1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG TY QUẢN lý tài sản QUỐC GIA VIỆT NAM và GIẢI PHÁP tài CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG tại CÔNG TY

79 409 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 659 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỞViệt Nam, khi nhận thấy các khoản nợ không được thống kê rõ ràng trong bảngcân đối ngân sách của các Ngân hàng, Chính phủ cũng đã tiến hành phân loại cácnhóm nợ thông qua Nghị định 69/2

Trang 1

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY

Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2016

Trang 2

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TYQUẢN LÍ TÀI SẢN (AMC)

3

1.1 Khái niệm và sự hình thành AMC 3

1.1.1 Khái niệm AMC 3

1.1.2 Nguyên nhân ra đời 3

1.2 Cơ chế hoạt động của AMC 6

1.2.1 Mục tiêu hoạt động của AMC 6

1.2.2 Cơ chế quản trị, điều hành của AMC 6

1.2.3 Cơ chế mua, quản lí và thu hồi nợ 7

1.2.4 Nguồn tài chính 9

1.3 Bài học kinh nghiệm áp dụng AMC trên thế giới 9

1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 9

1.3.2 Kinh nghiệm của Malaysia 14

1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 19

1.3.4 Kinh nghiệm của Mỹ 22

1.3.5 Kinh nghiệm của Ai-len 25

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN QUỐC GIA VIỆT NAM 31

2.1 Khái quát chung về VAMC 32

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của VAMC 32

2.1.2 Thành lập VAMC 32

2.1.3 Cơ chế hoạt động của VAMC 33

2.2 Hoạt động của VAMC từ khi thành lập 45

2.2.1 Thành tích VAMC đạt được 45

2.2.2 Hạn chế còn tồn tại 48

2.2.3 Nguyên nhân tồn tại những hạn chế 52

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM 57

3.1 Định hướng hoạt động cho VAMC trong thời gian tới 57

3.1.1 Cơ chế mua nợ 57

3.1.2 Xử lí nợ 58

Trang 3

3.2.2 Một số giải pháp đề xuất 61

3.3 Một số kiến nghị 63

3.3.1 Kiến nghị với Chính Phủ 63

3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 64

3.3.3 Kiến nghị với Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp 66

3.3.4 Kiến nghị với các tổ chức tín dụng bán nợ 66

3.3.5 Kiến nghị với Công ty quản lí tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam 68

3.3.6 Kiến nghị về cơ chế lương, thưởng, phụ cấp của VAMC 70

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Đã 26 năm kể từ khi Việt Nam đổi mới từ nền kinh tế Kế hoạch hóa tậptrung sang nền kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế thị trường có sự điều tiếtcủa Chính Phủ, và cũng đã 6 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thươngmại thế giới WTO Khoảng thời gian đó không phải là quá ngắn, nhưng cũng đủdài để làm những cột mốc đánh dấu những bước tiến mà Việt Nam cần đạt tới đó.Nhìn lại chặng đường đó, chúng ta không thể phủ nhận những thành tựu mà ViệtNam đạt được như quan hệ ngoại giao ngày càng được mở rộng, các vấn đề xãhội cũng được giải quyết tốt hơn Song, nếu nhìn một cách thực tế thì nhữngthành tựu đó không đáng là bao so với những thức thách cũng như những hạn chế

mà Việt Nam đang phải đối mặt trước xu thế toàn cầu hóa gia tăng Có thể nêu ranhư tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, thâm hụt ngân sách Chính Phủ ngày mộtnhiều, cán cân thương mại cũng thâm hụt Và nổi trội hơn cả là vấn đề của hệthống ngân hàng thương mại trong nước Bởi lẽ Ngân hàng thương mại có nhữngchức năng quan trọng trong nền kinh tế, đó là chức trung gian tài chính, chứcnăng trung gian thanh toán, và chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Không nhữngthế, hệ thống này còn là một trong những công cụ hữu hiệu giúp chính phủ điềutiết nền kinh tế vĩ mô Quan trọng là thế, nhưng hiện nay ngành ngân hàng thực

sự cần lắm sự giúp đỡ của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế với vấn đề về nợxấu ngày một gia tăng Với các chính sách của Chính Phủ như ban hành cácquyết định, nghị định để giải quyết nợ xấu, hay trên cả là việc tái cấu trúc ngànhngân hàng, cổ phần hóa các ngân hàng nhà nước Thế nhưng đã hơn 5 năm kể từkhi các ngân hàng được cổ phần hóa thì tỉ lệ nợ xấu này vẫn chưa có dấu hiệusuy giảm Nhiều biện pháp mang tính chất cưỡng ép đã được Nhà nước và cácchuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đưa ra Một trong những biện pháp quantrọng đó phải kể đến sự ra đời của Công ty quản lí tài sản quốc gia Việt Nam( VAMC) Với sự góp sức của các ngành, các bộ, các chuyên viên kinh tế, cácgiảng viên kinh tế ở các trường đại học, các viện trong và ngoài nước, ngày18/05/2013, theo Nghị định 53/2013/NĐ-CP Công ty quản lí tài sản quốc giaViệt Nam chính thức được ra đời dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn

Trang 5

một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và chịu sự quản lí của Nhànược, thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước sẽ chính thức đi vào hoạt động kể

từ ngày 09/07/2013 Công ty ra đời với mục tiêu xử lí nợ xấu, thúc đẩy tăngtrưởng tín dụng cho nền kinh tế Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là đã hơn hai năm từkhi thành lập, vẫn có rất nhiều tranh cãi về hoạt động, quản lí, và hiệu quả hoạtđộng của VAMC đối với yêu cầu được đặt ra Tổng mức nợ xấu vẫn chưa có sựthay đổi, và tăng trưởng tín dụng cũng thế, thị trường bất động sản vẫn ở tìnhtrạng đóng băng

Là một sinh viên đang theo học tại Học Viện Ngân Hàng Hà Nội, em mongmuốn những ý kiến của mình sẽ đóng góp một phần nào đó cho sự phát triển

của Công ty quản lí tài sản quốc gia Việt Nam qua đề tài nghiên cứu “ Hoàn

thiện và phát triển công ty quản lí tài sản quốc gia Việt Nam” Tuy đây là

bài nghiên cứu khoa học của em cho năm học 2014-2015 nhưng em thấy đề tài

về công ty này vẫn còn khá nhiều điểm để thảo luận nên đã sửa đổi, bổ sung

thành đề tài: “Thực trạng phát triển công ty Quản lý tài sản Quốc gia và giải

pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt đông tại công ty” để làm đề

chuyên đề tốt nghiệp của mình Em hi vọng sẽ được chấp nhận và mang đến mộtcái nhìn mới về đề tài này với tư cách là một sinh viên của Học viên ạ

Trang 6

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY

QUẢN LÍ TÀI SẢN (AMC)1.1 Khái niệm và sự hình thành AMC

1.1.1 Khái niệm AMC

AMC là chữ viết tắt tiếng anh của Asset Management Company hay AssetManagement Corporation, có nghĩa là công ty quản lý tài sản

Theo từ điển tài chính: “Công ty quản lý tài sản được định nghĩa theo haicách, một liên quan đến dịch vụ tư vấn, hai liên quan đến hợp tác tài chính Theonghĩa thứ nhất, công ty là một cố vấn tư vấn cách quản lý tài sản thông qua kếthợp và giám sát doanh mục tài chính của khách hàng Theo nghĩa thứ hai, đó làmột quá trình đảm bảo cho tài sản vô hình và hữu hình của một công ty được duytrì và được đưa vào sử dụng với giá trị thực của nó.”

Theo kinh nghiệm hoạt động AMC trên thế giới thì mỗi nước đưa ra kháiniệm khác nhau về công ty này Ở Thái Lan, theo Điều 3 của Nghi định B.E 2544(2001), AMC là một công ty trách nhiệm hữu hạn hay một công ty trách nhiệmhữu hạn cổ phần công khai hoạt động phù hợp với luật điều chỉnh AMC đó ỞAi-len,luật National Asset Managemnent Agency quy định NAMA (cũng là mộtAMC) là một pháp nhân hoạt động liên tục không gián đoạn, có quyền mua,nắm giữ, và cơ cậu lại đất đai và các loại tài sản bất động sản Còn ở Việt Nam,khoản 2, điều 3 Nghị định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Công tyquản lí tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam cũng có nói, Vietnam AssetManagement Company là doanh nghiệp đặc thù, được tổ chức dưới hình thứcCông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước sở hữu 100% vốn điều

lệ và chịu sự quản lí của nhà nước, thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước

1.1.2 Nguyên nhân ra đời

AMC ra đời từ khá lâu, cách đây 100 năm dưới nhiều hình thức và qui môkhác nhau Dựa vào những biến động của nền kinh tế ở thời điểm hình thành

Trang 7

AMC, chúng ta có thể thấy được hai nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của công tynày.

