhà đầu tư tín dụng
Các nhà đầu tư tín dụng là những người cho doanh nghiệp vay vốn để đápứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh Khi cho vay, họ phải biếtđược khả năng hoàn trả tiền vay Thu nhập của họ là lãi suất tiền cho vay Do đó,phân tích hoạt động tài chính đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả
nợ của khách hàng Tuy nhiên, phân tích đối với những khoản cho vay dài hạn vànhững khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau
Các nhóm khác
Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà quản lý, các nhà đầu
tư, chủ ngân hàng cón có nhiều nhóm khác cũng quan tâm tới tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp Đó là các cơ quan tài chính, thuế, chủ quản, các nhà phân tích tàichính, người lao động…Những nhóm người này có nhưu cầu thông tin về cơ bảngiống như các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp…bởi nó liênquan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ
Trang 211.2.1.4 Đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động SXKD, doanh nghiệp cần có các hoạt động trao đổiđiều kiện và kết quả sản xuất thông qua những công cụ tài chính và vật chất Chính
vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào các mối quan hệ tài chính
đa dạng và phức tạp Các quan hệ tài chính đó có thể chia thành các nhóm chủ yếusau:
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và nhà nước: Quan hệ này biểu hiệntrong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngânsách nhà nước với các doanh nghiệp thông qua hình thức:
+ Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định
+ Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp (DNNN) hoặc thamgia với tư cách người góp vốn (các doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp)
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và các tổ chứctài chính Thể hiện cụ thể trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn và ngắn hạncho nhu cầu kinh doanh
+ Trên thị trường tiền tệ: việc doanh nghiệp quan hệ với ngân hàng thôngqua việc vay các khoản ngắn hạn, trả lãi và gốc đến hạn
+ Trên thị trường tài chính: doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài hạnbằng cách phát hành các đợt chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) cũng như việc trảcác khoản lãi, hoặc doanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗi vào ngân hàng haymua chứng khoán của các doanh nghiệp khác
- Quan hệ tài chính giữ doanh nghiệp với các thị trường khác huy động cácyếu tố đầu vào (thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động…) và các quan hệ để thựchiện tiêu thụ sản phẩm với thị trường đầu ra (với các đại lý, các cơ quan xuất nhậpkhẩu, thương mại…)
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác huy động cácyếu tố đầu vào (thị trường hàng hóa, dịch vụ lao động…) và các quan hệ để thựchiện tiêu thụ sản phẩm ở thị trường đầu ra (với các đại lý, cơ quan xuất nhập khẩu,thương mại…)
Trang 22- Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp Đó là các khía cạnhtài chính liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách tài chính của doanhnghiệp như vấn đề cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sách lợi tức cổphần, sử dụng ngân quỹ nội bộ doanh nghiệp Đối với các DNNN, mối quan hệ tàichính còn thể hiện ở mối quan hệ với cơ quan chủ quản (Tổng công ty) như việcnhận và có trách nhiệm bảo toàn vốn nhà nước do Tổng công ty giao, vay và trả gố,lãi vay theo quy định tài chính nội bộ…
Như vậy, đối tượng của phân tích là mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quátrình hình thành, phát triển và biến đối vốn dưới hình thức có liên quan trực tiếp đếnhiệu quả SXKD của doanh nghiệp
1.2.2 Tổ chức công tác phân tích tài chính và các loại hình phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Tổ chức công tác phân tích tài chính
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tùy theo loạihình tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng nhucầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết định Côngtác tổ chức phân tích tài chính phải làm sao thỏa mãn cao nhất cho nhu cầu thôngtin của từng loại hình quản trị khác nhau
- Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dướiquyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc Theohình thức này thì quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nội dung của hoạt độngkinh doanh Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin thường xuyên cho lãnh đạotrong doanh nghiệp Trên cơ sở này các thông tin qua phân tích được truyền từ trênxuống dưới theo chức năng quản lý và quá trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát, điềuchỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộ phận của doanh nghiệp theo cơ cấu từ ban giámđốc đến các phòng ban
- Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt theocác chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thỏa mãn thông tin cho các
bộ phận quản lý được phân quyền, cụ thể:
Trang 23+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi phí, bộphận này sẽ tổ chức thực hiện thu thập thông tin và tiến hành phân tích tình hìnhbiến động chi phí, giữa thực hiện so với định mức nhằm phát hiện chênh lệch chiphí cả về số lượng và giá cả để từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp.
