Lý do nghiên cứu đề tài 1.1.Trong quá trình phi thực dân hoá ở Việt Nam diễn ra từ 1904 đến 1945 mà mốc biến đổi vĩ đại là cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc vận động cách mạng do
Trang 1Các cuộc vận động dân chủ trong quá trình phi thực dân hoá ở Việt Nam, giai đoạn 1904 -
1945 NguyễnThị Thanh Thuỷ
Trường Đại học KHXH&NV Luận văn ThS ngành: Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại Mã số: 62 22 54 05
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Hồng Tung
Keywords: Lịch sử Việt Nam; Cuộc vận động dân chủ; Phi thực dân hóa; Giai đoạn 1904 - 1945
Content:
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu đề tài 1
2 Nội dung nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.2 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của Luận án 3 2.2.1 Cơ sở lý luận và nguồn tư liệu của Luận án 3
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài Luận án 5
2.3 Phạm vi nghiên cứu 6
2.4 Đối tượng nghiên cứu 7
2.5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Luận án 8
2.5.1 Ý nghĩa khoa học 8
2.5.2.Ý nghĩa thực tiễn 9
3 Kết cấu của Luận án 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 1904 - 1945 10
1.1.Các nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài 20
1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 23
CHƯƠNG 2: CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1904 - 1945: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG CHÍNH 26
2.1 Khái niệm “dân chủ”, “cuộc vận động dân chủ”, “quá trình phi thực dân hoá” và một số khía cạnh của vấn đề dân chủ 26
2.1.1 Khái niệm về “dân chủ”, “cuộc vận động dân chủ” và một số khía cạnh của vấn đề dân chủ 26
2.1.2 Về khái niệm “Quá trình phi thực dân hóa” 30
2.2 Một số yếu tố tác động chính đến các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam giai đoạn 1904 - 1945 31
2.2.1.Thiết chế chính trị và truyền thống dân chủ làng xã ở Việt Nam trước thời cận đại 31
2.2.2 Chính sách cai trị của thực dân Pháp 36
2.2.3 Ảnh hưởng của tình hình thế giới tới Việt Nam 45
Trang 32.2.4 Sự biến đổi về kinh tế, xã hội và văn hoá tư tưởng ở Việt Nam 48 CHƯƠNG 3: CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM
1904 - 1908 55 3.1 Sự du nhập tư tưởng dân chủ phương Tây vào Việt Nam 55 3.1.1 Khái lược quá trình du nhập tư tưởng dân chủ phương Tây vào Việt Nam 55 3.1.2 Đặc điểm của nội dung tư tưởng dân chủ được du nhập từ phương Tây vào Việt Nam 58 3.2 Nội dung chủ yếu của các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam những năm 1904 -
1908 60 3.2.1 Quan niệm mới của các nhà Nho duy tân về vai trò của người dân và
sự khởi xướng các cuộc vận động dân chủ để duy tân, cứu nước 60 3.2.2 Xác định những mô hình chính trị mới của quốc gia Việt Nam sau khi giành được chủ quyền dân tộc 71 3.2.3 Sự gắn kết giữa cuộc vận động duy tân với cuộc vận động cứu nước 77 3.2.4 Tác động thực tiễn của các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam những năm 1904 - 1908 79 3.3 Tiểu kết chương 3 81 CHƯƠNG 4: CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 1939 85 4.1 Vài nét về một số cuộc vận động dân chủ đầu tiên theo xu hướng mới 85 4.2 Một số yếu tố quan trọng tác động đến các cuộc vận động dân chủ từ năm1918 đến năm 1939 90 4.3 Các cuộc vận động dân chủ từ năm 1918 đến năm 1939 103 4.3.1 Cuộc vận động dân chủ của Đảng Lập Hiến ở Nam Kỳ những năm 1923 -
1926 103 4.3.2 Cuộc vận động của Nguyễn An Ninh (1923 - 1926) 106 4.3.3 Phong trào đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh và hoạt động của Đảng Thanh Niên 109 4.3.4 Cuộc vận động qua báo chí của Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong ở Bắc
Kỳ 114 4.3.5 Cuộc vận động chính trị của giáo phái Cao Đài (1926 - 1939) 117 4.3.6.Cuộc vận động nữ quyền trên báo chí công khai 119
Trang 44.3.7 Trào lưu văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán trong cuộc vận động giải phóng con người, giải phóng xã hội (1930 - 1939) 124 4.3.8 Cuộc vận động dân tộc, dân chủ của Việt Nam Quốc dân Đảng 128 4.3.9 Các cuộc vận động dân tộc, dân chủ dưới ngọn cờ của những người cộng sản (1925 - 1939) 130 4.4 Tiểu kết chương 4 151 CHƯƠNG 5: CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN TỘC, DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM
1939 ĐẾN NĂM 1945 155 5.1 Vài nét về bối cảnh của cuộc vận động dân tộc, dân chủ ở Việt Nam từ năm 1939 đến năm 1945 155 5.2 Nội dung của cuộc vận động dân tộc, dân chủ ở Việt Nam giai đoạn 1939 – 1945 159 5.2.1 Sự chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương 159 5.2.2 Quá trình tập hợp, xây dựng lực lượng của cách mạng ở khu vực nông thôn 162 5.2.3 Quá trình tập hợp xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương ở khu vực thành thị 169 5.2.4 Tính chất nhân dân và dân chủ của cuộc giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám 184 5.3 Tiểu kết chương 5 189 KẾT LUẬN 192 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 199 TÀI LIỆU THAM KHẢO 200
