Đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng nhu cầu học lên nữa các học sinh tốt nghiệp từ các trường nghề, giáo dục đại học Đài Loan đã phát triển không ngừng ngoài việc
Trang 1Tham luận:
Phát triển giáo dục đại học Việt Nam và Đài Loan:
thực trạng và tương lai
Ngày 15 – 16 tháng 1 năm 2009
Sự phát triển và chuyển biến của Học viện kỹ thuật và Đại học khoa học kỹ thuật với vai trò phát triển nguồn nhân lực tại Đài
Loan
Trần Trọng Tài (Thích Giải Hiền)
NCS Tiến sĩ Chính sách hành chính giáo dục Đại học quốc lập Chi Nan, Taiwan
_
I, KHÁI LƯỢC
Từ năm 1970 đến thập niên 80 Đài Loan được mệnh danh là cơ xưởng sản xuất hàng kỹ thuật của thế giới đặc biệt là từ sau năm 1970 sau khi nhà nước quyết định lấy sản phẩm kỹ thuật làm hàng sản xuất chính thì hệ thống giáo dục cũng bắt đầu chuyển hướng Giáo dục nghề và giáo dục kỹ thuật được xem trọng và là động lực chủ yếu Các học viện kỹ thuật được thành lập và giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp được
mở rộng, số lượng học sinh, sinh viên vào học các trường nghề và trường kỹ thuật không ngừng gia tăng như “nấm mọc sau mưa” Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông và học sinh trung học nghề trước đây là 7:3 sau đó tăng thành 5:5 và đến cuối cùng là 3:7 Tỷ lệ này là tỷ lệ hiếm thấy trên thế giới nó đã giúp Đài Loan đào tạo được một nguồn nhân lực số lượng nhiều, chất lượng cao và tiền lương thấp Mặt khác việc mở rộng giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp đã đáp ứng được đầy đủ về nguồn nhân lực với tay nghề cao, dồi dào về kiến thức khoa học kỹ thuật của nền kinh tế sản xuất hàng kỹ thuật
Phải nói rằng các trường trung học nghề và trường cao đẳng chuyên nghiệp đã đào tạo được đội ngũ công nhân lành nghề (skill worker) và kỹ thuật viên tiên tiến (technician) là nguồn nhân lực chủ yếu cho nền kinh tế sản xuất hàng kỹ thuật của Đài Loan và tạo nên một danh xưng mới của Đài Loan đối với thế giới đó là “kinh nghiệm Đài Loan” và Đài Loan được mệnh danh là nền kinh tế đầy tiềm lực nhất trong “Bốn con rồng Á Châu”
Trang 2Sau thập niên 1980 sự phát triển của nền kinh tế khoa học kỹ thuật cao và kinh tế
đa quốc gia trở thành mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới của Đài Loan đồng thời cũng là nền sản xuất kinh tế mới của thế kỷ 21 vì nó đòi hỏi một nguồn nhân lực mới
Đó là nguồn nhân lực “công nhân tri thức” và “quản lý tri thức kỹ thuật”
Từ thập niên 1990 trở đi các ngành khoa học kỹ thuật cao và ngành dịch vụ ngày một tăng trưởng Từ đó sản xuất sản phẩm khoa học kỹ thuật cao trở thành nền sản xuất chính của nền kinh tế, nhu cầu đáp được một đội ngũ kỹ sư (technician and engineer) kỹ thuật trung cao cấp được nâng lên, việc sản xuất bằng máy móc điện toán hóa tự động dần thay thế cho sản suất điều khiển bằng tay do vậy nhu cầu về công nhân kỹ thuật giảm đi Mặt khác, nhu cầu đòi hỏi cải cách giáo dục ngày một tăng, ý hướng được tiếp tục học lên để nâng cao trình độ của các học sinh tốt nghiệp trung học nghề ngày càng nhiều hơn, chức năng của các trường trung học nghề đối với xã hội ngày một thấp đi Nhà nước cũng bắt đầu đánh giá lại chính sách đối với trường trung học nghề, thử nghiệm mô hình trường trung học tổng hợp, khuyến khích các trường trung học nghề chuyển đổi thành trường trung học tổng hợp với ý muốn điều chỉnh tỷ lệ học sinh trung học phổ thông và học sinh trung học nghề thành 7:3
Đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng nhu cầu học lên nữa các học sinh tốt nghiệp từ các trường nghề, giáo dục đại học Đài Loan đã phát triển không ngừng ngoài việc tăng số lượng các trường đại học công lập và tư thục, còn nâng cấp các trường cao đẳng chuyên nghiệp thành học viện kỹ thuật và đại học
kỹ thuật, mở nhiều chương trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ Trong vòng 20 năm từ năm
1985 đến năm 2004 số lượng các trường đại học và học viện tổng số là 117 trường (tăng 5.2 lần) Từ con số ban đầu là 28 trường (trong đó đại học 16 trường, học viện
12 trường), trường cao đẳng chuyên nghiệp 77 trường đã phát triển thành 145 trường (trong đó đại học 75 trường, học viện 70 trường, chưa tính con số 2 trường đại học đào tạo từ xa và 7 trường đại học của hệ thống quân đội và cảnh sát) Các trường cao đẳng chuyên nghiệp sau khi nâng cấp thành học viện kỹ thuật và đại học khoa học kỹ thuật chỉ còn lại 14 trường
Biểu đồ: Tình hình phát triển các trường đại học và học viện tại Đài Loan
Trang 3Nguồn tư liệu: Cục thống kê Bộ Giáo dục
II CƠ CẤU VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KỸ THUẬT VÀ HỌC VIỆN KỸ THUẬT
1/ Cơ chế đào tạo của hệ thống giáo dục đại học kỹ thuật nghề
Hệ thống giáo dục đại học Đài Loan chia thành: Đại học chính quy và đại học kỹ thuật nghề Cơ chế của hệ thống giáo dục đại học kỹ thuật nghề vô cùng phức tạp Hệ thống giáo dục đại học kỹ thuật nghề bao gồm: Đại học khoa học kỹ thuật, Học viện
kỹ thuật, trường cao đẳng chuyên nghiệp Trong các trường thuộc hệ thống giáo dục đại học kỹ thuật nghề này ngoài hệ chính qui ra, còn có hệ vừa học vừa làm (như tại chức ở Việt Nam) và học viện vừa học vừa làm (gọi là học viện tiến tu) Ngoài ra trong các trường đại học khoa học kỹ thuật và học viện kỹ thuật còn có chương trình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư kỹ thuật hệ 4 năm (chiêu sinh học sinh tốt nghiệp lớp 12
và học sinh tốt nghiệp trung học nghề), kỹ sư kỹ thuật hệ 2 năm (chiêu sinh học sinh tốt nghiệp các trường cao đẳng chuyên nghiệp) Hệ thống các trường cao đẳng chuyên nghiệp hệ đào tạo 3 năm vì đã nâng cấp thành học viện kỹ thuật và học viện độc lập nên đã được xóa bỏ Các trường cao đẳng chuyên nghiệp độc lập hay hệ đào tạo cao đẳng chuyên nghiệp trực thuộc học viện kỹ thuật và đại học khoa học kỹ thuật thì vẫn còn đào tạo cao đẳng chuyên nghiệp hệ 2 năm (chiêu sinh học sinh tốt nghiệp trường trung học nghề) và cao đẳng chuyên nghiệp hệ 5 năm (chiêu sinh học sinh vừa tốt nghiệp phổ thông cơ sở)
2/ Mục tiêu và tôn chỉ giáo dục của các trường đại học khoa học kỹ thuật và học viện kỹ thuật
Trang 4Tôn chỉ giáo dục của các trường đại học khoa học kỹ thuật và học viện kỹ thuật
là đào tạo nguồn nhân tài quản lý kỹ thuật và kỹ sư cao cấp Mục tiêu giáo dục gồm:
a Kết hợp lý luận và thực tiễn, quân bình giữa kỹ thuật và nhân văn, truyền
đạt ứng dụng khoa học kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực cao cấp về khoa học kỹ thuật
b Thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước, phục vụ cung ứng kỹ thuật