+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu(thường gọi là trung tâm kinh doanh), là bộ phận kinh doanh riêng biệt theo địađiểm hoặc một số sản phẩm nhóm hàng riêng biệt, do đó họ có quyền với bộ phậncấp dưới là bộ phận chi phí Ứng với bộ phận này thường là trưởng phòng kinhdoanh, hoặc giám đốc kinh doanh tùy doanh nghiệp Bộ phận này sẽ tiến hành thuthập thông tin, tiến hành phân tích báo cáo thu nhập, đánh giá mối quan hệ chi phí -khối lượng - lợi nhuận làm cơ sở để đánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phântích báo cáo nội bộ
1.2.2.2 Các loại hình phân tích tài chính
- Căn cứ theo thời điểm kinh doanh
Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích chia làm 3 hình thức:
+ Phân tích trước khi kinh doanh: còn gọi là phân tích tương lai, nhằm dựbáo, dự toán cho các mục tiêu trong tương lai
+ Phân tích trong khi kinh doanh: còn gọi là phân tích hiện tại (hay tácnghiệp) là quá trình diễn ra cùng quá trình kinh doanh Hình thức này rất thích hợpcho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh, chấn chỉnh những sai lệchlớn giữa kết quả thực hiện với mục tiêu đề ra
+ Phân tích sau khi kinh doanh: là phân tích sau khi kết thúc quá trình kinhdoanh (hay phân tích quá khứ) Quá trình này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữathực hiện so với kế hoạch hoặc định mức đề ra Từ kết quả phân tích cho ta nhận rõtình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đề ra và làm căn cứ để xây dựng kếhoạch tiếp theo
- Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia thành phân tíchthường xuyên và phân tích định kỳ
Trang 24+ Phân tích thường xuyên: được đặt ra nguay trong quá trình kinh doanh Kếtquả phân tích giúp phát hiện ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa ra được các điềuchỉnh kịp thời và thường xuyên trong quá trình hoạt động kinh doanh, tuy nhiênbiện pháp này thường công phu và tốn kém.
+ Phân tích định kỳ: được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi các báo cáo
đã được thành lập Phân tích định kỳ là phân tích sau quá trình kinh doanh, vì vậykết quả phân tích nhằm đánh giá tình hình thực hiện kết quả hoạt động kinh doanhcủa từng kỳ và là cơ sở để xây dựng kế hoạch kinh doanh kỳ sau
- Căn cứ theo nội dung phân tích
+ Phân tích chỉ tiêu tổng hợp: là việc tổng kết tất cả các kết quả phân tích đểđưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuát kinhdoanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của các yếu
tố thuộc môi trường
Ví dụ: Phân tích của chỉ tiêu phản ánh kết quả khối lượng, chất lượngSXKD, phân tích các chỉ tiêu phân hành kết quả doanh thu và lợi nhuận
+ Phân tích chuyên đề: còn được gọi là phân tích bộ phận, là việc tập trungvào một số nhân tố của quá trình kinh doanh tác động, ảnh hưởng đến những chỉtiêu tổng hợp
Ví dụ: các yếu tố về tình hình sử dụng lao động, sử dụng nguyên vật liệu
1.2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tài chính doanh nghiệp
a Nhóm chỉ tiêu an toàn tài chính
Nhóm chỉ tiêu này thể hiện tình hình tài chính doanh nghiệp có an toàn haykhông, do những nhân tố nào tác động Mức độ an toàn thể hiện ở ba hệ số: hệ số tàitrợ, hệ số quản lý nợ và hệ số thanh toán
Hệ số tài trợ và hệ số quản lý nợ
Hai hệ số này cho biết doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợngắn hạn không và tài sản cố định có được tài trợ vững chắc bằng nợ dài hạn vànguồn vốn chủ sở hữu hay không
Trang 25 Hệ số thanh toán
Hệ số này nói lên khả năng đảm bảo trả được các khaorn nợ đến hạn bất cứlúc nào Đây là những chỉ tiêu rất được nhiều người quan tậm như nhà đầu tư, ngườicho vay, người cung cấp nguyên vật liệu…Họ luôn đặt ra câu hỏi: hiện doanhnghiệp có khả năng trả các món nợ ngắn hạn hay không? Khi phân tích chỉ tiêu này,người ta thường phân tích các hệ số sau:
- Hệ số thanh toán hiện hành: Hệ số này được sử dụng để đo lường khả năngthanh toán các khoản nợ ngắn hạnh của doanh nghiệp(nợ và các khoản phải trả)bẳng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như tiền mặt, các khoản phải thu, HTK
- Hệ số thanh toán nhanh: Là hệ số thể hiện liệu công ty có đủ tài sản ngắnhạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán HTK đi haykhông
- Hệ số thanh toán tức thời: Hệ số này nói lên khả năng doanh nghiệp sửdụng tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả của doanh nghiệp
b Nhóm chỉ tiêu về hệ số sinh lợi
Hệ số doanh lợi doanh thu sau thuế (Lợi nhuận biên - ROS): Phản ánh mộttrăm đồng doanh thu có bao nhiều đồng lợi nhuận cho chủ sở hữu Trị số của cácchỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn càng cao và hiệu quả kinhdoanh càng lớn
Hệ số doanh lợi trước thuế (sức sinh lợi cơ sở BEP): Hệ số này phản ánhmột trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo được bao nhiêu đồng lãi cho toàn
xã hội
Tỷ suất thu hồi tài sản (ROA): Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu
tư vào doanh nghiệp tạo ra được bao nhiều đồng lãi cho chủ sở hữu
Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ số này cho biết một trăm đồngvốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra được bao nhiều đồng lãi cho chủ sở hữu
* Nhóm chỉ tiêu về tình hình quản lý tài sản
Vòng quay tổng tài sản (VQTTS): Một đồng tài sản góp phần tạo ra baonhiêu đồng doanh thu
Trang 26 Vòng quay tài sản ngắn hạn: Một đồng tài sản ngắn hạn góp phần tạo rabao nhiêu đồng doanh thu.
Chỉ tiêu hiệu quả tài sản ngắn hạn có thể được đánh giá bởi hai chỉ tiêu:+ Vòng quay khoản phải thu (VQKPT): Thể hiện kỳ thu nợ các khoản bán chịu.+ Vòng quay HTK: Một đồng vốn đầu tư vào HTK góp phần tạo ra baonhiêu đồng doanh thu
Vòng quay tài sản dài hạn: Một đồng tài sản dài hạn góp phần tạo ra baonhiêu đồng doanh thu
1.2.3 Tài liệu cơ sở và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1 Các tài liệu cơ sở dùng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Các thông tin cơ sở được dùng để phân tích hoạt động tài chính trong cácdoanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
Bảng cân đối kế toán (CĐKT – Balance sheet)
Bảng cân đối kế toán là bảng tổng hợp – cân đối tổng thể phản ánh tổng hợptình hình vốn kinh doanh của doanh nghiệp cả về tài sản và nguồn vốn ở một thờiđiểm nhất định Thời điểm quy định là ngày cuối cùng của kỳ báo cáo
Đây là một bản báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đốitượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp
Thông thường, bảng CĐKT được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư cáctài khoản kế toán: Một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn củadoanh nghiệp
Các khoản mục trên bảng CĐKT được sắp xếp theo khả năng chuyển hoáthành tiền giảm dần từ trên xuống
Bên tài sản: Phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lậpbáo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Đó là tài sản cố định vàtài sản lưu động Tài sản lưu động (tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán, các khoảnphải thu, dự trữ); Tài sản tài chính; Tài sản cố định hữu hình và vô hình
Bên nguồn vốn: Phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanhnghiệp đến thời điểm lập báo cáo: Đó là vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và các khoản
Trang 27nợ Nợ ngắn hạn (nợ phải trả cho nhà cung cấp, các khoản phải nộp, phải trả khác,
nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác); Nợ dài hạn (nợvay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, vay bằng cách pháthành trái phiếu); Vốn chủ sở hữu (thường bao gồm: Vốn góp ban đầu, lợi nhuậnkhông chia, phát hành cổ phiếu mới)
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản, bênnguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tàichính của doanh nghiệp
Bên tài sản và nguồn vốn của bảng CĐKT đều có các cột chỉ tiêu: Số đầu kỳ,
số cuối kỳ Ngoài các khoản mục trong nội dung bảng còn có một số khoản mụcngoài bảng như: Một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hoá giữ hộ, nhận gia công,hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các loại…
Nhìn vào bảng CĐKT, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanhnghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng CĐKT là một tưliệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cânbằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Income Statement)
Báo cáo “Kết quả hoạt động kinh doanh” là một báo cáo kế toán tài chínhphản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động kinh doanh trongdoanh nghiệp Ngoài ra, báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ củadoanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như tình hình thuế GTGT được khấu trừ, đượchoàn lại, được giảm và thuế giá trị gia tăng hàng bán nội địa trong một kỳ kế toán
Khác với bảng CĐKT, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cùng là báo cáotài chính quan trọng cho nhiều đối tượng cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quátrình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạtđộng của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng
là báo cáo tài chính quan trọng nhất cho nhiều đối tượng khác nhau nhằm phục vụcho việc đánh giá hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Thông qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, có thể kiểm tra được tình
Trang 28hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về cáckhoản thuế và các khoản phải nộp khác, đánh giá được xu hướng phát triển củadoanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần:
+ Phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗithời kỳ hoạt động (Phần I “Lãi, lỗ”) Có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chiphí của hoạt động SXKD và các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập, chi phí của từnghoạt động tài chính và các hoạt động bất thường cũng như toàn bộ kết quả hoạtđộng SXKD của doanh nghiệp Các chỉ tiêu thuộc thành phần này đều được theodõi chi tiết theo số quý trước, quý này và luỹ kế từ đầu năm
