1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam

55 770 37

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với việc đàm phán thành công nhiều hiệp định thương mại tự do Việt Nam đang có nhiều cơ hội hơn nữa trong việc phát triển các ngành công nghiệp có giá trị xuất khẩu lớn, một trong s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

-o0o -Đề án chuyên ngành Quản trị kinh doanh thương mại

Đề tài: Tác động của hiệp định TPP và FTA Việt Nam –EU tới ngành da giày Việt Nam.

Sinh viên thực hiện: Đào Phương Thảo

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI NÓI ĐẦU

Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, mang lại nhiều lợi ích và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên cơ sở một nền thương mại và đầu tư công bằng Cùng với việc đàm phán thành công nhiều hiệp định thương mại tự do Việt Nam đang có nhiều cơ hội hơn nữa trong việc phát triển các ngành công nghiệp có giá trị xuất khẩu lớn, một trong số đó là ngành da giày.Ngành da giày là một trong những ngành công nghiệp có giá trị xuất khẩu thuộc

10 nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam, luôn luôn giữ vị trí cao trong kim ngạch xuất khẩu cả nước và gần đây nhất là chiếm 9,1% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2015.Đây cũng là ngành mang lại cơ hội việc làm và nguồn ngoại tệ cho đất nước.Tuy nhiên, việc xuất khẩu da giày hiện nay còn chưa thực sự hiệu quả, còn nặng về thủ công thô sơ và gia công cho nước ngoài

Hơn nữa, từ sau khi đàm phán thành công hiệp định TPP và FTA Việt Nam –EU, một cơ hội lớn đang mở ra cho ngành da giày Việt Nam khi được hưởng nhiều ưu đãi về thuế suất, các cơ hội hợp tác mở rộng và tăng năng lực cạnh tranh mở rộng thị trường

Tuy nhiên,áp lực cạnh tranh cũng sẽ lớn hơn không còn ở các doanh nghiệp nội địa mà còn là các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để tận dụng các cơ hội mà các hiệp định này mang lại

Xuất phát từ tình hình trên em lựa chọn đề tài: “Tác động của TPP và FTA Việt Nam – EU đến ngành da giày Việt Nam” cho đề án chuyên ngành của mình

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng, tác động của TPP và EVFTA và đề

ra giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu da giày của Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu văn phòng, tổng hợp tư liệu trong nước và nước ngoài tham khảo một số chính sách của Nhà nước

Đối tượng phạm vi của đề tài bao gồm ngành da giày Việt Nam và hoạt động xuất khẩu da giày khi chịu tác động của các Hiệp định thương mại

Kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu da giày và Hiệp định TTP, EVFTA

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu da giày và những tác động của hiệp định TPP và EVFTA đến ngành da giày Việt Nam

Chương 3: Phương hướng phát triển cho ngành da giày Việt trước cơ hội và thách thức mà TPP và EVFTA mang lại

Trang 4

Em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Thị Minh Nguyệt đã giúp đỡ em hoàn thành bài đề án này Do việc nghiên cứu thông tin có hạn và còn nhiều thông tin chưa đầy đủ nên bài làm còn nhiều sai sót nên em rất mong sự góp ý của thầy cô

để bài hoàn thiện hơn

Trang 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU DA GIÀY

VÀ HIỆP ĐỊNH TPP VÀ EVFTA1.1.HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ

1.1.1.Khái niệm

Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiên thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này

Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương Nó đã

xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh

mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá nhưng cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh và đước biểu hiện dưới nhiều hình thức

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh

tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hoá thiết bị công nghệ cao Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng

Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian Nó có thể diễn

ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể đước diễn ra trên phậm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau

1.1.2.Vai trò của xuất khẩu da giày

Trong giai đoạn hiện nay ngành da giày có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đặc điểm của ngành là sử dụng nhiều lao động, khai thác nguồn nguyên liệu trong nước, có lợi thế xuất khẩu và thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước

Ngành Da Giầy là ngành công nghiệp nhẹ có tỷ suất đầu tư vốn ít khả năng quay vòng vốn nhanh, công nghệ không phải đầu tư quá nhiều nên có thể tạo tích luỹ ban đầu cho nền kinh tế Nước ta mới trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập muốn phát triển kinh tế mà tiềm lực còn chưa mạnh để phát triển những ngành công

nghiệp cao ngay lập tức thì Da Giầy với những ngành Dệt may, Thuỷ sản là những ngành cần phát triển với phương châm lấy ngắn nuôi dài, vừa chạy tắt vừa đón đầu

Có như vậy mới có thể nhanh chóng phát triển kinh tế đất nước

Xuất khẩu giày dép đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, là ngành

có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ ba, sau điện tử và dệt may Thực tế, dù giá trị gia tăng của ngành da giày chưa được như kỳ vọng song với trên 800 doanh nghiệp, 1 triệu lao động, ngành đã giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động phổ thông, trong đó lao động nữ chiếm tới 85%

Trang 6

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Việt Nam là một trong các nước sản xuất giày dép hàng đầu thế giới, xuất khẩu tăng 21,9%/năm Hiện Việt Nam nằm trong top 4 nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới, đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil, nhưng là nước xuất khẩu lớn thứ 3 trên thế giới về giá trị, sau Trung Quốc và Italia Giày dép Việt Nam đã xuất khẩu tới trên 50 nước, sản phẩm túi xách hiện đã

có mặt ở trên 40 thị trường

1.2.TỔNG QUAN NGÀNH DA GIÀY VIỆT NAM

1.2.1.Số lượng doanh nghiệp

Ngành Da giầy Việt Nam với ưu thế là một ngành kinh tế kỹ thuật thu hút được nhiều lao động, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho xã hội, tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu Vì vậy, nó có vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu cả quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, hiện nay đang được Chính phủ quan tâm và coi là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển hàng công nghiệp tiêu dùng hướng ra xuất khẩu

Bảng 1.1 : Quy mô ngành da giày

Theo quy mô vốn

Nguồn:Báo cáo ngành Dệt may-Da giày

Qua bảng 1.1 ta thấy số lượng doanh nghiệp ngành da giày khá đông nhưng tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ 1148 doanh nghiệp vốn dưới 50 tỷ ( chiếm khoảng 83% số doanh nghiệp trong ngành), chưa kể đấy còn bao gồm các doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu da thuộc … và có thể đa số doanh nghiệp làm gia công nước ngoài Số doanh nghiệp có vốn từ 200- 500 tỷ và 500 tỷ trở lên chỉ có 95 doanh nghiệp chiếm 6,87% doanh nghiệp trong ngành Đây là con số quá nhỏ đối với một nước có thế mạnh xuất khẩu da giày như Việt Nam.Theo quy mô lao động , doanh nghiệp có quy mô lao động dưới 50 người chiếm 55,74% trong khi đó số doanh ngiệp có quy mô lao động từ 300-499 và từ 500 trở lên chiếm 20,17% tổng số doanh nghiệp