cho các nhà sản xuất, khuyến khích và tạo cơ hội cho đội ngũ công nhân, quản lý nâng cao trình độ và tay nghề
c Hỗ trợ cho mỗi cá nhân tự khẳng định mình, giải quyết công ăn việc làm
cho xã hội
d Cải tiến phương pháp giảng dạy khoa học kỹ thuật nghề và bồi dưỡng
nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên
e Đáp ứng đà phát triển của khoa học kỹ thuật thành lập các trung tâm
nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật chuyên ngành, thúc đẩy sự phát triển giữa lý luận khoa học kỹ thuật và nghiên cứu ứng dụng
3/ Nhìn lại những chính sách quan trọng liên quan đến các trường đại học khoa học kỹ thuật và học viện kỹ thuật
a Xây dựng thể chế nhất quán về hệ thống giáo dục kỹ thuật nghề
Ở Đài Loan giáo dục phổ thông và giáo dục kỹ thuật nghề được tách bạch Sau khi xây dựng thể chế nhất quán học sinh tốt nghiệp các trường trung học nghề chủ yếu học lên hệ cao đẳng chuyên nghiệp 2 năm, học viện kỹ thuật và đại học khoa học kỹ thuật, học sinh tốt nghiệp hệ cao đẳng chuyên nghiệp 5 năm thường chọn học lên hệ
kỹ sư kỹ thuật 2 năm ở học viện kỹ thuật Trước đây giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp
ở Đài Loan thực hiện cơ chế hợp lưu, thập niên 60 các trường cao đẳng chuyên nghiệp chính qui và đại học thi tuyển sinh cùng thời gian và môn thi nhưng hạn chế học sinh tốt nghiệp trường trung học nghề thi vào các trường cao đẳng chuyên nghiệp cùng ngành (教育部, 1957) Năm 1967 “Tiểu tổ công tác phát triển giáo dục” đề xuất nguyên tắc cải cách giáo dục đại học, kiến nghị tách biệt trường đại học và trường cao đẳng chuyên nghiệp Trường đại học đào tạo nền tảng khoa học cao sâu, trường cao đẳng chuyên nghiệp đào tạo nghề chuyên môn Năm 1970 Hội nghị Giáo dục toàn quốc lần thứ 5 đã quyết định tách biệt Đại học và cao đẳng chuyên nghiệp Cùng năm
đó quyết định đình chỉ hệ đào tạo cao đẳng chuyên nghiệp thuộc các trường đại học
Trang 5Năm 1973 các trường cao đẳng chuyên nghiệp chủ yếu chiêu sinh học sinh tốt nghiệp trường trung học nghề Năm 1974 Học viện kỹ thuật đầu tiên là Học viện Kỹ thuật công nghiệp Đài Loan được thành lập Thể chế nhất quán giáo dục kỹ thuật nghề (gồm trung học nghề - trường cao đẳng chuyên nghiệp và học viện kỹ thuật) được hình thành Năm 1983 xóa bỏ hệ đào tạo 3 năm của trường cao đẳng chuyên nghiệp đã được thực hiện nhiều năm và nâng cấp thành học viện kỹ thuật hoặc học viện Từ đây thể chế giáo dục kỹ thuật nghề hoàn chỉnh và độc lập với hệ thống giáo dục phổ thông được hình thành Trải qua quá trình nhiều năm xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục đại học kỹ thuật nghề đã trở thành một bộ phận rất quan trọng trong nền giáo dục đại học của Đài Loan
Biểu: Số lượng trường công lập và tư thục chuyên nghiệp kỹ thuật nghề năm 2005
Loại hình Công lập Tư thục Tổng số
Đại học khoa
Học viện kỹ
Trường cao
đẳng chuyên
nghiệp
Nguồn tư liệu: Cục thống kê Bộ Giáo dục
Biểu: Sự thay đổi số lượng học sinh các trường cao đẳng chuyên nghiệp, học viện kỹ thuật tại Đài Loan năm 2000 – 2004
Năm 2000
Năm 2001
Năm 2002
Năm 2003
Năm 2004
Tỷ lệ %
Tiến sĩ 630 820 1,149 1,423 1,689 0.25% Thạc sĩ 5,953 8,524 11,364 14,232 17,663 2.60%
Hệ đào tạo kỹ thuật 4
năm (HS tốt nghiệp
THPT và trung học
nghề)
65,214 113,262 172,390 226,137 281,538 41.18%