+ Phần phản ánh trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nướcgồm các chỉ tiêu liên quan đến các loại thuế, các khoản phí và các khoản phải nộpkhác (Phần II “Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước”) Các chỉ tiêu ởphần này cũng được chi tiết thành số còn phải nộp kỳ trước, số phải nộp kỳ này, số
đã nộp trong kỳ này và số còn phải nộp đến cuối kỳ này cùng với số phải nộp, số đãnộp luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo
+ Phần phản ánh số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, đượcgiảm và thuế giá gia tăng hàng bán nội địa (Phần III “Thuế GTGT được khấu trừ,thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa”).Phần này chi tiết các chỉ tiêu liên quan đến thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, đãkhấu trừ, được hoàn lại, đã hoàn lại, được giảm, đã giảm và số thuế giá trị gia tăngcòn được khấu trừ, còn được hoàn lại, còn được giảm cuối kỳ…
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow)
Lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hìnhthành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sửdụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụngkhoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến
Trang 29các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động kháckhông phải hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính, nó cung cấp thông tin cơ bản
để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh đểtrang trải các khoản nợ; duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt độngđầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việcmua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư kháckhông thuộc các khoản tương đương tiền, còn luồng tiền phát sinh từ hoạt động tàichính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô kết cấu của vốn chủ sởhữu và vốn vay của doanh nghiệp
1.2.3.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính là hệ thống các công cụ, biện pháp nhằmtiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bênngoài, các nguồn dịch chuyển và biến đổi về tài chính, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉtiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung nhằm đánh giá tình hình tài chính doanhnghiệp
Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệpnhư: Phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp liên hệ, phương phápthay thế liên hoàn, phương pháp Dupont , phương pháp chi tiết,… Trong đề tài này,tôi xin giới thiệu 4 phương pháp: So sánh, tỷ lệ, thay thế liên hoàn và phương phápDupont
độ phấn đấu hoàn thành kế hoạch thì chỉ tiêu làm căn cứ là số kế hoạch…
+ Điều kiện so sánh:
Trang 30Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”.
Khi so sánh các chỉ tiêu với nhau phải có cùng điều kiện, đảm bảo thống nhất
về nội dung kinh tế, tiêu chuẩn biểu hiện là phương pháp tính toán, thời gian tươngứng và đại lượng biểu hiện, thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (cả về hiện vật,giá trị và thời gian)
+ Nội dung bao gồm:
So sánh giữa các số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanhtrước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, thấy được tìnhhình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phụctrong kỳ kinh doanh
So sánh thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấnđấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch
So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với mức trung bình của ngành
So sánh theo chiều dọc: Xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể
So sánh theo chiều ngang ở nhiều kỳ phân tích để thấy được sự biến động cả
về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toánliên tiếp Trên cơ sở đó đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hayxấu, hiệu quả hay không hiệu quả
Phương pháp phân tích tỷ số
Là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích Đó là các tỷ
số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác Đây là phương pháp cótính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoànthiện hơn, bởi vì:
Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn
Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ
số của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanhquá trình tính toán hàng loạt các tỷ số
Trang 31Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những
số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liêntục hoặc theo từng giai đoạn
Về nguyên tắc, với phương pháp tỷ số yêu cầu cần xác định được cácngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên
cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
Phương pháp phân tích nhân tố