Trang 7

Ngành giày da của thế giới đang tiếp tục chuyển đổi việc sản xuất sang các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước có điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư, nền chính trị ổn định, hòa bình Khi Việt Nam gia nhập WTO, thuế quan bị bãi bỏ, cùng với những chính sách khuyến khích xuất khẩu, sản xuất, Việt Nam trở thành điểm đến cho việc đầu tư của các nhà sản xuất giày da.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ hiện tại, chỉ có 12% số doanh nghiệp da giày

có quy mô sản xuất lớn; doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến hơn 55%; 33% còn lại

là doanh nghiệp siêu nhỏ

Theo thống kê của Hiệp hội Da - Giày - Túi xách Việt Nam (Lefaso), với 800 doanh nghiệp và khoảng 1 triệu lao động, các doanh nghiệp FDI chiếm chưa đầy 25% số lượng doanh nghiệp ngành giày nhưng lại quyết định tới 77% giá trị xuất khẩu Có cả những doanh nghiệp FDI giữ vai trò dẫn dắt, chẳng hạn như Pouchen Ngay cả hai doanh nghiệp Việt là công ty Cổ Phần Đầu tư và sản xuất giày Thái Bình và công ty Cổ Phần Công nghiệp Đông Hưng (Đông Hưng group) dù được các doanh nghiệp trong giới mệnh danh là những “đại gia” đầu ngành da giày nhưng thực tế vẫn chỉ là những doanh nghiệp làm hàng gia công xuất khẩu là chủ yếu.Tính đến đầu năm 2014, cả nước có 129 doanh nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu, trong đó:35 doanh ngiệp thuộc da (gồm 21 doanh nghiệp tư nhân, 11 doanh nghiệp FDI, 2 DNNN, 1 doanh nghiệp cổ phần, phân bổ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh có

18 doanh nghiệp; Bình Dương có 8 doanh nghiệp; Đồng Nai có 5 doanh nghiệp; còn lại TP Hà Nội, Cần Thơ, Khánh Hoà, Thái Bình, Lạng Sơn, Hải Phòng, Vũng Tàu mỗi địa phương có 1 doanh nghiệp); 95 doanh nghiệp (70% số này là của Việt Nam) sản xuất nguyên phụ liệu, công nghiệp hỗ trợ, thiết bị, với 23 doanh nghiệp sản xuất đế, 11 doanh nghiệp sản xuất keo dán, 4 doanh nghiệp sản xuất vải dệt, 5 doanh nghiệp sản xuất khuôn, 6 doanh nghiệp sản xuất giả da, 11 doanh nghiệp sản xuất phụ kiện, 4 sản xuất giấy và bao bì, 1 doanh nghiệp sản xuất máy móc thiết bị Các doanh nghiệp còn lại hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị cho ngành Da Giầy Sự phân bổ các doanh nghiệp này khá tập trung, trên TP Hồ Chí Minh có 47 doanh nghiệp; Bình dương có 27 doanh nghiệp; Đồng Nai có 17 doanh nghiệp; Hà Nội có 5 doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ngành dệt may (như sản xuất vải, nhãn mác, khóa kéo, khuy, băng chun ), sản xuất hóa chất và ngành cơ khí cũng tham gia sản xuất, cung cấp một số sản phẩm nguyên phụ liệu cho ngành da giày

Số liệu thống kê của Hải Quan Việt Nam cho hay, năm 2014 tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép các loại của Việt Nam ước đạt 10,22 tỷ USD (FOB cảng Việt Nam) tăng 21,6% so với năm 2013 và chiếm 6,8% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.Trong đó các doanh nghiệp FDI xuất khẩu ước đạt 7,93 tỷ USD, chiếm 77% trong tổng xuất khẩu giầy dép của Việt Nam Nhiều thương hiệu giày nổi tiếng như Nike, Adidas và Puma đã chuyển đơn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc và Bangladesh sang Việt Nam, vừa mở rộng sản xuất tại Việt Nam vừa để giảm rủi ro đầu tư tại Trung Quốc

Trang 8

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ xuất khẩu giày dép theo doanh nghiệp năm 2014

Nguồn: Lefaso.org.vn

1.2.2.Chủng loại sản phẩm

Bảng 1.2: Sản lượng sản xuất các sản phẩm giày dép giai đoạn 2012

-2014Sản phẩm chủ

Giày thể thao (Triệu đôi) 400,9 480,7 555,3Giày vải (Triệu

Giày, dép da (Triệu đôi) 222,1 227,8 251,2

Nguồn : Tổng cục thống kê

Qua bảng 1.2 ta thấy năm 2014, Việt Nam sản xuất được 861,9 triệu đôi giày, trong đó có 251,2 triệu đôi giày da; 55,4 triệu đôi giày vải; 555,3 triệu đôi giày thể thao, tương ứng với tỷ trọng là 29,1%; 6,4% và 64,4% Đối với giày dép da, sản lượng giày tăng trưởng 10,3% năm 2014; 2,6% năm 2013 và 10,8% năm 2012 Đối với giày thể thao, sản lượng giày tăng trưởng 15,5% năm 2014; 19,9% năm 2013 và 5,5% năm 2012 Đối với giày vải, tốc độ tăng thấp hơn, lần lượt ở các mức 4,3%; 3,9%; 3,0% Trong giai đoạn 2005-2014, tổng sản lượng giày ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 6,6%, trong đó, sản lượng giày dép da tăng bình quân 2,1%; giày vải tăng 6,0% và giày thể thao 9,9% Hầu hết các thương hiệu giầy quốc tế lớn như Nike, Adidas, Reebok, Puma, New Balance, Reebok, Salomon… đều đặt hàng gia công tại Việt Nam Hiện có 90% sản lượng giày dép là dành cho xuất khẩu

Chủng loại giầy dép của Việt Nam xuất ra thế giới chủ yếu là nhóm hàng giày dép

có đế ngoài và mũ giầy bằng cao su hoặc plastic (Mã HS 64.02); giày dép có đế

Trang 9

ngoài bằng cao su, plastic, da thuộc hoặc da tổng hợp và mũ giầy bằng da thuộc (HS 64.03); giày dép có đế ngoài bằng cao su, plastic, da thuộc hoặc da tổng hợp và mũ giầy bằng nguyên liệu dệt (HS 64.04).

Bảng 1.3: Chủng loại giày dép xuất khẩu phân theo mã HS

6401 Giày, dép không thấm nước, có đế ngoài và mũ; Giày, dép có gắn

mũi kim loại bảo vệ; Giày cổ cao quá mắt cá chân nhưng chưa đến;

Nguồn : Hải quan Việt Nam

1.2.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến ngành da giày xuất khẩu

1.2.3.1.Yếu tố vĩ mô

a Kinh tế

Thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu tỷ lệ chi tiêu cho hàng da giày ở mỗi thị trường là khác nhau Hàng da giày phải phù hợp với thu nhập người tiêu dùng , chi phí hợp lý, thoả mãn nhu cầu của từng thị trường

Ví dụ ở những nước phát triển có thu nhập cao người tiêu dùng sẽ chú ý đến mẫu

mã, kiểu cách, bởi vậy vòng đời của sản phẩm sẽ rất ngắn phải thay đổi nhanh chóng

để phù hợp với thị trường này Chẳng hạn như EU là thị trường có dân cư thu nhập cao, chi tiêu cho da giày cũng yêu cầu cao hơn về mẫu mã, chất lượng Với thị trường này thì yêu cầu về thẩm mỹ, mẫu thời trang chiếm tới 85-90% giá trị sử dụng Hay thị trường dệt may của Nhật Bản, người tiêu dùng lại quan tâm đến chất lượng là trên hết và họ kiểm tra kỹ lưỡng trước khi mua mặt hàng Ở những nước có thu nhập thấp như các nước Châu Phi và một số các nước Châu Á thị họ lại chủ yếu quan tâm đến giá cả và độ bền của sản phẩm giày dép

Trang 10

Từ môi trường kinh tế khác nhau tại các thị trường thì mức độ tiêu thụ, yêu cầu về hàng dệt may lại khác nhau Do đó, hàng dệt may Việt Nam phải dựa vào kinh tế của từng thị trường để sản xuất và xuất khẩu.