1.1.2.1 Nợ xấu của các Ngân hàng thương mại gia tăng đến mức báo động

Ở Hàn Quốc, tính đến cuối tháng 3 năm 1998 nợ xấu tại các tổ chức tín dụnglên tới 118 nghìn tỉ Won, chiếm 18% tổng dư nợ, 27% GDP, trong đó 50 nghìn tỉWon là các khoản nợ quá hạn 3 tháng đến 6 tháng, chiếm 42% tổng nợ xấu, và

68 nghìn tỉ Won còn lại là các khoản nợ quá hạn trên 6 tháng và có nguy cơ vỡ

nợ cao

Ở Trung Quốc trong thập kỉ 90, hệ thống tài chính nước này đã phải đối mặtvới rất nhiều hạn chế, một trong những điểm hạn chế lớn nhất đó là tổng cáckhoản vay ở khu vực này chiếm 150% GDP, trong đó tỉ lệ nợ xấu chiếm khoảng40% tổng các khoản cho vay này

Cộng hòa Ai-len, một trong những nước trong khu vực đồng tiền chung châu

Âu cũng không tránh khỏi cơn bão nợ xấu khi khủng hoảng kinh tế xảy ra vàocuối năm 2006 với tỉ lệ nợ xấu năm 2003 chỉ chiếm 0.9% GDP, song tới năm

2011 thì con số này đã tăng vọt 99% lên tới 9.2%

Ở Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu của giai đoạn 2007-2013 dao động ở mức thấp nhất

là năm 2007 chỉ với 1.5% nhưng đến năm 2012 thì đã lên vọt tới 8.82% Và giaiđoạn sau đó gần một năm, với những biện pháp tích cực, nợ xấu đã giảm xuốngcòn 6% nhưng vẫn ở mức cao so với qui định Trong đó, Bốn Ngân hàng có qui

mô nợ xấu lớn nhất là Vietcombank, Vietinbank, SHB, và ACB với tỷ lệ nợ xấuniêm yết so với các Ngân hàng còn lại lần lượt là: 30.74%, 27.52%, 27.27%, và14.47%

1.1.2.2 Các chính sách của Chính phủ không phát huy tác dụng

Nhận thức được vai trò của hệ thống các Ngân hàng thương mại cũng nhưnhững tác động tiêu cực mà nợ xấu mang lại cho hệ thống này, Chính phủ cácnước đã đưa ra rất nhiều biện pháp và chính sách để nhằm tối thiểu hóa nợ xấu

Trang 8

Hầu hết những giải pháp mà các nước đưa ra ban đầu là bơm tiền trực tiếpvào nền kinh tế nhằm giúp các doanh nghiệp yếu kém có vốn để tái sản xuất để

từ đó các ngân hàng sẽ có khả năng thu hồi được nợ qua những gói hỗ trợ chovay Doanh nghiệp với lãi suất ưu đãi Song, những giải pháp đó không nhữngkhông giúp được nền kinh tế mà còn làm cho tổng mức dư nợ và lạm pat tăngcao hơn Dần dần các nước đã chuyển các biện pháp khác tùy theo đặc trưngriêng của mỗi nền kinh tế Ở một số nước châu Á như Thái Lan, trung gian tàichính cơ cấu nợ CDRC (Corporate Debt Restructuring Committee) và Cơ quantái cấu trúc tài chính FRA Ở Trung Quốc, Chính phủ nợ thành 5 nhóm theo cáchchia của BIS và thực hiện quá trình riêng biệt trong việc phê duyệt tín dụng ỞViệt Nam, khi nhận thấy các khoản nợ không được thống kê rõ ràng trong bảngcân đối ngân sách của các Ngân hàng, Chính phủ cũng đã tiến hành phân loại cácnhóm nợ thông qua Nghị định 69/2002/NĐ-CP về quản lí và xử lí nợ tồn đọngđối với Doanh nghiệp Nhà nước và Quyết định 493/2005/ QĐ-NHNN của thốngđốc Ngân hàng Nhà nước về phân loại trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi

ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các Tổ chức tín dụng trong nước.Các chính sách trên tuy khác nhau về cách thức thực hiện nhưng đều có điểmchung là mong muốn giải quyết mức nợ xấu, an toàn hệ thống tín dụng và mộtđiều nữa cũng dễ nhận ra đó là đều không làm tỉ lệ nợ xấu giảm đi hoặc nếu cóthì cũng không đáng kể

➢ Từ các nguyên nhân trên, dù cho xuất phát từ phía Ngân hàng, từphía doanh nghiệp, hay là từ những khách hàng thì đòi hỏi phải có một tổchức có tính chuyên môn hóa cao, có tính hiệu quả hoạt động cao, nhân danhchính phủ các nước, nhân danh các Ngân hàng đứng ra giải quyết vấn mang

ý nghĩa sinh tồn này cho nền kinh tế Từ đó đặt ra một yêu cầu bức thiết ,một yêu cầu mà chính bản thân nó tuân theo quy luật cung cầu của nền kinh

tế đó là phải thành lập Công ty quản lí tài sản Quốc Gia(AMC)

Trang 9

1.2 Cơ chế hoạt động của AMC

Để Công ty quản lí tài sản Quốc Gia hoạt động đạt được hiệu quả tối đa đòihỏi phải có một cơ chế làm việc rõ ràng, kiên quyết Trong bài nghiên cứu này cơchế hoạt động của AMC được thể hiện qua bốn tiêu chí cơ bản là :

1.2.1 Mục tiêu hoạt động của AMC

Đa số các công ty AMC trên thế giới ra đời trong điều kiện vấn đề tái cấutrúc nền kinh tế được đặt lên trên hết và khi nợ xấu ở tới mức không thể điều hòađược trong tất cả các hệ thống Ngân hàng.Như ở Trung Quốc, khi nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung thực sự là một trở ngại cho sự phát triển, tổng mức dư nợ củakhu vực Doanh nghiệp nhà nước ngày một tăng và từ trước năm 1996, khoản nợxấu của bốn Ngân hàng thương mại Nhà nước lên tới 1.4 nghìn tỷ NDT (169 tỷUSD) chiếm 19% GDP của Trung Quốc năm 1999 thì trong những năm 1999-

2003, bốn Công ty quản lí tài sản do Chính Phủ tài trợ được thành lập Và ở TháiLan cũng thế, lúc cơ quan tái cấu trúc tài chính(FRA) tập trung nhiều vào việc xử

lí các vấn đề của các Công ty tài chính, thì mãi tới tháng 6 năm 2001 Công tyquản lí tài sản trung ương mới được thành lập dưới áp lực của nợ xấu Từ đó cóthể thấy được AMC hoạt động vì 2 mục tiêu sau:

Thứ nhất, giải quyết được hết những khoản nợ khó thu hồi của hệ thốngNgân hàng nhất là khoản nợ có tài sản đảm bảo là bất động sản nhằm làm sạchbản cân đối ngân sách của các Ngân hàng

Thứ hai, khơi thông tín dụng, làm giảm “cục máu đông” làm tắc nghẽn chứcnăng trung gian thanh toán của hệ thống Ngân hàng thương mại Từ đó điều ổnđịnh nền kinh tế vĩ mô để hướng đến sự phát triển bền vững

1.2.2 Cơ chế quản trị, điều hành của AMC

Như đã nói ở phần khái niệm về AMC, công ty có thể do tư nhân góp vốnhoặc có thể do Nhà nước góp vốn thành lập Ở những công ty AMC do tư nhânthành lập thì chủ yếu là do các Ngân hàng thương mại tự lập nên cho mình vớiphương châm là “tự xử” Nhưng vì hạn chế về quyền lực và nguồn lực nên hoạt

Trang 10

động không đạt hiệu quả cao Do vậy ở đây, bài nghiên cứu chỉ tập trung nói về

cơ chế quản trị, điều hành của AMC do nhà nước góp vốn thành lập nên

Cơ chế quản trị, điều hành của AMC được thể hiện ở bảng sau:

Sơ đồ 2: Cơ cấu quản trị, điều hành của AMC

Ghi chú: : quan hệ giám sát

: quan hệ sở hữu

*:tùy thuộc vào cơ quan quản lí nhà nước của mỗi quốc gia mà

có các Ủy ban khác nhau Ví dụ ở Hàn Quốc là Ủy ban giám sát tài chính ỞTrung Quốc là Ủy ban điều hành chứng khoán Ở Ire-land là Ủy ban Kiểmtoán, Ủy ban Tín dụng, Ủy ban quản trị rủi ro, Ủy ban Tài chính và hoạtđộng, Ủy ban Tư vấn Bắc Ire-land, Ủy ban tư vấn lập kế hoạch

1.2.3 Cơ chế mua, quản lí và thu hồi nợ

i) Mua nợ

Các AMC không mua tất cả các khoản nợ xấu trong hệ thống tín dụng mà chỉmua những khoản nợ có giá trị cao Ví dụ như Công ty quản lí tài sản Quốc giaThái Lan chỉ mua những khoản nợ xấu có giá trị từ 5 triệu Ringgit trở lên

Nợ xấu sẽ được mua theo giá trị sổ sách hoặc mua theo thỏa thuận giữa Cơquan của AMC và Ngân hàng bán nợ Đối với những khoản nợ có tài sản thế

Công ty quản

lí tài sản quốc gia (AMC)

Trang 11

chấp là bất động sản thì có thể còn được mua theo giá trị kinh tế dài hạn vì đâyđược xem là nợ khó xử lí nhất.

ii) Quản lí nợ

Trên thế giới có hai mô hình xử lí nợ, đó là mua đứt, xử lí nhanh và mua lại

nợ xấu rồi xử lí nhanh Khi các khoản nợ xấu được mua về, AMC sẽ phân loại nợtheo tính thanh khoản Từ đó, lựa chọn mô hình quản lí chúng phù hợp và cơ cấulại những tài sản đó để tối đa hóa giá trị, nhất là với tài sản là bất động sản nhằmmục đích khi bán lại trên thị trường chúng không bị mất giá trị vốn có

iii) Thu hồi nợ

Có thể nói đây là bước quan trọng nhất trong quá trình giải quyết nợ xấu Vìnhiều nguyên nhân khách quan đến từ nền kinh tế cộng với những nguyên nhânchủ quan đến từ việc kinh doanh sai mục đích dẫn đến thua lỗ của các doanhnghiệp nên nợ xấu mới phát sinh và việc thu hồi càng khó khăn hơn Thực tế mộtđiều là rõ ràng các doanh nghiệp không muốn để mức nợ của mình lớn đến thế,vừa thiếu hụt vốn tái sản xuất vừa phải chịu mức lãi suất không nhỏ cho nhữngkhoản vốn chết này Điều đó càng cản trở AMC trong công cuộc thu hồi nợ trảcho các Ngân hàng Tùy thuộc vào mỗi trường hợp mà AMC đưa ra các cáchhoàn trả nợ khác nhau:

Trường hợp thứ nhất, vì AMC là công ty do nhà nước góp vốn với mục tiêukhơi thông nguồn vốn, khôi phục kinh tế nên luôn tạo cho các doanh nghiệp khảnăng hoàn trả vốn tốt nhất Theo đó, các khách hàng thiếu nợ này sẽ phải lập kếhoạch phát triển kinh doanh để nhanh chóng hoàn nợ Có thể trả toàn phần hoặctừng phần