Hệ đào tạo kỹ thuật 2 97,227 131,533 151,302 141,052 151,738 22.19%
Trang 6năm (HS tốt nghiệp
trường CĐ chuyên
nghiệp hệ 5 năm)
Trường cao đẳng
chuyên nghiệp hệ 2
năm (HS tốt nghiệp
PTTH)
310,193 262,493 236,538 189,540 112,425 16.45%
Trường cao đẳng
chuyên nghiệp hệ 5
năm (HS tốt nghiệp
PTCS)
191,220 165,418 153,153 134,911 118,513 17.33%
Tổng số 670,437 682,050 725,896 707,295 683,566 100.00% Nguồn tư liệu: Vụ đào tạo kỹ thuật nghề Bộ Giáo dục
2 Nâng cấp trường cao đẳng chuyên khoa và học viện kỹ thuật
Trong quá trình hơn 45 năm phát triển giáo dục đại học kỹ thuật nghề của Đài Loan đã trải qua nhiều lần cải cách thay đổi cơ chế ngoài cơ chế xây dựng hệ thống giáo dục kỹ thuật nghề độc lập nhất quán đã nêu trên Để thích ứng với tiến bộ xã hội, nâng cấp công ty xí nghiệp, nhu cầu cải tiến nguồn nhân lực của nền kinh tế phát triển Mặt khác cũng phải đáp ứng được yêu cầu của quần chúng đối với học vị và bằng cấp việc nâng cấp trường lớp, thay đổi danh xưng tên gọi không ngừng được tiến hành trong hệ thống giáo dục kỹ thuật nghề
Trong bài tham luận này xin trình bày quá trình nâng cấp trường trung học nghề thành trường cao đẳng chuyên khoa, nâng cấp trường cao đẳng chuyên khoa thành học viện kỹ thuật và nâng cấp học viện kỹ thuật lên đại học khoa học kỹ thuật như sau: a/ Nâng cấp trường trung học nghề thành cao đẳng chuyên khoa
Việc nâng cấp trường trung học nghề lên học viện kỹ thuật chủ yếu do hai nhân
tố sau:
Một là yêu cầu của xã hội đối với nguồn nhân lực ngày một nâng cao Hai là số lượng nguồn nhân lực công nhân lành nghề số cung đã vượt quá cầu Nhu cầu nâng cao trình độ nguồn nhân lực trước hết là đối với trường đào tạo nghề y tá, hộ lý thuộc ngành y cần nâng cấp thành trường cao đẳng chuyên khoa Trước đây ngành y tế không phát triển, yêu cầu của xã hội đối với chất lượng phục vụ của ngành y tế không cao nên nguồn nhân lực của ngành y tế (trừ bác sĩ) như y tá, hộ lý, kỹ thuật viên, điều dưỡng… đều do các trường trung học nghề đào tạo Nhưng với đà phát triển của xã hội và sự tăng trưởng về khoa học kỹ thuật trong ngành y tế, cùng với đòi hỏi chất
Trang 7lượng phục vụ ngày càng cao của xã hội nên trường trung học nghề không thể giữ vai trò đào tạo nguồn nhân lực cho ngành y tế nữa Năm 1985 Bộ Y tế kiến nghị các trường trung học nghề thuộc ngành y nâng cấp thành các trường cao đẳng chuyên khoa Năm 1996 trường cao đẳng chuyên khoa nâng cấp đầu tiên của ngành y được chính thức công nhận Năm 2004 toàn bộ trường trung học nghề của ngành y tế đều được nâng cấp thành cao đẳng chuyên khoa, xây dựng được mô hình nâng cấp các trường trung học nghề một cách hoàn chỉnh Nhưng việc nâng cấp các trường trung học nghề thuộc các lĩnh vực khác thì không nhận được sự ủng hộ đồng nhất của các tầng lớp trong xã hội Thập niên 1960 có 8 trường trung học nghề nâng cấp thành cao đẳng chuyên khoa Năm 1989 áp lực chính trị buộc trường trung học nông nghiệp Nghi Lan nâng cấp thành cao đẳng chuyên khoa, rồi học viện kỹ thuật và đại học Nhưng khi tỉ lệ học sinh trung học nghề và trung học phổ thông đạt đến 7:3 thì mức cung vượt quá cầu, cộng thêm với việc mở quá nhiều trường trung học nghề và hiện tượng sinh ít con đã làm cho việc chiêu sinh của các trường ngày một khó khăn nên việc nâng cấp các trường trung học nghề lên cao đẳng chuyên khoa mới dần được chú trọng Cho đến nay việc nâng cấp các trường trung học nghề lên cao đẳng chuyên khoa vẫn còn gặp một số khó khăn về việc sắp xếp giảng viên, đáp ứng được nhu cầu học lên cao của học sinh địa phương, dùng cơ chế chuyển đổi nào là thích hợp… Năm
1995 Bộ Giáo dục thúc đẩy chương trình chuyển đổi các trường trung học nghề thành trung học tổng hợp và qui hoạch đến năm 2000 tỉ lệ học sinh trung học phổ thông, trung học nghề và trung học tổng hợp là 1:1:1 để mở ra một lối mới cho các trường trung học nghề
b/ Nâng cấp các trường cao đẳng chuyên khoa thành học viện kỹ thuật
Thời kỳ đầu giáo dục đại học ở Đài Loan dùng cơ chế bao gồm đại học và cao đẳng chuyên khoa Trường cao đẳng chuyên khoa không khác gì trường đại học chỉ khác duy nhất là thời gian học ngắn hơn Do đó nhiều trường đại học công lập ở Đài Loan như đại học Thành Công ở Đài Nam, đại học Trung Hưng ở Đài Trung, học viện Pháp luật và Thương nghiệp Đài Bắc đều do các trường cao đẳng chuyên khoa nâng cấp thành Hay một số đại học tư thục như Đạm Giang, Ta Tung, Tịnh Nghi… cũng đều do các trường cao đẳng chuyên khoa nâng cấp lên học viện và đại học Do vậy việc nâng cấp trường cao đẳng chuyên khoa lên đại học là tiền lệ đã có từ trước đây Năm 1967 “Tiểu tổ công tác phát triển giáo dục” đề xướng “Nguyên tắc cải cách giáo dục đại học” kiến nghị tách biệt Đại học và cao đẳng chuyên khoa Đại học giáo dục nền tảng khoa học chuyên sâu, cao đẳng chuyên khoa tập trung đào tạo nghề Do vậy chính sách nâng cấp cao đẳng chuyên khoa thành học viện kỹ thuật tạm ngừng thực
Trang 8thi Sau năm 1980 Bộ Giáo dục muốn một mặt chấm dứt đào tạo 3 năm cao đẳng chuyên khoa, mặt khác muốn giải quyết vấn đề chưa kịp nâng cấp của các trường Cao đẳng chuyên khoa như: Danh Truyền, Thực Tiển, Thế Tân, Công Thương Đạm Giang…nên đã tiếp tục thực thi chính sách nâng cấp trường Cao đẳng chuyên khoa đã tạm đình chỉ trước đây nên vấn đề đã được chìm lắng một thời gian lại được sôi động trở lại Năm 1994 chính sách quyết định nâng cấp các trường Cao đẳng chuyên khoa
ưu tú lên học viện kỷ thuật Năm 1995 Quốc hội thông qua sửa đổi pháp lệnh trường Cao đẳng chuyên khoa làm nền tảng y cứ về pháp luật cho các trường Cao đẳng chuyên khoa và có hiệu lực thực thi vào năm 1996 sau đó các trường Cao đẳng chuyên khoa đã đồng loạt nâng cấp Cho đến năm 2005 Cao đẳng chuyên khoa ở Đài Loan chỉ còn 15 trường đa phần là các trường Cao đẳng chuyên khoa đào tạo y tá hộ lý của ngành y Có thể nhìn thấy trong tương lai trừ các trường Cao đẳng chuyên khoa y tế
ra, các trường khác đều sẽ nâng cấp thành học viện kỷ thuật
c/ Nâng cấp các học viện kỷ thuật thành Đại học Khoa học Kỷ thuật
Năm 1974, học viện kỷ thuật đầu tiên được thành lập là học viện kỷ thuật Công nghệ Đài Loan Mãi đến 18 năm sau năm 1991 hai học viện kỷ thuật nữa mới được thành lập, là học viện kỷ thuật Vân Lâm và học viện kỷ thuật Bình Đông Sau đó, khi chính sách nâng cấp trường Cao đẳng chuyên khoa thành học viện và khuyến khích,
xã hội hóa thành lập học viện kỷ thuật tư thục đã làm cho số lượng các học viện kỷ thuật tăng lên nhanh chóng Nhằm đáp ứng nhu cầu điều chỉnh và đào tạo nguồn nhân lực khoa học kỷ thuật chất lượng cao trong tương lai Năm 1995 Bộ Giáo dục công bố phương án “ Cải cách và nâng cấp Giáo dục Kỷ thuật nghề” của chính phủ chủ yếu là học tập mô hình của Nhật Bản đã làm là giúp đỡ các học viện kỷ thuật thành lập thêm học viện Nhân văn nâng cấp các học viện kỷ thuật thành trường Đại học tổng hợp Khoa học Kỷ thuật, Năm 1996 Bộ Giáo dục công bố thực thi “Phương án nâng cấp trường cao đẳng chuyên khoa thành học viện kỷ thuật” Đồng thời Bộ Giáo dục cũng dựa vào pháp lệnh “tiêu chuẩn thành lập Đại học” và “Tiêu chuẩn thành lập các loại trường tư thục” để tiếp nhận hồ sơ xin nâng cấp các học viện kỷ thuật thành Đại học Khoa học Kỷ thuật Từ đó số lượng các trường đại học khoa học kỷ thuật và học viện
kỷ thuật tại Đài Loan đã tăng lên rất nhiều (簡 明 忠, 2005)
3/ Phát triển nhanh chóng các Học viện Tư thục và trường Tư thục kỷ thuật
Các trường kỷ thuật giữ vị trí rất quan trọng trong nền gióa dục Đài Loan Một thời gian dài trên 80% sinh viên kỷ thuật, cao đẳng chuyên khoa đều theo học tại các trường, viện tư thục, điều này đã khẳng định được vai trò quan trọng của trường tư
Trang 9thục tại Đài Loan Trước khi thực thi chính sách phổ cập giáo dục lớp 9 vào năm
1968, nguồn ngân sách giáo dục hạn hẹp của Đài Loan chủ yếu tập trung cho chi phí giáo dục cấp Trung, Tiểu học, sau khi thực hiện chính sách phổ cập giáo dục lớp 9, các trường mới thành lập vẫn rất cần tài chánh hỗ trợ của nhà nước nên nhà nước đã
xã hội hóa khuyến khích tư nhân tham gia vào quá trình giáo dục trung học và cao đẳng chuyên khoa Trước năm 1958 thủ tục thành lập trường tư thục gặp nhiều hạn chế và phức tạp về mặt hành chính nhưng từ năm 1959 đến năm 1973 nhà nước ủng
hộ và khuyến khích tư nhân thành lập trường trung học nghề và cao đẳng chuyên khoa
để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân khi cuộc sống kinh tế có nhiều cải thiện và nhu cầu nguồn nhân lực chuyên môn cao cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Đồng thời, hệ thống giáo dục kỷ thuật nghề cũng góp phần thay đổi quan điểm và giá trị “sĩ phu” truyền thống trong xã hội
Pháp lệnh trường tư thục được ban bố năm 1985 với lý tưởng xã hội hóa Giáo dục, trong thời gian đầu vì qui hoạch không rõ ràng, các tiêu chuẩn chưa chính xác, nên ngoại trừ các công ty tập đoàn lớn và đoàn thể tôn giáo đầu tư thành lập trường tư thục nghề và cao đẳng chuyên khoa ra Nhìn chung việc thúc đẩy xã hội đầu tư thành lập trường tư thục nghề và cao đẳng chuyên khoa không đạt được mục tiêu mong muốn, thêm vào việc chất lượng đào tạo chưa cao nên đã bị xã hôi phê phán Do vậy,
từ năm 1974 đến 1986 đã ngưng lại toàn bộ chương trình xã hội hóa thành lập trường
tư thục và đồng thời tiến hành việc chỉnh đốn và nâng cao chất lượng của các trường
đã được thành lập
Theo đà tiến triển của xã hội, ý muốn tiếp tục học tập của quần chúng nhân dân ngày càng cao, đời sống vật chất nâng cao, xã hội ngày càng nhiều người có “của dư của để” nên ý hướng đầu tư vào giáo dục của nhân dân ngày một cao Thêm vào đó là