b Luật pháp

Đối với thị trường Nhật Bản thì cũng phải nghiên cứu các đạo luật của họ như cấm nhập khẩu những sản phẩm có nhãn mác mập mờ, giả mạo về xuất xứ, quy định các sản phẩm gia dụng phải tuân thủ các tiêu chuẩn về mức độ cho phép đối với các chất gây nguy hiểm cho da, luật về nhãn hiệu chất lượng hàng dệt may đều phải dán nhãn Trên nhãn phải ghi rõ thành phần của vải và biện pháp bảo vệ sản phẩm

Nắm được quy định, luật pháp của các thị trường để đưa ra những sản phẩm dệt may đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu

Về yêu cầu thị trường, các doanh nghiệp Canada khi tiến hành nhập khẩu, bán và phân phối các sản phẩm giày dép đều mong đợi sự hỗ trợ kinh doanh cũng như sự tuân thủ các quy định pháp luật, các nỗ lực tiếp thị và quảng bá của các nhà cung cấp nước ngoài Là một trong những quốc gia có giá trị nhập khẩu bình quân đầu người cao nhất, Canada hiện là thị trường mà rất nhiều nhà cung cấp giày dép muốn thâm nhập, điều này đồng nghĩa với sức ép cạnh tranh khốc liệt đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam

c Môi trường tự nhiên

Sự đa dạng về sắc tộc và khí hậu/thời tiết của Canada ảnh hưởng rất nhiều đến ngành công nghiệp giày dép như kích cỡ, xuất xứ hàng nhập, màu sắc Trong khi giới trẻ nhiều nước thích các loại giày thoải mái, hợp thời trang và sẵn sàng trả giá

để mua hàng chất lượng cao thì giới trẻ Canada lại có xu hướng mua các loại giày giá thấp Tuy nhiên, đối với các loại giày thể thao, thì càng đắt tiền lại càng được thanh thiếu niên Canada cho là "hợp thời"

d Văn hoá xã hội

Tỷ lệ dân cư theo trình độ văn hoá, tôn giáo, phong tục tập quán, lối sống, nguyên tắc và giá trị xã hội, các yếu tố về khí hậu, địa lý ở từng thị trường… Có ảnh hưởng quan trọng đến sản phẩm da giày khi xuất khẩu sang các thị trường Hàng da giày không chỉ đáp ứng nhu cầu bảo vệ mà còn đáp ứng nhu cầu làm đẹp, nhu cầu nâng cao địa vị, phẩm chất đặc tính con người Có thể nói rằng nó liên quan chặt chẽ tới yếu tố về thị hiếu, trình độ văn hoá, phong tục, tôn giáo…của mỗi một quốc gia

Trang 11

Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ với dân cư đa dạng về sắc tộc, tôn giáo và phong tục tập quán Chính những nét đa dạng này đã tạo nên tập quán tiêu dùng hàng hoá cũng

đa dạng Theo phong cách của người Mỹ thì đối với họ mua sắm là hình thức kích thích nền kinh tế phát triển Mua sắm càng nhiều thì càng làm gia tăng thêm sản xuất và dịch vụ Về vấn đề da giày, với dân số 317,5 triệu người, thị trường này tiêu thụ khoảng 2,5 tỷ đôi giày dép, tính ra mỗi người tiêu dùng Mỹ tiêu thụ 8 đôi giày dép/năm 99% sản phẩm giày dép bán tại thị trường Hoa Kỳ là nhập khẩu từ các nước Đây là một trong những thị trường béo bở đối với hàng da giày Việt Nam Phong cách ăn mặc của họ thì chú trọng tới yếu tố tự nhiên, thoải mái họ không quá đòi hỏi cầu kỳ về kiểu cách

Người tiêu dùng của thị trường EU thích tìm mua hàng hoá có chất lượng tốt với mẫu mã tinh xảo hơn hàng hoá rẻ có chất lượng mẫu mã kém Thị hiếu của người tiêu dùng thị trường này hướng về yếu tố sức khoẻ và thể chất Họ quan tâm đến những sản phẩm có tính năng bảo vệ sức khoẻ, chất liệu từ thiên nhiên hạn chế hoá chất

e Tỷ giá:

Năm 2015, được coi là một năm đầy biến động, nhiều thách thức trong chính sách tiền tệ và chính sách tỉ giá trước bối cảnh USD liên tục lên giá do kỳ vọng Fed điều chỉnh tăng lãi suất và Trung Quốc bất ngờ điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ, kéo theo làn sóng giảm giá mạnh của các đồng tiền của các đối tác thương mại chính của Việt Nam

Ở trong nước, việc huy động trái phiếu Chính phủ (TPCP) để bù đắp thâm hụt ngân sách không thành công đã đẩy lãi suất TPCP tăng cao, tạo áp lực kép lên thị trường tiền tệ Dư thừa thanh khoản trong ngắn hạn trong khi lãi suất tăng cao trong dài hạn, qua đó gián tiếp cản trở mục tiêu tiếp tục giảm lãi suất cho vay và ổn định

tỷ giá

Trước tình hình đó, ngay sau khi Ngân Hàng Trung ương Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ vào ngày 11/8, ngày 12/8, NHNN đã điều chỉnh biên độ tỉ giá giữa VNĐ và USD tăng từ +/-1% lên +/-2%

Với vị thế là nền kinh tế lớn, việc phá giá đồng nội tệ của Trung Quốc ngay lập tức đã ảnh hưởng lớn đến các nền kinh tế mới nổi Đối với nhóm doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu – như may mặc, giày dép và thép bị ảnh hưởng do các công

ty Trung Quốc trong cùng ngành vốn đã có lợi thế về quy mô giờ sẽ gia tăng cạnh tranh khi đồng NDT giảm giá.Tuy nhiên đối với mặt hàng da giày là mặt hàng Việt

Trang 12

Nam đang có lợi thế gia công rất lớn cũng tận dụng lợi ích từ các hiệp định thương mại tự do Nhiều doanh nghiệp đang sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc Đồng NDT giảm giá, giúp cho DN trong lĩnh vực dệt may, da giầy tiếp cận với nguồn nguyên liệu rẻ hơn, tạo ra lợi thế cạnh tranh, giúp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng này.Hơn nữa nhiều doanh nghiệp mua bán với bạn hàng Trung Quốc thông qua đồng USD nên việc thay đổi tỷ giá không ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp.Tiếp đó, đón đầu các tác động bất lợi của khả năng Fed tăng lãi suất và biến động của thị trường tài chính thế giới, ngày 19/8, Ngân hàng Nhà Nước đã điều chỉnh tỉ giá bình quân liên ngân hàng giữa VNĐ và USD thêm 1%, đồng thời mở rộng biên

độ tỉ giá từ +/-2% lên +/-3% Điều này khiến cho doanh nghiệp xuất khẩu bớt áp lực trước vấn đề tỷ giá

Như vậy, tính chung trong năm 2015, NHNN thực hiện điều chỉnh tăng tỉ giá 3%

và nới biên độ thêm 2% từ mức +/-1% lên +/-3%./

Không chỉ vậy đối với thị trường EU,hiện là thị trường xuất khẩu thứ hai của Việt Nam so với Hoa Kỳ mà giày dép đóng góp 12 % tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá Việt Nam và EU, tỷ giá đồng EURO liên tục giảm khiến nhiều doanh nghiệp lo lắng

vì chi tiêu người dân bản địa giảm sẽ làm giảm nhập khẩu hàng hoá Tuy nhiên do nhiều doanh nghiệp sử dụng đồng USD để trao đổi trong khi đồng USD biến động nhỏ nên việc giảm giá đồng EURO không ảnh hưởng tới doanh nghiệp

