Việt Nam là một nước đang phát triển với dân số đông, trong hơn 30 năm qua đang phải phục hồi khỏi sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát chỗ dựa về tài chính sau khi Liên bang Xô viết t
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẴNG NGHỀ BÁCH KHOA HÀ NỘI
TIỂU LUẬN MÔN CHÍNH TRỊ
TÊN ĐỀ TÀI: Quan điểm cơ bản của Đảng ta về phát triểu kinh tế
trong giai đoạn hiện nay.
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1:………
2:………
3:………
LỚP: CĐN 11
Hà Nội Tháng 11 Năm 2012
Trang 2Mục Lục:
1 Giới thiệu mở đầu về nên kinh tế Việt Nam:
2: Nội dung:
- CHƯƠNG I: Cơ sở lí luận cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lí của vấn đề.
- CHƯƠNG II: Thực trạng vấn đề.
- CHƯƠNG III: Biện pháp giải quyết vấn đề:
3: Kết Luận
4:Tài liệu tham khảo
Mở đầu:
Trang 3Nền kinh tế Việt Nam đang dần hòa nhập và phát triểu Muốn giữ được những nét riêng về kinh tế và văn hóa cũng là vấn đề được Đảng và nhà nước ta coi trọng Vài năm gần đây nền kinh tế nước ta suy thoái Đảng nhà nước đã tìm và đưa ra nhưng chính sách giúp kinh tế phụ hồi Nhưng chính sách ấy đã là gì? Chính sách ấy giúp kinh tế Việt Nam như thế nào ? Không
ít người muốn biết và tìm hiểu Cũng như tôi và các bạn trẻ thanh niên hiện nay rất tò mò về điều đó chính vì thế chúng tôi đã chọn đề tài số 7 “Quan điểm cơ bản của Đảng ta về phát triểu kinh tế trong giai đoạn hiện này” để hiểu rõ quan điểm của Đảng hơn.
Việt Nam là một nước đang phát triển với dân số đông, trong hơn 30 năm qua đang phải phục hồi khỏi sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát chỗ dựa về tài chính sau khi Liên bang Xô viết tan rã và sự cứng nhắc của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Sau nhiều năm với các cuộc chiến tranh kéo dài, trong hoàn cảnh bị cô lập về chính trị và trì trệ về kinh tế, Việt Nam đang nhanh chóng hòa mình vào dòng chảy chung của kinh tế và chính trị thế giới Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách Đổi Mới (cải cách kinh tế), hướng tới một nền kinh tế thị trường Trong môi trường tự do đầu tư, những nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới đang thể hiện rõ sự quan tâm chưa từng có đối với Việt Nam
Nội Dung
Chương I: Cơ sở lí luận cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lí của vấn đề.
Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế
là giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Hội nhập kinh tế quốc tế
là công việc của toàn dân, toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, phải xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp với chủ trương, định hướng phát triển; thúc đẩy các quan hệ hợp tác khu vực và thế giới, song phương và đa phương Gắn tốc độ phát triển với chất lượng và hiệu quả; tăng trưởng kinh tế phải đi liền với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, kinh tế - xã hội Khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển đất nước Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời nâng cao vai trò chủ động của Nhà nước, của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Trang 4Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng ta phù hợp với xu thế khách quan và tiến trình phát triển đất nước Phải làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận thức đúng đắn về vấn đề này Phải khơi dậy và phát huy cao độ tinh thần cách mạng, ý chí tự lực tự cường của mọi tầng lớp nhân dân để chủ động và tích cực tận dụng cơ hội, đương đầu với cạnh tranh, vượt qua thách thức Kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế; hình thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của nền kinh
tế thị trường; phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đẩy mạnh cải cách hành chính Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp
và sản phẩm Bổ sung nguồn lực và tăng cường chỉ đạo công cuộc phát triển nông nghiệp, nông thôn; giải quyết tốt các vấn đề xã hội
Trong bối cảnh mở cửa, giao lưu, hợp tác khu vực và quốc tế ngày càng mở rộng và có chiều sâu, nhất là khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sự phát triển mạnh mẽ
và có hiệu quả của thành phần kinh tế tư bản nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chẳng những giúp chúng ta đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, rút ngắn quá trình khắc phục tình trạng kém phát triển về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, mà còn tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Việt Nam và góp phần cải thiện đời sống của họ.