sự chuyển đổi cơ c ấu sản xuất kinh tế đòi hỏi được đáp ứng một nguồn nhân lực kỷ thuật chất lượng cao là vô cùng cấp bách Sau thời gian chỉnh đốn chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục tư thục được nâng cao, điều kiện tiếp tục mở lại chương trình xã hội hóa giáo dục đã được chín muồi Năm 1985 Bộ giáo dục ban hành “những điểm quan trọng để giải quyết việc tiếp tục thành lập các trường tư thục mới” đáp ứng các nhu cầu nguồn nhân lực chuyên môn chất lượng cao thuộc các lĩnh vực đang cần đáp ứng của xã hội để cho phép tư nhân thành lập các trường cao đẳng chuyên khoa, học viện kỷ thuật và đại học thuộc các ngành Thương nghiệp kinh tế, Công nghiệp và y khoa Trong giai đoạn này việc thành lập trường tư thục chỉ giới hạn cho phép các trong các lãnh vực mà xã hội đang thiếu nguồn nhân lực chứ không phải là mở cửa toàn bộ
Trang 10Với sự phát triển và mở cửa của nền dân chủ trong xã hội việc chính phủ giới hạn phạm vi được thành lập trường tư thục đã bị xã hội đặt ra nhiều chất vấn Năm
1999 chính phủ đã thay đổi thái độ đặc định thêm và sửa chửa các tiêu chuẩn thành lập trường tư thục và hoàn toàn mở cửa cho phép tư nhân thành lập trường tư thục trong tất cả mọi lĩnh vực Đài Loan là nơi “tất đất tất vàng” nên việc thành lập trường
tư thục khó khăn không phải ở nguồn vốn đầu tư mà ở nguồn quĩ đất Để giải quyết điều này Bộ Giáo dục và Bộ Kinh tế đã hợp tác cho phép tư nhân được thuê đất của các công ty quốc doanh (như công ty Mía đường Đài Loan) để thành lập trường đã tạo nên một phong trào thuê đất nhà nước lập trường tư thục nở rộ một thời ở Đài Loan Nhưng cao trào rồi có lúc cũng thoái lui, việc phát triển quá nhiều trường Cao đẳng và Đại học đã đưa đến một hậu quả vô cùng nghiêm trọng mà Đài Loan gặp phải suy thoái kinh tế sau năm 2000 và xã hội ít con đã khiến cho các trường học chiêu sinh không đủ số lượng Bộ Giáo dục và các cơ quan chủ quan đã đình chỉ việc thuê đất mở trường và tiến hành đánh giá chất lượng với cơ chế “rời khỏi thị trường” để giải tán và đóng cửa các trường tư thục chất lượng kém Có thể nói “Một mùa đông khắc nghiệt” đang bao trùm các trường Cao đẳng và Đại học ở Đài Loan
4/ Xây dựng cơ chế tại chức thuộc hệ thống giáo dục nghề và cao đẳng chuyên khoa
Tôn chỉ của giáo dục nghề là đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế và Công ty
xí nghiệp nên ngoài việc chú trọng đào tạo kỷ năng chuyên môn ra còn phải nâng cao bồi dưỡng tay nghề cho họ về sau nữa Năm 1965 pháp lệnh “Thành lập đào tạo phi chính qui của chương trình giáo dục đại học” được ban bố Chuyển đổi tất cả các chương trình đào tạo chuyên khoa và đại học thành hệ đào tạo mở rộng tạo điều kiện cho những công nhân viên chức được tiếp tục học lên cao hơn Năm 1967 dựa vào “ qui chế đào tạo kỷ luật 2 năm” để thành lập hệ cao đẳng chuyên khoa 2 năm và quy định chỉ chiêu sinh đối với người có 1 năm kinh nghiệm công tác trở lên (Năm 1982
hệ đào tạo 2 năm cao đẳng chuyên khoa phi chính qui đổi thành chiêu sinh người có kinh nghiệm công tác 1 năm trở lên, nên hệ cao đẳng chuyên khoa chính qui chiêu sinh học sinh tốt nghiệp hệ phi chính qui) Năm 1974 Học viện Kỷ thuật đầu tiên của Đài Loan là Học viện Kỷ thuật Công nghiệp thành lập hệ đào tạo 2 năm chiêu sinh học sinh tốt nghiệp hệ tại chức cao đẳng chuyên khoa và có một năm kinh nghiệm công tác trở lên, thuộc hệ đào tạo tại chức
Từ thập niên 80 trở đi hệ thống giáo dục tại chức đã phát triển từ trung học nghề lên đến Giáo dục đại học để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế và phổ