1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội

132 516 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 654,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứuĐề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu quan điểm thái độ của thanh niên Hà Nội về việc đi chung xe, từ đó ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ và

Trang 1

Hệ : Chính quyThời gian thực tập : Đợt II 2014 – 2015



Hà Nội, 05/2015

Trang 2

Mục Lục

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING TÁC ĐỘNG ĐẾN THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA THANH NIÊN HÀ NỘI 9

1.1 Cơ sở lý thuyết về truyền thông marketing 9

1.1.1 Bản chất của truyền thông marketing 9

1.1.2 Nội dung truyền thông marketing 10

1.2.2 Quá trình xây dựng chương trình truyền thông 11

1.1.3 Quá trình lên kế hoạch truyền thông marketing tích hợp (IMC) 18

1.1.3.1 Xem xét kế hoạch truyền thông marketing tích hợp 18

1.1.3.2 Phân tích các yếu tố chi phối tới chương trình IMC 19

1.1.3.3 Xác định mục tiêu truyền thông 19

1.1.3.4 Xác định ngân sách 19

1.1.3.5 Phát triển chương trình truyền thông marketing tích hợp 20

1.1.3.6 Theo dõi đánh giá và kiểm soát chương trình truyền thông 20

1.2 Sự tác động của truyền thông marketing đến thái độ, hành vi của đối tượng nhận tin mục tiêu… 20

1.3 Những đề tài đã nghiên cứu có liên quan đến đi chung xe nói riêng và giao thông đô thị nói chung… 22

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ ĐI CHUNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC ĐI CHUNG XE TẠI HÀ NỘI 28

2.1 Khái quát về đi chung xe 28

2.2 Đi chung xe ở các quốc gia khác và các tổ chức, doanh nghiệp lớn đang phát triển đi chung xe trên thế giới 28

2.3 Lợi ích đi chung xe mang lại 29

2.3.1 Lợi ích với xã hội 30

2.3.2 Lợi ích với người dân 31

2.3.3 Lợi ích với doanh nghiệp kinh doanh 31

2.4 Những thách thức của đi chung xe với giao thông Hà Nội 32

2.5 Môi trường phát triển đi chung xe ở Việt Nam 34

2.5.1 Nhóm yếu tố vi mô 34

2.5.2 Nhóm yếu tố vĩ mô 38

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CỦA THANH NIÊN VỚI HÌNH THỨC ĐI CHUNG XE 44

3.1 Đặc điểm tâm lý và xã hội của công chúng nhận tin 44

Trang 3

3.1.1 Đặc điểm về tâm lý học của thanh niên nói chung 44

3.1.2 Đặc điểm về xã hội học của thanh niên 45

3.2 Kết quả nghiên cứu những yếu tố tác động đến việc lựa chọn hình thức tham gia giao thông của thanh niên 46

3.3 Thực trạng kết quả nghiên cứu nhận thức, thái độ hành vi của thanh niên về hình thức đi chung xe 52

3.3.1 Nhận biết của thanh niên về đi chung xe 52

3.3.2 Thái độ và hành vi của thanh niên Hà Nội về đi chung xe 57

3.4 Thực trạng thói quen tiếp nhận và giải mã thông điệp truyền thông của thanh niên Hà Nội………67

3.5 Nhận xét 75

CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG MARKETING VỀ VẤN ĐỀ ĐI CHUNG XE ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CHO THANH NIÊN HÀ NỘI 76

4.1 Sự cần thiết của những chương trình truyền thông tới thanh niên Hà Nội về đi chung xe 76

4.2 Giải pháp đối với hoạt động truyền thông marketing 77

4.2.1 Quy trình xây dựng chương trình tuyền thông 77

4.2.2 Đề xuất giải pháp hỗ trợ 80

PHẦN KẾT LUẬN 88

Phụ lục

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Một trong những vấn đề mà bất kỳ đô thị lớn nào đều có thể gặp phải, đặc biệt là các

đô thị lớn ở Việt Nam đó là ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường đô thị Theo kếtquả nghiên cứu công bố năm 2012 tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos diễn ra tạiDavos, bang Geneva, Thụy Sỹ, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượngkhông khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe

Gần đây, khá nhiều giải pháp liên tục được cơ quan nhà nước đưa ra để giải quyết vấn

đề tắc nghẽn giao thông bao gồm: thay đổi giờ làm, hạn chế taxi trong giờ cao điểm,đầu tư thêm cơ sở hạ tầng như đường sắt trên cao Tuy nhiên, những giải pháp nàykhá tốn kém và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người dân, thậm chí còn gây nhiều phảnứng không đồng thuận