Trường hợp thứ hai, một cách thu hồi nợ chủ yếu là hoán đổi những khoản

nợ đó thành cổ phần trong công ty

Trường hợp thứ ba, ít được áp dụng hơn đó là xóa nợ để cứu lấy sự phát triểncủa một số doanh nghiệp chủ chốt trong nền kinh tế

Trang 12

1.2.4 Nguồn tài chính

Cũng như nhiều công ty khác, hoạt động của AMC cũng cần vốn Nguồnvốn đó được dùng để mua những khoản nợ xấu của Ngân hàng, chi trả các chiphí trong quá trình hoạt động Nguồn tài chính của các AMC xuất phát từ:

Thứ nhất, Bộ tài chính cung cấp vốn ban đầu dưới dạng tiền mặt Con số nàyrất nhỏ so với mục tiêu hoạt động của AMC

Thứ hai, Chính phủ cung cấp dưới dạng cổ phiếu phát hành, giá trị cổ phiếuphụ thuộc vào AMC ở mỗi nước.Ở các nước như Hàn Quốc là 90% tổng nguồntài trợ Ở Trung Quốc và Malaysia là 60% tổng nguồn tài trợ Bên cạnh cổ phiếucòn có thêm các nguồn tài sản cố định như văn phòng, vật dụng

Thứ ba, các AMC huy động từ các nhà đàu tư cả trong và ngoài nước

Thứ tư, nguồn tài chính cũng có được khi AMC hoạt động có lãi

Mặc dù với nguồn tài chính hạn chế, nhưng AMC được giao cho sứ mệnhquan trọng để giải quyết nợ xấu và mức nợ xấu của các Ngân hàng giảm đáng kể

đã chứng minh điều đó

1.3 Bài học kinh nghiệm áp dụng AMC trên thế giới

Trên thế giới, các AMC được xem là giải pháp cuối cùng cho việc xử lí nợxấu Mỗi nước áp dụng mô hình này ở những điều kiện kinh tế và thời kì khácnhau Tuy có vậy nhưng đều mang lại những thành tựu nhất định và cũng đã đạtđược những mục tiêu mà nền kinh tế đặt ra Bài viết đưa ra kinh nghiệm ở nămnước đã nghiên cứu và vận dụng thành công mô hình này đó là ở ba nước châu Á: Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, ở nước trong khu vực đồng tiên chung Châu

Âu : Ire-land, và ở nước có đồng ngoại tệ mạnh trên thế giới: Mỹ

1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan

Nền kinh tế của Thái Lan bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tàichính châu Á năm 1997:”mất sự ổn định của đồng tiền và các thị trường trongnước, sự giảm sút không những ở luồng vốn nước ngoài, mà còn ngay cả ở đầu

Trang 13

tư trong nước do lãi suất cao và yếu tố long tin, nợ tồn đọng trong nước, nợ nướcngoài tăng mạnh, tỉ lệ tăng trưởng âm” Trong đó, bị thiệt hại hơn cả là khu vựcNgân hàng, đến cuối năm 1997 nợ xấu liên tục gia tăng đạt mức cao là 46% trêntổng dư nợ tín dụng Và cuối năm 1999, mức nợ xấu lên tới mức kỉ lục là 2,7nghìn tỉ Baht, chiếm 47,7% tổng số các khoản vay của các tổ chức tài chính Mặc

dù các ngân hàng và Bộ tài chính Thái Lan cũng đã lập ra những AMC riêng chomình nhưng vì hạn chế về vốn, về quyền lực và về lợi ích của các Ngân hàng sởhữu nó nên các AMC này hoạt động không hiệu quả Do vậy, việc cần làm lúcnày là Chính phủ Thái Lan đã ra quyết định khẩn thành lập Công ty quản lý tàisản Quốc gia ( Thai Asset Management Corporation) theo Nghị định khẩn đượcgọi là “ Act Relating to Thai Asset Management Corporation, B.E.2544” ngày 8tháng 6 năm 2001

1.3.1.1Cơ chế hoạt động

i) Mục tiêu hoạt động

Theo Nghị định B.E.2544, TAMC ra đời với mục tiêu hoạt động là:

● Quản lí tài sản không hoạt động của các tổ chức tài chính, và cáccông ty quản lí tài sản khác

● Tái cấu trúc nợ xấu và cơ cấu lại doanh nghiệp thông quan việcnhận chuyển nhượng các tài sản không hoạt động trên bao gồm tài sản đảmbảo là bất động sản để đảm bảo thu hồi được nợ và góp phần phục hồi nềnkinh tế của đất nước

● Tránh những thủ tục pháp lí không cần thiết và tòa án

ii) Cơ chế quản trị, điều hành

❖ Hội đồng quản trị

Hội đồng quản trị cuả TAMC không quá 11 thành viên được bổ nhiệm bởi

Bộ trưởng Bộ tài chính sau khi được sự đồng ý của Chính phủ với quyền vànghĩa vụ tiến hành quản lí tài sản không hoạt động cũng như quy định khuôn khổ

và quy trình hoạt động của TAMC Nhiệm kì tối đa của Hội đồng quản trị la 6năm Các thành viên của Hội đồng quản trị bao gồm: Chủ tịch Hội đồng quản trị

Trang 14

(phải là một thành viên” ex-officio”), các thành viên Hội đồng quản trị còn lạikhông được quá 10 người Cuộc họp của Hội đồng quản trị được tiến hành khi sốthành viên dự họp tối thiêu là một nửa số thành viên của Hội đồng quản trị.

❖ Ủy ban Giám đốc điều hành

● Hội đồng quản trị thành lập một Ủy ban Giám đốc điều hành gồmcó: chủ tịch Ủy ban, các giám đốc điều hành khác ( không quá 3 người),

và Giám đốc quản lí

● Trong việc bầu các Giám đốc điều hành khác, Bộ Tài chính đề cử 2người mà phù hợp với vị trí đó, “Bank of Thailand”, “RehabilitationFund”, “Industrial Council of Thailand và Thai Chamber of Commerce”mỗi đơn vị đề cử một người, còn các tổ chức tài chính tư nhân đề cử 2người

❖ Giám đốc quản lí (Managing Director)

● Giám đốc quản lí của TAMC phải là một thành viên offico”, chịu trách nhiệm cho các hoạt động kinh doanh của TAMC,

“ex-có thẩm quyền và nghĩa vụ trước các điều lệ và quy định của Hộiđồng quản trị

● Là người đại diện cho TAMC khi gặp bên thứ 3 trong hoạtđộng của TAMC

❖ Ủy ban Kiểm toán

Ủy ban Kiểm toán gồm không quá 5 thành viên và được bổ nhiệm bởi Hội đồngquản trị để kiểm soát và kiểm tra hoạt động trong nội bộ TAMC và của Giám đốcquản lí

iii) Cơ chế mua, xử lí và thu hồi nợ

❖ Mua nợ

Các khoản nợ xấu mà TAMC mua được chủ yếu là bằng hình thức chuyểngiao, chỉ mua những khoản nợ hợp pháp và cụ thể như sau:

Trang 15

● Các tổ chức tài chính và các AMC có vốn góp đã trả trước chiếmbằng hoặc lớn hơn 50% là của các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức Chínhphủ hay “Rehabilitation Fund” phải chuyển giao tài sản không hoạt động choTAMC trong khoảng thời gian được TAMC quy định Với các loại tài sảnnày thì giá được chuyển giao bằng giá của tài sản bảo đảm (không tính bảođảm của cá nhân) Nếu không có tài sản bảo đảm thì giá mua được quy địnhbởi Hội đồng quản trị.

● Các tổ chức tài chính hay các AMC có thể tự nguyện chuyển giao

nợ xấu cho TAMC, với những loại nợ này thì sẽ được thẩm định giá mua, vàviệc thẩm định này tuân theo những nguyên tắc thẩm định tài sản đảm bảocủa Ngân hàng Thái Lan

● Các loại tài sản không hoạt động mà có tài sản đảm bảo, hợp pháp,hay có giá trị từ 5 triệu Baht trở lên thì giá mua bằng giá của tài sản đảm bảonhưng không được vượt quá giá trị sổ sách

❖ Quản lí nợ

● Trong khâu quản lí nợ, TAMC có thẩm quyền tái cấu trúc nợ, tái cơcấu doanh nghiệp, xử lí tài sản của nợ xấu hay xử lí nợ xấu một cách phùhợp

● Nợ sau khi mua về được sẽ được phân loại, sau đó TAMC sẽ tự xử

lí, hay thuê chuyên gia hay cố vần tài chính để xử lí giúp

❖ Thu hồi nợ

● Tái cấu trúc nợ bao gồm:

Giảm vốn gốc, giảm lãi suất, kéo dài thời gian trả nợ và nới lỏng các điềukiện trả nợ của con nợ

Chuyển đổi nợ thành vốn, hay là thành cổ phần

Chuyển nợ cho đối tượng thứ ba nếu được con nợ đồng ý

Trang 16

Nếu con nợ trả được một phần nợ nhưng không đủ khả năng trả nợ tiếp, nếungười bảo lãnh cam kết trả phần nợ còn lại với giá trị khoảng 2/3 hay nhỏ hơn thìTAMC sẽ miễn nợ cho cả hai đối tượng này.