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
1.1.Trong quá trình phi thực dân hoá ở Việt Nam diễn ra từ 1904 đến
1945 mà mốc biến đổi vĩ đại là cuộc Cách mạng tháng Tám năm
1945, cuộc vận động cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo với mục tiêu dân tộc và dân chủ là yếu tố chủ đạo Tuy nhiên bên cạnh đó, còn có những cuộc vận động dân chủ do các lực lượng xã hội khác tiến hành nhưng cuối cùng đều tương tác và hợp chung lại dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
để thực hiện thắng lợi cuộc khởi nghĩa tháng Tám giành lại quyền tự chủ cho dân tộc
1.2 Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về các cuộc vận
động dân chủ do các lực lượng xã hội khác nhau lãnh đạo Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chung về các cuộc vận động dân chủ tiêu biểu ở Việt Nam từ năm 1904 đến năm 1945 dưới một hệ qui chiếu chung là quá trình phi thực dân hoá nên chưa mang lại một cái nhìn toàn diện và biện chứng về lịch sử dân tộc Việt Nam
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là làm sáng tỏ lịch sử của các cuộc vận động dân chủ trong quá trình phi thực dân hóa ở Việt Nam từ 1904 đến 1945 Trên cơ sở đó nhiệm vụ nghiên cứu của Luận
án là phải làm rõ các khái niệm “dân chủ”, “các cuộc vận động dân chủ”, “quá trình phi thực dân hoá” Luận án cũng có nhiệm vụ lí giải
và khẳng định các cuộc vận động trực tiếp vì mục đích độc lập dân tộc cũng không nằm ngoài phạm vi của cuộc vận động dân chủ Luận
án cũng đặt các cuộc vận động dân chủ trong phạm vi rộng lớn hơn là cuộc vận động giải phóng con người, giải phóng xã hội khá rộng lớn thời cận đại (diễn ra trên mọi lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế, văn hóa, tư tưởng…) để nghiên cứu
Trang 62.2 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của Luận án
2.2.1 Cơ sở lý luận và nguồn tư liệu của Luận án
Luận án dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin về cách mạng xã hội, về cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới Luận án cũng dựa trên các quan điểm lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam
Nguồn tư liệu của Luận án chủ yếu là tư liệu thành văn trong
đó được phân loại thành hai nguồn chính: tư liệu sơ cấp (primary sources) và tư liệu thứ cấp (secondary) Trong đó nhóm tư liệu sơ cấp
có giá trị nhất là bộ Văn kiện Đảng toàn tập và Hồ Chí Minh toàn
tập Nhóm tư liệu thứ cấp bao gồm khối lượng tài liệu khá phong phú
trong đó nổi bật có nhóm công trình Hồi ký
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài Luận án
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp lịch
sử, phương pháp lô gic, mô tả, phân tích, so sánh tài liệu…
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Những khu vực của Việt Nam nơi diễn ra các cuộc vận động dân chủ tiêu biểu như: Hà nội, Hồ Chí Minh, Quảng Nam, Nghệ an…
Thời gian: Từ năm 1904 đến năm 1945
Nội dung nghiên cứu: chỉ lựa chọn các nội dung tiêu biểu của cuộc vận động dân chủ tiêu biểu đặt trong hệ qui chiếu là quá trình phi thực dân hoá ở Việt Nam
2.4 Đối tượng nghiên cứu
- Các cuộc vận động dân chủ được đặt trong một hệ luận là giải phóng dân tộc, khôi phục nền độc lập của quốc gia gắn liền với giải phóng con người, giải phóng xã hội và với con đường phát triển mới là hiện đại hoá toàn diện đất nước Việt Nam
- Đó là những cuộc vận động dân chủ tiêu biểu có các nội dung khác nhau trong những giai đoạn như: 1904 - 1908, 1918- 1939,
1939 - 1945 Trong đó, cuộc vận động dân tộc bao hàm yếu tố dân
Trang 7chủ ở mức độ cao nhất và quyết liệt nhất.Vì vậy cuộc vận động giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo và đoàn kết lực lượng của toàn dân đồng thời có tính chất dân chủ nhất
2.5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Luận án
2.5.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án sẽ góp phần mang lại những nhận thức mới về nội dung của vấn đề dân chủ và lịch sử của các cuộc vận động dân chủ một cách toàn diện, kể cả trước và sau khi có Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhân dân làm cuộc cách mạng tư sản dân quyền
Luận án cũng đưa ra kiến giải về mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân chủ và nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm rõ ý nghĩa của toàn bộ cuộc vận động dân chủ trong quá trình phi thực dân hóa ở Việt Nam
và đúc kết lại những bài học kinh nghiệm lịch sử để liên hệ với giai đoạn hiện nay
2.5.2.Ý nghĩa thực tiễn
Luận án hoàn thành sẽ đóng góp một nghiên cứu mới về các cuộc vận động dân chủ trong quá trình phi thực dân hoá ở Việt Nam thời cận đại và có thể dùng để phục vụ giảng dạy, nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ phổ thông đến đại học, ở Việt Nam và cả ở nước ngoài