Về cơ bản mỗi người chúng ta đều có thể góp một phần vào việc giảm nhiệt cho vấn đềtrên bằng những hành động như chuyển sang phương tiện thân thiện với môi trườngnhư: xe đạp, phương tiện công cộng hoặc đi chung xe khi phù hợp Đi chung là mộttrong những cách tiết kiệm và hiệu quả để giải quyết vấn đề hơn hẳn so với các giảipháp như: thay đổi giờ làm, hạn chế đi lại trong giờ cao điểm Vì vậy rất nhiều nướckhuyến khích hình thức di chuyển văn minh và tiết kiệm này Đặc biêt ở Châu Âu vàBắc Mỹ Và trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng đã xuất hiện một trào lưu thamgia giao thông mới được đông đảo các bạn trẻ hưởng ứng đó là “Chung đường, chungxe”, mọi người sẵn sàng chia sẻ chỗ ngồi trên xe của mình cho những người bạn cócùng lộ trình di chuyển với mình

Có thể nói trong khi việc khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thôngcông cộng và những bất cập của những phương tiện này mang lại chưa được giải quyếtthì giải pháp đi chung xe nếu quản lý tốt và những người tham gia am hiểu về nó rất cóthể sẽ là một giải pháp cho giao thông Hà Nội trong tương lai

Về hình thức đi chung xe bao gồm cả: phương tiên giao thông công cộng, và đi chung

xe bằng phương tiện cá nhân Nhưng để làm rõ được nội dung nghiên cứu cũng nhưnhấn mạnh vào trào lưu “ chung đường, chung xe” như một phương thức tham gia giaothông ,nên tác giả sẽ tập trung phân tích sâu về việc đi chung xe bằng phương tiện cánhân và việc áp dụng công nghệ với loại hình tham gia giao thông mới này

Trang 5

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu quan điểm thái độ của thanh niên Hà Nội về việc

đi chung xe, từ đó ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ vàhành vi đối với việc đi chung xe Sau đây là những mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

+ Mức độ hiểu biết về hình thức đi chung xe trong thanh niên Hà Nội hiện nay.+ Đánh giá của thanh niên Hà Nội về những lợi ích mà đi chung xe mang lại cho

xã hội và cho bản thân người sử dụng

+ Ứng dụng được truyền thông marketing vào để định hướng nhận thức, thái độ

và hành vi của thanh niên để chính họ có cái nhìn đúng đắn và sử dụng hìnhthức đi chung hiệu quả

Câu hỏi nghiên cứu

- Hiểu biết của thanh niên hiện nay về hình thức đi chung, và những lợi ích mà đichung mang lại cho người sử dụng và cho xã hội?

- Những yếu tố tác động đến việc lựa chọn hình thức tham gia giao thông củathanh niên, và mức độ tác động của những yếu tố ấy đến việc sử dụng hình thức

đi chung xe?

Phương pháp thu thập dữ liệu:

Dữ liệu thứ cấp: Các tài liệu liên quan tới các vấn đề giao thông, môi trường, nănglượng thu thập từ các cơ quan thống kê,các cuộc nghiên cứu liên quan …

Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua điều tra phỏng vấn của tác giả, ban đầu dự kiếnthực hiện cuộc điều tra với mẫu dự kiến 100-150 phần tử trong đó có 60% là học sinhsinh viên trong độ tuổi từ 16-21, 20% là đối tượng thanh niên ở độ tuổi bắt đầu khởinghiệp, 20% thanh niên tuổi từ 29-36 đã ổn định công việc và gia đình, xong thực tếđiều tra thu về được 129 phiếu hợp lệ Đối tượng nghiên cứu là thanh niên từ 16 – 36tuổi tại Hà Nội theo kết quả thu được 60% là học sinh, sinh viên, 25% là thanh niên độtuổi giai đoạn bắt đầu khởi nghiệp (22 – 28 tuổi), và 15% là đối tượng thanh niên đã cógia đình tuổi từ (29-36) Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn: Điều tra phỏng vấnbằng bảng hỏi bao gồm 15 câu hỏi chính thức gồm các câu hỏi đóng, qua survey điện

Trang 6

tử qua việc thư điện tử, sử dụng mạng xã hội Facebook, các diễn đàn liên quan đốitượng cần thu thập thông tin.