● Tái cơ cấu doanh nghiệp

Hội đồng quản trị sẽ cử bất kì một người nào đó lập kế hoạch tái cơ cấudoanh nghiệp, và thời gian thực hiện kế hoạch đó của doanh nghiệp không đượcvượt quá 5 năm

Trong quá trình thực hiện kế hoạch tái cơ cấu doanh nghiệp, TAMC cóquyền sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, hủy bỏ một phần hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp, cho phép chủ nợ tham gia vào hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp đó

● Xử lí tài sản bảo đảm

Trong trường hợp các con nợ không đủ khả năng trả các khoản nợ TAMC sẽtiến hành làm thủ tục xử lí tài sản bảo đảm của doanh nghiệp dưới hình thức đấugiá công cộng, song nếu có hình thức khác làm tăng lợi ích của TAMC và con nợthì TAMC sẽ xem xét

iv) Nguồn tài chính

● Vốn hoạt động ban đầu của TAMC là 1 tỷ Baht được chia thành

100 triệu cổ phần phổ thông với giá trị trung bình của mỗi cổ phần là 10Baht, toàn bộ được mua bởi “Rehabilitation Fund”

● TAMC tăng vốn hoạt động thông qua việc phát hành cổ phiếu khiđược sự đồng ý của Chính phủ Thái Lan

● TAMC còn được phát hành “non-negotiable debt instruments” do

“Rehabilitation Fund” bảo đảm để mua tài sản không hoạt động của các

tổ chức tài chính và các AMC Mức lãi suất của “debt instruments" nàyphải được cố định bởi TAMC, không được vượt quá lãi suất tiền gửi của

5 ngân hàng Thái Lan mà Hội đồng quản trị quy định Lãi suất được trảđịnh kì một năm một lần

Trang 17

1.3.1.2 Kết quả đạt được của Thái Lan

Do những hạn chế của các AMC phân tán nên đa số chúng không đạt đượcnhững mục tiêu đề ra Trong khi chúng chỉ xử lí được lượng rất nhỏ nợ xấu thìTAMC tính đến thánh 6 năm 2003 đã giải quyết được 73,46% tổng số nợ cần giảiquyết Đó cũng là lí do tại sao ở phần này bài viết tập trung vào thành tựu màTAMC có được nhằm áp dụng cho Công ty quản lí tài sản quốc gia Việt Nam ởphần sau

Theo báo cáo của TAMC năm 2010, Công ty quản lí tài sản Trung ƯơngThái Lan ra đời đã:

● Bán được tài sản không hoạt động với tổng thu được lớn hơn 11 tỷBaht năm 2009

● Năm tháng 3 năm 2010, bất động sản ở Phuket, Dang-nga, Krabi vàcác vùng lân cận được bán ra với tổng giá trị vượt 700 triệu Baht

● Quản lí và hoàn thành mục tiêu tái cấu trúc nợ, bán tài sản khônghoạt động làm sạch hệ thống tài sản của các Ngân hàng, phục hồi hoàn toànnền kinh tế

1.3.2 Kinh nghiệm của Malaysia

Malaysia là một trong những nước ở khu vực Đông Nam Á tự do hóa thươngmại sớm, điều đó giúp cho thị trường tiền tệ và thị trường vốn phát triển nhanhchóng Tín dụng của ngành ngân hàng cũng được mở rộng do chính sách cho vaycủa Chính phủ dễ dãi và thiếu qui định chặt chẽ, lúc đó nợ xấu đã ở mức daođộng là 2%-3% Cũng như Thái Lan, Malaysia cũng chịu tác động của cuộckhủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Cũng từ đó, với sức mạnh của cơn bãokhủng hoảng này, đồng Ringgit của Thái Lan đã mất giá 50%, nợ xấu giữa 1998lên đỉnh điểm là 11,4% Những biến động đó đã đưa Chính phủ nước này đi tớimột quyết định quan trọng để khắc phục tình hình hiện tại, đó là thành lập mộtAMC Danaharta Năm 1998, Chính phủ Malaysia ban hành The Danaharta Act,

và công ty Danaharta ra đời từ đó

Trang 18

1.3.2.1 Cơ chế hoạt động của Danaharta

i) Mục tiêu hoạt động

Danaharta là công ty kết hợp cả hai mô hình xử lí nợ điển hình trên thế giới, đó làmua đứt nợ xấu và xử lí nhanh; mua nợ xấu và để chúng tự phục hồi Từ đó, môhình AMC ở Malaysia hoạt động với hai mục tiêu chính là:

● Giúp đỡ các tổ chức tài chính bằng việc xóa bỏ những khoản tài sảnsuy giảm

● Hỗ trợ họat động kinh doanh qua thông qua làm việc với các doanhnghiệp yếu kém

● Thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế bằng cách tăng tính thanhkhoản cho các tổ chức tín dụng

ii) Cơ chế điều hành, quản trị

Công ty Danaharta được Chính phủ Malaysia trao cho ba thẩm quyền đặc biệt làmua lại tài sản của các tổ chức tín dụng, bổ nhiệm lãnh đạo ở các tổ chức đang có

nợ, và có quyền tịch biên những tài sản thế chấp Nhờ những quyền đó mà cơ chếđiều hành, quản trị của AMC này có tính chặt chẽ cao Bảng các cơ quan điềutiết đối với Danaharta cho thấy điều đó

Sơ đồ 3: Cơ cấu quản trị, điều hành của Danaharta

Trang 19

Ghi chú: quan hệ sở hữu

quan hệ giám sát

Trong đó: Ủy ban giám sát của AMC này bao gồm ba thành viên: một đến từ

Bộ tài chính, một đến từ Ngân hàng Trung Ương Malaysia, và một đến từ Ủy banChứng khoán

Ban giám đốc bao gồm chín thành viên: một chủ tịch không điều hành, mộtgiám đốc không có quyền biểu quyết, hai thành viên đại diện Chính phủ, bathành viên từ khu vực tư nhân, hai thành viên từ cộng đồng quốc tế

Ngoài ra, ở các công ty không thể trả nợ hay hoàn thành nghĩa vụ trả nợDanaharta còn bổ nhiệm một quản trị viên đặc biệt dưới sự tán thành của Ủy bangiám sát Quản trị viên này giám sát và quản trị các vấn đề tài sản của công tyđang nợ Người này sẽ phải lập một bản đề nghị tập dượt để đưa lên cố vấn độclập của Ủy ban Giám sát phê duyệt về tính lợi ích của chủ nở và các cổ đông.Nếu được thông qua sẽ đưa lên Dannaharta, Công ty này sẽ xem xét là có cấp tíndụng hay không Nếu Danaharta đồng ý, quản trị viên đặc biệt phải triệu tập cuộchọp gồm các chủ nợ có tài sản đảm bảo, nếu đa số các chủ nợ này và các quyđịnh liên quan đồng ý trong cuộc họp thì bản đề nghị đó được thi hành

iii) Cơ chế mua, xử lí và thu hồi nợ

● Mua nợ

Với tỉ lệ nợ xấu tháng 8 năm 1998 là 11,4% Danaharta không thể mua tất cảcác khoản nợ của tổ chức tài chính mà chỉ có thể mua những khoản nợ xấu có giátrị từ 5 triệu Ringgit trở lên Với giá trị đó, thì nợ xấu cần AMC này mua chiếm70% tổng nợ xấu của toàn hệ thống, ước tính nằm khoảng từ 2000 đến 3000khoản nợ cần được mua Số lượng nợ xấu này sẽ được mua theo cơ chế thịtrường, tuy nhiên tùy thuộc vào từng loại mà Danaharta áp dụng cơ chế mua khácnhau Công ty này chia nợ xấu thành hai loại chủ yếu và được mua với các mứcgiá như sau:

Trang 20

Loại nợ Giá mua

● Giá trị hợp lí là 95% giá trị thị trường của bất động sản,giá trị này được xác định bởi các tổ chức định giá độc lập và được cấp giấp phép chứng nhận

● Giá trị hợp lí được tính theo số lượng cổ phiếu niêm yếtnắm giữ

● Xử lí và thu hồi nợ

Các khoản nợ được mua về sẽ được xếp trong danh mục “nợ mua lại” Vớicác khoản nợ xấu khủng lồ từ Doanh nghiệp Quốc doanh, để xử lí tốt Danahartaphát hành trái phiếu để đổi lấy nợ và chúng được gọi là “nợ ủy thác”.Đa phần cáckhoản nợ xấu mà Danaharta mua về đều là những khoản nợ có tài sản đảm bảo là

Trang 21

bất động sản Do đó, những tài sản này sẽ được cấu trúc lại để phục hồi giá trịban đầu của chúng Sau đó, Công ty sẽ bán tài sản đó ra thị trường để thu hồivốn.

iv) Nguồn tài chính

Cũng như TAMC của Thái Lan, Danaharta của Malaysia cũng chỉ được cấplượng vốn nhỏ ban đầu và phần còn lại thì công ty phải tự huy động Khi mớithành lập, Danaharta được Chính phủ Malaysia cấp vốn ban đầu là 3 triệuRinggit cùng với cơ sở vật chất trong công ty Do đó, công ty phải phát hànhthêm phiếu để có vốn hoạt động Có hai loại trái phiếu mà công ty đã pat hành.Thứ nhất là trái phiếu lấy tiền Thứ hai là trái phiếu để đổi trực tiếp lấy nợ từ các

tổ chức tín dụng Nhờ đó mà tháng 3 năm 2000 Danaharta đã huy động được8,22 tỷ Ringgit từ trái phiếu Zero-coupon

1.3.2.2 Kết quả mà Danaharta đạt được

Với ba mục tiêu đưa ra ban đầu, về cơ bản Danaharta đã hoàn thành tốt cả ba.Thứ nhất, giảm tỉ lệ nợ xấu của các tổ chức tín dụng, đưa mức nợ xấu vềngưỡngantoàn

Đồ thị 1: Nợ xấu của Malaysia giai đoạn 2000- 2012

Thứ hai, nền kinh tế tăng trưởng trở lại Nếu như năm 1997, với cuộc khủnghoảng tài chính châu Á, nền kinh tế Malaysia gặp rất nhiều biến động, GDP chỉ ở

Trang 22

mức gần 20 tỉ USD thì sau khi Danaharta ra đời, cộng với nhiều điều kiện kháccủa kinh tế, Malaysia vẫn vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008với mức GDP là gần 231 tỉ USD.