Việc Ngân hàng châu Âu ECB và Ngân hàng trung ương Nhật Bản đang theo đuổi chương trình nới lỏng định lượng nhằm thúc đẩy kinh tế dẫn đến đồng EURO hay JPY giảm so với USD Khi đồng USD tăng so với các đồng tiền khác mà tỷ giá VND/ USD ổn định thì giúp doanh nghiệp giảm cạnh tranh về giá so với các quốc gia khác có đồng tiền giảm giá so với đồng USD

1.2.3.2.Lao động

Ngành da giày Việt Nam là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng GDP của quốc gia Mặc dù giá trị gia tăng của ngành da giày không lớn, nhưng với trên 800 doanh nghiệp và gần 1 triệu lao động, ngành đã mang lại công việc cho một số lượng lớn lao động phổ thông, trong đó số lao động nữ chiếm tới 85%

Thông thường các doanh nghiệp da giày thường xây dựng thang bảng lương theo cấu trúc: Lương cơ bản theo hợp đồng lao động và các khoản phụ cấp khác có tính chất như tiền lương và tiền thưởng

Trang 13

Số liệu từ Hiệp hội Da – Giày – Túi xách Việt Nam (Lefaso) cho biết, mặc dù thu nhập bình quân người lao động là đạt 5,5 triệu đồng/người/tháng, nhưng trên thực tế, chi phí nhân công mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động 6,5 – 7 triệu đồng/người/tháng, bao gồm: Tiền lương, các khoản phụ cấp, trích nộp bảo hiểm, tiền thưởng, các chế độ phúc lợi khác thì mức chi phí mà doanh nghiệp phải chi thêm từ 1.092.000 đến 1.176.000 đồng/người/tháng.

1.2.3.3.Nguyên phụ liệu

Báo cáo của Lefaso cũng chỉ ra rằng ngành da giày mới chỉ chủ động được 30% nguyên liệu da thuộc Với mức độ phụ thuộc khoảng 70%, mỗi năm ngành da giày nhập khẩu từ 1,1-1,5 tỷ USD da thuộc cho sản xuất hàng xuất khẩu Và trong tổng

số gần 550 doanh nghiệp da giày, có khoảng 80-90 nhà máy tại Việt Nam đang làm hàng gia công cho các thương hiệu Adidas, Nike và 90% trong số này thuộc về các doanh nghiệp FDI

Một trong những điểm yếu và cũng là thách thức lớn của ngành da giày là tỷ lệ gia công vẫn ở mức cao, chiếm khoảng 70% Dù khả năng tự chủ nguồn nguyên phụ liệu đã được cải thiện, song lại không đồng đều ở các sản phẩm khác nhau, và chủ yếu do khối doanh nghiệp FDI nắm giữ, nên giá trị gia tăng cho các sản phẩm da giày mà Việt Nam có được khá thấp Lefaso cho biết, giá trị mà ngành giày Việt Nam đạt được chỉ khoảng 20%, trong khi các thương hiệu lớn của Mỹ có cơ sở sản xuất tại Việt Nam lại đang được lợi lớn khi hưởng đến 80%

Cũng bởi, Việt Nam chỉ tham gia khâu chuẩn bị nguồn lực và tổ chức sản xuất với nguồn lao động dồi dào, trong khi các nước NK như Mỹ hay EU có lợi thế hơn hẳn từ 70 - 80% giá trị, do làm chủ khâu nguyên liệu, nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, marketing, kênh phân phối… vốn chiếm phần lớn lợi nhuận

Theo Hiệp hội Da – Giày – Túi xách Việt Nam (Lefaso Vietnam), sản xuất da thuộc trong nước (sản xuất mũ giày, lót giày, túi cặp) trong năm 2014 đạt 210 triệu m2, đáp ứng được 24,4% nhu cầu về da thuộc Sản xuất giả da trong nước cũng đáp ứng được 4,2% nhu cầu; sản xuất vải dệt (sản xuất mũ giày, túi cặp, ba lô) đáp ứng 17,5%; vải không dệt (làm lót, đệm mũ giày, túi) đáp ứng được 12,5%; carton (sản xuất đế trong) đáp ứng 16,7%; sản xuất đế giày các loại có tỷ lệ đáp ứng cao nhất - 58,7% nhu cầu Riêng nhập khẩu da thuộc trong năm 2014 đạt 1,1 tỷ USD, tăng 37,7% so với năm 2013 Chưa kể nhập khẩu nguyên phụ liệu khác được gộp với ngành dệt may là 5 tỷ USD trong năm 2014 Hiện nay, chưa đến 20 doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam đủ sức làm hàng FOB, khoảng 70% doanh nghiệp sản xuất da giày, túi xách của Việt Nam theo phương thức gia công Nhà sản xuất không được chủ động tìm kiếm và đặt nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất mà phải theo chỉ định của khách hàng, thường là đối tác nước ngoài Do đó, không tạo động lực cho lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu phát triển

Trang 14

Hình 1.1: Chuỗi giá trị ngành da giày

Nguồn:KPMG

Theo điều tra của Dự án Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ da giày TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2020, có đến 65% số doanh nghiệp sản xuất giày dép, túi xách thực hiện theo phương thức sử dụng nguồn nguyên liệu, thiết kế do khách hàng nước ngoài cung cấp và gắn nhãn hiệu sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng; chỉ khoảng 25 – 30% số doanh nghiệp sản xuất theo phương thức tự thiết kế sản phẩm,

tự mua nguyên liệu và có nhãn hiệu riêng

1.2.3.4.Công nghệ kỹ thuật

Hiện nay trình độ công nghệ của ngành giày dép Việt Nam đang ở mức trung bình

và trung bình khá, song khá lệ thuộc vào nước ngoài về trang bị máy móc Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế

Bên cạnh đó, bản thân ngành giày Việt Nam có tuổi đời chưa cao, kinh nghiệm còn ít và nếu so với những nước trong khu vực thì họ đã có quá trình phát triển khá lâu Những công nghệ cao như sản xuất các loại giày đặc chủng, giày thể thao chuyên nghiệp, giày y tế đều nằm ngoài tầm với của doanh nghiệp Việt Nam Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài Điều này còn dẫn

Trang 15

đến việc ngành có nguy cơ mất khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế.

1.4.TỔNG QUAN VỀ TPP VÀ EVFTA

1.4.1.Hiệp định TPP và những tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership-TPP) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) được đánh giá là toàn diện và có phạm vi ảnh hưởng rộng nhất cho đến thời điểm hiện nay Mặc dù được gọi là một hiệp định thương mại, nhưng các điều khoản của TTP không chỉ tập trung trong lĩnh vực thương mại hàng hóa mà còn đặt ra tham vọng viết lại luật chơi thương mại toàn cầu bằng tự do hóa thương mại dịch vụ và dịch vụ tài chính, thúc đẩy luân chuyển dòng vốn và lao động; và quan trọng nhất là thiết lập các điều kiện về thể chế để phục vụ các mục tiêu trên, bao gồm: khuôn khổ pháp lý liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước, cạnh tranh và giải quyết tranh chấp… Trong số các nước tham gia đàm phán TTP, Việt Nam là nước được các chuyên gia đánh giá là nước sẽ được hưởng lợi cũng như phải chịu ảnh hưởng lớn nhất của Hiệp định này

bộ trưởng và những nhà đàm phán chủ chốt Các nội dung chính của TPP Với 12 nước thành viên, TPP sẽ tạo ra một khu vực thương mại tự do rộng lớn nhất từ trước tới giờ, chiếm gần 40% GDP toàn cầu và 25% thương mại thế giới Những đặc trưng giúp TTP trở thành "Một hiệp định mang tính bước ngoặt về thương mại của thế kỷ

21, thiết lập một tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu và đưa ra các vấn đề thuộc thế hệ mới có khả năng tăng cường năng lực cạnh tranh của các nước thành viên TPP trong nền kinh tế toàn cầu" bao gồm:

1. Tiếp cận thị trường toàn diện (Comprehensive market access)

Chủ yếu bằng việc bãi bỏ thuế và các rào cản thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư

2. Hiệp định khu vực toàn diện (Fully regional agreement):

Tạo thuận lợi cho phát triển sản xuất và chuỗi cung ứng giữa các nước TPP, hỗ trợ việc làm, mức sống xã hội với mục tiêu phát triển bền vững

3. Các vấn đề thương mại xuyên suốt (Cross-cutting trade issues):

Bổ sung bốn tiêu chí mới trên cơ sở các thỏa thuận đã đạt được của APEC:

(1) Gắn kết môi trường chính sách,

(2) Tạo thuận lợi thúc đẩy cạnh tranh;

(3) Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ;

Trang 16

(4) Tăng cường vai trò của thể chế trong quản lý phát triển kinh tế.