 Tiến hành lấy mẫu: Theo từ đầu dự kiến, tác giả lấy mẫu tiện lợi theo cơ cấu đều50% cả nam và nữ, nhưng trong quá trình điều tra phỏng vấn trực tiếp do điều kiệnkhách quan nên cơ cấu về giới tính có chút biến đổi, do đáp viên là các bạn trẻ rấtvui tính, hoặc cũng có thể điền đúng giới tính thật của mình nên tỷ lệ giới tính khác

Trang 7

Biểu đồ 0.2: Cơ cấu về độ tuổi của đáp viên

Phạm vi địa lý: Đề tài được thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội;

Thời gian thực hiện đề tài: Từ 05/01/2015 – 20/05/2015

Trang 9

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING TÁC ĐỘNG ĐẾN THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA THANH NIÊN HÀ NỘI

1.1 Cơ sở lý thuyết về truyền thông marketing

1.1.1 Bản chất của truyền thông marketing

Hoạt động marketing, không thể không nhắc đến các hoạt động truyền thôngmarketing, đây là công cụ cuối cùng trong tổ hợp marketing hỗn hợp mà doanh nghiệp

sử dụng để thiết lập mối quan hệ với khách hàng Các doanh nghiệp không chỉ tạo ragiá trị cho khách hàng, họ còn phải truyền thông chính xác, rõ ràng và thuyết phục giátrị đó tới khách hàng Do vậy, bản chất của truyền thông marketing chính là những hoạtđộng liên quan đến việc truyền đi những thông tin về tổ chức, sản phẩm tới khách hàngmục tiêu để thuyết phục họ mua và thiết lập, duy trì mối quan hệ bền vững với họ Đểđạt được điều đó, doanh nghiệp, tổ chức phải sử dụng rất nhiều công cụ khác nhau vàphân phối hợp chúng một cách hiệu quả Chính vì vậy người ta gọi truyền thôngmarketing là xúc tiến hỗn hợp Tùy thuộc vào điều kiện doanh nghiệp có thể kết hợpkhéo léo 5 công cụ: quảng cáo, bán hàng cá nhân, khuyến mại, quan hệ cộng đồng vàmarketing trực tiếp

- Quảng cáo bao gồm mọi hình thức cung cấp thông tin về một ý tưởng hàng hóahoặc dịch vụ được thực hiện một cách gián tiếp, thông qua một phương tiện cụ thểtuân theo yêu cầu của chủ thể của chủ thể quảng cáo và chủ thể phải thanh toán cácphí tổn

- Quan hệ cộng đồng (PR) hay còn gọi là quan hệ công chúng là các hoạt độngliên quan đến việc xây dựng mối quan hệ tốt với các đối tượng công chúng khácnhau của doanh nghiệp, tổ chức thông qua các hoạt động vì lợi ích của cộng đồng

và tất cả các hoạt động khác để tạo dựng cho doanh nghiệp, tổ chức đó một hìnhảnh thân thiện, luôn có thiện chí, đồng thời giúp xử lý các vấn đề, câu chuyện, lờiđồn bất lợi

- Khuyến mại (xúc tiến bán) là tất cả các biện pháp tác động tức thời ngắn hạn đểkhuyến khích việc dùng thử hoặc mua tức thì, mua nhiều hơn một sản phẩm, dịch

vụ nhờ cung cấp những lợi ích bổ sung cho khách hàng

Trang 10

- Bán hàng cá nhân là hoạt động giới thiệu trực tiếp về hàng hóa và dịch vụ của cánhân viên bán hàng nhằm mục đích bán hàng và xây dựng mối quan hệ với kháchhàng.

- Marketing trực tiếp là sự liên kết trực tiếp với cá nhân từng khách hàng mục tiêunhằm thúc đẩy những phản ứng đáp lại ngay tức thì và duy trì mối quan hệ bềnvững với họ

Đối với bất kỳ doanh nghiệp tổ chức nào hoạt động truyền thông marketing luôn rấtcần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp tổ chức đó, đặc biệt với những sản phẩm,dịch vụ mới càng cần phải truyền thông rộng rãi để nhiều người biết đến hơn, ở đây đichung xe cũng vậy là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam do mới được du nhập,các dịch vụ khai thác qua đi chung xe còn ít được các bạn trẻ biết đến Vai trò củatruyền thông để phát triển hình thức tham gia giao thông mới này là cực kỳ quan trọng

1.1.2 Nội dung truyền thông marketing

1.1.2.1 Khái quát về truyền thông marketing

Truyền thông marketing tích hợp là một quá trình kinh doanh mang tính chiến lược,được sử dụng để lập kế hoạch, triển khai, thực hiện và đánh giá các chương trìnhtruyền thông thương hiệu có tính thuyết phục, có thể đo lường được và có sự kết hợpvới nhau

Để truyền đạt thông điệp truyền thông một cách hiệu quả phù hợp với từng đối tượng,các nhà quản trị truyền thông thường sử dụng các kênh truyền thông trực tiếp và giántiếp Kênh truyền thông trực tiếp là kênh có hai hoặc nhiều người trực tiếp truyền thôngvới nhau, qua sự tiếp xúc giữa nhân viên với đối tượng, hay giữa đối tượng nhận tinnày với đối tượng nhận tin khác, từ đó thu được dòng thông tin phản hồi Kênh truyềnthông gián tiếp là những kênh chuyển các thông điệp đi mà không có sự tiếp xúc haygiao tiếp trực tiếp, chúng bao gồm các phương tiện truyền thông đại chúng, bầu khôngkhí và các sự kiện Các phương tiện truyền thông được hiểu là phương tiện truyền tinđược các nhà quản trị truyền thông sử dụng để truyền tải thông điệp truyền thông tớicông chúng nhận tin mục tiêu Ta có thể phân loại phương tiện truyền thông theo sựphát triển thì các phương tiện truyền thông gồm:

Trang 11

- Nhóm phương tiện truyền thông truyền thống gồm: TV, radio, báo, tạp chí, biểnbảng ngoài trời, thư trực tiếp…

- Nhóm phương tiện truyền thông mới, gồm: Internet tương tác, wireless,podcasts, quảng cáo tìm kiếm, facebook, video game, mạng xã hội,…

Việc sử dụng các phương tiện truyền thông của công chúng thay đổi nhanhchóng do họ ngày càng bận rộn và quỹ thời gian trở nên ít ỏi Các phương tiện đa chứcnăng trở nên phổ biến, các phương tiện truyền thông hiện đại nối tiếp ra đời và có xuhướng thay thế lẫn nhau Đối với các bạn trẻ luôn đi đầu trong việc tiếp thu những pháttriển của công nghệ là điều kiện để cho những mạng xã hội, những ứng dụng di độngthông minh bùng nổ trong những năm qua, từ đó những kênh truyền thông mới ra đời

và trở thành những mảnh đất màu mỡ cho truyền thông marketing thể hiện Với nhữngsản phẩm dịch vụ hướng đến các bạn trẻ thì phải thực sự chú ý đến sự biến đổi này để

có thể đưa ra những phương án truyền thông hiệu quả nhất

1.1.2.2 Quá trình xây dựng chương trình truyền thông marketing

Mô hình truyền thông

Để tổ chức hoạt động truyền thông có hiệu quả cần phải hiểu cách thức truyền thônghoạt động như thế nào để nắm được những yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông vàmối quan hệ công chúng của chúng Việc này nên được tiến hành tuần tự theo quá trìnhtruyền thông với các phần tử sau:

Trang 12

Sơ đồ 1.1: Mô hình các phần tử của quá trình truyền thông

Mô hình truyền thông gồm 9 phần tử, trong đó hai phần tử thể hiện các bên chủ yếutham gia truyền thông là người gửi và người nhận; hai phần tử khác đại diện cho cáccông cụ truyền thông là thông điệp và truyền thông; bốn yếu tố khác tiêu biểu cho chứcnăng truyền thông là mã hoá, giải mã, phản ứng đáp lại và phản hồi; phần tử cuối cùng

là hệ thống nhiễu

Mô hình truyền thông này nhấn mạnh những yếu tố then chốt trong hệ thống truyềnthông hiệu quả Người gửi phải biết mình thông tin đến công chúng nào và muốn cóphản ứng đáp lại như thế nào Họ mã hoá thông điệp của theo cách có tính đến quátrình giải mã thông điệp thông thường của công chúng mục tiêu Họ phải tạo ra nhữngkênh liên hệ ngược để có thể biết phản ứng đáp lại của người nhận với thông điệp đó

Để đảm bảo thông điệp có hiệu quả, quá trình mã hoá của người gửi phải tương thíchvới quá trình giải mã của người nhận Thông điệp về cơ bản phải là những tín hiệuquen thuộc đối với người nhận thì thông điệp càng phát huy được tác dụng Điều nàyđặt ra một vấn đề cần giải quyết cho những người truyền đạt thông tin từ một tầng lớp

xã hội (ví dụ như người quảng cáo) muốn truyền đạt có hiệu quả đến một tầng lớp xãhội khác Nhiệm vụ của người gửi là đưa được thông tin của mình đến người nhậntrong môi trường có rất nhiều nhiễu và công chúng mục tiêu có thể không nhận đượcthông điệp gửi đến vì lý do nào đó Nó có thể là một trong 3 lý do sau, thứ nhất là sự