Thứ ba, cùng với kinh tế tăng trưởng và nợ xấu ở mức an toàn, hệ thống ngânhàng Malaysia phát triển ngày càng lớn mạnh hơn

1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Cũng là một trong các nước ở khu vực Châu Á nhưng Trung Quốc lại có sựkhác biệt về thể chế chính trị cũng như mô hình tăng trưởng kinh tế so với TháiLan và Malaysia Khi hai nước này thành lập AMC trong điều kiện nợ xấu tăngnhanh và những bất ổn trong nền kinh tế thì Trung Quốc lại còn phải kèm theocông cuộc đổi mới nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sangnền kinh tế thị trường trong những năm của thập niên 90 Không có con số chínhxác cho mức nợ xấu của Trung Quốc, nhưng theo ước lượng của Lardy năm 1998

nợ xấu bằng 25% tổng doanh mục cho vay của bốn ngân hàng lớn nhất TrungQuốc( Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, Ngân hàngKiến thiết Trung Quốc và Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc).Theo Liao and Liu năm 1999 nợ xấu của nước này vào khoảng 35% Dù ở mứcnào đi nữa thì con số này vẫn là rất cao so với các nước trong khu vực Thêm vào

đó là sự gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) cùng với các mối quan hệquốc tế ngày càng mở rộng yêu cầu ngành Ngân hàng của Trung Quốc phải táicấu trúc cộng với cả việc cải cách nền kinh tế Từ những hoàn cảnh đó mà cácCông ty quản lí tài sản của Trung Quốc ra đời Bốn AMC là Orient, Great Wall ,Cinda, Huarong thuộc bốn Ngân hàng lớn ở Trung Quốc đã ra đời năm 1999

1.3.3.1 Cơ chế hoạt động

Các AMC trên hoạt động trên khuôn khổ pháp luật được ban hành bởi Hộiđồng Nhà nước Trung Quốc năm 2000 với cơ chế hoạt động như sau

Trang 23

Thứ hai, từ việc giải quyết nợ xấu tiến đến tái cấu trúc và gia tăng năng lựccủa Ngàng ngân hàng Trung Quốc.

ii) Cơ chế quản trị, điều hành

So với những mô hình AMC của hai nước trong cùng khu vực là Thái Lan vàMalaysia thì các AMC của Trung Quốc được sở hữu và giám sát bởi nhiều cơquan nhà nước Mỗi Công ty quản lí tài sản ở Trung Quốc được sở hữu bởi mỗingân hàng lớn khác nhau trong nhóm Big Four, nhưng xét về tổng thể thì các cơquan điều tiết của chúng được thể hiện ở sơ đồ sau:

Cơ quan Sở hữu Cơ quan Giámsát

Sơ đồ 4: Các cơ quan điều tiết của bốn AMC Trung Quốc

Trong các cơ quan đó, Ủy ban Giám sát Ngân hàng Trung Quốc giám sáttrực tiếp về việc thành lập chi nhánh, công ty, bàn giao và chấm dứt sự hoạt động

Bộ tài chính

Bộ Thương mại

Ủy ban Chứng khoán

Ủy ban Giám sát Ngânhàng Trung Quốc

Ủy ban Quản lí vàgiám sát tài sản Nhànước

Trang 24

của các AMC, còn Bộ Tài chính thì đặt ra mục tiêu thu hồi nợ xấu và thông quacác thỏa thuận thu hồi nợ xấu của các AMC này Một điều cần lưu ý nữa là, mặc

dù các Thư kí của bốn AMC đều do Hội đồng Nhà nước trực tiếp bổ nhiệmnhưng họ đều là những cán bộ, người quản lí chủ chốt ở bốn Ngân hàng sở hữu

nó Điều này có phần tạo nên sự không minh bạch giữa các AMC và các ngânhàng này

iii) Cơ chế mua, xử lí và thu hồi nợ

● Mua nợ

Vì hầu hết nợ xấu mà bốn AMC của Trung Quốc cần xử lí là từ bốn Ngânhàng thương mại nhà nước nên đa phần nợ xấu được AMC mua về dưới hìnhthức chuyển giao Ngoài ra cũng có những khoản nợ được mua trực tiếp và muatheo giá trị sổ sách

Thứ ba,chuyển nợ thành cổ phần trong một số công ty, chứng khoán hóa cáckhoản nợ của bốn Ngân hàng thương mại nhà nước

Và cuối cùng là tiến hành xóa nợ đối với một số doanh nghiệp kinh doanh cóvai trò then chốt trong nền kinh tế

Trang 25

iv) Nguồn tài chính

Tiền mặt mà bốn Công ty quản lí tài sản ở Trung Quốc có được là rất ít,ngoài những cơ sở vật chất như văn phòng và thiết bị làm việc, và các doanhnghiệp làm ăn thua lỗ là những con nợ của các ngân hàng, Bộ tài chính cấp vốnban đầu cho bốn AMC là 40 tỷ NDT Song với lượng nợ xấu cần mua là 1.4nghìn tỷ NDT, các Công ty này cần phải huy động thêm vốn Trên thực tế, nguồntài chính cho chúng đến từ sự đóng góp của các ngân hàng sở hữu, các khoản vayđặc biệt từ Ngân hàng Nhân Dân Trung Quốc, và nguồn vốn không nhỏ trongquá trình hoạt động đó là từ việc phát hành trái phiếu với lãi suất là 2,25%/ năm.Qua đó, tổng vốn mà bốn AMC này có được là 1.44 nghìn tỷ trong đó 40% đượctài trợ từ Ngân hàng Trung Ương và 60% còn lại là do phát hành trái phiếu

1.3.3.2 Kết quả đạt được

Mặc dù còn một số hạn chế như :cơ chế quản lí, điều hành chồng chéo, nhiều

cơ quan tham gia quản lí làm tăng thủ tục hành chính trong quá trình mua bán và

xử lí nợ; các AMC cũng phải bù đắp một khoản không nhỏ vì mua tài sản hoặc

nợ theo giá trị sổ sách nhưng đa phần đều nhỏ hơn giá trị thị trường của chúngsong bốn Công ty quản lí tài sản của Trung Quốc cũng đạt được một số thànhcông nhất định

Nợ xấu đã giảm một phần.Cuối năm 2002, 100 tỷ NDT chiếm 33% giá trị sổsách cúa các khoản nợ xấu đã được giải quyết Tỷ lệ tiền mặt thu hồi được là 68

tỷ NDT tức là 22%.Thu hút sự quan tâm của giới đầu tư nước ngoài đối với cáctài sản thế chấp được đem ra đấu giá đặc biệt là bất động sản

Các ngân hàng thương mại Trung Quốc đã được cơ cấu lại và đi vào hoạtđộng như theo mục tiêu đề ra khi thành lập bốn AMC

1.3.4 Kinh nghiệm của Mỹ

Trang 26

Tuy là nước được biết đến với nền kinh tế đứng đầu thế giới nhưng năm

1989 Mỹ cũng phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính với sự sụp đổ củarất nhiều hiệp hội tiết kiệm và cho vay Chính sự đầu tư hàng loạt vào bất độngsản và các lĩnh vực mạo hiểm khác một cách dễ dãi của các hiệp hội này dẫn đến

sự phá sản khi các khoản đầu tư này thất bại Song điều quan trọng là vì cáckhoản tiền gửi trên được đảm bảo bởi Chính phủ Liêng bang nên khi chúng suysụp Chính phủ cũng không thể đứng ngoài cuộc Nhận thấy nguy cơ tiềm ẩn củacác tổ chức này đối với nền kinh tế quốc gia năm 1989 Quốc hội Mỹ và Tổngthống George H.W Bush đã thành lập Công ty ủy thác xử lí tài sản ( ResolutionTrust Corporation- RTC) qua đạo luật “Financial Institutions Reform, Recovery,and Enforcement Act”-FIRREA, nhưng mãi đến năm tháng 12 năm 1993 thìTổng thống William J Cliton mới chính thức kí về việc ban hành “ResolutionTrust Corporation Completion Act”

ii) Cơ chế quản trị điều hành

Theo đạo luật FIRREA, RTC là hoạt động như là một Ngân hàng do Chínhphủ Liên bang Mỹ sở hữu, và chịu giám sát của nhiều cơ quan Nhà nước

Công ty ủy thác xử lí tài sản chịu sự giám sát chủ yếu của Cơ quan bảo hiểmtiền gửi Liên bang (FDIC), ngoài ra còn có các Ủy ban như Ủy ban Giám sát, Ủyban Tư vấn nhà đất quốc gia, Ủy ban Giám sát bảo vệ tiền gửi tiết kiệm, và Bangiám đốc của Công ty Trong đó, Ủy ban tư vấn nhà đất quốc gia bao gồm Thư kí

Trang 27

phát triển nhà và đô thị, Chủ tịch Ủy ban tư vấn khu vực Ban Giám đốc của RTCcũng chính là ban Giám đốc của FDIC và còn có thêm hai thành viên nữa là Chủtịch của “Offie of Thrift Supervisor”, và một thành viên đo Tổng thống đề cử.Tất cả các chiến lược chung, chính sách, mục tiêu, quy định hay tiêu chuẩn doRTC đưa ra đều phải thông qua Ủy ban giám sát bảo vệ tiền gửi tiết kiệm.

Nhân viên làm việc trong RTC đều do Công ty này bổ nhiệm nhưng họ đều

là người bên FDIC Các giám đốc điều hành trong Công ty được bổ nhiệm bởiTổng thống dưới sự tư vấn và đồng ý của Thượng viện

iii) Cơ chế mua, xử lí và thu hồi nợ

Chủ yếu nợ xấu tồn đọng ở các Tổ chức tín dụng ở Mỹ là do sự trì trệ của bấtđộng sản, do vậy chính sách mua, xử lí nợ đều tập trung vào thị trường nhà đất

● Mua nợ

Trước khi đưa ra quyết định mua một khoản nợ nào, RTC ưu tiên trước hết xemxét chi phí để mua và quản lí khoản nợ đó, nếu cùng một mức chi phí như nhaucác khoản nợ từ các công ty do cá nhân thiểu số, do phụ nữ sở hữu sẽ được ưutiên mua

● Xử lí và thu hồi nợ

Các bất động sản khi được mua về, RTC sẽ mô giới lợi nhuận chưa chia hay lãisuất kiểm soát của bất động sản cho các cá nhân dưới hình thức đấu giá 120 ngàytrước khi đem bán hay cơ cấu lại

Các bất động sản còn lại sẽ được cơ cấu để đảm bảo giá trị hiện tại của chúng

và sau đó sẽ được bán ra ngoài thị trường

Toàn bộ nhà được mua bởi RTC sẽ được bán thông qua Chương trình Nhà ởgiá rẻ và quy định mức giá tối đa cho mỗi loại nhà để người mua lựa chọn cho bađối tượng là: Thứ nhất, bán nhà gia đình đơn cho người thuê nhà Thứ hai, báncho những người vô gia cư với giá bằng giá trị ròng hiện tại sau khi đã làm các

Trang 28

thủ tục Thứ ba, bán bất động sản thương mại cho các Cơ quan công cộng và Tổchức phi lợi nhuận với giá trị tương tự như trên.