4. Những thách thức mới trong thương mại (New trade challenges):

Bảo vệ các sản phẩm và dịch vụ mang tính sáng tạo, nhằm đảm bảo môi trường kinh doanh cạnh tranh trong TPP

5. Hiệp định mở (Living agreement):

Cập nhật thích hợp các vấn đề mới trong tương lai cũng như trong quá trình mở rộng khối Trên cơ sở các đặc điểm trên, Hiệp định đã được soạn thảo gồm 29 chương (Các chương về thương mại: Hàng hóa, Thủ tục hải quan, Dệt may và Da giày, Nông nghiệp, Các biện pháp khắc phục thương mại, Thuận lợi hóa thương mại

và nâng cao năng lực; Các chương về hành chính: Chương mở đầu, Ngoại lệ, Thể chế/Hòa giải mâu thuẫn, Hiệp định mở: Các chương ngoài thương mại: Dịch vụ, Thương mại điện tử, Viễn thông, Rào cản kỹ thuật, Cạnh tranh, Quyền sở hữu trí tuệ, Đầu tư, Mua sắm công, Kiểm dịch và vệ sinh an toàn thực phẩm, Quy tắc xuất

xứ, Nhập cảnh tạm thời, Sức cạnh tranh và cung ứng toàn cầu, Lao động, Môi trường, Tiêu chuẩn an toàn, Pháp lý, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Phát triển Trong đó

14 chương đã hoàn tất đàm phán liên quan đến: Thể chế, dịch vụ tài chính, nông nghiệp, lao động

Những ảnh hưởng chung của hiệp định TPP đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam

Các cơ hội và thách thức:

Tham gia TTP, Việt Nam không chỉ nhận được nhiều cơ hội trong phát triển như tăng đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, tiếp thu công nghệ cao

mà cũng phải đối diện với nhiều thách thức lớn, bao gồm:

1. Quy tắc xuất xứ trong lĩnh vực dệt may:

Theo quy tắc này chỉ có những sản phẩm dệt may sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc từ các nước trong TPP mới được hưởng mức thuế xuất ưu đãi, trong khi nguyên liệu phục vụ ngành dệt may của Việt Nam hiện nay có nguồn gốc chủ yếu từ Trung Quốc (chiếm tới 80%)

2. Cạnh tranh tại thị trường trong nước và ngoài nước về mặt hàng nông sản:

Khi tham gia TPP Việt Nam phải mở cửa thị trường nông sản, do đó cùng với việc dỡ bỏ thuế nhập khẩu, nhiều mặt hàng nông nghiệp của Việt Nam (sữa, thịt, cá, thực phẩm chế biến, đồ gỗ…) ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu khó có thể cạnh tranh với mặt hàng của các nước có trình độ phát triển nông nghiệp cao trong khối như: Mỹ, Nhật, Úc, New Zealand, Canada

3. Quyền sở hữu trí tuệ:

Việt Nam phải tuân thủ các quy định ngặt ngèo về quyền sở hữu trí tuệ, vốn được xem nhẹ hiện nay

4. Cải cách doanh nghiệp nhà nước:

Việt Nam bắt buộc phải cải cách khối doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế

5. Cải cách hệ thống luật pháp:

Việt Nam phải cải cách hệ thống pháp luật và nền hành chính công cho phù hợp với các yêu cầu hội nhập

Trang 17

6. Yêu cầu về tiêu chuẩn lao động:

Việt Nam phải mở cửa thị trường lao động và tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về lao động: Điều kiện lao động, bảo hiểm, công đoàn…

Các tác động cụ thể đối với nền kinh tế:

Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, các tác động của TPP đến nền kinh tế Việt Nam được lượng hóa trên 07 khía cạnh: GDP thực tế; Đầu tư; Thương Mại; Sản lượng; Cầu lao động; Phúc lợi kinh tế; Thu ngân sách từ thuế

GDP thực tế: Theo tính toán, tham gia vào TPP Việt Nam sẽ đạt mức tăng GDP lớn nhất so với các nước khác ở mức từ 1,03-2,11%; tương đương mức giá trị tăng thêm theo USD từ 1,4-2,86 tỉ USD tùy theo kịch bản Nếu phân rã GDP theo các thành phần thì tăng trưởng do đầu tư và chi tiêu là lớn nhất (GDP bao gồm: Chi tiêu, đầu tư, chi tiêu chính phủ, xuất khẩu, nhập khẩu)

Đầu tư toàn xã hội: Đầu tư toàn xã hội sẽ tăng mạnh từ 25,33-29,81% tương đương 10,73-12,63 tỉ USD Trong đó đầu tư tăng từ các nước nội khối TPP và giảm

ở các nước ngoại khối

Thương mại: Nhập khẩu sẽ tăng mạnh từ 11-12,2% do tự do hóa và cắt giảm thuế, trong khi xuất khẩu giảm (2,2-3,2%) do sự cạnh tranh của các sản phẩm của các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Úc, New Zealand

Sản lượng theo ngành:Tương ứng với xuất khẩu, sản lượng của các ngành có lợi thế cạnh tranh như: May mặc, da giày, các dịch vụ tiện ích sẽ tăng trong khi các ngành trong lĩnh vực nông nghiệp, khai khoáng, hàng tiêu dùng như: Chăn nuôi, sữa, chế biến thực phẩm, lâm nghiệp, chế biến gỗ, thiết bị điện, khai khoáng, hóa chất và kim loại sẽ tụt giảm mạnh

Thay đổi về nhu cầu lao động: Các ngành có quy mô phát triển sau TPP như: May mặc (tăng 42,3-42,7%) , dệt may (tăng 9,4-11,2%), da giày, dịch vụ tiện ích sẽ là những ngành sẽ thu hút lượng lao động lớn nhất; các ngành chế biến thực phẩm, sản phẩm hóa chất và kim loại sẽ không thu hút được lao động nữa Nhu cầu lao động được đào tạo sẽ tăng mạnh

Phúc lợi kinh tế: Phúc lợi kinh tế được đo lường dựa trên thu nhập hộ gia đình Việt Nam sẽ đạt mức tăng % lớn nhất từ 4,96-6,55% tương đương 5,61-7,42 tỉ USD Thu ngân sách từ thuế: Mức thu ngân sách từ thuế của Việt Nam sẽ giảm khoảng 1,9 tỉ USD (trong đó thu từ nhập khẩu giảm 1,87 tỉ USD) chủ yếu do cắt giảm thuế nhập khẩu Sụt giảm lớn nhất từ các nhóm sản phẩm: Dầu khí, hóa chất, kim loại; các ngành sản xuất như ôtô, máy móc và nhóm thực phẩm chế biến