Là phương pháp dùng để thiết lập công thức tính toán các chỉ tiêu kinh tếtrong mối quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng Trên cơ sở đó, xác định mức độ ảnhhưởng và phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
Sau khi xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố cần tiến hành phântích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố Cụ thể, phải chỉ rõ mức độ ảnh hưởng, xácđịnh tính chất chủ quan, khách quan của từng nhân tố ảnh hưởng, đồng thời xácđịnh ý nghĩa của nhân tố tác động đến chỉ tiêu đang nghiên cứu
Tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng
để lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp:
Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng để xác định mức độ ảnhhưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh khi các nhân tố này có quan hệ tích
số, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế Khi sử dụngphương pháp này, cần thực hiện theo các trình tự sau:
Trước hết, phải biết được các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng vớichỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính các chỉ tiêu đó
Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định: Nhân tố
số lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau, trường hợp có nhiều nhân tố sốlượng cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau vàkhông đảo lộn trình tự này
Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên.Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn nhân tố chưa được
Trang 32thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay thế xong một nhân
tố, phải tính ra một kết quả cụ thể của lần thay thế đó Lấy kết quả này so với (trừđi) kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnhhưởng của nhân tố vừa được thay thế
Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởngcủa các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh lệchgiữa thực tế với kế hoạch kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích)
Phương pháp số chênh lệch
Đây là hệ quả của phương pháp thay thế liên hoàn, áp dụng khi nhân tố ảnhhưởng có quan hệ tích số với chỉ tiêu phân tích Để xác định mức độ ảnh hưởng củanhân tố nào đó, lấy chênh lệch giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của nhân tố ấy nhân vớinhân tố đứng trước ở kỳ phân tích, nhân tố đứng sau ở kỳ gốc trên cơ sở tuân thủtrình tự sắp xếp các nhân tố
Phương pháp số cân đối
Đây là phương pháp được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của cácnhân tố nếu chỉ tiêu phân tích có quan hệ với nhân tố ảnh hưởng dưới dạng tổnghoặc hiệu Theo phương pháp này, để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào
đó người ta tính chênh lệch giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của nhân tố ấy Song, cần
để ý đến quan hệ thuận, nghịch giữa các nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phân tích
Phương pháp kết hợp
Phương pháp này được sử dụng phổ biện trong phân tích kinh doanh nóichung và phân tích báo cáo tài chính nói riêng Phương pháp này sử dụng kết hợpmột số phương pháp phân tích với nhau Điều này là cần thiết vì đối tượng phân tíchrất đa dạng, phong phú
Ngoài các phương pháp phổ biến trên, phân tích tài chính còn sử dụng nhiềuphương pháp khác như phương pháp chỉ số, phương pháp đồ thị, phương pháp phânchia, phương pháp liên hệ đối chiếu, để nghiên cứu đối tượng của mình
Phương pháp chi tiết
Phương pháp này dùng để chia nhỏ đối tượng phân tích thành những bộ phậnkhác nhau phù hợp với mục tiêu quan tâm của các đối tượng trong từng thời kỳ
Trang 33+ Chi tiết theo yếu tố cấu thành :
Chỉ tiêu nghiên cứu được chia nhỏ thành các bộ phận cấu thành nên chỉ tiêu
đó Qua đó, các chỉ tiêu nghiên cứu được đánh giá chính xác, cụ thể, đồng thời xácđịnh được nguyên nhân cũng như chỉ ra được trọng tâm, trọng điểm của công tácquản lý
+ Chi tiết theo thời gian :
Chỉ tiêu nghiên cứu được chia nhỏ theo trình tự thời gian phát sinh và pháttriển Chi tiết theo thời gian giúp cho việc đánh giá kết quả kinh doanh được chínhxác và tìm được các giải pháp có hiệu quả cho công việc kinh doanh Do vậy, chitiết theo thời gian có tác dụng xác định được thời điểm mà hiện tượng kinh tế xảy ratốt nhất, xấu nhất Xác định được tiến độ và nhịp điệu tăng trưởng của hiện tượngkinh tế
+ Chi tiết theo không gian :
Chỉ tiêu nghiên cứu được chia nhỏ theo địa điểm phát sinh và phát triển.Việc chi tiết theo không gian nhằm đánh giá được những kết quả thực hiện hạchtoán kinh doanh nội bộ; xác định những đơn vị, cá nhân điển hình; đánh giá sự hợp
lý trong việc phân phối nhiệm vụ sản xuất giữa các đơn vị hoặc cá nhân
Phương pháp Dupont
Đây là phương pháp giúp cho nhận biết được hiện tượng tốt, xấu trong hoạtđộng của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản(ROA), thu nhập sau thuế trên vốnchủ sở hữu (ROE), thành tích số của các chuỗi tỉ số có mối quan hệ nhân quả vớinhau
Các câu hỏi khi phân tích chỉ số tài chính
+ Chỉ số này tăng hay giảm?
+ Sự biến động này tốt hơn hay xấu đi?