Từ bối cảnh trong nước và quốc tế hiện thời, với xu hướng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế, Việt Nam chúng ta hoàn toàn có đủ điều kiện và khả năng để phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng Sử dụng kinh tế tư bản nhà nước với tư cách một thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được cấu thành bởi các quan hệ kinh tế và hợp đồng kinh tế giữa một bên là Nhà nước ta – đại biểu cho sở hữu toàn dân, cho lợi ích toàn xã hội, với một bên là các nhà tư bản hoàn toàn có thể đem lại cho chúng ta khả năng vừa
sử dụng có hiệu quả sự đầu tư của tư bản nước ngoài, vừa giữ được độc lập,
tự chủ, thực hiện hợp tác bình đẳng, cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng độc lập
và chủ quyền của nhau.
Nói tóm lại, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần phải “phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước” với tư cách “những chiếc cầu nhỏ vững chắc” để xuyên qua nó, đi lên chủ nghĩa xã hội Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu không hướng tư bản tư nhân đi theo con đường phát triển kinh tế tư bản nhà nước, chẳng những chúng ta không hướng nó đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội, mà có khi còn làm cho nó tự phát đi chệch sang quỹ đạo của chủ nghĩa
tư bản Tuy nhiên, cũng kh ô ng vì thế mà tuyệt đối hoá vai trò của kinh tế tư bản nhà nước, coi nó như là cứu cánh duy nhất của nền kinh tế quá độ
Trang 5Tại Đại hội X, khi một lần nữa khẳng định vai trò to lớn, ý nghĩa quan trọng của kinh tế tư bản nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta cũng đồng thời khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh
tế quốc dân”
Về vấn đề phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã trong bối cảnh xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, tại Đại hội X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể” trên cơ sở “tổng kết thực tiễn, sớm có chính sách, cơ chế cụ thể khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, bao gồm các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới Chú trọng phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cổ phần”
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, cũng như toàn bộ nền kinh tế đất nước, bên cạnh việc khuyến khích phát triển các hợp tác xã kiểu mới, chúng ta không thể không quan tâm đến những hình thức nhỏ của sản xuất nông nghiệp, đến kinh tế trang trại nhỏ và vừa, kinh tế hộ gia đình mà chính sách khoán 10 trước đây không lâu là một ví dụ Với chính sách đó, chúng ta đã cho phép kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại nhỏ phát triển và nhờ đó, sản xuất nông nghiệp trong những năm qua đã có bước phát triển đáng kể Nhờ nó mà quyền chủ động sản xuất, kinh doanh của người nông dân được giải phóng khỏi những ràng buộc sắc lệnh và nền kinh tế của họ đang mang lại hiệu quả nhanh chóng khi mức đầu tư vốn, có thể nói, hãy còn quá thấp.
Trên cơ sở ấy Đảng đã tim ra quan điểm giúp kinh tế phát triểu đi lên Hòa nhập vớ kinh tế văn hóa các nước khác nhưng không bị mất đi nét riêng văn hóa kinh tế Nét đẹp riêng dân tộc ta.
CHƯƠNG II: Thực trạng vấn đề.