Để đảm bảo việc thực hiện chương trình này là hiệu quả và hợp pháp thì có 3

bộ phận được thành lập ra, đó là Trung tâm thông tin, Ủy ban tư vấn nhà giá rẻ,

và hotline cho chương trình Trong đó, Trung tâm thông tin sẽ đánh giá chấtlượng của người mua Ủy ban tư vấn nhà giá rẻ gồm có 9 thành viên: một là Thư

kí Phát triển Nhà và đô thị ( HUD), một là Chủ tịch ban Giám đốc của Cơ quanbảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC)- là một thành viên không có quyền biểuquyết, một là Chủ tịch của Ủy ban giám sát bảo vệ tiền gửi tiết kiệm (TDPOB)-

là một thành viên không có quyền biểu quyết, bốn thành viên được bổ nhiệm bởiThư kí Phát triển nhà và đô thị (HUD), hai thành viên đến từ Ủy ban cố vấn nhàquốc gia (NHAD) Số nhiệm kì của các thành viên trên được quy định bởi Thư kíPat triển nhà và đô thị Hàng năm, Ủy ban này phải báo cáo với Hội đồng Ngânhàng, Nhà và đô thị của Thượng viện, Hội đồng Ngân hàng, Tài chính, Nhà và đôthị của đại diện Nhà Trắng, the FDIC, và RTC Còn hotline được “Federal HomeLoan Banks” thành lập để cung cấp thông tin về các loại bất động sản cho ngườimua

iv) Nguồn tài chính

Vốn hoạt động của RTC đến từ ba nguồn chủ yếu là Bộ tài chính, phát hànhtrái phiếu và từ Federal Home Loan Banks Trong đó, Bộ tài chính vay Ngânsách Nhà nước 18.8 tỉ đô la Trái phiếu phát hành dưới sự đảm bảo của RefCorp

là 30 tỉ đô la, và 1.2 tỉ đô la được cấp bởi “Federal Home Loan Banks”

1.3.5 Kinh nghiệm của Ai-len

Ai-len là một trong những nền kinh tế phát triển ở khu vực đồng tiền chungChâu Âu, song năm 2008 cũng phải chịu hậu quả nặng nề từ khủng hoảng tàichính toàn cầu Những gánh nặng mà Ai-len phải đối mặt trong thời gian nàychính là sự sụp đổ của bong bóng bất động sản khiến giá trị nhà đất giảm xuốngcòn 47% cũng do đó mà hàng loạt Ngân hàng không thu hồi được nợ làm cho

Trang 29

tình trạng nền kinh tế càng nghiêm trọng hơn: Ngân sách của Chính phủ bắt đầuthâm hụt nặng từ năm 2009, và tỷ lệ nợ xấu/GDP của toàn hệ thống Ngân hàngAi-len đã ở mức 9% cùng năm Nhằm cứu nguy cho nền kinh tế, tháng 12 năm

2009, Ai-len đã thành lập Cơ quan quản lí tài sản quốc gia ( National AssetManagement Agency-NAMA) theo bộ luật NAMA được ban hành ngày 22 tháng

❖ Mua, quản lí, và cơ cấu lại đất đai hoặc các loại tài sản khác

❖ Xử lí nhanh chóng các tài sản mua về, bảo toàn hoặc làm tănggiá trị của các loại tài sản đó trên cơ sở vẫn đảm bảo được lợi ích của Nhànước

ii) Cơ chế quản trị, điều hành

Xuyên suốt quá trình hoạt động của NAMA là sự quản lí, tư vấn của Bộ tàichính Ai-len cùng với Cơ quan quản lí Ngân sách Quốc gia Ai-len (NTMA)như việc xem xét các quyết định hoạt động của NAMA, bầu, miễn nhiệm, bãinhiệm một số chức danh quan trọng trong NAMA

❖ Hội đồng quản trị NAMA

● Hội đồng quản trị của NAMA có chức năng là đảm bảo rằngNAMA hoạt động bền vững và đạt hiệu quả, đề ra mục tiêu, chiến lược choNAMA kiểm tra quá trình hoạt động để đạt được những điều đề ra đó

● Hội đồng quản trị NAMA gồm có 8 thành viên Trong đó, 7 thànhviên do Bộ tài chính bổ nhiệm, thành viên còn lại là Giám đốc điều hành củaNTMA có vai trò như là một thành viên “ex-officio” Số nhiệm kì của mỗithành viên cũng do Bộ Tài chính quy định

Trang 30

❖ Chủ tịch của NAMA: được Bộ Tài chính đề cử từ những thành viêntrong NAMA với mỗi nhiệm kì là 5 năm và tối đa chỉ được hai nhiệm kì.

❖ Các Ủy ban của NAMA

Hội đồng quản trị NAMA sẽ thành lập ra bốn ủy ban, đó là Ủy ban Kiểm toán,

Ủy ban Tín dụng, Ủy ban Tài chính và Hoạt động, Ủy ban Quản trị rủi ro

● Ủy ban Kiểm toán gồm 6 thành viên do Bộ Tài chính bổ nhiệm,trong đó 2 thành viên không được là thành viên của Hội đồng quản trị, 4thành viên còn lại đến từ Hội đồng quản trị Thành viên của Ủy ban Kiểmtoán không được là Chủ tịch của NAMA và cũng không được là thanhviên “ ex-officio”

● Thành viên của 3 Ủy ban còn lại phải có ít nhất 2 người là thànhviên của Hội đồng quản trị hoặc là cán bộ công chức của NAMA

● Hội đồng quản trị có thể lập các tiểu ủy ban khác nếu thấy cần thiết

và phù hợp

iii) Cơ chế mua và thu hồi nợ

iii-a: Cơ chế mua nợ

❖ Nợ được mua theo giá trị kinh tế dài hạn, giá trị này được xác địnhbởi NAMA, phù hợp với phương pháp định giá và giá trị mà Bộ tài chínhđưa ra, dựa trên: Giá trị thị trường của bất động sản, giá trị thị trường của tàisản ngân hàng, giá trị kinh tế dài hạn của bất động sản

❖ Giá trị thị trường của bất động sản được thông qua: ý kiến của các

tổ chức tín dụng, các báo cáo mà Bộ tài chính quy định cho NAMA, giá trịthị trường mà NAMA đã xác định ở những loại bất động sản tương tự

❖ Giá trị thị trường của tài sản ngân hàng được thông qua:ý kiến củacác tổ chức tín dụng, giá trị thị trường mà NAMA đã xác định ở các loại tàisản ngân hàng tương tự, mức độ tin cậy tín dụng của chủ nợ hoặc bên cónghĩa vụ, và hiệu suất hoạt động của tài sản

Trang 31

Các tổ chức tín dụng phải cung cấp cho NAMA một cách đầy đủ nhữngthông tin mà Cơ quan này yêu cầu để đảm bảo cho quá trình mua nợ hiệu quả.

iii-b: Xử lí nợ

Nợ chủ yếu mà NAMA mua về là bất động sản, sau khi được mua về, chúngđược phân loại và có biện pháp xử lí phù hợp

● Đối với nhà ở xã hội

NAMA sẽ làm việc với Bộ trưởng “The Environment, Community and LocalGovernment” và Bộ trưởng “State for Housing and Planning” về việc chuyểngiao những ngôi nhà này để phục vụ mục đích công cộng Sau khi thỏa thuận giá

cả và phương thức thanh toán với các nhà chức trách địa phương , NAMA thựchiện việc chuyển giao bất động sản một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất

● Đối với các công trình còn dở dang

NAMA sẽ điều tra và thống kê số lượng công trình chưa hoàn thành, dùngquỹ để khắc phục hậu quả của những công trình đó Một số được xây dựng tiếp

và bán lại cho những người có điều kiện muốn mua Trong trường hợp này,NAMA được ủy thác để không phải gặp một số trở ngại về luật pháp cũng như

về một số chủ thể không chịu hợp tác

● Đối với việc giảm thuê văn phòng

NAMA xem xét và duyệt yêu cầu của những doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạođiều kiện cho họ kinh doanh và sản xuất

iii-c:thu hồi nợ

Dưới sự giám sát, quản lí của Bộ tài chính và NAMA, con nợ sẽ phải lập mộtbản kế hoạch kinh doanh về kế hoạch trả nợ cho Cơ quan này Sau khi được cốvấn bởi Thống đốc và Cơ quan quản lí, Bộ tài chính sẽ quy định cụ thể về việcchỉnh sửa bản kế hoạch kinh doanh Sau đó, việc tuân thủ thực hiện kế hoạch này

Trang 32

được kiểm tra bởi NAMA và Cơ quan này sẽ đưa ra những biện pháp phù hợp đểđảm bảo quá trình này đạt hiều quả.