So với kì trước
So với đối thủ cạnh tranh trực tiếp
So với mức trung bình ngành
Trang 34So với chỉ số kế hoạch
So với chỉ số mong muốn
+ Nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra sự biến động này
+ Các phương án khả dĩ để cải thiện chỉ số này
+ Hành động này gây ảnh hưởng như thế nào tới các báo cáo tài chính và cácchỉ tiêu tài chính khác
+ Phương án tối ưu trong bối cảnh các nguồn lực hiện tại
1.2.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.4.1 Quy trình phân tích và đề xuất các biện pháp cải thiện tình hình tài chính
Hình 1.1: Quy trình phân tích và đề xuất các biện pháp cải thiện tình hình tài chính
T Í C H K H Á I
Q U Á T
Sự biến động của tài sản và nguồn vốn
Kết quả của hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính
Số dư thuần tiền mặt trong
kì và số dư cuối kì
Biến động của doanh thu, chi phí và lợi nhuận.
HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH -Khả năng sinh lời.
- Khả năng quản lý tài sản
PHÂN TÍCH TỔNG HỢP -Phân tích
Du Pont.
-Phân tích các đòn bẩy
RỦI RO TÀI CHÍNH -Khả năng thanh toán -Khả năng quản lý nợ
CÁC CHỈ
SỐ TÀI CHÍNH hiện nay
Bảng CĐKT sau giải pháp
So sánh, nhận xét và đề xuất giải pháp cải thiện tình hình tài chính
CÁC CHỈ
SỐ TÀI CHÍNH mục tiêu
Bảng KQKD sau giải pháp
VỊ THẾ TÀI CHÍNH SAU KHI
CÓ GIẢI PHÁP
Trang 35Bước 1: Thu thập thông tin, thu thập số liệu và các báo cáo tài chính của
doanh nghiệp và xác định các chỉ tiêu tài chính mục tiêu Báo cáo tài chính bao gồmBảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Báo cáo thu nhập),Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Sau khi thu thập, tiến hành xử lý các báo cáo thu thậpđược, chuẩn bị điều kiện phân tích khái quát tình hình tài chính
Phân tích khái quát là nhận định một cách tổng quát về tình hình tài chính doanhnghiệp để có định hướng cho việc phân tích chi tiết Phân tích khái quát được tiếnhành qua báo cáo tài chính
Bước 2: Phân tích ở bước này cho biết:
- Tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp
- Đánh giá nguồn tài trợ và khả năng tài chính của doanh nghiệp
- Nghiên cứu tính hợp lý giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Phân tích Bảng cân đối kế toán để rút ra thông tin sơ bộ về cơ cấu tài sản,nguồn vốn tại các thời điểm xem xét và sự biến động theo thời gian Từ đó đánh giá
về sự tăng trưởng hoặc suy thoái của doanh nghiệp cũng như mức độ phù hợp của
cơ cấu tài sản và nguồn vốn
Bước 3: Phân tích Báo cáo kết quả hoạt động SXKD để có nhận định chung
về biến động của doanh thu, chi phí, khấu hao, EBIT, lãi vay, thuế, lãi ròng, và cổtức
Bước 4: Phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền tệ để tìm hiểu sơ bộ những vấn
đề:
- Các hoạt động kinh doanh, đầu tư và hoạt động tài trợ của doanh nghiệpdiễn ra như thế nào trong kỳ kế toán vừa qua;
- Khái quát về điểm mạnh, điểm yếu của từng hoạt động trên;
- Xác định số dư tiền mặt thuần trong kỳ của tất cả các hoạt động và số dưtiền mặt cuối kỳ
Bước 5: Phân tích hiệu quả tài chính nhằm đánh giá khả năng tạo ra lợi
nhuận tối đa trên cơ sở sử dụng tối thiểu nguồn lực hữu hạn hiện có Hiệu quả tàichính bao gồm hai nhóm chỉ tiêu chính là khả năng sinh lợi và khả năng quản lý tài
Trang 36sản, trong đó khả năng quản lý tài sản là điều kiện cần cho doanh nghiệp tạo ra lợinhuận.
Bước 6: Phân tích rủi ro tài chính là phân tích khả năng thanh khoản và khả
năng quản lý nợ Phân tích rủi ro tài chính nhằm trả lời các câu hỏi:
- Với hiệu quả như hiện nay, khả năng quản lý các nguồn vốn vay của doanhnghiệp như thế nào?
- Doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không?
- Doanh nghiệp có khả năng thanh toán lãi vay đến hạn hay không?
- Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản hay không?