Kinh tế-xã hội nước ta ba tháng đầu năm 2013 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhất là khu vực đồng Euro và hầu hết các nước trong khu vực Một số nước điều chỉnh giảm tăng trưởng năm 2013 do tình hình kinh tế những tháng cuối năm 2012 không được như mong đợi Thị trường tiêu thụ hàng hóa thu hẹp, nhu cầu
Trang 6tiêu dùng giảm sút dẫn đến sự trì trệ của nhiều nền kinh tế lớn Ở trong nước, mặc dù một số cân đối vĩ mô có những cải thiện nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Hàng tồn kho vẫn còn cao Tình trạng nợ xấu chưa được gi
- Số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê công bố vào cuối tháng
9-2013 cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong chín tháng đầu năm 2012 là 4,73%, thấp hơn so với chỉ tiêu 5,5% mà Chính phủ đặt ra trước đó cho cả năm 2012, đồng thời cũng thấp hơn mức 5,77% của năm
2011 và là một trong những mức tăng trưởng GDP thấp nhất của Việt Nam
+ Kết Luận: Nên kinh tế Việt Nam con non yếu cần vạch rõ mục tiêu
để kinh tế dần hồi phục và phát triểu, Ổn định kinh năm năm trở lại đây Trong khi sản lượng khu vực thương mại dịch vụ tăng kém, đạt 5,97%, thấp so với cùng kỳ 2011, điều đáng lưu ý là tăng trưởng sản lượng công nghiệp chỉ đạt 4,36%, thấp hơn mức tăng của GDP và giảm gần 1/2 so với mức tăng 7,8% cùng thời điểm năm trước ải quyết
CHƯƠNG III: Biện pháp giải quyết vấn đề:
Được biết về vấn đề thực trạng trên Tôi có đưa ra một số biện pháp đề giải quyết
- Thứ nhất là giảm thuế, phí và giảm chi tiêu
- Thứ hai, phải tiếp tục kiên trì đổi mới một cách cơ bản doanh nghiệp nhà nước
- Thứ ba, phải tăng cường đầu tư vào vốn, nhân lực - trong đó đặc biệt lưu ý đến cơ cấu dân số vàng của chúng ta gắn với khoa học công nghệ
- Thứ tư, phải có giải pháp điều tiết thị trường và thúc đẩy cạnh tranh, tức là phải dỡ bỏ những rào cản, quy định không đúng với sản xuất, thương mại và nền kinh tế thị trường nói chung
- Thứ năm, tạo lập được một môi trường cạnh tranh để thu hút vốn đầu
tư
Theo tôi 5 giải pháp trên là phù hợp với kinh tế Việt Nam hiện nay
Trang 7+ Tài liệu tham khảo:
giới xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2011 và đứng thứ 128 xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người Tổng Thu nhập nội địa GDP năm 2011 là 124 tỷ USD[4] Đây là nền kinh tế
Venezuela, Nam Phi, ASEAN và Ucraina tuyên bố công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ Từ năm 1976, do chỉ một đảng lãnh đạo đất nước, sự thăng trầm của nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào ai lãnh đạo và các chính sách của Đảng Cộng sản và Chính phủ đưa ra
Theo dự báo của PwC được thực hiện đầu năm 2008 thì vào năm 2025, nền kinh tế Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế lớn thứ 28 thế giới với
PPP đạt hơn 850 tỉ USD, cho đến năm 2050, nền kinh tế Việt Nam sẽ đứng vào top 20 trong các nền kinh tế lớn trên thế giới có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các nền kinh tế mới nổi và sẽ đạt 70% quy mô của nền kinh tế
Chủ trương của Đảng ta về Hội nhập Kinh tế Quốc tế trong giai đoạn mới
Xác định tầm quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) cho nên Đảng ta ngay từ Đại hội VI cho đến Đại hội VIII luôn luôn khẳng định đường lối, chủ trương HNKTQT trong Nghị quyết của đại hội; tại Đại hội IX (2001) đảng ta khẳng định “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” Cụ thể hoá chủ trương này bằng Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra những định hướng lớn cho HNKTQT trong suốt 10 năm qua; Đại hội X của Đảng nêu rõ chủ trương
“chủ động và tích cực HNKTQT, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” Cụ thể hoá chủ trương này, BCH Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh
tế phát triển nhanh và bền vững khi nước ta trở thành thành viên WTO; Đại hội XI của Đảng đã đề ra chủ trương về hội nhập quốc tế là “tăng cường hợp tác quốc tế, tạo môi trường hoà bình, ổn định và tranh thủ mọi nguồn lực từ
Trang 8bên ngoài để phát triển đất nước Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả, góp phần phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ…” Với đường lối của Đảng tại Đại hội XI đất nước ta đã bước sang giai đoạn phát triển chiến lược mới Hội nhập quốc tế không còn
bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra tất cả các lĩnh vực khác, kể cả chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hoá, xã hội … ở mọi cấp độ song phương
và đa phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Đảng xác định, HNKTQT vẫn tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng, then chốt để tạo cơ sở, nền tảng cho hội nhập quốc tế toàn diện thời gian tới, chủ trương đó được thể hiện bằng việc ra đời Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế
Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Việt Nam đạt mức 8-9,5% trong suốt hơn mười năm cho đến năm 1997 Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giảm xuống còn 5,8% năm 1998, 4,7% năm 1999 nhưng sau đó phục hồi và đạt mức 6,7% năm 2000, 7% năm 2002, 7,7% năm 2004, 8% năm 2006 và 8,5% năm 2007 Tăng trưởng công nghiệp đạt trung bình từ 12 đến 14% trong suốt hơn một thập kỉ vừa qua Đại hội Đảng lần thứ 10 diễn ra năm 2005 đúc kết những mục tiêu kinh tế then chốt cho kết hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm 2006-2010 như sau:
Tốc độ tăng trưởng GDP: từ 7,5 đến 8% / năm trong đó:
- Nông, lâm, ngư nghiệp: 3% đến 3.2% / năm
- Công nghiệp và xây dựng: 9.5% đến 10.2% / năm
- Dịch vụ 7.7% đến 8.2% / năm Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt 16% / năm
Cơ cấu kinh tế năm 2010:
- Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 15% đến 16% GDP
- Công nghiệp và xây dựng chiếm 43% đến 44% GDP
- Dịch vụ chiếm 40% đến 41% GDP
Các cơ quan chức năng Việt Nam một lần nữa thể hiện cam kết của mình
về tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế Chính phủ đã thực hiện cải cách cơ cấu tổ chức, điều cần thiết để hiện đại hóa nền kinh tế và sản xuất ra những mặt hàng công nghiệp có sức cạnh tranh cao hơn cũng như hướng về xuất khẩu Việc Việt Nam gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và
kí kết có hiệu lực Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 2001 đã tạo ra những sự thay đổi nhanh chóng hơn đối với thể chế kinh tế và thương mại của Việt Nam Nó đồng thời sẽ tạo ra một cú
Trang 9hích quan trọng cho nền kinh tế và giúp đảm bảo tiến trình cải cách tiến tới
tự do hóa Bên cạnh đó, việc gia nhập các tổ chức trên cũng giúp Việt Nam tận dụng được sự lệch pha của Hiệp định dệt may, giúp xóa bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may và vải vóc đối với các thành viên của WTO từ 1 tháng 1 năm 2005 Tỉ lệ dân số sống dưới mức nghèo, được xác định bằng tỉ lệ dân
số sống dưới mức 1 USD / ngày, đã giảm đáng kể và thấp hơn các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines Việt Nam đang cố gắng tạo việc làm
để đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động mỗi năm tăng hơn 1 triệu người, đồng thời hướng đến tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm ở mức 7,5 đến 8% trong suốt 5 năm tới
Nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp Khu vực đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam là hai khu vực nông nghiệp chủ yếu với những nông sản chính bao gồm gạo, hồ tiêu, đay, cao su, đường mía, cà phê, chè, cây họ lạc và thuốc lá Nhờ những cải cách lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, chẳng hạn việc áp dụng hình thức khoán, cùng với sự tăng lên của đầu tư trực tiếp, các ưu đãi về thuế và giá thu mua lương thực cao hơn từ Chính phủ, tổng sản lượng lương thực gia tăng lên đáng kể từ 1988 trở đi
Một trong những tác động của sự phát triển quá nhanh của công nghiệp
ở Việt Nam chính là việc đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang đất khu công nghiệp Điều này phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: tỉ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 20,6% năm 2006 xuống còn 24,5% năm 2000 (Ngành công nghiệp và dịch vụ đóng góp tới hơn 90% tổng tăng trưởng GDP năm 2007) Sản lượng chè, cà phề và cao su tự nhiên đã giúp đẩy mạnh xuất khẩu trong ngành nông nghiệp Nhu cầu tăng cao từ các thị trường nước ngoài cũng giúp củng cố thêm sức tăng trưởng của ngành ngư nghiệp Hiện tại Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, đứng thứ 2 sau Thái Lan về xuất khẩu gạo, thứ 2 sau Bra-xin về cà phê và sau Ấn