3 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của Luận án được
kết cấu làm 5 chương: (Chương1:Tổng quan tình hình nghiên cứu về
các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam Chương 2: Các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam giai đoạn 1904 – 1945:Một số khái niệm
cơ bản và yếu tố tác động chính Chương 3: Các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam những năm 1904 - 1908 Chương 4: Các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1939 Chương 5: Cuộc vận động dân tộc, dân chủ ở Việt Nam từ năm1939 đến năm1945 Ngoài 3 phần chính, Luận án còn có phần ghi tài liệu tham
khảo và danh mục những công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án của tác giả
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CUỘC
VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
1.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Nhóm công trình lý luận của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng
sản Việt Nam:Tiêu biểu nhất là bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ngoài ra
còn các tác phẩm của Trường Chinh, Lê Duẩn và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là bộ Văn kiện Đảng toàn tập do
Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản
Nhóm công trình lý luận chung về vấn đề dân chủ như:
Thuyết "Tam quyền phân lập" và nhà nước tư sản hiện đại do Đinh
Ngọc Vượng (CB) (1992), Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ
nghĩa do Thái Ninh – Hoàng Chí Bảo (CB) (1991)
Nhóm các công trình về sự phát triển tư tưởng dân chủ ở
Việt Nam và các nhân vật, phong trào dân chủ tiêu biểu ở Việt Nam
từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 gồm các tác phẩm tiêu biểu như:
"Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám" (3 tập) của Trần Văn Giàu (1973,1993), Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh của Đỗ Thị Hoà Hới (1996), Đông Kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX, Nghiên cứu Phan Bội Châu (2004), Phan Bội Châu, nhà yêu nước, nhà văn hoá lớn (2005) của tác giả Chương Thâu, Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt Nam (1958) của
tác giả Tôn Quang Phiệt
Về phong trào Duy tân, có tác phẩm Phong trào Duy tân của Nguyễn Văn Xuân (1938) và sau đó là Phan Châu Trinh, cuộc đời và
tác phẩm (2006), Huỳnh Thúc Kháng, con người và thơ văn (2006)
của Nguyễn Q.Thắng, Luận án tiến sĩ năm 2012 tại Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội của Trương Thị Dương với đề tài: “Phong trào Duy tân ở Việt Nam đầu thế kỷ XX (1903 -1908)”
Viết về Nguyễn An Ninh, một chí sĩ yêu nước nổi bật ở Việt
Nam vào những năm 1920 có tác phẩm Nguyễn An Ninh của tác giả
Nguyễn An Tịnh (1996)
Trang 9Về một số nhân vật có đóng góp về văn hoá như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã có một số công trình gần đây nghiên cứu như“Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với việc
phát triển báo chí tiếng Việt và truyền bá quốc ngữ” ( Tạp chí Nghiên
cứu Lịch sử số 5.2004) và công trình: “Văn trên Nam phong tạp chí,
diện mạo và thành tựu” của Nguyễn Đức Thuận (2008)
Về các tổ chức chính trị và các cuộc vận động dân chủ sau
chiến tranh I đến 1945 có các tác phẩm: Việt Nam Quốc dân Đảng
trong lịch sử cách mạng Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Khánh
(2005), Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945 (2008) của Đặng Thị Vân Chi, Lịch sử cuộc vận động vì các quyền dân sinh,
dân chủ ở Việt Nam (1936 - 1939) (2008) của Phạm Hồng Tung
1.2.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu của các học giả nước ngoài về các cuộc vận động dân chủ trong giai đoạn 1904 - 1945 gồm một số tác phẩm tiêu
biểu như:Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945 (1982),
Vietnam 1945: The Quest for Power (1995) của David G Marr và
cuốn Community and Revolution in Modern Vietnam (1976) của
Alexander B Woodside
1.3.Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về cáccuộc vận động dân chủ nhưng cho đến nay, về các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam còn khá nhiều “khoảng trống”: về mốc thời gian, về nội dung nghiên cứu trong đó: các nhận định đánh giá nhân vật và phong trào dân chủ của từng giai đoạn lịch sử vẫn còn nhiều nét dị biệt, chưa có sự so sánh giữa các cuộc vận động dân chủ qua từng giai đoạn lịch sử…
Về cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu: nhìn tổng thể lại toàn
bộ diễn trình các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam từ đầu thế
kỷ XX đến năm 1945 thì cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đặt toàn bộ các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam trong giai đoạn 1904 – 1945 trong một cái nhìn tổng thể và trên hệ quy chiếu của quá trình phi thực dân hóa để phân tích và luận giải.