Trang 33

abatements” với giá trị hàng năm là 14 triệu € và đặc biệt hơn cả trong quá trình

xử lí bất động sản của NAMA đó là “80/20 Deffered Payment Initiative” Vớisáng kiến này người mua nhà sẽ phải trả trước 80% giá trị ngôi nhà tại thời điểmhiện tại, phần còn lại sẽ trả vào 5 năm sau và số tiền của phần còn lại đó sẽ đượctính theo giá thị trường của 5 năm sau đó Nếu giá không đổi hay cao hơn thì giácủa ngôi nhà vẫn không đổi, nhưng nếu giá giảm thì người mua chỉ phải mua vớimức gía giảm đó thôi NAMA sẽ cung cấp toàn bộ thông tin về những ngôi nhànằm trong diện này để người mua có thể tiếp cận chương trình này dễ dàng hơn.Tổng số tiền mặt mà NAMA đã tạo ra được tính đến nửa đầu năm 2013 là12.6 tỷ € , nợ ưu đãi hoàn lại tháng 6 năm 2013 là 1.5 tỷ €

Lượng nợ xấu được mua nhiều hơn, năm 2013 tổng giá trị danh nghĩa của nợxấu được mua là 74 € tỷ từ các tổ chức tài chính và các AMC Giá trị ghi sổ củadoanh mục nợ xấu giảm 1.5 tỷ €

Thu được lợi nhuận trong quá trình hoạt động: tính đến tháng 6 năm 2013thu nhập từ phí và lãi suất là 658408 €, bên cạnh đó từ việc làm trung gian tàichính trong quá trình mua bán nợ xấu đặc biết là bất động sản giữa cũng đem lạicho NAMA 2 tỷ €

Trang 34

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN

QUỐC GIA VIỆT NAM

Với mục tiêu duy trì nợ xấu ở mức an toàn là 3%, ngay từ năm 2003 Chínhphủ cũng đã chú trọng tới việc có một cơ quan chuyên trách ra đời để xử lí tìnhtrạng nợ xấu ngày một gia tăng, thế nên Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg ngày05/06/2003 thành lập Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) với vốn điều lệ là 2 nghìn tỷ đồng do Ngân sách nhà nước cấp và chínhthức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004 Công ty ra đời nhằm xử lí các khoản

nợ và tài sản tồn đọng góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp,thúc đẩy quá trình sắp xếp và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước

Không chỉ là Chính phủ thành lập công ty quản lí tài sản mà ngay cả cácngân hàng cũng lập công ty quản lí tài sản riêng cho mình.Có thể đưa ra một số

mô hình AMC của các ngân hàng thương mại như: Công ty thuê mua và đầu tưtrực thuộc Ngân hàng Ngoại thương, Công ty TNHH Quản lí nợ & Khai thác tàisản Ngân hàng TMCP Quân Đội, Techcombank AMC, Công ty TNHH MTVQuản lí nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Tuy nhiên, mặc dù đã tồn tại các công ty quản lí tài sản như trên nhưng vìchúng đã hoạt động chưa thực sự đạt hiệu quả, chưa đi đến được mấu chốt nợxấu gia tăng của hệ thống ngân hàng, vì hai lí do sau:

Thứ nhất, đối với DATC, công ty này trực thuộc Chính phủ song hệ thốngngân hàng thương mại lại nằm trong sự kiểm soát và quản lí trực tiếp của Ngânhàng Nhà nước Việt Nam, việc dùng DATC để xử lí nợ xấu của các ngân hàngnhư là một thủ tục hành chính hai cửa, rườm rà, phức tạp

Thứ hai, đối với các AMC riêng lẻ, vì chúng thuộc quyền sở hữu của cácngân hàng nên chịu sự quản lí trực tiếp của ngân hàng sở hữu nó: từ nguốn vốn,

cơ chế hoạt động, cơ chế quản trị điều hành Điều đó làm cho các AMC này hoạtđộng thiếu minh bạch Thêm vào đó, các AMC này bị hạn chế nhiều về quyềnnăng pháp lí cũng như năng lực quản lí Và một điều không thể thiếu đó là sự che

Trang 35

giấu nợ xấu của các ngân hàng đó: khi khai báo trung thực tổng mức nợ xấu,ngân hàng nhỏ thì lo ngại bị phân biệt đối xử, ngân hàng lớn thì không muốnlượng đầu tư bên ngoài hay giá cổ phiếu của mình giảm.

Vì hai lí do chủ yếu trên mà nền kinh tế cần đó là một AMC trực thuộc Ngânhàng Trung Ương Việt Nam, có đủ quyền năng để giải quyết vấn đề cấp bách nợxấu và sự ra đời của Công ty quản lí tài sản quốc gia Việt Nam theo Nghị định số53/2013/NĐ-CP của Chính phủ được xem như là sự thỏa mãn cầu của nền kinhtế

2.1 Khái quát chung về VAMC

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của VAMC

Từ năm 2008, do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng kinh tế thếgiới lây lan từ Mỹ, nền kinh tế Việt Nam càng bị kìm hãm hơn khi đang trongquá trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa Chỉ riêng năm 2011, nợ xấu của toàn

hệ thống ngân hàng trong các Doanh nghiệp Nhà nước chiếm tới 60% tổng mức

nợ xấu và những tháng cuối năm 2012, tốc độ tăng trưởng nợ xấu cao gần 13 lần

so với tốc độ tăng trưởng tín dụng Dòng vốn lưu thông trong nền kinh tế và côngviệc tái cấu trúc ngành ngân hàng bị chững lại Thế nhưng, trong tình hình đó cácngân hàng vẫn liên kết lại che giấu khoản nợ xấu thực sự của mình Nợ xấu giatăng ảnh hưởng không chỉ tới riêng lợi nhuận của ngân hàng thương mại mà cònlàm ngưng trệ cả hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp và nền kinh tế càng đivào suy thoái hơn Hậu quả của nợ xấu diễn ra ngay trước mắt cùng với cả sựhoạt động kém hiệu quả của DATC và các AMC riêng lẻ là nguyên nhân thúcđẩy Ngân hàng Nhà nước cần đứng ra thành lập một mô hình AMC mới, đóchính là Công ty quản lí tài sản của các tổ chức tín dụng quốc gia năm 2013

2.1.2 Thành lập VAMC

Công ty quản lí tài sản quốc gia Việt Nam ( VAMC) được thành lập theoNghị Định 53/2013/ NĐ-CP ngày 18/05/2013 và chính thức đi vào hoạt động từngày 09/07/2013 Đó là một doanh nghiệp đặc thù dưới hình thức Công ty

Trang 36

TNHH một thành viên do Nhà nước Việt Nam sỡ hữu 100% vốn điều lệ ( theoKhoản 2 Điều 1 Nghị định 34/2015/NĐ-CP, Sửa đổi, bổ sung một số điều củaNghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về thànhlập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụngViệt Nam, tổng số vốn điều lệ của VAMC là 2000 tỷ đồng) và chịu sự quản lí,thanh tra, giám sát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.1.3 Cơ chế hoạt động của VAMC

Theo khoản 1, Điều 12 của Nghị định 53/2013/NĐ-CP,các hoạt động chủyếu của VAMC là:

● Mua nợ xấu của các TCTD

● Thu hồi nợ, đòi nợ, xử lí nợ, bán nợ và tài sản bảo đảm

● Cơ cấu lại các khoản nợ và điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốngóp, vốn cổ phần của khách hàng vay

● Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng và cho thuê tài sảnbảo đảm được VAMC thu

● Quản lí khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm

có liên quan đến khoản nợ nợ xấu

● Tư vấn, mô giới mua, bán nợ và tài sản

● Tổ chức bán đấu giá tài sản

● Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, các nhân vay vốn của cácTCTD

2.1.3.1 Mục tiêu hoạt động của VAMC

Với ba nguyên tắc hoạt động là thứ nhất, lấy thu bù chi không vì mục tiêu lợinhuận Thứ hai, công khai minh bạch trong mua và xử lí nợ xấu Thứ ba, hạn chếrủi ro và chi phí trong xử lí nợ xấu ,Công ty quản lí tài sản được thành lập đểhoạt động vì bốn mục tiêu cơ bản sau:

● Xử lí nhanh số nợ xấu của các ngân hàng

● Lành mạnh hóa tình trạng tài chính của toàn hệ thống

Trang 37

● Giảm thiểu rủi ro cho các Tổ chức tín dụng và các Doanh nghiệp

● Thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lí cho nền kinh tế

2.1.3.2 Cơ chế quản trị, điều hành của VAMC

Công ty quản lí tài sản quốc gia Việt Nam được quản trị, điều hành bởi độingũ cán bộ trong Công ty quản lí tài sản quốc gia Việt Nam đều là những người

có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm cao đến từ Ngân hàng Trung Ương vàcác ngân hàng Thương mại Cổ phần và được cơ cấu thành:

● Hội đồng Thành viên ( gồm không quá 07 thành viên)

● Ban điều hành

● Ban kiểm soát ( gồm không quá 03 thành viên)

● Các ban nghiệp vụ như: Ban hành chính- nhân sự, Ban mua bán xử

lí nợ xấu của TCTD Nhà nước, Ban mua bán xử lí nợ xấu của TCTD Cổphần, Ban Tài chính- Kế toán, Ban Công nghệ thông tin, Ban Kiểm tra-Giámsát, và Ban Pháp chế

Trong đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ là cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm, miễnnhiệm Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng Thành viên, Trưởng ban Kiểmsoát và các thành viên của ban Kiểm soát, Tổng giám đốc và Phó Tổng giám đốccủa Công ty này Thẩm quyền của Hội đồng Thành viên được quy định trong vănbản nội bộ của Công ty ở Quyết định số 16/QĐ-HĐTV ngày 24 tháng 9 năm

2013 của Hội đồng thành viên về Ban hành Quy chế mua, bán và xử lý nợ xấucủa Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam tại khoản 4, Điều

4 Theo đó, Hội đồng Thành viên có thẩm quyền:

● Quyết định mua, bán các khoản nợ và tài sản bảo đảm có giá trị nhỏhơn 50% tổng giá trị tài sản đươc ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểmgần nhất của Công ty.( Với các khoản nợ có giá trị lớn hơn hoặc bằng 50%thì phải trình lên Ngân hàng Nhà nước)