1.4.2.EVFTA

Ngày 2 tháng 12 năm 2015, trước sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Ủy ban châu Âu, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam và Cao ủy Thương mại EU đã ký Tuyên bố về việc chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (Hiệp định EVFTA) Trong thời gian tới, hai bên sẽ khẩn trương rà soát pháp lý và tiến hành các thủ tục phê chuẩn Hiệp định

Trang 18

Theo thông lệ đàm phán thương mại quốc tế, một hiệp định sẽ chỉ được công bố sau khi được các bên tham gia đàm phán hoàn tất thủ tục rà soát pháp lý Đối với Hiệp định EVFTA, mặc dù chưa hoàn tất rà soát pháp lý nhưng trước nhu cầu tìm hiểu thông tin rất lớn của người dân và doanh nghiệp, Việt Nam và EU đã quyết định công bố toàn văn Hiệp định trên Bản công bố lần này chỉ là bản được hai bên thống nhất tại thời điểm kết thúc đàm phán Bản cuối cùng của Hiệp định sẽ tiếp tục được cập nhật sau khi thủ tục rà soát pháp lý được hoàn thành Các thay đổi, nếu có, trong bản cuối cùng sẽ chỉ là các chỉnh sửa về mặt câu chữ kỹ thuật, không ảnh hưởng đến nội dung cam kết.

Với mức độ cam kết đã đạt được, EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng rất cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển Các nội dung chính của Hiệp định gồm: Thương mại hàng hóa (lời văn về quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), Quy tắc xuất xứ, Hải quan và thuận lợi hóa thương mại, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Thương mại dịch vụ (lời văn về quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), Đầu tư, Phòng vệ thương mại, Cạnh tranh, Doanh nghiệp nhà nước, Mua sắm của Chính phủ, Sở hữu trí tuệ (gồm cả chỉ dẫn địa lý), Phát triển bền vững, Hợp tác và xây dựng năng lực, Pháp lý-thể chế Hiệp định cũng bao gồm cách tiếp cận mới, tiến bộ hơn về bảo hộ đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư

Những ảnh hưởng chung của Hiệp định EVFTA tới Việt Nam:

Thương mại hàng hóa

Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU

sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại,

EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%

Đối với các nhóm hàng quan trọng, cam kết của EU như sau:

- Dệt may, giày dép và thủy sản (trừ cá ngừ đóng hộp và cá viên): EU sẽ xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu cho các sản phẩm của Việt Nam trong vòng 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực Với cá ngừ đóng hộp, EU đồng ý dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch thuế quan thỏa đáng

- Gạo: EU dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch đáng kể đối với gạo xay xát, gạo chưa xay xát và gạo thơm Gạo nhập khẩu theo hạn ngạch này được miễn thuế hoàn toàn Riêng gạo tấm, thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ theo lộ trình Đối với sản phẩm từ gạo, EU sẽ đưa thuế nhập khẩu về 0% trong vòng 7 năm

- Mật ong: EU sẽ xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và không áp dụng hạn ngạch thuế quan

- Toàn bộ các sản phẩm rau củ quả, rau củ quả chế biến, nước hoa quả khác, túi xách, vali, sản phẩm nhựa, sản phẩm gốm sứ thủy tinh: về cơ bản sẽ được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực

Trang 19

Đối với xuất khẩu của EU, cam kết của Việt Nam đối với các mặt hàng chính là:

- Ô tô, xe máy: Việt Nam cam kết đưa thuế nhập khẩu về 0% sau từ 9 tới 10 năm; riêng xe máy có dung tích xy-lanh trên 150 cm3 có lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu là

có dầu thô và than đá

Các nội dung khác liên quan tới thương mại hàng hóa: Việt Nam và EU cũng thống nhất các nội dung liên quan tới thủ tục hải quan, SPS, TBT, phòng vệ thương mại, v.v, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên hợp tác, tạo thuận lợi cho xuất khẩu, nhập khẩu của các doanh nghiệp

Thương mại dịch vụ và đầu tư

Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên Cam kết của Việt Nam có đi xa hơn cam kết trong WTO Cam kết của EU cao hơn trong cam kết trong WTO và tương đương với mức cam kết cao nhất của EU trong những Hiệp định FTA gần đây của EU

Các lĩnh vực mà Việt Nam cam kết thuận lợi cho các nhà đầu tư EU gồm một số dịch vụ chuyên môn, dịch vụ tài chính, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ phân phối Hai bên cũng đưa ra cam kết về đối xử quốc gia trong lĩnh vực đầu tư, đồng thời thảo luận về nội dung giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước Mua sắm của Chính phủ

Việt Nam và EU thống nhất các nội dung tương đương với Hiệp định mua sắm của Chính phủ (GPA) của WTO Với một số nghĩa vụ như đấu thầu qua mạng, thiết lập cổng thông tin điện tử để đăng tải thông tin đấu thầu, v.v, Việt Nam có lộ trình để thực hiện EU cũng cam kết dành hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam để thực thi các nghĩa

Về chỉ dẫn địa lý, khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bảo hộ trên 160 chỉ dẫn địa lý của EU (bao gồm 28 thành viên) và EU sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam Các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam đều liên quan tới nông sản, thực phẩm, tạo điều kiện cho một số chủng loại nông sản của Việt Nam xây dựng và khẳng định thương hiệu của mình tại thị trường EU

Các nội dung khác

Hiệp định EVFTA cũng bao gồm các Chương liên quan tới cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý-thể

Trang 20

chế Các nội dung này phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên tăng cường hợp tác, thúc đẩy sự phát triển của thương mại và đầu

tư giữa hai bên

Trang 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DA GIÀY VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP VÀ EVFTA ĐẾN

NGÀNH DA GIÀY CỦA VIỆT NAM

2.1.THỰC TRẠNG XUẤT KHẢU DA GIÀY SANG CÁC NƯỚC TPP VÀ EU

2.1.1.Kim ngạch xuất khẩu

Việt Nam hiện đứng thứ ba trong nhóm các nước xuất khẩu da giày lớn nhất thế giới tính về trị giá, chỉ sau Trung Quốc và Ý Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu ngành da giày liên tục ổn định trong nhiều năm qua, từ mức 7.2 tỉ USD năm

2012 tăng lên 12.01 tỉ USD năm 2015, bất chấp những giai đoạn kinh tế toàn cầu suy thoái

Biểu đồ 2.1 :Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành da giày và tốc độ

tăng trưởng giai đoạn 2012-2015

Nguồn: Tổng cục Hải quan về xuất khẩu da giày

Theo biểu đồ 2.1, từ 2012 đến 2015 kim ngạch xuất khẩu giày dép tăng rõ rệt từ 7.2 tỉ USD lên 12.01 tỉ USD mức tăng trưởng cao từ 10.9% lên 16.02%.Mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2012- 2014 là 22.85% vào năm 2014 với kim ngạch xuất khẩu 10.32 tỉ USD Điều này cho thấy có sự chuyển biến đáng kể trong hoạt động xuất khẩu da giày từ 2013-2014 từ 8.2 tỉ USD lên 10.2 tỉ USD.Ngành da giày

đã có những bước tiến vượt bậc tăng trưởng nhờ hội nhập kinh tế và việc ký kết được nhiều hiệp định kinh tế có giá trị

Bảng 2.1 :Xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2012-2014 trên một số

thị trường chính - Đơn vị: USD

Growth

of 2014 compare

d with 2013

The US 2,242,992,016 30.89 2,627,011,661 31.27 3,328,425,353 32.23 26.7

Trang 22

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Tổng cục Hải quan

Bảng 2.1 cho thấy kim ngạch xuất khẩu trên một số thị trường chính của ngành như Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước trong Liên minh châu Âu EU…Từ 2012-2014 cho thấy kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam lớn nhất ở thị trường Hoa Kỳ với giá trị xuất khẩu 2012 là 2,242,922,016 USD và tăng lên 10,325,884,993 USD năm 2014

Bảng 2.2 :Xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2014- 2015

Trang 23

Brazil 208,657,036 266,358,255 -21.66 Australia 176,967,869 142,115,319 +24.52 Hong Kong 165,056,959 134,920,156 +22.34

The U.A.E 117,529,313 89,890,101 +30.75 Taiwan 117,152,842 84,935,187 +37.93 South Africa 109,424,652 91,979,843 +18.97

Slovakia 88,992,570 107,419,884 -17.15 Russia 77,238,940 87,200,210 -11.42 Denmark 53,913,909 42,912,583 +25.64 Czech 53,743,883 41,245,000 +30.30 Malaysia 50,028,257 40,573,394 +23.30 Singapore 45,962,174 36,301,714 +26.61 Sweden 45,233,480 41,299,506 +9.53 Turkey 44,653,533 34,579,962 +29.13 The Philippines 43,169,854 31,400,978 +37.48 Argentina 41,176,543 43,446,337 -5.22 Israel 37,323,229 31,315,407 +19.18

Austria 32,557,102 50,586,550 -35.64 Thailand 29,203,290 23,213,539 +25.80 Greece 27,562,254 26,124,793 +5.50 New Zealand 26,383,388 22,043,403 +19.69 Poland 23,834,741 21,402,606 +11.36 Indonesia 23,783,787 22,217,666 +7.05 Switzerland 18,451,993 19,856,141 -7.07 Finland 14,396,052 13,220,277 +8.89 Norway 12,959,480 12,423,172 +4.32 Ukraine 5,193,971 5,621,283 -7.60 Portugal 2,578,499 1,743,719 +47.87 Hungary 1,952,900 2,016,824 -3.17

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Theo bảng 2.2, Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại giày dép của Việt Nam, chiếm tới 33,94% kim ngạch xuất khẩu, đạt 4,08 tỷ USD, tăng 22,3% so với năm 2014; xuất khẩu sang EU đạt 4,4 tỷ USD, tăng 20%, chiếm hơn 30% tổng kim ngạch xuất khẩu; tiếp theo là thị trường Nhật đạt 597,58 triệu USD (chiếm 4,98%, tăng 14,69%), Trung Quốc đạt 754,19 triệu USD (chiếm 6,28%, tăng 49,33%)

Xuất khẩu giày dép năm 2015 sang hầu hết các thị trường đều đạt mức tăng trưởng về kim ngạch so với năm 2014; trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh là do chi phí nhân công của quốc gia này tăng cao Ngoài ra, đồng nhân dân tệ phá giá cũng tạo sức ép cho doanh nghiệp sản xuất gia công tại Trung Quốc Do đó,

Trang 24

nhiều nhà đầu tư đã chuyển dịch sản xuất giày dép, chủ yếu là giày thể thao, giày vải, giày da sang Việt Nam và nhập khẩu ngược trở lại Trung Quốc.

6403 Giày, dép da: có đế ngoài bằng

cao su, plastic, da thuộc hoặc da

6404 Giày, dép có đế ngoài bằng cao

su, plastic, da tổng hợp và mũ giày

mũi kim loại bảo vệ; Giày cổ cao

quá mắt cá chân nhưng chưa đến;

Nguồn: vietrade.gov.vn

Trong 3 năm 2012 - 2014, xu hướng tiêu dùng thay đổi theo hướng tiện lợi hơn dẫn đến thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu trên phạm vi toàn cầu, như giầy dép da (HS6403), 14% (2014) về số lượng và 45% (2014) về trị giá xuất khẩu; giầy dép cao

su và nhựa (HS6402) tăng từ 47% (2004) lên 60% (2014) về số lượng và từ 20% (2004) lên 30% (2014) về trị giá xuất khẩu; giầy vải tăng từ lên 20% (2014) về trị giá và 20% (2014) về số lượng xuất khẩu

2.1.3.Thị trường xuất khẩu

Trang 25

Biểu đồ 2.2 :Thị trường xuất khẩu da giày trong năm 2014

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu tổng cục hải quan

-EU

Liên minh châu âu (EU) là một trong những khu vực thị trường lớn về giầy dép thế giới và cũng là nơi mà nghành công nghiệp giầy dép có truyền thống và lịch sử phát triển từ rất lâu đời với quy mô lớn và hiện đại Từ đầu thập kỷ 90 do việc cạnh tranh lấn lướt tại các nước có giá nhân công rẻ nên mức tăng trưởng sản xuất nghành

da giầy EU giảm thay thế vào đó EU trở thành khu vực thị trường nhập khẩu lớn Các nước sản xuất da giầy lớn ở châu Âu là Italia, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Đức tập trung sản xuất những sản phẩm cao cấp với những nhãn hiệu nổi tiếng, còn lại gần 50% giầy dép tiêu thụ trong khu vực này có nguồn gốc từ thị trường ngoài khối

EU là một thị trường rộng lớn với số dân gần 400 triệu có mức sống cao vào loại nhất trên thế giới và có nhu cầu tiêu thụ giầy dép lớn, bình quân 6-7 đôi/người/năm Đây là một thị trường tiêu thụ giầy dép đầy tiềm năng Ngoài ra, thị trường này còn

là một thị trường rất ổn định

Trên thị trường, giá cả có thể rất quan trọng, những tại EU chất lượng là yếu tố được quan tâm hàng đầu đối với phần lớn các mặt hàng được tiêu thụ trong đó có giầy dép Đặc biệt đối với mặt hàng giầy dép thì yếu tố thời trang được người tiêu dùng EU hết sức coi trọng Nét độc đáo và đặc biệt của sản phẩm so với sản phẩm khác của đối thủ cạnh tranh sẽ có sức thu hút lớn đối với họ Nhìn chung thị trường

EU hiện tại cũng như tương lai là thị trường đầy tiềm năng về quy mô dung lượng thị trường nhưng cũng là thị trường đầy thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Trong những năm qua, các doanh nghiệp da giầy Việt Nam đã nỗ lực đầu tư sản, xuất nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tìm kiếm bạn hàng để thâm nhập và mở rộng thị phần ở thị trường này Thực tế, các doanh nghiệp đã thu được những kết quả đáng kể

Trang 26

Hiện nay, tại thị trường EU, giày dép của Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) tương đương với việc thuế nhập khẩu giảm 3,5-4% tùy mặt hàng Khi tham chiếu sang EVFTA, ưu đãi GSP không bị bãi bỏ đến khi được hưởng mức

ưu đãi theo Hiệp định mới Nói cách khác, giày dép của Việt Nam sẽ được hưởng lợi

ở mức cao nhất

Trên thực tế, cùng với Mỹ và Nhật Bản, EU là thị trường trọng điểm của ngành

da giày Việt Nam 2/3 doanh nghiệp giày dép đã và đang tham gia xuất khẩu sang

EU Số liệu từ Lefaso cũng cho thấy: Năm 2014, Việt Nam đứng thứ 3 về kim ngạch trong số các nước xuất khẩu giày dép sang thị trường EU với 4,88 tỷ USD 6 tháng đầu năm 2015, Việt Nam cũng đã xuất khẩu khoảng 2 tỷ USD giá trị mặt hàng giày dép sang EU

-Thị trường Mỹ.

Nước Mỹ là một thị trường tiêu thụ giầy dép lớn nhất thế giới theo hiệp hội công nghiệp giầy Mỹ (FIA) thì hàng năm Mỹ tiêu thụ khoảng 1,461 tỷ đôi giầy trong đó

có khoảng 85% lượng giầy này là nhập khẩu

Biểu đồ 2.3: Thị phần nhập khẩu giày dép của Mỹ năm 2014

Nguồn: UN Comtrade

Qua biểu đồ 2.3 ta thấy Việt Nam đứng thứ hai trong thị phần nhập khẩu giày dép của Mỹ chiếm 13.9 % tuy nhiên đứng đầu vẫn là Trung Quốc khi đáp ứng tới 65.6% nhu cầu nhập khẩu của Mỹ Việc ký kết TPP đem lại nhiều cơ hội hơn cho Việt Nam khi cạnh tranh với các doanh nghiệp Trung Quốc trên thị trường Mỹ

Theo thống kê từ Hiệp hội may mặc và giày dép Mỹ (AAFA), với dân số 317,5 triệu người, thị trường này tiêu thụ khoảng 2,5 tỷ đôi giày dép, tính ra mỗi người tiêu dùng Mỹ tiêu thụ 8 đôi giày dép/năm Hơn nữa,99% sản phẩm giày dép bán tại thị trường Hoa Kỳ là nhập khẩu từ các nước

Ông Matt Priest, Chủ tịch Hiệp hội các Nhà bán lẻ và phân phối giày dép của Hoa

Kỳ (FDRA), cho biết tính đến tháng 11.2014, nhập khẩu giày dép Trung Quốc vào

Mỹ giảm 4,4%; còn nhập khẩu giày dép Việt Nam lại tăng khoảng 16,5%

Cũng theo thông tin từ FDRA, từ năm 2001 đến nay, xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Mỹ tăng gần 21%/năm Mức dự báo thị phần giày dép Việt Nam tại Mỹ

sẽ đạt 12% vào năm 2018

Bảng 2.4: Xuất khẩu giày dép vào Mỹ theo mã HS

Trang 27

Nguồn: Lefaso.org.vn

Trong số các sản phẩm giày dép, Mỹ nhập khẩu từ Việt Nam, giầy dép mã HS

6403 (mũ giầy bằng da và đế ngoài bằng cao su, nhựa, da hoặc da tổng hợp) có kim ngạch lớn nhất đạt 1,64 tỷ USD tăng 21,3% so với năm 2013 và tăng gấp đôi

(100%) so với năm 2010 Trong khi tổng nhập khẩu của Mỹ từ tất cả các nước đối với nhóm hàng này năm 2014 là 12,69 tỷ USD chỉ tăng 3,7% so với năm 2013 và tăng 16,5% so với năm 2010

Theo Tổng cục Hải quan, trong 9 tháng đầu năm 2015, Việt Nam xuất khẩu giày dép các loại với kim ngạch đạt 8,75 tỉ đô la Mỹ, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm ngoái Trong đó, xuất khẩu giày dép từ Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt 3,03 tỉ

đô la Mỹ, tăng 26,1% và chiếm 34,6% kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, tiếp đến là thị trường EU đạt 2,9 tỉ đô la Mỹ, tăng 12,9%, sang Trung Quốc đạt gần 542 triệu đô la Mỹ, tăng 45,4%

Theo biểu cam kết về lộ trình xóa bỏ thuế quan của Mỹ, nhiều mặt hàng giày dép từ Việt Nam sẽ được xóa bỏ thuế hoàn toàn ngay khi hiệp định có hiệu lực, ngay

cả những mặt hàng giày dép đang chịu mức thuế lên đến 37,5%-40% cũng sẽ được

Mỹ xóa bỏ thuế ngay, chẳng hạn như giày thể thao có đế ngoài bằng cao su hoặc nhựa và có mũi giày bằng vải

Cam kết này sẽ tạo cơ hội lớn cho Việt Nam xuất khẩu những mặt hàng này sang thị trường Mỹ

Ngày đăng: 11/07/2016, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS. Đặng Đình Đào, GS.TS. Hoàng Đức Thân, 2012, Giáo trình Kinh tế thương mại, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế thương mại
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
2. GS TS. Trần Văn Hoè, TS. Nguyễn Văn Tuấn, 2012, Giáo trình Thương mại quốc tế ngoài ngành, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại quốc tế ngoài ngành
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
3. Hiệp hội Da giày và Túi xách Việt Nam, 2015, Bản tin Da giày tháng (1-12/2015) 4. Hiệp hội Da giày và Túi xách Việt Nam, 1/2016, Tạp chí Da giày và cuộc sống số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Da giày tháng (1-12/2015)"4. Hiệp hội Da giày và Túi xách Việt Nam, 1/2016, Tạp chí
5. Ngân hàng Liên Việt, 3/2016, báo cáo ngành dệt may da giày năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngành dệt may da giày
8.Hiệp hội da giày túi xách Việt Nam http://lefaso.org.vn/ Link
11. Tổng cục Thống kê: http://www.gso.gov.vn/ Link
12. Tổng cục Hải quan: http://www.customs.gov.vn/ Link
13. Trang thương mại da giàyhttp://www.vietrade.gov.vn/en/index.php Link
6. Viện nghiên cứu Mizuho Nhật Bản, 15/3/2016, Nghiên cứu cơ hội xuất khẩu của Việt Nam trong TPP Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 : Quy mô ngành da giày - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Bảng 1.1 Quy mô ngành da giày (Trang 6)
Bảng 1.2: Sản lượng sản xuất các sản phẩm giày dép giai đoạn 2012 - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Bảng 1.2 Sản lượng sản xuất các sản phẩm giày dép giai đoạn 2012 (Trang 8)
Hình 1.1: Chuỗi giá trị ngành da giày - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Hình 1.1 Chuỗi giá trị ngành da giày (Trang 14)
Bảng 2.1 :Xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2012-2014 trên một số - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Bảng 2.1 Xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2012-2014 trên một số (Trang 21)
Bảng 2.2 :Xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2014- 2015 - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Bảng 2.2 Xuất khẩu giày dép Việt Nam năm 2014- 2015 (Trang 22)
Bảng 2.3 :Xuất khẩu giày dép theo mã hàng HS code giai đoạn - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Bảng 2.3 Xuất khẩu giày dép theo mã hàng HS code giai đoạn (Trang 24)
Bảng 2.5 cho thấy lượng da thuộc máy móc nhập khẩu không ngừng tăng trong  hai năm 2013-2014.Lượng tăng khá lớn khi da thuộc là 37.5 % và máy móc là  39.9% - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Bảng 2.5 cho thấy lượng da thuộc máy móc nhập khẩu không ngừng tăng trong hai năm 2013-2014.Lượng tăng khá lớn khi da thuộc là 37.5 % và máy móc là 39.9% (Trang 30)
Bảng 2.6 :Top 15 nước xuất khẩu lớn nhất 2013 (về trị giá): - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Bảng 2.6 Top 15 nước xuất khẩu lớn nhất 2013 (về trị giá): (Trang 31)
Hình 2.1: Những ưu đãi thuế quan đối với mặt hàng giày dép trong - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Hình 2.1 Những ưu đãi thuế quan đối với mặt hàng giày dép trong (Trang 35)
Hình 2.2:Tổng quan các khó khăn khi tham gia TPP - Tác động của hiệp định TPP và FTA việt nam –EU tới ngành da giày việt nam
Hình 2.2 Tổng quan các khó khăn khi tham gia TPP (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w