Trang 10CHƯƠNG 2 CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1904 - 1945: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
người về phương diện chính trị - xã hội Do đó, dân chủ luôn gồm hai
bình diện chủ yếu là bình diện cá nhân và bình diện cộng đồng
(nhóm, tổ chức)
Một dân tộc bị áp bức thì không thể có điều kiện để các cá nhân hay nhóm xã hội của dân tộc đó thực thi được các quyền tự do, dân chủ cơ bản Vì vậy, quyền tự do, độc lập, tự quyết và quyền phát triển lành mạnh của các quốc gia có thể coi là những quyền “gốc”, là điều kiện tiên quyết để các nhóm và các cá nhân thực hiện quyền tự
do, dân chủ cơ bản của mình Do đó, chúng tôi tiếp cận vấn đề dân chủ và các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam trong thời kỳ từ 1904 đến 1945 theo quan điểm có sự gắn bó mật thiết hữu cơ giữa các cuộc vận động vì dân chủ với cuộc vận động giải phóng dân tộc và cuộc vận động duy tân, cải cách nhằm mở ra con đường phát triển, hiện đại đại hóa đất nước Đồng thời, các cuộc vận động giải phóng cá nhân, vì những quyền dân chủ cơ bản của con người cũng không tách rời các cuộc vận động giải phóng xã hội, vì các quyền dân chủ cơ bản của nhóm, cộng đồng, của giới và của toàn dân tộc
Trang 11Trong hoàn cảnh Việt Nam bị đô hộ thì các cuộc vận động dân chủ theo tư tưởng phương Tây ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945 khi Việt Nam giành được độc lập đều đặt trên động cơ cứu nước Vì vậy, khi nghiên cứu các cuộc vận động dân chủ
ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, chúng tôi đã đặt các cuộc vận động dân chủ này trong quá trình giải thực Mặt khác, khi xét về vấn đề dân chủ, chúng tôi không giới hạn dân chủ trong phạm trù chính trị mà đặt nó trong một phạm trù rộng hơn là cuộc đấu tranh giải phóng con người, giải phóng xã hội, giải phóng cộng đồng Mục tiêu giải phóng dân tộc cũng chính là nhằm giành lấy cơ hội làm chủ cho cả cộng đồng và là cơ sở cho quyền dân chủ của mỗi cá nhân Mục đích của sự xem xét này là có thêm những nhận thức mới về các cuộc vận động dân chủ diễn ra trong thời gian Việt Nam đã bị mất độc lập và hướng đến mục đích giành lại quyền độc lập
Vì vậy trong khuôn khổ nghiên cứu của Luận án, chúng tôi đưa ra một khái niệm về cáccuộc vận động dân chủ ở Việt Nam như
sau: “Các cuộc vận động dân chủ ở Việt nam là các cuộc vận động
chính trị, xã hội và văn hoá với những qui mô và hình thức khác nhau nhằm hướng tới sự giải phóng con người và giải phóng xã hội Việt Nam trên các phương diện chính trị, xã hội và văn hoá Như vậy các cuộc vận động này bao gồm những nội dung cơ bản của cuộc đấu tranh giải phóng con người trên bình diện cá nhân và bình diện
xã hội”
2.1.2 Về khái niệm “quá trình phi thực dân hoá”
Thuật ngữ “quá trình phi thực dân hoá” (Decolonization)
dùng để chỉ quá trình đấu tranh của dân tộc Việt Nam nhằm khôi phục lại chủ quyền độc lập dân tộc và nhằm xoá bỏ những yếu tố thực dân mà người Pháp áp đặt vào xã hội Việt Nam nhưng cũng đồng thời là sự tiếp thu và phát triển những yếu tố tiến bộ mà quá
Trang 12trình thực dân hóa mang lại với một tinh thần mới để xây dựng quốc gia độc lập và tiến bộ
2.2 Một số yếu tố tác động chính đến các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam, giai đoạn 1904 - 1945
2.2.1 Thiết chế chính trị và truyền thống dân chủ làng xã ở Việt Nam trước thời cận đại
Trước khi người Pháp đến đô hộ, tại Việt Nam tồn tại mô hình quân chủ chuyên chế lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng mà nội dung chủ yếu là việc tập trung quyền hành tuyệt đối vào vua và duy trì một xã hội theo trật tự đẳng cấp Bên cạnh thiết chế Nho giáo, truyền thống dân chủ làng xã ở Việt Nam vẫn tồn tại nhưng chỉ mang tính sơ khai và nặng về hình thức Với sự can thiệp của nhà nước quân chủ, chế độ chính trị xã thôn Việt Nam thực chất là chế độ đẳng cấp ngôi thứ được tổ chức chặt chẽ
2.2.2 Chính sách cai trị của thực dân Pháp về kinh tế, chính trị và văn hoá đối với Việt Nam từ khi hoàn thành công cuộc bình định đến năm 1945
Chính sách chính trị và kinh tế, văn hoá của thực dân Pháp là nhằm mục tiêu khai thác Việt Nam giành lợi nhuận cao nhất Về chính trị, thực dân Pháp đã tiến hành chính sách “chia để trị”, đặt ra
ba chế độ chính trị khác nhau tại ba miền của Việt Nam Nam Kỳ là
xứ “thuộc địa” do một viên Thống đốc Pháp đứng đầu, Trung Kỳ là
xứ “bảo hộ” do Khâm sứ Pháp lãnh đạo còn Bắc Kỳ là xứ “nửa bảo hộ” do Thống sứ Pháp quản lý Hệ thống chính quyền phong kiến từ tỉnh xuống đến xã vẫn được giữ nguyên và trở thành tay sai của Pháp Bao trùm lên trên Pháp thành lập Liên Bang Đông Dương mà nắm quyền tối cao là Toàn Quyền Đông Dương chỉ huy cả Việt Nam, Lào
và Cam Pu Chia Về kinh tế, Pháp tiến hành hai chương trình khai thác lần thứ nhất (1897-1914) và lần thứ hai (1919-1929) nhằm mục đích khai thác Việt Nam thu lợi nhuận cao nhất Người Pháp cũng thi
Trang 13hành một số chính sách về văn hoá và giáo dục ở Việt Nam, không gì khác hơn là vì mục tiêu thực dân
2.2.3 Ảnh hưởng của tình hình thế giới tới Việt Nam
Từ cuối thế kỷ XIX, sự tiếp xúc với văn minh Pháp đã khiến một bộ phận trí thức Việt Nam nhìn nhận lại sức mạnh phương Tây (tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ) Tuy nhiên, sĩ phu Việt Nam được tiếp xúc với tư tưởng mới của phương Tây chủ yếu qua con đường Tân thư của Trung Quốc Tư tưởng của Moneusquieu, Rousseau… qua Tân thư đã cho các nhà nho Việt Nam một cách nhìn mới về con đường phát triển của dân tộc Công cuộc duy tân của Nhật Bản cũng
có sức hút mãnh liệt với Việt Nam lúc đó
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nền giáo dục thuộc địa
mà Pháp thiết lập ở Việt Nam đã tạo ra một tầng lớp trí thức Tây học Tầng lớp này đã đi đầu trong việc truyền bá văn minh phương Tây cho người Việt Nam và đây được coi như một bước đi trên con đường phát triển và giành lại chủ quyền
Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi năm 1917 và học thuyết Mác- Lênin đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các dân tộc bị
áp bức trong đó có Việt Nam
2.2.4 Sự biến đổi về kinh tế, xã hội và văn hoá tư tưởng ở Việt Nam
Chính sách của thực dân Pháp về kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục đã đem lại những biến đổi sâu sắc trong xã hội Việt Nam Tuy bằng con đường thực dân nhưng người Pháp đã du nhập phương thức sản xuất TBCN vào xã hội Việt Nam và phương thức này đã phá
vỡ dần các quan hệ sản xuất phong kiến Sự biến đổi về kinh tế đã dẫn đến sự biến đổi về xã hội, văn hoá và tư tưởng ở Việt Nam Trong xã hội Việt Nam tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản dân tộc và giai cấp, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến các cuộc vận động xã hội ở Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 3
CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
NHỮNG NĂM 1904 - 1908
3.1 Sự du nhập tư tưởng dân chủ phương Tây vào Việt Nam
3.1.1 Khái lược quá trình du nhập tư tưởng dân chủ phương Tây vào Việt Nam
Tư tưởng dân chủ được du nhập từ phương Tây vào Việt Nam sớm nhất vào khoảng giữa thế kỷ XIX và bằng con đường thực dân Ảnh hưởng của tình hình Trung Quốc vào cuối thế kỷ XIX đã khiến sự du nhập của tư tưởng dân chủ phương Tây vào Việt Nam
theo con đường khác là Tân thư Tân thư đã đem đến cái nhìn mới về
văn minh phương Tây với yếu tố tiến bộ của nó để các nho sĩ thức thời Việt Nam nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới văn hoá Việt Nam theo mô hình Tây phương
3.1.2 Đặc điểm của nội dung tư tưởng dân chủ được du nhập từ phương Tây vào Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nền dân chủ phương Tây khi được du nhập sang Việt Nam còn đang phát triển và chưa được hoàn thiện Mặt khác, tư tưởng dân chủ này lại được du nhập qua con
đường Tân thư trong bối cảnh những yếu tố tư bản chủ nghĩa trong
nền kinh tế và xã hội Việt Nam còn đang ở trạng thái phôi thai nên đã
chỉ có thể được đón nhận bởi tầng lớp nho sĩ cấp tiến Tân thư truyền
sang Việt Nam đều là sách dịch thuật của các sĩ phu Trung Hoa nên
tư tưởng dân chủ phương Tây không còn trọn vẹn như trong nguyên tác và có những hạn chế nhất định
3.2 Nội dung chủ yếu của các cuộc vận động dân chủ giai đoạn
1904 -1908
3.2.1 Quan niệm mới của các nhà nho Duy tân về vai trò của người
dân và sự khởi xướng các cuộc vận động dân chủ để duy tân, cứu nước
Trang 15Vai trò của người dân được xác định lại khi lần đầu tiên, các
nhà nho Duy tân đã đặt chữ "dân" ở vị trí trung tâm khi luận giải về
vấn đề vận nước Phan Bội Châu cho người dân là lực lượng quyết định sự tồn vong của quốc gia dân tộc Vì vậy muốn cứu nước phải kêu gọi toàn dân đoàn kết chống ngoại xâm Và cần phải làm cho người dân có đủ tư cách, đủ năng lực để làm chủ vận nước Sứ mệnh cứu nước gắn liền với sứ mệnh thức tỉnh người dân Để thực hiện
điều này phải tiến hành: "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh"
Các nhà nho Duy tân đã phát động phong trào học theo Tân học (bắt đầu ở Quảng Nam) và vận động học chữ Quốc ngữ làm phương tiện khai mở tri thức cho người dân Đông Kinh Nghĩa thục
là một trung tâm tiêu biểu với việc xây dựng một mô hình giáo dục
theo phương Tây theo tinh thần "thực học, thực dụng, thực nghiệp" với mục đích "học làm người và làm quốc dân"
Phong trào Đông du do Phan Bội Châu khởi xướng đã thu hútnhiều thanh niên ra nước ngoài học tập để có kiến thức mới về phục vụ cho Tổ quốc Các nhà Nho cũng kêu gọi thay đổi phong tục xây dựng nếp sống mới theo Âu hoá
3.2.2 Xác định những mô hình chính trị mới của quốc gia Việt Nam sau khi giành được chủ quyền dân tộc
Các nhà Nho Duy tân đã đề xuất mô hình chính trị mới của quốc gia Việt Nam sau khi giành được độc lập và không chấp nhận trở về mô hình quân chủ phong kiến cũ nữa Phan Bội Châu đã đề xuất mô hình quân chủ lập hiến và sau đó tiến tới mô hình dân chủ không có vua Trong khi đó, Phan Châu Trinh ngay từ đầu đã phủ định thể chế quân chủ và cổ suý cho chế độ cộng hoà dân chủ
3.2.3 Sự gắn kết giữa cuộc vận động duy tân với cuộc vận động cứu nước
Trong phong trào dân tộc dân chủ đầu thế kỷ XX, mục tiêu duy tân cải cách và giải phóng dân tộc gắn kết chặt chẽ với nhau Phan Bội Châu dù đi theo con đường bạo động đánh Pháp nhưng
Trang 16không phản đối duy tân Khi cầu viện quân sự thất bại, ông đã phát động phong trào Đông Du Phong trào Đông Du do ông lãnh đạo gây ảnh hưởng lớn trong nhân dân chứng minh ông là một lãnh tụ của phong trào Duy tân
Các nhà Nho Duy tân đã nhận thức được muốn cứu nước phải duy tân và duy tân là một con đường để cứu nước
3.2.4 Tác động thực tiễn của các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam những năm 1904 -1945
Các cuộc vận động dân chủ đầu thế kỷ XX đã có một tác động thực tiễn to lớn đối với xã hội Nó đã thổi một luồng không khí mới vào phong trào cách mạng Việt Nam đang khủng hoảng nặng nề
về đường lối, để phong trào tiếp tục phát triển và lần đầu tiên đã có
sự tích hợp giữa vấn đề độc lập dân tộc và đổi mới xã hội, xuất hiện nhiều phong trào mới với sự tham gia của nhiều tầng lớp mới
3 3 Tiểu kết chương 3
Tư tưởng dân chủ phương Tây còn chưa phát triển hoàn thiện
và du nhập sang Việt Nam qua Tân thư của các nhà Nho Trung Quốc nên còn nhiều hạn chế
Do điều kiện lịch sử, tư tưởng dân chủ phương Tây đến với các nhà Nho duy tân Việt Nam khi Việt Nam đã bị mất chủ quyền dân tộc nên tất cả các cuộc vận động dân chủ cho đến khi Việt Nam giành được độc lập đều đặt trên động cơ cứu nước
Tuy nhấn mạnh động cơ yêu nước và giải phóng dân tộc của các cuộc vận động dân chủ đầu thế kỷ XX do các nhà nho Duy tân lãnh đạo nhưng có thể khẳng định đây là cuộc hội nhập đầu tiên của người Việt Nam vào dòng chảy hướng về hiện đại Các nhà Nho duy
tân đã đề xướng chủ trương "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân
sinh", đề xuất những mô hình chính thể dân chủ mới, đoạn tuyệt với
mô hình cũ Đây là quan điểm có tính vạch thời đại, chỉ ra một hướng
đi tới không thể đảo ngược của cuộc vận động phi thực dân hóa ở Việt Nam
Trang 17Có thể kể tên một số tác giả báo chí tiêu biểu như: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của ở Nam Kỳ, Nguyễn Văn Vĩnh và nhóm
Đông Dương tạp chí (1913 -1917) ở Bắc Kỳ trong đó Nguyễn Văn
Vĩnh là người có công lớn trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ
Sau đó là: tờ Nữ giới chung (xuất bản 1/2/1918 đình bản
19/7/1918), với tư cách là tờ báo phụ nữ đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam, do bà Sương Nguyệt Anh làm chủ bút, chuyên viết về những vấn đề của phụ nữ và đấu tranh cho nữ quyền
4.2 Một số yếu tố quan trọng tác động đến các cuộc vận động dân chủ từ 1918 đến 1939
Đó là cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của người Pháp được đẩy lên một qui mô lớn hơn trước nhiều đã gây những chuyển biến sâu sắc về kinh tế, xã hội và văn hoá ở Việt Nam
Trong đó nổi bật lên là sự hình thành của một tầng lớp mới là trí thức Tây học chính là cơ sở xã hội của các cuộc vận động dân chủ Với những đặc điểm riêng, đây là lực lượng đóng vai trò phát động
và lãnh đạo toàn bộ các cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam vì mục tiêu giải phóng dân tộc và hiện đại hoá đất nước
Trang 18Tầng lớp trí thức Tây học sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất do được hấp thụ trực tiếp văn minh phương Tây đã đóng vai trò truyền bá tư tưởng dân chủ vào Việt Nam Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các tư tưởng bên ngoài xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam như chủ nghĩa Tam dân, chủ nghĩa dân chủ tư sản Pháp, chủ nghĩa Mác- Lênin…
Do đó cuộc vận động dân tộc, dân chủ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất cho đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai có bước phát triển mới so với trước cả về nội dung và hình thức
4.3 Các cuộc vận động dân chủ từ năm 1918 đến năm 1939
4.3.1 Cuộc vận động dân chủ của Đảng lập Hiến ở Nam Kỳ những năm 1923 – 1926
Cuộc vận động đòi quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ chế
độ hiện hành của Đảng Lập Hiến ở Nam Kỳ cũng đã có đóng góp nhất định vào phong trào dân chủ 1923 - 1926
4.3.2 Cuộc vận động của Nguyễn An Ninh (1923 - 1926)
Nguyễn An Ninh, một trí thức Tây học đã chọn con đường
làm báo công khai để đấu tranh cho dân chủ Tờ báo tiếng Pháp La
cloche fêlée (Chuông rè) của ông đã tuyên truyền, đấu tranh đòi các
quyền tự do, dân chủ cho người Việt Nam, khai mở dân trí cho người dân, xây dựng lý tưởng và một nền văn hoá mới hiện đại cho dân tộc Việt Nam
4.3.3 Phong trào đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh
và hoạt động của Đảng Thanh Niên
Sự kiện Phan Bội Châu bị bắt đã làm dấy lên một phong trào đòi trả tự do cho nhà chí sĩ Lần đầu tiên một phong trào rộng lớn tập hợp được tất cả các tầng lớp giai cấp trong xã hội cùng chung một mục tiêu là đòi trả lại tự do cho một nhân vật yêu nước
Tiếp theo là phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh cũng là
sự kiện lớn, có ý nghĩa thức tỉnh toàn dân tộc
Trang 19Bên cạnh đó là hoạt động sôi nổi của Đảng Thanh niên với vai trò của Trần Huy Liệu
4.3.4 Cuộc vận động qua báo chí của Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong ở Bắc Kỳ
Những hoạt động của Phạm Quỳnh và Nam Phong nhằm phát triển nền văn học Quốc ngữ và xây dựng phát triển văn hoá theo tiêu chí “Thổ nạp Âu Á” cũng đã có đóng góp nhất định vào công cuộc khai mở dân trí, phát triển văn hoá và có ích cho sự nghiệp phát triển chung của dân tộc
Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xuất mô hình quân chủ lập hiến
tại Việt Nam Bên cạnh đó Nam Phong cũng phê phán tệ "hương
đảng tiểu triều đình" và những hủ tục lạc hậu đè nén người nông dân
ở nông thôn và quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ
Tuy chủ trương chính trị của Phạm Quỳnh bị đánh giá là không thức thời nhưng qua đóng góp về các vấn đề văn hoá và chính trị, ông và Nam Phong đã có vị trí thích đáng trên văn đàn và trong cuộc vận động phi thực dân hoá ở Việt Nam
4.3.5 Cuộc vận động chính trị của giáo phái Cao Đài
Giáo phái Cao Đài được các trí thức Tây học Nam Kỳ thành lập năm 1926, nhằm tập hợp nông dân Nam Bộ vào một tổ chức tôn giáo (tiềm ẩn vai trò một đảng phái chính trị) Đây chính là một phương thức mà trí thức Tây học sử dụng để đồng hành cùng nhân dân, phản kháng lại trật tự xã hội thực dân
4.3.6 Cuộc vận động nữ quyền trên báo chí công khai giai đoạn
1926 - 1939
Cuộc vận động giải phóng phụ nữ trên báo chí và trong xã hội càng trở nên mạnh mẽ từ những năm 1920 và nhất là với sự xuất hiện của tờ “Phụ nữ Tân Văn” (1929 - 1935) với các nội dung tiến bộ
“nữ học”, “phụ nữ chức nghiệp”, “nữ công thực nghiệp” Từ những năm 1930, dưới ảnh hưởng của Đảng Cộng sản, vấn đề giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng dân tộc
Trang 204.3.7 Trào lưu văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán
trong cuộc vận động giải phóng con người, giải phóng xã hội (1930 1939)
Trào lưu văn học lãng mạn đã có đóng góp trong cuộc vận động giải phóng con người dưới góc độ kêu gọi giải phóng cái “tôi”
và ca ngợi tình yêu nam nữ, đấu tranh cho tình yêu và hôn nhân tự do chống lại tù ngục gia đình Nho giáo
Dòng văn học hiện thực phê phán thì mô tả chân thật cuộc sống nghèo khổ của người nông dân, những áp bức bất công xã hội
đè nén lên cuộc đời họ và giúp người nông dân hiểu về chính mình, lên án bất công xã hội, kêu gọi xoá bỏ và giải phóng mọi ách áp bức
xã hội
4.3.8 Cuộc vận động dân tộc, dân chủ của Việt Nam Quốc dân Đảng
Hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng với mục tiêu dân tộc, dân chủ mà mục đích cuối cùng là giải phóng xã hội, giải phóng con người thể hiện tính dân chủ của cuộc vận động này Tuy nhiên do những bế tắc và lúng túng trong biện pháp tiến hành, VNQDĐ đã thất bại, để lại nhiều bài học quí cho cách mạng Việt Nam
4.3.9 Cuộc vận động dân tộc, dân chủ dưới ngọn cờ của những người Cộng sản (1925 – 1939)
4.3.9.1 Cuộc vận động thành lập Đảng và đường lối chiến lược dân tộc dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng 10.1930 là Đảng cộng sản Đông Dương) giai đoạn 1925 - 1936
Nguyễn Ái Quốc sau khi trở thành người cộng sản (1920) đã tích cực hoạt động nhằm chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự thành lập một chính đảng cách mạng ở Việt Nam (với việc
thành lập HVNCMTN, ra báo Thanh niên và xuất bản Đường Cách
mệnh) Người đã đóng vai trò chủ chốt trong hội nghị hợp nhất ba tổ
chức cộng sản ở Việt Nam để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (đầu năm1930) Hội nghị hợp nhất đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Người khởi thảo, vạch ra đường lối chiến lược cho cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc và làm cách mạng thổ địa trong đó khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là hàng đầu
Trang 21Tháng 10.1930, hội nghị: lần thứ nhất BCH Trung ương lâm thời của Đảng họp tại Hương Cảng (Trung Quốc) đã thủ tiêu Chính cương, Sách lược vắn tắt và thay vào đó Luận cương chính trị do Trần Phú khởi thảo Bản Luận cương này đã chịu ảnh hưởng của quan điểm tả khuynh của Quốc tế Cộng sản lúc đó nên đã nhấn mạnh cách mạng ruộng đất và chỉ coi lực lượng của cách mạng là công nông nên chưa tập hợp được lực lượng của toàn dân tộc Đảng Cộng sản Đông Dương chịu ảnh hưởng đường lối chính trị của Luận cương cho đến năm 1936
4.3.9.2 Cuộc vận động dân chủ do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo giai đoạn 1936 - 1939