● Quyết định biện pháp và phương pháp xử lí nợ và tài sản bảo đảm

● Quyết định lại việc cơ cấu các khoản nợ đã mua

Trang 38

● Chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt thành vốnđiều lệ, vốn cổ phần của khách hàng vay là doanh nghiệp

● Quyết định đầu tư, cung cấp tài chính, bảo lãnh cho khách vay vốn,

sử dụng tài sản ( không phải là khoản nợ được mua bằng trái phiếu đặc biệt),nguồn vốn hợp pháp để góp vốn điều lệ, vốn cổ phần của khách hàng vay làdoanh nghiệp dựa trên sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước

2.1.3.3 Cơ chế mua và xử lí nợ của VAMC

Theo Thông tư số 19/2013/TT- NHNN ban hành ngày 06/09/2013 Quy định

về việc mua, bán và xử lí nợ xấu của Công ty quản lí tài sản của các Tổ chức Tíndụng ( VAMC) thì việc mua, bán và xử lí nợ có các các quy định chung sau:Thứ nhất, đồng tiền giao dịch là đồng Việt Nam ( VND), trong trường hợpVAMC dùng trái phiếu đặc biệt để mua mua bán nợ xấu thì tỉ giá quy đổi sẽđược quy định bởi NHNN, trong trường hợp VAMC dùng trái phiếu đặc biệt đểmua khoản nợ xấu bằng vàng của TCTD đó thì tỉ giá quy đổi tính theo giá vàngmua vào của Công ty TNHH một Thành viên Vàng bạc đá quý Sài Gòn tại thờiđiểm kí kết hợp đồng mua, bán nợ

Thứ hai, việc mua, bán nợ xấu thực hiện theo nguyên tắc là công khai minhbạch, tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật và theo hợp đồng mua, bán nợ,hạn chề rủi ro và chi phí trong quá trình mua, bán nợ

Thứ ba, khách hàng vay có khoản nợ xấu bán cho VAMC có phương án kinhdoanh, dự án sản xuất, đầu tư hiệu quả được các TCTD, chi nhánh ngân hàngnước ngoài xem xét , cấp tín dụng theo thỏa thuận một cách hợp pháp

a) Cơ chế mua nợ

i: Điều kiện các khoản nợ được mua

Theo khoản 1 Điều 8, Nghị định 53/2013/NĐ-CP và được hướng dẫn bởiĐiều 16 và Điều 23 Thông tư 19/2013/TT-NHNN, các khoản nợ xấu được Công

ty quản lí tài sản mua khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

Trang 39

● Khoản nợ xấu của TCTD bao gồm nợ xấu trong các hoạt động cấptín dụng, mua trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp,

ủy thác cấp tín dụng và hoạt động khác theo quy định của Ngân hàng Nhànước

● Khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm

● Khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm phải hợp pháp và có giấy tờ, hồ sơhợp lệ

ii : Mua nợ xấu theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt

❖ Trái phiếu đặc biệt

● Chủ thể, mục đích, hình thức phát hành trái phiếu đặc biệt

Theo 8 Điều 1 Thông tư 14/2015/TT-NHNN, Sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06 tháng 9 năm 2013 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công tyQuản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam: Chủ thể phát hành trái phiếu,trái phiếu đặc biệt là Công ty Quản lý tài sản thong qua ủy quyền cho Sở Giaodịch Ngân hàng Nhà nước tổ chức phát hành trái phiếu, trái phiếu đặc biệt đểthanh toán cho các tổ chức tín dụng bán nợ khi mua nợ xấu của các tổ chức tíndụng Việc phát hành trái phiếu, trái phiếu đặc biệt để thanh toán cho tổ chức tíndụng bán nợ được thực hiện riêng lẻ, căn cứ nhu cầu thực tế và kế hoạch pháthành trái phiếu trong Phương án mua nợ xấu theo giá trị thị trường, Phương ánphát hành trái phiếu đặc biệt đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận Mỗi mộttrái phiếu, trái phiếu đặc biệt được phát hành tương ứng với một khoản nợ xấuđược mua, bán Trường hợp khoản nợ xấu được mua, bán là khoản cấp tín dụnghợp vốn, Công ty Quản lý tài sản phát hành trái phiếu, trái phiếu đặc biệt tương

Ngày đăng: 11/07/2016, 09:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Thoibaonganhang.vn [Online] Từ: http://thoibaonganhang.vn/tin-tuc/7-kinh-nghiem-xu-ly-no-xau-o-thai-lan-2723.htm [Truy cập: 21/09/2013] Link
9. tamc.or [Online] Từ :http://tamc.or.th/en/articles.php [ Truy cập:21/09/2013] Link
10.Mbamc.com.vn[Online]Từ:http://mbamc.com.vn/Tintuc/tintucMBAMC/475/news.aspx [ Truy cập: 21/09/2013] Link
11. Vietstock.vn [Online] Từ: http://vietstock.vn/2013/05/hoc-duoc-gi-tu-danaharta-mo-hinh-amc-thanh-cong-cua-malaysia-772-296454.htm [Truy cập:21/09/2013] Link
12.Lawyerment.com.my[Online]Từ:http://www.lawyerment.com.my/financial/danaharta5.shtml#top [Truy cập: 21/09/2013] Link
24. Dantri.com.vn [Online] Từ: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/con-at-chu-bai-vamc-va-noi-am-anh-no-xau-761041.htm [ Truy cập: 04/01/2014] Link
1. GS.TS. Nguyễn Văn Tiến (2013) Quản trị Ngân hàng Thương mại [Giáo trình]. Khoa Ngân hàng, Học Viện Ngân Hàng, 21/09/2013 Khác
2. Th.S. Đặng Duy Cường & Th.S. Nguyễn Mạnh Hùng (2013). Kinh nghiệm của Cộng hòa Ai-len trong việc thành lập cơ quan quản lí tài sản quốc gia. Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, Số 15, Trang 36-40 Khác
3. Th.S. Nguyễn Hồng Ngọc & TS. Nguyễn Thị Cẩm Thủy. (2013). Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng- Kinh nghiệm quốc tế và bài học Kin nghiệm cho Việt Nam. Kỉ yếu hội thảo khoa học Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng Việt Nam, Trang 121-129 Khác
4. Th.S. Phạm Ngọc Huyền & GV. Đào Mỹ Hằng. (2013). Tái cấu trúc Ngân Hàng Việt Nam. Kỉ yếu hội thảo khoa học Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng Việt Nam, Trang 52-63 Khác
5. Th.S. Nguyễn Thị Quỳnh Hương & GV. Lê Thanh Bình. (2013). Quá trình xử lí nợ xấu tại Trung Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam. Kỉ yếu hội thảo khoa học Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng Việt Nam, Trang 202-211 Khác
6. CN. Tạ Thanh Huyền (2013). Công ty xử lí nợ xấu và quản lí tài sản- Từ lí luận đến thực tiễn tại NHTM Việt Nam. Kỉ yếu hội thảo khoa học Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng Việt Nam, Trang 234-246 Khác
15. His Majesty King Bhumibol Addulyadej, Rex., [2001] Executive Emergency Decree Relating to Thai Asset Managenment Corporation, B.E.2544 (2001) Khác
16. One Hundred Third Congress of th United States of America [1993]Resolution Trust Corporation Completion Act Khác
25. Nghị định về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty quản lí tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam [2013] Ngày 18/05/2013 Số 53/2013/NĐ-CP Khác
26. Thông tư quy định về việc mua, bán và xử lí nợ xấu của Công ty quản lí tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam [2013] Ngày 06/09/2013 Số 19/2013/TT-NHNN Khác
27. Quyết định của Bộ Tài chính ban hành điều lệ tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp [2003]Ngày 05/12/2003 Số 199/2003/QĐ-BTC Khác
28. Quyết định ban hành quy chế quản lí tài chính tạm thời của Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp [2004] Ngày 01/06/2004 Số 1683/2004/QĐ-BTC và Quyết định sửa đổi bổ sung của quyết định trên ngày 21/06/2007 Số 2157/QĐ-BTC Khác
29. Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục và xử lí tài chính đối với hoạt động mua, bán, bàn giao, tiếp nhận, xử lí nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp [2004] Ngày 11/05/2004 Số 39/2004/TT-BTC Khác
30. TS. Nguyễn Ngọc Vinh (2012) Nợ xấu ngân hàng giải quyết bằng cách nào: Vai trò của thẩm định giá trong việc giải quyết nợ xấu của ngân hang Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Cơ cấu quản trị, điều hành của AMC - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG TY QUẢN lý tài sản QUỐC GIA VIỆT NAM và GIẢI PHÁP tài CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG tại CÔNG TY
Sơ đồ 2 Cơ cấu quản trị, điều hành của AMC (Trang 10)
Sơ đồ 3: Cơ cấu quản trị, điều hành của Danaharta - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG TY QUẢN lý tài sản QUỐC GIA VIỆT NAM và GIẢI PHÁP tài CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG tại CÔNG TY
Sơ đồ 3 Cơ cấu quản trị, điều hành của Danaharta (Trang 18)
Đồ thị 1: Nợ xấu của Malaysia giai đoạn 2000- 2012 - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG TY QUẢN lý tài sản QUỐC GIA VIỆT NAM và GIẢI PHÁP tài CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG tại CÔNG TY
th ị 1: Nợ xấu của Malaysia giai đoạn 2000- 2012 (Trang 21)
Sơ đồ 4: Các cơ quan điều tiết của bốn AMC Trung Quốc - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG TY QUẢN lý tài sản QUỐC GIA VIỆT NAM và GIẢI PHÁP tài CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG tại CÔNG TY
Sơ đồ 4 Các cơ quan điều tiết của bốn AMC Trung Quốc (Trang 23)
Bảng 2: Nợ xấu và trái phiếu đặc biệt VAMC đã mua và phát hành - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG TY QUẢN lý tài sản QUỐC GIA VIỆT NAM và GIẢI PHÁP tài CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG tại CÔNG TY
Bảng 2 Nợ xấu và trái phiếu đặc biệt VAMC đã mua và phát hành (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w