Độ về hạt điều, đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu cao su và thứ 7 thế giới về xuất khẩu chè Chính phủ đang tập trung mạnh vào các cây hoa màu với tiềm năng xuất khẩu cũng như tập trung vào xây dựng ngành công nghiệp chế biến nông sản Với mục đích khuyến khích nông dân đầu tư lâu dài và tăng năng suất, Luật Đất đai mới đã được kì họp Quốc hội vào tháng 7 năm 1993 thông qua, trong đó công nhận những quyền của nông dân trong việc trao đổi, chuyển giao, cho thuê và thừa kế phần đất đã được phân phối Cơ cấu thuế cũng đã có thêm một số thay đổi liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng đất để đảm bảo sự cân bằng trong mức thu thuế của chính quyền trung ương và địa phương Mặc dù vậy, đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước, phù hợp với Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các nhà đầu tư coi Việt Nam là điểm đến hấp dẫn thứ nhì trong khu vực
Trang 10sau Trung Quốc Trong 7 tháng đầu năm 2008, đã có hơn 45,49 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào Việt Nam Về tổng vốn cam kết, 654 dự án đầu tư mới đăng ký tổng vốn 43,7 tỉ USD và 188 dự án đang hoạt động quyết định tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 788 triệu USD Tổng kim ngạch buôn bán trong 7 tháng đầu năm 2008 đạt 88,77 tỉ USD nhưng mức thâm hụt thương mại trong cùng khoảng thời gian cũng lên tới 15 tỉ USD Tuy vậy, nếu so với thành tích tăng tỉ lệ tăng trưởng cao trong những năm gần đây thì tăng trưởng kinh tế đang chậm lại Theo nguồn của chính phủ Việt Nam, trong quý hai năm 2008, GDP thực tế tăng chỉ 5,6% so với cùng kì năm ngoái, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2000 Đây cũng là kết quả của chính sách có tính toán từ trước giảm tăng trưởng của tín dụng nội địa nhằm kiềm chế lạm phát Trong bảy tháng đầu năm
2008, chỉ số CPI tăng 19,78% Nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) tăng 3% trong nửa đầu năm 2008, tăng nhẹ so với con số 2,8% trong nửa đầu năm 2007 Toàn ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng 7% trong hai quý đầu, giảm so với mức 9,9% đạt được nửa đầu năm 2007 Nguyên nhân chính của của sự suy giảm này chính là sự sụt giảm mạnh của ngành xây dựng Sản xuất, mặc dù vậy, vẫn tăng trưởng tốt, đạt mức tăng 11,4% trong nửa đầu ngoái Mặc dù mức tăng GDP khá khiêm tốn, sản lượng công nghiệp vẫn tiếp tục tăng vọt lên mức 16,5% trong nửa đầu năm 2008 Quan hệ kinh tế của Việt Nam đã được đa dạng hóa một cách rõ rệt và trao đổi kinh tế của Việt Nam với các nước láng giềng trong ASEAN, với Hoa
Kỳ, Liên minh Châu Âu, Hàn Quốc, Australia và Singapore đã được mở rộng và tăng trưởng nhanh chóng Một số ngân hàng nước ngoài đã được cấp giấy phép mở chi nhánh tại Việt Nam và rất nhiều trong số đó đã bắt đầu hoạt động ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc chính là những nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam
Nhân tố then chốt giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển chính là thương mại Trong giai đoạn 2001-2007, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng mỗi năm 17,5% Cả thành phần và chất lượng của các mặt hàng xuất khẩu được nâng lên trông thấy Tỉ lệ sản phẩm công nghiệp trong các sản phẩm xuất khẩu tăng lên đáng kể Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 18,8% mỗi năm Kim ngạch xuất khẩu đạt 520 USD một đầu người Mặc dù vậy, do phải nhập khẩu số lượng lớn cây trồng, thiết bị và vật liệu cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cho các dự án đầu tư nước ngoài nên thâm hụt thương mại đã tăng lên trong suốt 3 năm vừa qua Quan hệ buôn bán với các nước bạn, đặc biệt là các nước khác trong khu vực được mở rộng
Sự tăng trưởng của khu vực tư nhân chính là một trong những đặc điểm nổi bật của sự phát triển kinh tế ở Việt nam trong suốt hơn một thập kỉ qua Khu vực tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm hơn một nửa GDP năm
2007 Các ước tính sơ bộ chỉ ra rằng doanh nghiệp tư nhân tạo ra gần 90%