Bước 7: Phân tích tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính bao gồm phân tích
DUPONT, phân tích đòn bẩy Các chỉ tiêu này nhằm đánh giá ảnh hưởng phối hợpcủa khả năng tổ chức quản lý sản xuất, trình độ công nghệ sản xuất và phương pháptài trợ đến khả năng sinh lợi cũng như rủi ro của doanh nghiệp, từ đó cung cấp thôntin hữu ích cho việc đưa ra các quyết định sản xuất, quyết định huy động vốn, phânphối lợi nhuận và tái đầu tư
Bước 8: Hệ thống hóa các chỉ tiêu tài chính hiện tại của doanh nghiệp làm cơ
sở cho bước 9
Bước 9: So sánh, đối chiếu các chỉ tiêu hiện tại với các chỉ tiêu mong muốn
để nhận xét, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp
Bước 10: Đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính và phản ánh
ảnh hưởng của các giải pháp này đến các báo cáo tài chính và xây dựng các báo cáotài chính sau giải pháp
Bước 11: Đánh giá và kết luận về tình hình tài chính tương lai của doanh
nghiệp sau khi có giải pháp
1.2.4.2 Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Mục đích: Đánh giá khái quát là để xem xét nhận định về tình hình tài chínhdoanh nghiệp Điều này nhằm cung cấp cho người sử dụng thông tin biết được tìnhhình tài chính doanh nghiệp có khả quan hay không thông qua hệ thống chỉ tiêudùng để đánh giá khái quát tình hình tài chính
Trang 37TiềnPhải thuHTK
TSCĐ
NNH
Phải trảVay ngắn hạn
Nợ định kìNDH
NGUỒN VỐN CHỦ SỞ
HỮU
Trình tự:
- Phân tích khái quát bảng cân đối kế toán
+ Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn: Phân tích cơ cấu tài sản là việc xácđịnh tỉ trọng các loại tài sản của doanh nghiệp từ đó cho người phân tích biết đượcmột cách tổng quát về các loại tài sản của doanh nghiệp cũng như tỷ trọng của mỗiloại trong tổng tài sản
+ Phân tích sự biến động và cơ cấu tài sản: là việc so sánh loại tài sản ở cuối
kì so với đầu kì Bằng việc so sánh này ta có thể xác định mức độ thay đổi cụ thểcủa chỉ tiêu cơ cấu tài sản, để từ đó có thể kết hợp với số liệu liên quan như số liệu
kế hoạch, số liệu của đối thủ cạnh tranh trực tiếp, số liệu trung bình ngành, số liệumong muốn, và đặc trưng của ngành để rút ra được kết luận về mức độ hợp lý của
cơ cấu tài sản tại thời điểm đang xét Đồng thời tìm ra các nguyên nhân cụ thể gây
ra sự biến động này
+ Phân tích sự biến động và cơ cấu nguồn vốn: Cho biết được doanh nghiệp
sử dụng những nguồn tài trợ nào, tỉ trọng mỗi nguồn tài trợ đó là bao nhiêu và biếnđộng của các tiêu đó
+ Phân tích cân đối tài chính:
Hình 1.2: Phân tích cân đối tài chính
Cân đối giữa TSLĐ và nguồn vốn ngắn hạn: TSLĐ nên được tài trợ bởinguồn vốn ngắn hạn
Cân đối giữa TSCĐ và nguồn vốn dài hạn: TSCĐ nên được tài trợ bởi nguồn
Trang 38Sự phân bổ nguồn vốn chủ sở hữu cho các hoạt động thiết yếu của doanhnghiệp
- Phân tích khái quát báo cáo kết quả hoạt động SXKD
+ Phân khái quát kết quả kinh doanh: Phương pháp chủ yếu để đánh giá kháiquát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là phương pháp so sánh
Phân tích theo chiều ngang:
So sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước ở tất cả các chỉ tiêu chủ yếu củabáo cáo kết quả hoạt động SXKD nhằm xác định xu hướng biến động của các chỉtiêu này
Mức tăng giảm = Chỉ tiêu kỳ này – Chỉ tiêu kỳ trướcPhân tích theo chiều dọc:
So sánh mức chi phí và lợi nhuận trên 100 đồng doanh thu thuần kỳ này với
kỳ trước Phân tích theo chiều dọc sẽ cho thấy sự biến động của tỷ lệ chi phí hoặclợi nhuận trên doanh thu, từ đó đánh giá được hiệu quả trong việc tiết kiệm chi phíhoạt động kinh doanh cũng như mức độ đóng góp của các bộ phận lợi nhuận khácvào tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu chung của công ty
+ Phân tích chỉ tiêu doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ phản ánh số thu nhậpdoanh nghiệp nhận được qua hoạt động SXKD chính, đây là một chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá xu hướng phát triển trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sựbiến động của doanh thu do tác động của hai nhân tố: Khối lượng sản phẩm đã bán
và giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm Khi phân tích cần làm rõ sự thay đổi củadoanh thu là do tác động của lượng bán hay giá bán? Nguyên nhân nào làm chokhối lượng bán và giá bán thay đổi
Phân tích biến động doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ theo phương trình sau:Doanh thu bán hàng = ∑ (Sản lượng sản phẩm x Đơn giá)
+ Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
Sự biến động của lợi nhuận bán hàng bị chi phối bởi hai yếu tố chủ yếu:Doanh thu bán hàng và hiệu quả tiết kiệm chi phí từ hoạt động SXKD chính Ảnh
Trang 39hưởng của doanh thu được xem là tác động về quy mô, còn ảnh hưởng của hiệu quảtiết kiệm chi phí được thể hiện qua sự biến động của chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận củahoạt động kinh doanh chính trên doanh thu Tỷ suất lợi nhuận hoạt động kinh doanhchính trên doanh thu lại phụ thuộc vào các chỉ tiêu tỷ lệ giá vốn hàng bán, chi phíbán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu
Lợi nhuận = Doanh thu thuần – GVHB - CP bán hàng – CP quản lý DN
- Phân tích khái quát báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Phân tích này nhằm mục đích xác định:
+ Các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài trợ của doanhnghiệp diễn ra như thế nào trong kỳ kế toán vừa qua;
+ Khái quát vế điểm mạnh, điểm yếu của từng hoạt động trên
+ Xác định số dư tiền mặt thuần trong kỳ của tất cả các hoạt động và số dưtiền mặt cuối kỳ
1.2.4.3 Phân tích hiệu quả tài chính
Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính nhằm xem xét tình hình tài chính củadoanh nghiệp hiệu quả hay không, hiệu quả do những nhân tố nào tác động vànguyên nhân gây nên những tác động đó Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính có ýnghĩa rất quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà tín dụng và các cổ đông vì nógắn liền lợi ích của họ cả về hiện tại và tương lai
Để đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, người phân tích thường tính và
so sánh các chỉ tiêu sau:
Phân tích mức độ sinh lời
Các tỷ số khả năng sinh lợi đo lường lợi nhuận của doanh nghiệp so vớidoanh số bán, các đầu tư về tài sản, nguồn vốn Các tỷ số khả năng sinh lợi cơ bản:
- Hệ số doanh lợi doanh thu sau thuế(Lợi nhuận biên): Return on Sales-ROS:Công thức:
Doanh lợi doanh thu sau thuế (ROS) = LNST
Doanh thu thuần
Trang 40Hệ số này phản ánh một trăm đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuậncho chủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lời của vốncàng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn
Lãi ròng là khoản lãi sau khi đã trừ đi các chi phí, nộp thuế lợi tức Đây làmột chỉ số rất được các chủ sở hữu quan tâm
- Hệ số doanh lợi trước thuế: (Sức sinh lợi cơ sở BEP)
Công thức:
Doanh lợi trước thuế (BEP) = TTS b́nh quânEBIT
Hệ số này phản ánh một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo đượcbao nhiêu đồng lãi cho toàn xã hội Đây là chỉ số được các cơ quan Nhà nước rấtquan tâm Chỉ số này cho phép so sánh các doanh nghiệp có cơ cấu vốn khác nhau
và thuế suất thu nhập khác nhau
- Tỷ suất sinh lợi của TTS - ROA:
Công thức:
Tỷ suất sinh lợi của TTS (ROA) = TTS bình quânLNST
Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra đượcbao nhiêu đồng lãi cho chủ sở hữu
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợicủa một đồng vốn đầu tư, là cơ sở quan trọng để người cho vay cân nhắc xem liệudoanh nghiệp có thể tạo ra mức sinh lợi cao hơn chi phí sử dụng nợ không, chỉ tiêunày còn phản ánh khả năng thu hồi của vốn chủ sở hữu, là cơ sở quan trọng để chủ
sở hữu đánh giá mức độ tác động của đòn bẩy tài chính khi họ bỏ vốn vào đầu tư.ROA càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng lớn Tuỳthuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm vi so sánh màngười ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặc thu nhập sau thuế để so sánh vớitổng tài sản
- Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu ( Return on Equity)ROE:
Công thức: