BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH VÕ TIẾN BÌNH TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÔNG TY LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH VÕ TIẾN BÌNH TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÔNG TY Chuyên ngành : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG Mã số : 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2013 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Tóm tắt các biến trong mô hình ước lượng ................................................. 26 Bảng 3.2 Dự báo mối quan hệ giữa biến độc lập vào chính sách chi trả cổ tức ......... 29 Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả các biến của mô hình............................................. 31 Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan các biến của mô hình ......................................... 32 Bảng 4.3 Kết quả kiểm định Likelihood mô hình 1.................................................... 34 Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình 1 .............................................. 35 Bảng 4.5 Kết quả kiểm định Likelihood mô hình 2.................................................... 36 Bảng 4.6 Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình 2 ............................................. 37 Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Likelihood mô hình 3.................................................... 38 Bảng 4.8 Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình 3 .............................................. 39 Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Likelihood mô hình 4................................................... 40 Bảng 4.10 Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình 4 .............................................. 41 Bảng 4.11 Kết quả kiểm định tính dừng biến DIV ....................................................... 42 Bảng 4.12 Kết quả kiểm định tính dừng biến MSO.................................................... 43 Bảng 4.13 Kết quả kiểm định tính dừng biến INST ..................................................... 43 Bảng 4.14 Kết quả kiểm định tính dừng biến FORG................................................... 44 Bảng 4.15 Kết quả kiểm định tính dừng biến STATE.................................................. 44 Bảng 4.16 Kết quả kiểm định tính dừng biến FS.......................................................... 45 Bảng 4.17 Kết quả kiểm định tính dừng biến LEV ...................................................... 45 Bảng 4.18 Kết quả kiểm định tính dừng biến BETA.................................................... 46 Bảng 4.19 Tổng hợp kết quả kiểm định tính dừng các biến ......................................... 46 Bảng 4.20 Kết quả hồi quy mô hình 1 .......................................................................... 47 Bảng 4.21 Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình 1........................................................... 48 Bảng 4.22 Kết quả hồi quy mô hình 2 .......................................................................... 49 Bảng 4.23 Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình 2........................................................... 50 Bảng 4.24 Kết quả hồi quy mô hình 3 .......................................................................... 52 Bảng 4.25 Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình 3........................................................... 53 Bảng 4.26 Kết quả hồi quy mô hình 4 .......................................................................... 55 Bảng 4.27 Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình 4........................................................... 56 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam kết Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Thị Uyên Uyên. Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này. TP HCM, ngày 16 tháng 12 năm 2013 Tác giả Võ Tiến Bình DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT FEM : Mô hình hiệu ứng cố định HOSE : Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh REM : Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh TTCK : Thị trường chứng khoán MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TÓM TẮT ........................................................................................................ 1 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ........................................................... 2 1.1 Lý do chọn đề tài........................................................................................ 2 1.2. Mục tiêu nghiên cứu và các vấn đề nghiên cứu ........................................ 2 1.3. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 3 1.4. Ý nghĩa của đề tài...................................................................................... 3 1.5. Kết cấu của đề tài ...................................................................................... 4 CHƯƠNG 2 – CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÔNG TY .................................................................................................................... 5 2.1. Cơ sở lý thuyết .......................................................................................... 5 2.1.1. Cơ sở lý thuyết về chính sách cổ tức ..................................................... 5 2.1.2. Chi phí đại diện, lý thuyết phát tín hiệu................................................. 7 2.2. Những bằng chứng thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty ........................................................................ 10 2.2.1. Vốn sở hữu của nhà quản lý và chính sách cổ tức ............................... 10 2.2.2. Vốn sở hữu của các định chế và chính sách cổ tức............................. 12 2.2.3. Vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và chính sách cổ tức.............. 14 2.2.4. Vốn sở hữu của nhà nước và chính sách cổ tức................................... 16 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................... 21 3.1. Phương pháp và mô hình nghiên cứu ..................................................... 21 3.1.1. Phương pháp nghiên cứu..................................................................... 21 3.1.2. Mô hình nghiên cứu ............................................................................. 21 3.1.2.1. Mô hình ước lượng........................................................................... 21 3.1.2.2. Mô tả biến và các giả thuyết nghiên cứu .......................................... 23 3.2. Dữ liệu nghiên cứu .................................................................................. 29 3.2.1. Nguồn dữ liệu....................................................................................... 29 3.2.2. Xử lý dữ liệu ........................................................................................ 30 CHƯƠNG 4 TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CÔNG TY – BẰNG CHỨNG TẠI VIỆT NAM........... 31 4.1. Thống kê mô tả dữ liệu ........................................................................... 31 4.1.1. Mô tả dữ liệu ........................................................................................ 31 4.1.2. Ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình .............................. 32 4.1.3. Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy.............................. 33 4.1.4. Kiểm định tính dừng ............................................................................ 42 4.2. Kết quả hồi quy ....................................................................................... 47 4.2.1. Kết quả hồi quy mô hình 1................................................................... 47 4.2.2. Kết quả hồi quy mô hình 2................................................................... 49 4.2.3. Kết quả hồi quy mô hình 3................................................................... 52 4.2.4. Kết quả hồi quy mô hình 4................................................................... 55 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN .......................................................................... 59 5.1. Kết luận về kết quả nghiên cứu............................................................... 59 5.2. Hạn chế của đề tài ................................................................................... 60 PHỤ LỤC 1 TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÔNG TY TÓM TẮT Đề tài kiểm định tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức tại Việt Nam. Tác giả sử dụng mẫu gồm 271 công ty niêm yết từ năm 2008 – 2012 trên Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE). Mô hình nghiên cứu của đề tài sử dụng dữ liệu bảng (panel data) được hồi quy theo 3 cách: Pooling, Random Effect (hiệu ứng ngẫu nhiên) và Fixed Effect (hiệu ứng cố định). Để lựa chọn phương pháp hồi quy nào là phù hợp nhất trong 3 phương pháp trên, tác giả sử dụng 2 kiểm định là kiểm định Likelihood và kiểm định Hausman. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan cùng chiều giữa tỷ trọng vốn sở hữu của tổ chức và tỷ lệ chi trả cổ tức ở mức ý nghĩa 1%. Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện mối tương quan cùng chiều giữa tỷ trọng vốn sở hữu của nhà quản lý với tỷ lệ chi trả cổ tức, mối tương quan ngược chiều giữa vốn sở hữu của cổ đông nước ngoài và vốn sở hữu của nhà nước với tỷ lệ chi trả cổ tức, tuy nhiên các mối quan hệ này không mang ý nghĩa thống kê. Từ khóa: chính sách cổ tức, cấu trúc sở hữu, chi phí đại diện 2 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài Chính sách chi trả cổ tức được xem là chính sách quan trọng trong các chính sách tài chính doanh nghiệp. Tại sao các công ty lại chi trả cổ tức, đây là vấn đề được quan tâm và thảo luận của nhiều nghiên cứu trong một thời gian dài. Theo nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới một trong những lý do được trích dẫn nhiều nhất để giải thích tại sao các công ty lại chi trả cổ tức đó là lý thuyết chi phí đại diện. Dựa trên lý thuyết chi phí đại diện, các nghiên cứu gần đây đã tập trung vào việc kiểm định ảnh hưởng của tiêu chuẩn quản trị và cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty. Cụ thể, Jensen (1986) và Rozeff (1982) đã tranh luận rằng các công ty có thể làm giảm bớt chi phí đại diện bằng cách sử dụng chính sách chi trả cổ tức. Tiếp theo đó, nghiên cứu của Jensen và cộng sự năm 1992 thì lập luận rằng vốn sở hữu của nhà quản lý có tác động nghịch lên chính sách chi trả cổ tức và chính sách vay nợ của công ty. Tương tự vậy, nghiên cứu của Eckbo và Verma năm 1994 đã phát hiện rằng tỷ lệ chi trả cổ tức giảm khi tỷ trọng vốn sở hữu của nhà quản lý tăng. Hay là, nghiên cứu của Wen và Jia năm 2010 thì tìm được bằng chứng cho thấy cả hai biến vốn sở hữu của nhà quản lý và vốn sở hữu của tổ chức đều có tương quan ngược chiều với tỷ lệ chi trả cổ tức…Như vậy, chính sách chi trả cổ tức của các công ty ở thị trường Việt Nam bị tác động ra sao bởi cấu trúc sở hữu? Để trả lời cho câu hỏi này, tác giả tiến hành nghiên cứu: “Tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty” cho luận văn cao học của mình. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu và các vấn đề nghiên cứu Theo kết quả nghiên cứu của nhiều bằng chứng thực nghiệm trên thế giới thì cấu trúc sở hữu có tác động đến chính sách cổ tức của công ty. Bài nghiên cứu này tập trung vào vấn đề kiểm định xem cấu trúc sở hữu có tác động đến chính sách cổ tức của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 3 trong thời kỳ từ năm 2008 đến năm 2012 hay không. Từ mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau: Một là, kiểm định mối tương quan giữa chính sách chi trả cổ tức của các công ty và cấu trúc sở hữu theo mô hình đơn biến. Hai là, kiểm định mối tương quan giữa chính sách chi trả cổ tức của các công ty và cấu trúc sở hữu theo các mô hình đa biến. 1.3. Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu này sử dụng các nghiên cứu trước đây để làm cơ sở cho việc xác định tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty. Dữ liệu để chạy mô hình hồi quy sử dụng trong bài nghiên cứu này được thu thập từ báo cáo tài chính, bảng cáo bạch công bố hàng năm của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh,từ các wedsite như www.cafef.vn; www.cophieu68.com…Để tiến hành phân tích dữ liệu, tác giả sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu đối với dữ liệu bảng (Panel Least Squares) để tiến hành chạy mô hình hồi quy. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong mô hình hồi quy tuyến tính, sử dụng các kiểm định Likelihood và Hausman để lựa chọn mô hình hồi quy thích hợp cho dữ liệu bảng. Công cụ được tác giả sử dụng bao gồm Microsoft Excel 2010 để tính toán, lọc các dữ liệu cần thiết và phần mềm Eviews 6 để phân tích dữ liệu và chạy mô hình hồi quy. 1.4. Ý nghĩa của đề tài Về mặt học thuật: Đề tài bổ sung thêm vào các bằng chứng thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty. Là một tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan sau này. Về mặt thực tiễn: đề tài này giúp các công ty nhìn nhận rõ hơn tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách chi trả cổ tức hiện nay tại Việt Nam. Từ đó các nhà quản lý, điều hành có thể hoạch định các chiến lược tài chính phù hợp để nâng cao giá trị 4 công ty. Đối với các nhà đầu tư cũng có thêm cách nhìn nhận về hoạt động của doanh nghiệp để đánh giá và ra quyết định đầu tư vào cổ phiếu mình muốn nắm giữ. 1.5. Kết cấu của đề tài Ngoài phần tóm tắt, danh mục bảng, danh mục chữ viết tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài này bao gồm 5 chương được trình bày như sau: Chương 1 Giới thiệu đề tài. Trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, sử dụng phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và bố cục của đề tài. Chương 2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty. Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về chính sách cổ tức và đưa ra các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty. Chương 3 Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ làm làm rõ phương pháp nghiên cứu, như là cách thu thập số liệu, sử dụng phương pháp nghiên cứu nào, mô hình nghiên cứu ra sao. Chương 4 Tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty – bằng chứng tại Việt Nam. Trong chương này, tác giả sẽ kiểm định thực nghiệm tại thị trường Việt Nam – Các công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán TP HCM về tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức công ty thông qua mô hình kiểm định đơn biến, đa biến. So sánh các kết quả thu được với các nghiên cứu thực nghiệm trên trên thế giới trước đó. Chương 5 Kết luận. Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và rút ra các hạn chế của đề tài. 5 CHƯƠNG 2 – CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÔNG TY 2.1. Cơ sở lý thuyết 2.1.1. Cơ sở lý thuyết về chính sách cổ tức Dựa vào một số giả định không thực tế, Miller và Modigliani (1961) đã công bố công trình lý thuyết về chính sách cổ tức không tác động đến giá trị công ty. Lý thuyết dựa trên giả định: thị trường vốn hoàn hảo, không có thông tin bất cân xứng, không có chi phí đại diện và hành vi của nhà đầu tư là hợp lý, các tác giả cho rằng giá trị công ty độc lập với quyết định chia cổ tức và không có sự khác biệt giữa việc sử dụng nguồn tài trợ vốn bên trong và bên ngoài khi công ty cần huy động nguồn vốn cho đầu tư. Tuy nhiên, Miller và Scholes (1982) đã chỉ ra rằng thực tế thị trường vốn không hoàn hảo, thông tin bất cân xứng và nhà nước đánh thuế trên cổ tức ở hầu hết các thị trường vốn trên thế giới, vì thế chính sách cổ tức có tác động đến giá trị công ty. Jensen và Meckling (1976); Rozeff (1982); Myers và Majluf (1984); Easterbrook (1984); Jensen (1986) đã đưa ra nhiều giải thích khác nhau là tại sao sự hiện diện của những rào cản thị trường như thông tin bất cân xứng, chi phí đại diện lại ảnh hưởng đến các quyết định chia cổ tức. Ở các nước có TTCK mới phát triển như Việt Nam, do thông tin bất cân xứng nên nhà đầu tư thường dựa vào mức chi trả cổ tức để nhận biết giá trị và triển vọng phát triển của công ty. Công ty chi trả cổ tức cao được suy diễn đồng nghĩa là công ty có triển vọng tốt và ngược lại. Thời gian vừa qua cho thấy khi một công ty công bố một chính sách chi trả cổ tức cao trong năm thì lập tức giá cổ phiếu của công ty đó tăng lên nhanh chóng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu các lý thuyết về chính sách cổ tức và các yếu tố tác động lên chính sách cổ tức với nhiều kết luận được rút ra như sau: 6 Chính sách cổ tức của các công ty ở thị trường mới nổi bị ảnh hưởng bởi khả năng sinh lợi, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (Aivazian, V.; Booth, L.; Cleary, S.; 2001). Các tác giả đã so sánh một mẫu các công ty hoạt động trong tám thị trường mới nổi với mẫu 99 công ty tại Mỹ niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE) cho rằng quyết định chính sách cổ tức phụ thuộc vào bối cảnh thị trường ra đời. Các công ty trong nền kinh tể mới nổi chi trả cổ tức cao hơn các công ty trong nền kinh tế phát triển. Fama và French (2001) cho rằng chính sách cổ tức của các công ty bị ảnh hưởng bởi vòng đời của hoạt động của công ty. Các công ty đều trải qua các chu kỳ kinh doanh như: khởi sự, tăng trưởng, phát triển, bão hòa, suy thoái và từ đó đưa ra các quyết định chi trả cổ tức cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của công ty. Theo nghiên cứu của Baker và Wurgler (2004) thì cho rằng các nhà quản lý công ty thường quyết định chính sách cổ tức theo nhu cầu và mong muốn của các nhà đầu tư. Nên các nhà đầu tư thích chi trả cổ tức thì công ty sẽ chi trả cổ tức cao và xem như là một phần lại nhuận cho việc đầu tư của nhà đầu tư. Nếu các nhà đầu tư không muốn chi cổ tức vì muốn gia tăng vốn trong tương lai thì sẽ chi trả cổ tức thấp hoặc không chi trả. Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Lương (2008) đã lập luận rằng việc lựa chọn chính sách cổ tức có tầm quan trọng rất lớn đối với doanh nghiệp. Sự sẵn sàng và khả năng trả cổ tức ổn định và khả năng gia tăng cổ tức của công ty cung cấp những thông tin về triển vọng tốt đẹp của công ty. Cổ tức có thể cho các nhà đầu tư cảm giác về giá trị thực của một công ty. Việc lựa chọn một chính sách cổ tức cho một doanh nghiệp riêng biệt phải dựa trên sự cân nhắc các yếu tố ảnh hưởng và phải nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Nhìn chung, có rất nhiều lý thuyết cũng như thực nghiệm nhằm lý giải các yếu tố tác động đến chính sách chia cổ tức của các công ty ở thị trường đang phát triển và phát triển. 7 2.1.2. Chi phí đại diện, lý thuyết phát tín hiệu Chi phí đại diện Lý thuyết đại diện được Jensen và Meckling (1976) đưa ra xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích giữa các nhà quản lý công ty cổ phần (người đại diện) và các cổ đông (người sở hữu). Trong môi trường bất cân xứng thông tin, mâu thuẫn này sẽ làm phát sinh chi phí đại diện. Lý thuyết đại diện cho rằng chi trả cổ tức càng nhiều càng làm giảm dòng tiền tự do bên trong công ty (là dòng tiền nằm dưới quyền định đoạt của các nhà quản lý) và nếu có nhu cầu đầu tư mới, công ty có thể huy động nguồn tài trợ bên ngoài. Gia tăng nguồn vốn bên ngoài buộc công ty phải chịu sự kiểm soát của thị trường vốn, điều này làm giảm khả năng thực hiện những đầu tư không hiệu quả của ban quản lý. Sự giám sát của những nhà cung cấp vốn bên ngoài cũng giúp đảm bảo rằng các nhà quản lý hành động vì lợi ích cao nhất của các cổ đông. Các nhà đầu tư lo ngại vấn đề đại diện, vì thế có phản ứng tích cực với những thông tin tăng cổ tức và ngược lại. Rozeff (1982) và Easterbrook (1984) lập luận rằng việc chi trả cổ tức buộc các doanh nghiệp tìm đến các thị trường vốn bên ngoài để bổ sung nguồn vốn, do đó, phải chịu sự giám sát bởi các thị trường vốn. Lý thuyết dòng tiền tự do của Jensen (1986) cho thấy rằng các nhà quản lý không muốn trả cổ tức, thay vào đó họ muốn duy trì nguồn tiền mặt dưới sự kiểm soát của mình. Về mặt này, Zeckhauser và Pound (1990) cho rằng cổ đông định chế có thể hoạt động như một cơ chế giám sát thay thế, do đó làm giảm sự cần thiết phải giám sát bởi các thị trường vốn bên ngoài, từ đó chi trả cổ tức ít hơn. Từ đó Zeckhauser và Pound (1990) đề nghị các định chế thay vì giám sát thì nên buộc các công ty chia cổ tức, điều này làm cho các công ty buộc phải tìm đến các thị trường vốn bên ngoài. Eckbo và Verma (1994) phân tích thực nghiệm từ mẫu bao gồm 308 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Toronto Canada (TSE) trong giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1988, lập luận rằng cổ đông định chế sẽ thích dòng tiền tự do được 8 phân phối dưới hình thức cổ tức để giảm chi phí đại diện của dòng tiền tự do. Từ quan điểm này, nảy sinh tranh luận rằng cổ đông định chế có thể chống lại xu hướng các nhà quản lý thích lưu giữ quá nhiều tiền mặt, và nhờ quyền biểu quyết, nhà đầu tư này buộc các nhà quản lý phải chi trả cổ tức. Một nghiên cứu khác của Short và cộng sự (2002), khi tiến hành xem xét thực nghiệm về mối quan hệ giữa sở hữu của các định chế với chính sách chi trả cổ tức, dựa trên dữ liệu bảng gồm 211 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Luân Đôn trong giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1992, nhóm tác giả đã tìm thấy bằng chứng rằng chính sách cổ tức đóng vai trò quan trọng trong việc cắt giảm chi phí đại diện. Stouraitis và Wu (2004) quan sát các công ty tại Nhật Bản cũng nhận thấy chính sách chi trả cổ tức có thể sử dụng để kiểm soát vấn đề đầu tư tràn lan của công ty và hai ông cũng nhận thấy rằng mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông về chính sách cổ tức cũng thay đổi theo các cơ hội phát triển của công ty. Leal và CarvalhaldaSilva (2007) nghiên cứu tại thị trường Brazil cho rằng vấn đề đại diện xuất hiện khi nhà quản lý không cố gắng để tối đa hóa giá trị cổ đông. Ullah và cộng sự (2012) tiến hành phân tích định lượng dựa trên mẫu bao gồm 70 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi đại diện bởi chi số KSE 100 của Pakistan trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010, cho thấy chính sách cổ tức có thể hạn chế hành vi trục lợi của nhà quản lý. Nghiên cứu của Trần Nguyễn Minh Hải (2012), đã trình bày những vấn đề cơ bản về mối quan hệ đại diện, tính tư lợi trong môi trường kinh doanh luôn tồn tại thông tin bất cân xứng gây ra rủi ro đạo đức, rủi ro lựa chọn sai lầm. Đồng thời, nghiên cứu về chi phí đại diện trong công ty niêm yết khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý và các nhân tô ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của nhà quản lý. Nghiên cứu ảnh hưởng của chi phí đại diện lên quyết định chi trả cổ tức của nhà quản lý của một số công ty niêm yết tại Việt Nam. 9 Tác giả Phạm Thị Duy Linh (2013), qua nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường Việt Nam đã kết luận về mối tương quan thuận chiều giữa cấu trúc sở hữu và chi phí đại diện, tức là sở hữu nội bộ càng cao thì hiệu suất sử dụng tài sản càng thấp. Qua các nghiên cứu trước đây cho thấy, chính sách chi trả cổ tức có mối quan hệ khá chặt chẽ với vấn đề chi phí đại diện. Chi trả cổ tức là một cách giúp công ty giảm bớt chi phí đại diện. Lý thuyết phát tín hiệu Lý thuyết về tác động tín hiệu dựa trên ý tưởng là người đại diện doanh nghiệp muốn truyền tải thông tin tới chủ sở hữu về tình hình doanh nghiệp nhằm tạo ra mối quan hệ đầu tư. Người quản lý có lợi thế nắm bắt nhiều thông tin nội bộ về công ty hơn các nhà đầu tư bên ngoài nhưng lại không sẵn lòng cung cấp những thông tin đầy đủ đến cho cổ đông. Do đó, chính sách cổ tức có thể được sử dụng cho mục đích thông tin và cũng được xem như một tín hiệu cho dự án tương lai của công ty (Bhattacharya, 1979, 1980; Miller và Rock, 1985; Li và Zhao, 2008). Zeckhauser và Pound (1990) điều tra 286 công ty từ 22 ngành công nghiệp khác nhau tại thị trường Mỹ, cho rằng cổ tức và cổ đông định chế có thể được xem như là thiết bị truyền tín hiệu thay thế nhau. Sự hiện diện của một cổ đông lớn có thể hạn chế việc sử dụng cổ tức làm tín hiệu, vì bản thân việc các cổ đông lớn tham gia góp vốn cũng được xem là một tín hiệu tốt do các cổ đông này có tầm ảnh hưởng trong việc giám sát hoạt động của công ty một cách tốt hơn. Tuy nhiên, có một điều không rõ ràng là cổ đông định chế sẽ phát tín hiệu về triển vọng tương lai của công ty ra thị trường chính xác như thế nào. Có hai kịch bản có thể xảy ra. Thứ nhất, sự hiện diện của cổ đông định chế báo hiệu cho thị trường biết chi phí đại diện đang giảm do các hoạt động giám sát của cổ đông định chế. Tuy nhiên, như đã thảo luận, dường như cổ đông định chế không sẵn sàng giám sát trực tiếp. Thứ hai, các thông tin thêm được đưa ra cho thấy cổ đông định chế có thể có liên quan đến triển vọng trong tương lai vì cổ đông định chế dễ dàng kiểm soát việc quản lý, thị trường hoàn toàn có thể giải thích sự hiện diện của một cổ đông là định chế như báo hiệu tin tốt 10 về triển vọng tương lai của công ty. Tuy nhiên cũng có một số điểm đáng chú ý rằng các bằng chứng sẵn có không ủng hộ kịch bản này. Bản thân sự hiện diện các định chế đã nhấn mạnh cổ tức như một tín hiệu về triển vọng tương lai (Trade and Industry Committee on Com, 1994), có thể thấy rằng các định chế không tự coi mình như tín hiệu thay thế. Ngoài ra, các định chế cần phải cảnh giác với thông tin nội bộ bởi công ty có những điều lệ nội bộ riêng. Hơn nữa, sự tăng trưởng trong các chỉ số cho thấy rằng sự hiện diện của một cổ đông định chế, không nhất thiết ám chỉ một định chế cụ thể nào đó tin tưởng rằng những công ty có triển vọng tốt hơn so với mức trung bình. Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hải Lý (2012), cho rằng ở một mức độ nào đó, các nhà quản lý đồng tình với việc chính sách cổ tức phát tín hiệu đến các nhà đầu tư trên thị trường. 2.2. Những bằng chứng thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty 2.2.1. Vốn sở hữu của nhà quản lý và chính sách cổ tức Trước đây đã có rất nhiều nghiên cứu xem xét về mối quan hệ giữa phần sở hữu của nhà quản lý và cổ tức chi trả. Trong nghiên cứu năm 1986, Michael C. Jensen đã lập luận: Chi trả cổ tức có thể tạo ra mâu thuẫn giữa những người quản lý và các cổ đông vì trong khi các cổ đông thích chi trả cổ tức hơn thì các nhà quản lý lại muốn giữ lại lợi nhuận nhiều hơn để thực hiện chiến lược tăng trưởng công ty do sự lớn mạnh của công ty sẽ giúp công ty chiếm lĩnh thị trường. Ngoài ra, nếu lợi nhuận không được chi trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức, người quản lý có thể thay đổi mục tiêu hướng các quyết định của mình nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân hoặc đầu tư nguồn lực vào những dự án không sinh lợi. Với những nguyên nhân trên, khi mâu thuẫn lợi ích xuất hiện giữa các bên, mâu thuẫn này có thể được giải quyết thông qua chính sách chi trả cổ tức. Jensen và cộng sự (1992) đã lập luận vốn sở 11 hữu của nhà quản lý có tác động nghịch lên chính sách chi trả cổ tức và chính sách vay nợ của công ty. Năm 1994, nhóm tác giả B.Espen Eckbo và Savita Verma qua phân tích thực nghiệm từ các công ty ở sàn giao dịch chứng khoán TSE – Canada đã phát hiện rằng tỷ lệ chi trả cổ tức giảm khi tỷ trọng vốn sở hữu của nhà quản lý tăng đồng thời kết quả của nghiên cứu cũng thấy rằng khi các nhà quản lý và những người liên quan nắm được quyền biểu quyết tuyệt đối kiểm soát thì tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt là bằng không. Short và cộng sự (2002) tiến hành xem xét thực nghiệm về mối quan hệ giữa vốn sở hữu của nhà quản lý với chính sách chi trả cổ tức, dựa trên dữ liệu bảng gồm 211 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Luân Đôn trong giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1992, sử dụng mô hình tác động cố định (FEM) kết hợp ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS), đã phát hiện rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ trọng vốn sở hữu của nhà quản lý và chính sách chi trả cổ tức. Chen và cộng sự (2005) tiến hành nghiên cứu trên bộ dữ liệu gồm 412 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hong Kong trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 1998 cho thấy có một mối quan hệ nghịch biến giữa phần sở hữu của nhà quản lý và chính sách cổ tức; phân tích xa hơn, nghiên cứu cho thấy vốn sở hữu của nhà quản lý còn có tương quan ngược chiều với kết quả hoạt động của công ty ở Hong Kong. Nghiên cứu của Wen và Jia (2010) thì tìm được bằng chứng cho thấy cả hai biến vốn sở hữu của nhà quản lý và vốn sở hữu của các định chế đều có tương quan ngược chiều với tỷ lệ chi trả cổ tức ở các tập đoàn ngân hàng. Mehrani và cộng sự (2011) nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Tehran Iran (TSE) trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007, sử dụng dữ liệu từ các công ty niêm yết trên TSE cũng kiểm định bốn loại mô hình chi trả cổ tức của Short và cộng sự (2002): Mô hình Lintner (1956) (mô hình điều chỉnh toàn phần và mô hình điều 12 chỉnh từng phần), mô hình Waud (1966) và mô hình của Fama và Babiak (2001) (mô hình xu hướng thu nhập), đã phát hiện ra chứng cứ xác nhận lại mối quan hệ nghịch biến giữa phần vốn sở hữu của nhà quản lý với chính sách chi trả cổ tức. Ullah và cộng sự (2012) tiến hành phân tích định lượng dựa trên mẫu bao gồm 70 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi đại diện bởi chỉ số KSE — 100 của Pakistan trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010, sử dụng mô hình hồi quy bội phân khúc để kiểm định mối quan hệ giữa các biến vốn sở hữu với tỷ lệ chi trả cổ tức, đã cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa phần sở hữu của nhà quản lý và chính sách cổ tức. Như vậy, có nhiều nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ trọng vốn sở hữu của nhà quản lý và chính sách chi trả cổ tức trong những hoàn cảnh khác nhau. 2.2.2. Vốn sở hữu của các định chế và chính sách cổ tức Các nhà đầu tư định chế thường là các nhà đầu tư lớn như các ngân hàng, các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm và các định chế tài chính khác..., với những khoản đầu tư lớn vào nhiều công ty khác nhau. Do đó, các định chế này rất có ảnh hưởng trong việc thực hiện vai trò quản trị doanh nghiệp. Hoạt động quản trị doanh nghiệp đặc biệt được quan tâm nhằm làm giảm chi phí đại diện, cổ tức được xem là phần thưởng cho cổ đông do đóng góp trong việc tài trợ vốn cho công ty và việc chấp nhận gánh chịu các rủi ro liên quan. Chính vì vậy, ban quản lý công ty phải lập ra một chính sách cổ tức để chi trả và phân phối thu nhập cho các cổ đông dựa trên phần vốn đầu tư vào công ty. Việc chia cổ tức có ảnh hưởng quan trọng đến giá trị doanh nghiệp bởi vì cổ tức dùng để duy trì trạng thái cân bằng giữa chính sách tăng trưởng của công ty và chính sách chi trả cổ tức. Một sai lầm nhỏ có thể dẫn đến sự không hài lòng của cổ đông cũng như có thể làm suy giảm mức độ tăng trường của công ty. 13 Waud (1966), Fama và Babiak (1968) cho rằng có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chính sách cổ tức và phần sở hữu của các định chế. Nghiên cứu của Zeckhauser và Pound (1990), điều tra 286 công ty từ 22 ngành công nghiệp khác nhau tại thị trường Mỹ, đã tìm thấy không có bằng chứng ủng hộ quan điểm cho rằng cổ đông định chế có ảnh hưởng đến chính sách cố tức. Eckbo và Vemia (1994) phân tích thực nghiệm từ mẫu bao gồm 308 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Toronto — Canada (TSE) trong giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1988, trên nền tảng dữ liệu bảng, sử dụng mô hình tác động cố định (Fixed Effect Model — FEM) đã báo cáo rằng tỷ lệ cổ tức tiền mặt tăng lên đáng kể với quyền biểu quyết của cổ đông là các doanh nghiệpđịnh chế và giảm đáng kể với quyền biểu quyết của nhà quản lý. Mohd và cộng sự (1995) báo cáo một mối quan hệ đồng biến và có ý nghĩa giữa cổ tức và phần sở hữu của các định chế. Mối quan hệ giữa cổ tức và quyền sở hữu của của các định chế xuất hiện phụ thuộc vào mối quan hệ có trọng số của các vấn đề như thuế, chi phí đại diện và vấn đề phát tín hiệu như trong nghiên cứu của Short và cộng sự (2002), khi tiến hành xem xét thực nghiệm về mối quan hệ giữa sở hữu của các định chế với chính sách chi trả cổ tức, dựa trên dữ liệu bảng gồm 211 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Luân Đôn trong giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1992. Trong đó, những tranh luận về vấn đề chi phí đại diện cho thấy các cổ đông định chế đòi hỏi mức chi trả cổ tức cao để buộc các công ty đi tìm nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài và do đó, phải chịu giám sát bởi các thị trường vốn bên ngoài. Hơn nữa, hệ thống ưu đãi thuế ở Anh không đánh thuế chồng chéo đối với cổ tức và cũng có những quy định miễn thuế, giảm thuế cho các tổ chức định chế như quỹ hưu trí càng ủng hộ việc chi trả mức cổ tức cao. Do đó, cả vấn đề về thuế và lý thuyết chi phí đại diện đều cho rằng có mối quan hệ đồng biến giữa chính sách cổ tức và phần sở hữu của định chế trong nghiên cứu của Short và cộng sự (2002). Từ quan điểm dòng tiền tự do, các định chế có thể đối phó với xu hướng các nhà quản lý muốn nắm giữ một lượng lớn dòng tiền tự do dư thừa trong tay để trục lợi cho cá nhân và những người liên quan. Short và cộng 14 sự (2002) sau khi kiểm định bốn mô hình phân tích chính sách chi trả cổ tức: Mô hình Lintner (1956) (mô hình điều chỉnh toàn phần và mô hình điều chỉnh từng phần), mô hình Waud (1966) và mô hình của Fama và Babiak (2001) (mô hình xu hướng thu nhập), đã tìm ra mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và tỷ trọng vốn sở hữu của các định chế. Ngược lại, năm 2011, nhóm tác giả Mehrani, Moradi and Eskandar nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và chính sách cổ tức của công ty trên sở giao dịch chứng khoán Teheran từ năm 2000 đến năm 2007. Nhóm tác giả tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ ngược chiều giữa chính sách chi trả cổ tức và tỷ trọng vốn sở hữu của tổ chức. Như vậy, có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới ủng hộ kết quả về mối tương quan cùng chiều giữa tỷ trọng vốn sở hữu của các định chế và tỷ lệ chi trả cổ tức. 2.2.3. Vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và chính sách cổ tức Mối quan hệ giữa vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và chính sách chi trả cổ tức thì đa dạng hơn. Nghiên cứu của nhóm tác giả Dahlquist và Robertsson (2001) dựa trên dữ liệu bảng của mẫu bao gồm 352 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thụy Điển trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1997, thấy rằng các nhà đầu tư nước ngoài tại Thụy Điển tỏ ra thích các công ty lớn, các công ty chi trả cổ tức thấp, và các công ty với lượng tiền mặt lớn trên bảng cân đối kế toán. Quan trọng hơn, các tác giả đã chứng minh được rằng hầu hết các đặc tính liên quan đến quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài được thúc đẩy bởi một thực tế là các nhà đầu tư nước ngoài thường là các quỹ tương hổ hay tổ chức đầu tư khác. Do đó, sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài được xác định là một xu hướng đầu tư lâu dài của các định chế chuyên nghiệp. Kumar (2003) tiến hành nghiên cứu tại thị trường chứng khoán Ấn Độ trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2000, sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng hiệu ứng 15 cố định (Fixed Effect Model FEM) cho năm mô hình chi trả cổ tức: Mô hình Lintner (1956) (mô hình điều chỉnh đầy đủ và mô hình điều chỉnh từng phần), mô hình Waud (1966), mô hình của Fama và Babiak (2001) (mô hình xu hướng thu nhập) và mô hình của Aivazian (2003) không tìm thấy bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa phần sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài với chính sách chi trả cổ tức của công ty. Trong khi đó, Covrig và cộng sự (2006) nghiên cứu các nhà quản lý quỹ trong nước và ngoài nước từ một số quốc gia phát triển đã cho thấy các nhà quản lý quỹ trong nước ủng hộ các công ty chi trả cổ tức cao. Ngược lại, các nhà quản lý quỹ ngoài nước không ưa thích mức cổ tức cao nhưng sẽ ưu tiên lựa chọn những công ty lớn, nổi tiếng trên toàn cầu. Baba (2009) phân tích dữ liệu của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tokyo tại Nhật Bản, bằng việc sử dụng mô hình lựa chọn chi trả, kết hợp phương pháp logit nhị phân Random effect, đã cho thấy rằng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài càng cao thì càng làm tăng khả năng chi trả cũng như lượng cổ tức tiền mặt. Tương tự, Jeon và cộng sự (2011) nghiên cứu các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc (KRX) trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2004, ước tính mô hình bảng động, đã tìm thấy bằng chứng cho rằng các công ty chia cổ tức càng cao, càng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, cũng như sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài càng cao, càng gây sức ép buộc công ty chia mức cổ tức cao. Thêm nữa, các tác giả cũng chứng minh được rằng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài ảnh hưởng đến mức cổ tức nhiều hơn sở hữu trong nước. Warrad và cộng sự (2012) dựa trên mẫu gồm 168 quan sát các công ty sản xuất được niêm yết trên thị trường chứng khoán Amman Jordan (ASE) trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2007, cũng tìm ra quan hệ đồng biến giữa sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và chính sách chi trả cổ tức ở các công ty trên thị trường chứng khoán Jordan. 16 Mối quan hệ giữa vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và chính sách chi trả cổ tức thì đa dạng hơn. Các nghiên cứu cho những kết quả khác nhau. Ullah và cộng sự (2012) tiến hành phân tích định lượng dựa trên mẫu bao gồm 70 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi đại diện bởi chỉ số KSE 100 của Pakistan trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010, sử dụng mô hình hồi quy bội phân khúc để kiểm định mối quan hệ giữa các biến vốn sở hữu với tỷ lệ chi trả cổ tức, đã cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa phần sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và tỷ lệ chi trả cổ tức. Kết quả này phù hợp với lý thuyết về chi phí đại diện, khi các nhà đầu tư nước ngoài khó có thể kiểm soát hành động của nhà quản lý điều hành công ty, bằng quyền biểu quyết của mình, cổ đông nước ngoài đặt một áp lực buộc công ty phải chia cổ tức để giảm thiểu dòng tiền mặt tự do dư thừa trong tay các nhà quản lý. Thanatawee (2012) dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 287 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Thái Lan (SET) trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2010, sử dụng mô hình hồi quy Logit nhị phân, cho rằng các định chế trong nước ảnh hưởng đến cổ tức nhiều hơn các định chế nước ngoài, kết quả hồi quy cho thấy sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không ảnh hưởng đến quyết định cổ tức của công ty. Tương tự, AlNawaiseh và cộng sự (2013) dựa trên dữ liệu hảng bao gồm mẫu các công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Amman Jordan (ASE) trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006, sử dụng mô hình phân tích Tobit và ước tính hồi quy OLS, cũng cho rằng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không ảnh hưởng đến mức chi trả cổ tức của công ty. Các kết quả nghiên cứu trước đây trên thế giới, cho thấy kết quả đa dạng về mối quan hệ giữa tỷ trọng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với tỷ lệ chi trả cổ tức. 2.2.4. Vốn sở hữu của nhà nước và chính sách cổ tức Nghiên cứu của Glen và cộng sự (1995) xác định chính sách cổ tức trong các thị trường mới nổi có nhiều khác biệt so với các thị thường phát triển. Các công ty tại thị trường mới nổi chú trọng vào tỷ lệ chi trả cổ tức hơn là chú trọng và mức cổ tức. Do đó, chi trả cổ tức có xu hướng ổn định hơn tại các thị trường mới nổi. Bên cạnh 17 đó, Glen và cộng sự (1995) cũng cho thấy sở hữu của nhà nước là một yếu tố quan trọng của quá trình ra quyết định cổ tức, vì những quy định bảo vệ cho các cổ đông vẫn còn nhiều hạn chế, các cổ đông bên ngoài cần phải được bảo vệ, và bởi vì nhà nước là một nhà đầu tư có ảnh hưởng, có thể thực hiện các bước để bảo vệ cổ đông thiểu số bằng cách buộc các cổ đông nội bộ chi ra tiền mặt. Wei và cộng sự (2003) nghiên cứu trên dữ liệu bảng của mẫu gồm 3,994 quan sát các công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Thượng Hải (SHSE) và Thâm Quyến (SZSE) tại Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2001, bằng chuỗi các hồi quy Logit đã tìm thấy bằng chứng rằng sở hữu của nhà nước có tác động đến chính sách chi trả cổ tức tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết. Kết quả thực nghiệm cho thấy phần sở hữu của nhà nước càng lớn thì tỷ lệ cổ tức tiền mặt càng lớn. Al Malkawi (2007) phân tích mô hình dữ liệu bảng từ mẫu bao gồm 160 công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Amman Jordan (ASE) trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2000, nghiên cứu kiểm định các nhân tố tác động đến mức độ chi trả cổ tức. Kết quả cho thấy vốn sở hữu của nhà nước có tác động cùng chiều đến cổ tức chi trả. Ngoài ra, các nhân tố khác như quy mô, số năm hoạt động và lợi nhuận công ty có tác động cùng chiều và có ý nghĩa đến chính sách cổ tức. AlKuwari trong hai nghiên cứu (2009, 2010) xem xét tác động của chi phí đại diện và chính sách cổ tức, đã thấy rằng sở hữu của nhà nước là một yếu tố quan trọng trong việc giải thích các chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán các nước Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Kết quả cho thấy các công ty trả cổ tức cao khi phần trăm sở hữu của nhà nước càng nhiều. Al Kuwari cho rằng mối liên hệ đồng biến này đến từ thực tế các hoạt động kinh tế và xã hội của các quốc gia GCC phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thu của chính phủ, được thực hiện chủ yếu bằng cách xuất khẩu dầu thô. Tuy nhiên, do biến động giá dầu liên tục, cũng như chi phí chiến tranh vùng Vịnh, thâm hụt ngân sách đã xuất hiện và ngày càng cao trong ngân sách của các quốc gia GCC. Vì vậy, chính phủ GCC theo đuổi 18 một số chính sách đa dạng hóa nguồn lực kinh tế của mình để giảm sự phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thu từ dầu và chi phí khu vực công. Mục đích của các chính sách này là để khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào khu vực tư nhân, và trả cổ tức cao là một công cụ quan trọng mà chính phủ đã sử dụng để nâng cao danh tiếng cho các công ty. Theo cách này, chính phủ thu hút công chúng để đầu tư vào khu vực tư nhân. Nghiên cứu của AlKuwari (2010) dựa trên dữ liệu bảng của mẫu bao gồm 37 công ty phi tài chính trên thị trường chứng khoán Kuwait trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2003, sử dụng mô hình Probit Random Effect đã tìm thấy bằng chứng rằng chính phủ là cổ đông duy nhất trong số các loại cổ đông lớn có ảnh hưởng đến khả năng chi trả cổ tức của công ty. Thêm nữa, sở hữu của nhà nước và lợi nhuận công ty càng tăng thì tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty càng cao. Như vậy, các nghiên cứu trước đây ủng hộ kết quả về mối tương quan cùng chiều giữa tỷ trọng sở hữu của nhà nước và tỷ lệ chi trả cổ tức. Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu khác về chủ đề tác động của cấu trúc sở hữu đến chính sách cổ tức của công ty nhưng không thuộc các nhóm sở hữu ở trên như: Năm 2002, trong bài nghiên cứu của C.Benjamin Maury và Anete Pajuste, nhóm tác giả đã lập luận rằng sự tồn tại của các cổ đông lớn tập trung sẽ ảnh hưởng nghịch biến lên tỷ lệ chi trả cổ tức; ngoài ra các tác giả đã tìm thấy tương quan âm giữa quyền kiểm soát do sở hữu tập trung và chính sách chi trả cổ tức. Vào năm 2005, nghiên cứu Mitton T đã sử dụng mẫu gồm 365 công ty tại 19 quốc gia mới nổi để tiến hành phân tích thực nghiệm. Tác giả đã phát hiện có tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa quyền kiểm soát doanh nghiệp với chính sách chi trả cổ tức ở các thị trường mới nổi. Và ở các quốc gia không có qui định pháp lý tốt giúp bảo vệ nhà đầu tư lớn thì việc chi trả cổ tức cũng tăng cao. Ở các nước có chính sách bảo vệ nhà đầu tư càng cao, thì mức chi trả cổ tức càng lớn. Nghiên cứu cũng phát 19 hiện ra mối quan hệ nghịch biến giữa cơ hội tăng trưởng và chi trả cổ tức ở các doanh nghiệp mà nhà nước nắm quyền chi phối. Nghiên cứu của Claessens và Djankov (2009), bằng phân tích thực nghiệm trên thị trường Cộng hòa Séc, sử dụng mẫu 706 công ty trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 1997, nhóm tác giả tìm thấy kết quả sở hữu tập trung càng cao thì khả năng sinh lợi của công ty và năng suất lao động cũng tăng cao. Nghiên cứu cũng cho biết vốn sở hữu tập trung sẽ cho phép các chủ sở hữu giám sát các nhà quản lý tốt hơn bằng cách tham gia vào hội đồng quản trị. Tỷ trọng sở hữu tập trung càng lớn thì nhu cầu giám sát càng cao. Vào năm 2009, các nhóm tác giả Kouki M và Guizani M tập trung vào việc xác định quyết định về chính sách cổ tức của các doanh nghiệp ở Ba Lan và kiểm tra việc quản lý doanh nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Warsaw. Sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá chất lượng quản lý cho 100 công ty phi tài chính trong mẫu nghiên cứu. Nhóm tác giả cho ra kết quả, các công ty càng lớn và có nhiều lợi nhuận thì khả năng chi trả cổ tức càng cao. Các công ty có tỷ lệ đòn bẩy càng cao thì chi trả cổ tức càng thấp. Nghiên cứu lập luận rằng các công ty có vốn sở hữu tập trung thì phân phối nhiều cổ tức hơn cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ vốn sở hữu tập trung và việc chi trả cổ tức. Một nghiên cứu vào năm 2010 được thực hiện bởi Ramli, N.M, bài nghiên cứu tập trung vào tác động của sở hữu cổ đông lớn và chính sách cổ tức của các công ty ở Malaysia. Sử dụng dữ liệu bảng từ năm 2002 đến năm 2006, mẫu gồm 245 công ty phi tài chính trên sàn giao dịch chứng khoán Malaysia, tác giả tìm thấy bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu về các công ty niêm yết ở Malaysia, nơi mà cấu trúc sở hữu có xu hướng tập trung nhiều, tác giả phát hiện rằng phần góp của các cổ đông lớn tăng thì các công ty sẽ điều chỉnh để chi trả cổ tức cao hơn do các cổ đông đa số ảnh hưởng lớn hơn đối với chính sách chi trả cổ tức và thích chia cổ tức hơn. 20 Trong chương 2, tác giả đã trình bày cơ sở lý thuyết về chính sách cổ tức. Đúc kết các bằng chứng thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty.Qua các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới, cho thấy tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty thể hiện theo các xu hướng là: thứ nhất, có mối tương quan cùng chiều giữa vốn sở hữu của tổ chức, vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, vốn sở hữu của nhà nước và tỷ lệ chi trả cổ tức; thứ hai, có một mối tương quan nghịch biến giữa vốn sở hữu của nhà quản lý và tỷ lệ chi trả cổ tức. 21 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả sẽ trình bày cỡ mẫu và các nguồn thu thập dữ liệu, những mô hình được sử dụng trong nghiên cứu cũng như định nghĩa các biến số khác nhau được sử dụng trong nghiên cứu. 3.1. Phương pháp và mô hình nghiên cứu 3.1.1. Phương pháp nghiên cứu Mô hình nghiên cứu của bài sử dụng dữ liệu bảng (panel data) được hồi quy theo ba cách: Pooling, Random Effect (hiệu ứng ngẫu nhiên), và Fixed Effect (hiệu ứng cố định). Để tìm hiểu xem phương pháp hồi quy nào là phù hợp nhất trong 3 phương pháp trên, tác giả sử dụng hai kiểm định là Likelihood và Hausman. Tác giả sử dụng kiểm định DickeyFuller để kiểm định tính dừng các biến của mô hình ước lượng. Sau khi lựa chọn được phương pháp hồi quy thích hợp, tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (LS) để ước lượng các mô hình nghiên cứu được trình bày dưới đây. 3.1.2. Mô hình nghiên cứu 3.1.2.1. Mô hình ước lượng Các bài nghiên cứu gần đây hầu như đều sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để kiểm định giả thuyết về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và tỷ lệ chi trả cổ tức. Theo sau các tác giả trước, trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để ước lượng tỷ lệ chi trả cổ tức theo các nhân tố, qua đó cho thấy tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty. Các mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên nghiên cứu nhóm tác giả Hamid Ullah, Asma Fida, Shafiullah Khan tại thị trường mới nổi Pakistan năm 2012. Tác giả đã sử dụng bốn mô hình để đánh giá tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách 22 cổ tức của công ty. Trong mô hình đầu tiên, biến vốn sở hữu của nhà quản lý và các biến yếu tố nội tại sẽ được sử dụng làm biến giải thích cho tỉ lệ chi trả cổ tức. Tiếp theo, ở mô hình thứ hai, biến vốn sở hữu của tổ chức sẽ được sử dụng đồng thời với biến vốn sở hữu của nhà quản lý và các biến yếu tố nội tại. Mô hình thứ ba, biến vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài được kết hợp với biến vốn sở hữu của tổ chức và vốn sở hữu của nhà quản lý để giải thích chính sách chi trả cổ tức của các công ty trong cỡ mẫu. Ở Việt Nam, việc tham gia của phần vốn sở hữu của Nhà nước vào một doanh nghiệp là tương đối phổ biến, nên trong mô hình thứ tư, tác giả xem xét thêm mối tương quan giữa vốn sở hữu của nhà nước đối với tỷ lệ chi trả cổ tức. Các mô hình hồi quy chi tiết như sau: Mô hình 1 Mô hình đầu tiên thể hiện mối quan hệ giữa chính sách cổ tức doanh nghiệp và tỷ trọng vốn sở hữu của nhà quản lý cùng với các biến nội tại của doanh nghiệp như đòn bẩy, quy mô công ty và hệ số BETA. DIV 0 1MSO 2 BETA 3LEV 4 F.Si i Mô hình 2 Trong mô hình thứ hai, biến vốn sở hữu của tổ chức sẽ kết hợp với biến vốn sở hữu của nhà quản lý để kiểm tra ảnh hưởng của tỷ trọng vốn sở hữu của tổ chức lên chính sách cổ tức của doanh nghiệp. DIV 0 1MSO 2INST 3BETA 4LEV 5F.Si i Mô hình 3 Trong mô hình 3, một biến khác được đưa vào cùng với biến vốn sở hữu của nhà quản lý và biến vốn sở hữu của tổ chức chính là biến tỷ trọng vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đóng góp vào vốn sở hữu. 23 DIVi 0 1MSO 2 INST 3 FORG 4 LEV 5 F.Si 6 BETA i Mô hình 4 Trong mô hình 4, một biến khác được đưa vào cùng với biến vốn sở hữu của nhà quản lý, biến vốn sở hữu của tổ chức và biến vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài chính là biến tỷ trọng vốn sở hữu của nhà nước đóng góp vào vốn sở hữu. DIVi 0 1MSO 2 INST 3 FORG 4 Statei 5 LEV 6 F.Si 7 BETA i 3.1.2.2. Mô tả biến và các giả thuyết nghiên cứu Mô tả biến sử dụng trong mô hình ước lượng Tỷ lệ chi trả cổ tức (DIV) Tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt của doanh nghiệp được tính bằng phần trăm cổ tức tiền mặt trên thu nhập mỗi cổ phần (EPS). Vốn sở hữu của nhà quản lý (MSO) Trong nghiên cứu, biến số vốn sở hữu của nhà quản lý được định nghĩa là tỷ trọng tổng phần vốn góp của các nhà quản lý điều hành, giám đốc và những đối tượng liên quan. Vốn sở hữu của nhà quản lý chỉ bao gồm cổ phần sở hữu thuộc cá nhân của họ, không bao gồm cổ phần họ đại diện. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho thấy các kết quả khác nhau về vai trò của vốn sở hữu của nhà quản lý. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng vốn sở hữu của các nhà quản lý chiếm tỷ trọng cao sẽ mang lại lợi ích cho nhà quản lý và các cổ đông vì đã tối thiểu hóa mâu thuẫn quyền lợi các nhà quản lý sẽ toàn tâm toàn ý hơn cho công ty. Theo nghiên cứu của Crutchley và Hansen (1989), chính sách cổ tức và tỷ trọng sở hữu của nhà quản lý có mối liên kết với nhau; cụ thể tỷ trọng sở hữu của các nhà quản lý càng cao sẽ làm gi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 3Bảng 3.1 Tóm tắt các biến trong mô hình ước lượng
26
Bảng 3.2 Dự báo mối quan hệ giữa biến độc lập vào chính sách chi trả cổ tức 29
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả các biến của mô hình
31
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan các biến của mô hình
32
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định Likelihood mô hình 1
34
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình 1
35
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định Likelihood mô hình 2
36
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình 2
37
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Likelihood mô hình 3
38
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình 3
39
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Likelihood mô hình 4
40
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình 4
41
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định tính dừng biến DIV
42
Bảng 4.12 Kết quả kiểm định tính dừng biến MSO
43
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định tính dừng biến INST
43
Trang 4Bảng 4.14 Kết quả kiểm định tính dừng biến FORG
44
Bảng 4.15 Kết quả kiểm định tính dừng biến STATE
44
Bảng 4.16 Kết quả kiểm định tính dừng biến FS
45
Bảng 4.17 Kết quả kiểm định tính dừng biến LEV
45
Bảng 4.18 Kết quả kiểm định tính dừng biến BETA
46
Bảng 4.19 Tổng hợp kết quả kiểm định tính dừng các biến
46
Bảng 4.20 Kết quả hồi quy mô hình 1
47
Bảng 4.21 Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình 1
48
Bảng 4.22 Kết quả hồi quy mô hình 2
49
Bảng 4.23 Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình 2
50
Bảng 4.24 Kết quả hồi quy mô hình 3
52
Bảng 4.25 Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình 3
53
Bảng 4.26 Kết quả hồi quy mô hình 4
55
Bảng 4.27 Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình 4
56
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Thị Uyên Uyên
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công b
Tác giả
Võ Tiến Bình
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HOSE : Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6TTCK : Thị trường chứng khoán
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT
1
CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 2
1.1 Lý do chọn đề tài
2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và các vấn đề nghiên cứu
2
1.3 Phương pháp nghiên cứu
3
1.4 Ý nghĩa của đề tài
3
1.5 Kết cấu của đề tài
4
CHƯƠNG 2 – CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘ
NG
CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÔ
NG
Trang 7TY
5
2.1 Cơ sở lý thuyết
5
2.1.1 Cơ sở lý thuyết về chính sách cổ tức
5
2.1.2 Chi phí đại diện, lý thuyết phát tín hiệu
7
2.2 Những bằng chứng thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở h ữu lên chính sách cổ tức của công ty
10
2.2.1 Vốn sở hữu của nhà quản lý và chính sách cổ tức
10
2.2.2 Vốn sở hữu của các định chế và chính sách cổ tức
12
2.2.3 Vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và chính sách cổ tức
14
2.2.4 Vốn sở hữu của nhà nước và chính sách cổ tức
16
CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Phương pháp và mô hình nghiên cứu
21
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu
21
Trang 83.1.2 Mô hình nghiên cứu
Trang 94.2 Kết quả hồi quy
Trang 10dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) Mô hình nghiên cứu của đề tài sử dụng dữ
liệu bảng (panel data) được hồi quy theo 3 cách: Pooling, Random Effect (hi
chi trả cổ tức, tuy nhiên các mối quan hệ này không mang ý nghĩa thống kê
Từ khóa: chính sách cổ tức, cấu trúc sở hữu, chi phí đại diện
Trang 11nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới một trong những lý do được trích dẫn nhiều
nhất để giải thích tại sao các công ty lại chi trả cổ tức đó là lý thuyết chi phí đại
diện Dựa trên lý thuyết chi phí đại diện, các nghiên cứu gần đây đã tập tru
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu và các vấn đề nghiên cứu
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều bằng chứng thực nghiệm trên thế giới t
bài nghiên cứu sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Một là, kiểm định mối tương quan giữa chính sách chi trả cổ tức của các côn
g ty và
cấu trúc sở hữu theo mô hình đơn biến
Hai là, kiểm định mối tương quan giữa chính sách chi trả cổ tức của các côn
g ty và
cấu trúc sở hữu theo các mô hình đa biến
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sử dụng các nghiên cứu trước đây để làm cơ sở cho vi
Trang 13www.cophieu68.com…Để tiến hành phân tích dữ liệu, tác giả sử dụng
để phân tích dữ liệu và chạy mô hình hồi quy
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt học thuật: Đề tài bổ sung thêm vào các bằng chứng thực nghiệm
về tác
động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty Là một tài liệ
u tham
khảo cho các nghiên cứu liên quan sau này
Về mặt thực tiễn: đề tài này giúp các công ty nhìn nhận rõ hơn tác động c
Trang 141.5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần tóm tắt, danh mục bảng, danh mục chữ viết tắt, tài liệu tham khảo và
phụ lục, nội dung của đề tài này bao gồm 5 chương được trình bày như sau:
Chương 1 - Giới thiệu đề tài Trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đ
ề tài,
xác định mục tiêu nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, sử dụng phương pháp nghiên
cứu, ý nghĩa và bố cục của đề tài
Chương 2 - Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở hữu lên
chính sách cổ tức của công ty Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý t
huyết
về chính sách cổ tức và đưa ra các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới
về tác
động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công ty
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả sẽ làm là
m rõ
phương pháp nghiên cứu, như là cách thu thập số liệu, sử dụng phương pháp nghiên
cứu nào, mô hình nghiên cứu ra sao
Chương 4 - Tác động của cấu trúc sở hữu lên chính sách cổ tức của công t
Trang 15nghiệm trên trên thế giới trước đó.
Chương 5 - Kết luận Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được
Trang 16tức ở hầu hết các thị trường vốn trên thế giới, vì thế chính sách cổ tức có tá
Trang 17V.; Booth, L.; Cleary, S.; 2001) Các tác giả đã so sánh một mẫu các công t
cổ tức cao hơn các công ty trong nền kinh tế phát triển
- Fama và French (2001) cho rằng chính sách cổ tức của các công ty
thấp hoặc không chi trả
- Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Lương (2008) đã lập luận rằng việc lựa
Trang 18chọn chính sách cổ tức có tầm quan trọng rất lớn đối với doanh nghiệp Sự sẵ
nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Nhìn chung, có rất nhiều lý thuyết cũng như thực nghiệm nhằm lý giải các yếu tố
tác động đến chính sách chia cổ tức của các công ty ở thị trường đang phát triển và
phát triển
7
2.1.2 Chi phí đại diện, lý thuyết phát tín hiệu
Chi phí đại diện
Lý thuyết đại diện được Jensen và Meckling (1976) đưa ra xuất phát từ mâu thuẫn
lợi ích giữa các nhà quản lý công ty cổ phần (người đại diện) và các cổ đông (người
sở hữu) Trong môi trường bất cân xứng thông tin, mâu thuẫn này sẽ làm ph
Trang 19các nhà quản lý) và nếu có nhu cầu đầu tư mới, công ty có thể huy động nguồn tài
trợ bên ngoài Gia tăng nguồn vốn bên ngoài buộc công ty phải chịu sự kiể
tăng cổ tức và ngược lại
Rozeff (1982) và Easterbrook (1984) lập luận rằng việc chi trả cổ tức bu
duy trì nguồn tiền mặt dưới sự kiểm soát của mình
Về mặt này, Zeckhauser và Pound (1990) cho rằng cổ đông định chế có t
Trang 20tức, điều này làm cho các công ty buộc phải tìm đến các thị trường vốn bên ngoài.