Sang đến năm 1936, do tình hình quốc tế và trong nước có nhiều thay đổi trong đó quan trọng nhất là việc Quốc tế Cộng sản đã họp Đại hội VII (7.1935) đề ra đường lối mới, chĩa mũi nhọn vào bọn phát xít để bảo vệ hoà bình và kêu gọi thành lập Mặt trận nhân dân thống nhất chống phát xít Cùng với đó là việc Mặt trận Bình dân Pháp lên nắm quyền đã đưa ra nhiều chính sách cải cách dân chủ có lợi cho phong trào cách mạng Việt Nam là thời cơ để Đảng ta thay đổi đường lối chiến lược, quyết định tập hợp toàn thể các tầng lớp nhân dân trong Mặt trận dân chủ, đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ trong khuôn khổ chế độ hiện hành với mục tiêu tự do, cơm
áo, hoà bình Phong trào đã thu được thắng lợi trên các mặt đấu tranh
và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí, là sự hợp lưu đầu tiên chuẩn
bị cho cuộc đại hợp lưu trong cách mạng tháng Tám
có những đóng góp nhất định vào cuộc vận động giải phóng con người và giải phóng xã hội ở Việt Nam, làm nền tảng cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc
Trang 225.2 Nội dung của cuộc vận động dân tộc, dân chủ ở Việt Nam giai đoạn 1939 – 1945
5.2.1.Sự chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Năm 1939, Đảng đã chuyển hướng đường lối chiến lược, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tiếp tục qui tụ những
dòng chảy yêu nước và dân chủ khác nhau để cả dân tộc bước sang
một giai đoạn mới, giai đoạn đại hợp lưu vì mục tiêu độc lập
Tiếp theo, Hội nghị VIII do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã hoàn chỉnh chiến lược giải phóng dân tộc: giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tập hợp lực lượng toàn dân tộc đấu tranh
Trang 23chống đế quốc và chế độ phong kiến trong một mặt trận mới với tên gọi là Việt Nam Độc lập Đồng Minh (Mặt trận Việt Minh) có tuyên ngôn, chương trình, chính sách hướng vào hai điểm cốt yếu nhất:
“1 Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập,
2 Làm cho dân Việt Nam sung sướng và tự do”
5.2.2 Quá trình tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương ở khu vực nông thôn
Đảng đã đóng vai trò chủ yếu và quyết định trong quá trình tập hợp , xây dựng lực lượng cách mạng ở khu vực nông thôn Bằng việc đưa ra ngọn cờ tập hợp là đường lối cứu nước của Mặt trận Việt Minh, Đảng đã qui tụ mọi lực lượng đồng bào vào các tổ chức quần chúng cứu quốc không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, giai cấp, chỉ có mục tiêu chung là cứu nước khỏi nạn ngoại xâm
Với những biện pháp tuyên truyền được kế thừa kinh nghiệm
từ các phong trào trước như phong trào “vô sản hoá” của HVNCMTN, phong trào các hội ái hữu, tương tế giai đoạn 1936 -
1939, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tập hợp mọi tầng lớp đồng bào vào các hội cứu quốc như Hội nông dân cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Hội nhi đồng cứu quốc, Hội phụ lão cứu quốc
Chỉ trong một thời gian không lâu, tại khu vực rừng núi phía Bắc, đã xuất hiện những châu “hoàn toàn”, xã “hoàn toàn” mà ở đó qui tụ được tất cả mọi tầng lớp nhân dân đứng dưới ngọn cờ đại nghĩa của Việt Minh
Đây cũng là biểu hiện rõ nhất của tính dân chủ của cuộc vận động giải phóng dân tộc mà Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo
5.2.3 Quá trình tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương ở khu vực thành thị
Trang 24Sau một thời gian nỗ lực xây dựng lực lượng, nhằm thu hút mọi nguồn lực của dân tộc dưới ngọn cờ giải phóng dân tộc, tuy vậy ảnh hưởng của Việt Minh mới chỉ lan toả được ở khu vực rừng núi và nông thôn Bắc Kỳ Khu vực thành thị như Hà Nội và các thành phố ở Trung và Nam Kỳ, ảnh hưởng của Đảng chưa thực sự rộng rãi trong quần chúng Lý do là một phần các cơ sở của Đảng bị vỡ do sự đàn
áp của kẻ thù nhưng quan trọng hơn là Đảng chưa có đường lối và biện pháp thích hợp để tuyên truyền trong bộ phận cư dân thành thị
mà chiếm vai trò ảnh hưởng quan trọng đối với quần chúng khu vực này chính là tầng lớp trí thức Tây học
Nhận thức được vấn đề cần phải thu hút được sự ủng hộ của trí thức văn nghệ sĩ để hợp lưu tầng lớp quan trọng này vào mặt trận đấu tranh chung của dân tộc, Đảng đã đề ra bản “Đề cương văn hoá Việt Nam” (2.1943), và thành lập “ Hội văn hoá cứu quốc” ở khu vực phía Bắc Sau một thời gian tuyên truyền, các văn nghệ sĩ yêu nước
đã lần lượt gia nhập Hội văn hoá cứu quốc, gây được thanh thế lớn cho Mặt trận Việt Minh Tiếp sau là sự biến chuyển theo hướng yêu nước và cách mạng của phong trào sinh viên, với phong trào “xếp bút nghiên”, tiếp sau đó là sự thành lập của Đảng Dân chủ Việt Nam năm
1944 đã thu hút các nhóm phái trí thức tiến bộ như Thanh Nghị, Hội Truyền bá Quốc ngữ, Hội Hướng đạo tham gia và tự nguyện gia nhập như một thành viên chính thức của Việt Minh Tiếp sau đó, tổ chức
“Thanh niên Tiền phong” ở khu vực Nam Kỳ và tổ chức “Thanh niên tiền tuyến” ở Trung Kỳ tiếp tục được thành lập và hoạt động với định hướng cách mạng và yêu nước lôi cuốn đông đảo quần chúng thanh niên tiến bộ tham gia