Eckbo và Verma (1994) phân tích thực nghiệm từ mẫu bao gồm 308 công t
nhà đầu tư này buộc các nhà quản lý phải chi trả cổ tức
Một nghiên cứu khác của Short và cộng sự (2002), khi tiến hành xem x
Trang 21sách chi trả cổ tức có thể sử dụng để kiểm soát vấn đề đầu tư tràn lan của côn
g ty và
hai ông cũng nhận thấy rằng mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông về
chính sách cổ tức cũng thay đổi theo các cơ hội phát triển của công ty
Leal và Carvalhal-da-Silva (2007) nghiên cứu tại thị trường Brazil cho rằng vấn đề
đại diện xuất hiện khi nhà quản lý không cố gắng để tối đa hóa giá trị cổ đông
Ullah và cộng sự (2012) tiến hành phân tích định lượng dựa trên mẫu bao g
thể hạn chế hành vi trục lợi của nhà quản lý
Nghiên cứu của Trần Nguyễn Minh Hải (2012), đã trình bày những vấn đề
Trang 22Tác giả Phạm Thị Duy Linh (2013), qua nghiên cứu thực nghiệm tại thị trườn
khá chặt chẽ với vấn đề chi phí đại diện Chi trả cổ tức là một cách giúp công ty
giảm bớt chi phí đại diện
(Bhattacharya, 1979, 1980; Miller và Rock, 1985; Li và Zhao, 2008)
Zeckhauser và Pound (1990) điều tra 286 công ty từ 22 ngành công nghiệ
Trang 23chế việc sử dụng cổ tức làm tín hiệu, vì bản thân việc các cổ đông lớn tham gia góp
vốn cũng được xem là một tín hiệu tốt do các cổ đông này có tầm ảnh hưởn
Trang 24định chế không tự coi mình như tín hiệu thay thế Ngoài ra, các định chế cầ
ty có triển vọng tốt hơn so với mức trung bình
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hải Lý (2012), cho rằng ở một mức độ nào
2.2.1 Vốn sở hữu của nhà quản lý và chính sách cổ tức
Trước đây đã có rất nhiều nghiên cứu xem xét về mối quan hệ giữa phần sở h
Trang 25không được chi trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức, người quản lý có thể thay đổi
mục tiêu hướng các quyết định của mình nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhâ
vay nợ của công ty
Năm 1994, nhóm tác giả B.Espen Eckbo và Savita Verma qua phân tíc
Trang 26công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Luân Đôn trong giai đoạn từ nă
ngược chiều với tỷ lệ chi trả cổ tức ở các tập đoàn ngân hàng
Mehrani và cộng sự (2011) nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Tehran
Trang 27sự (2002): Mô hình Lintner (1956) (mô hình điều chỉnh toàn phần và mô hìn
Trang 28lớn vào nhiều công ty khác nhau Do đó, các định chế này rất có ảnh hưởn
Trang 29Eckbo và Vemia (1994) phân tích thực nghiệm từ mẫu bao gồm 308 công t
vào mối quan hệ có trọng số của các vấn đề như thuế, chi phí đại diện và vấn đề
phát tín hiệu như trong nghiên cứu của Short và cộng sự (2002), khi tiến hàn
Trang 30không đánh thuế chồng chéo đối với cổ tức và cũng có những quy định miễ
Trang 31quan hệ ngược chiều giữa chính sách chi trả cổ tức và tỷ trọng vốn sở hữu của tổ
2.2.3 Vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và chính sách cổ tức
Mối quan hệ giữa vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và chính sách chi trả
Trang 32Kumar (2003) tiến hành nghiên cứu tại thị trường chứng khoán Ấn Độ tro
của công ty
Trong khi đó, Covrig và cộng sự (2006) nghiên cứu các nhà quản lý quỹ tron
nổi tiếng trên toàn cầu
Baba (2009) phân tích dữ liệu của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tokyo
tại Nhật Bản, bằng việc sử dụng mô hình lựa chọn chi trả, kết hợp phươn
g pháp
logit nhị phân Random effect, đã cho thấy rằng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
Trang 33càng cao thì càng làm tăng khả năng chi trả cũng như lượng cổ tức tiền mặt.Tương tự, Jeon và cộng sự (2011) nghiên cứu các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Hàn Quốc (KRX) trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 200
hưởng đến mức cổ tức nhiều hơn sở hữu trong nước
Warrad và cộng sự (2012) dựa trên mẫu gồm 168 quan sát các công ty sả
Trang 34trên sàn chứng khoán Karachi đại diện bởi chỉ số KSE 100 của Pakistan tro
Trang 35hồi quy OLS, cũng cho rằng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không ảnh hưởng
đến mức chi trả cổ tức của công ty
Các kết quả nghiên cứu trước đây trên thế giới, cho thấy kết quả đa dạng
về mối
quan hệ giữa tỷ trọng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với tỷ lệ chi trả c
ổ tức
2.2.4 Vốn sở hữu của nhà nước và chính sách cổ tức
Nghiên cứu của Glen và cộng sự (1995) xác định chính sách cổ tức trong các thị
trường mới nổi có nhiều khác biệt so với các thị thường phát triển Các côn
thiểu số bằng cách buộc các cổ đông nội bộ chi ra tiền mặt
Wei và cộng sự (2003) nghiên cứu trên dữ liệu bảng của mẫu gồm 3,994 quan sát
các công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Thượng Hải (SHSE) và Thâm Quyến
Trang 36(SZSE) tại Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2001, bằng chuỗi các
hồi quy Logit đã tìm thấy bằng chứng rằng sở hữu của nhà nước có tác độ
Trang 37từ năm 1989 đến năm 2000, nghiên cứu kiểm định các nhân tố tác động đến mức độ
chi trả cổ tức Kết quả cho thấy vốn sở hữu của nhà nước có tác động cùng chiều
đến cổ tức chi trả Ngoài ra, các nhân tố khác như quy mô, số năm hoạt động
và lợi
nhuận công ty có tác động cùng chiều và có ý nghĩa đến chính sách cổ tức.Al-Kuwari trong hai nghiên cứu (2009, 2010) xem xét tác động của chi phí đại diện
và chính sách cổ tức, đã thấy rằng sở hữu của nhà nước là một yếu tố qua
Trang 38ty càng tăng thì tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty càng cao.
Như vậy, các nghiên cứu trước đây ủng hộ kết quả về mối tương quan cùng chiều
giữa tỷ trọng sở hữu của nhà nước và tỷ lệ chi trả cổ tức
Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu khác về chủ đề tác động của cấu trúc sở h
Trang 39quyền kiểm soát do sở hữu tập trung và chính sách chi trả cổ tức.
Vào năm 2005, nghiên cứu Mitton T đã sử dụng mẫu gồm 365 công ty tại 1
doanh nghiệp mà nhà nước nắm quyền chi phối
Nghiên cứu của Claessens và Djankov (2009), bằng phân tích thực nghiệm trên thị
trường Cộng hòa Séc, sử dụng mẫu 706 công ty trong giai đoạn từ năm 19
Trang 40bằng cách tham gia vào hội đồng quản trị Tỷ trọng sở hữu tập trung càng l
ớn thì
nhu cầu giám sát càng cao
Vào năm 2009, các nhóm tác giả Kouki M và Guizani M tập trung vào vi
Trang 41tài chính trong mẫu nghiên cứu Nhóm tác giả cho ra kết quả, các công ty cà
biến giữa tỷ lệ vốn sở hữu tập trung và việc chi trả cổ tức
Một nghiên cứu vào năm 2010 được thực hiện bởi Ramli, N.M, bài nghiên c
Trang 42của công ty.Qua các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới, cho thấy tác độ
CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày cỡ mẫu và các nguồn thu thập dữ liệu, những
mô hình được sử dụng trong nghiên cứu cũng như định nghĩa các biến số khá
c nhau
được sử dụng trong nghiên cứu
3.1 Phương pháp và mô hình nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu của bài sử dụng dữ liệu bảng (panel data) được hồi quy theo ba
cách: Pooling, Random Effect (hiệu ứng ngẫu nhiên), và Fixed Effect (hiệu ứng cố
định) Để tìm hiểu xem phương pháp hồi quy nào là phù hợp nhất trong 3 phương
pháp trên, tác giả sử dụng hai kiểm định là Likelihood và Hausman
Tác giả sử dụng kiểm định Dickey-Fuller để kiểm định tính dừng các biến của mô
Trang 43bày dưới đây.
3.1.2 Mô hình nghiên cứu
3.1.2.1 Mô hình ước lượng
Các bài nghiên cứu gần đây hầu như đều sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để
kiểm định giả thuyết về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và tỷ lệ chi trả
Ullah, Asma Fida, Shafiullah Khan tại thị trường mới nổi Pakistan năm 201
Trang 44đòn bẩy, quy mô công ty và hệ số BETA.
DIV 0 1MSO 2 BETA 3LEV 4 F.
Trang 45Bảng 3.1 Tóm tắt các biến trong mô hình ước lượng
Vốn sở hữu của nhà
Tỷ trọng vốn cổ phần sở hữu -Tổng số vốn cổ phần phát hành
Vốn sở hữu của các tổ
Tỷ trọng vốn cổ phần sở hữu -Tổng số vốn cổ phần phát hành
Vốn sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài FORG
Tỷ trọng vốn cổ phần sở hữu -Tổng số vốn cổ phần phát hành
Hiệp phương sai của tỷ suất sinh lời củachứng khoán và tỷ suất sinh lời của thị trường -Phương sai của tỷ suất sinh lợi thị trường
Đòn bẩy tài chính LEV
Tổng nợ -Tổng tài sản
Trang 46chính là biến tỷ trọng vốn sở hữu của nhà nước đóng góp vào vốn sở hữu.
5 LEV
3.1.2.2 Mô tả biến và các giả thuyết nghiên cứu
Mô tả biến sử dụng trong mô hình ước lượng
Tỷ lệ chi trả cổ tức (DIV)
Tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt của doanh nghiệp được tính bằng phần trăm cổ t
ức tiền
mặt trên thu nhập mỗi cổ phần (EPS)
Vốn sở hữu của nhà quản lý (MSO)
Trong nghiên cứu, biến số vốn sở hữu của nhà quản lý được định nghĩa là t