Trang 13

chú ý có chọn lọc, nghĩa là họ chỉ nhớ một phần nhỏ thông điệp truyền đến họ; do vậyngười truyền thông phải thiết kế thông điệp làm sao để nó vẫn thu hút được sự chú ýmặc dù xung quanh có nhiều tác nhân làm phân tán Sự chú ý có chọn lọc giải thích tạisao quảng cáo với tiêu đề đậm nét hứa hẹn một điều gì đó rất có nhiều khả năng đượcchú ý đến Thứ hai là sự bóp méo có chọn lọc, người nhận có một số thái độ làm cho

họ có một số có những cái kỳ vọng về cái mà họ hay nghe thấy, họ sẽ nghe thấy nhữngcái phù hợp với hệ thống niềm tin của mình Nhiệm vụ của người truyền đạt là cố gắngbảo đảm thông điệp đơn giản, rõ dàng, lý thú và lặp lại nhiều lần để truyền đạt nhữngđiểm chính đến công chúng Thứ ba là sự ghi nhớ có chọn lọc, người truyền đạt phải cốgắng làm cho thông điệp lưu lại lâu dài trong trí nhớ của người nhận, thông điệp có thểcải biến niềm tin và thái độ của người nhận nhưng trước tiên thông điệp phải lọt vào trínhớ của người nhận Thông điệp có được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ lâu dàicủa người đó hay không thì còn tùy thuộc số lần kiểu người nhận ôn lại thông điệp đó.Nếu thái độ lúc đầu của người nhận đối với sự vật là tích cực và người đó ôn lại nhữngluận cứ ủng hộ, thì chắc chắn những thông điệp đó sẽ tiếp nhận và được ghi nhớ kỹ.Nếu thái độ lúc đầu của người nhận là tiêu cực và người đó ôn lại những lý lẽ phản bácthì chắc chắn thông điệp sẽ bị từ chối nhưng vẫn lưu lại trong trí nhớ lâu dài Lập luậnphản bác ức chế việc thuyết phục bằng cách đưa ra một thông điệp chống lại cái đã cósẵn Phần lớn việc thuyết phục đòi hỏi người nhận phải ôn lại những suy nghĩ của mình

và phần lớn những trường hợp gọi là thuyết phục thực ra là tự thuyết phục

Xây dựng chương trình truyền thông:

Khi tìm hiểu về quá trình xây dựng chương trình truyền thông marketing chúng ta đãđược tìm hiểu về mô hình truyền thông, các phần tử của quá trình truyền thông Từ môhình trên cho thấy để thực hiện hoạt động truyền thông hiệu quả cần tuân thủ quá trình

6 bước: xác định người nhận tin, xác định các phản ứng, lựa chọn thông điệp truyềnthông, lựa chọn và thiết kế thông điệp,… Các bước xây dựng chương trình truyềnthông hiệu quả sẽ được trình bày cụ thể dưới đây

+ Xác định người nhận tin

Một tổ chức hoặc cá nhân khi tiến hành hoạt động truyền thông phải xác định rõ ngườitiếp nhận thông tin của mình Người nhận tin chính là công chúng mục tiêu của họ, baogồm công chúng hiện tại hoặc tiềm năng, những người quyết định hoặc những người

Trang 14

tác động Đối tượng nhận tin có thể là từng cá nhân, những nhóm người, những giới cụthể hay quảng đại công chúng Công chúng mục tiêu sẽ có ảnh hưởng quan trọng đếnnhững quyết định của người truyền thông về chuyện nói gì, nói như thế nào, nói khinào, nói ở đâu và nói với ai…

Một phần quan trọng của việc phân tích công chúng là đánh giá hình ảnh hiện tại của tổchức hay hiện tượng mà tổ chức muốn truyền thông trong công chúng Thái độ của mọingười và hành động của họ đối với một sự vật là do niềm tin của họ về sự vật đó quyếtđịnh rất nhiều Hình ảnh là một tập hợp những niềm tin, ý tưởng và ấn tượng của mộtngười về một sự vật Việc một tổ chức muốn cải thiện hình ảnh của mình phải hết sứckiên trì Hình ảnh rất bền vững thì nó vẫn có thể tồn tại rất lâu sau khi tổ chức đó đãthay đổi Sở dĩ hình ảnh bền vững là vì một khi người ta có một hình ảnh nhất định vềmột sự vật, họ tiếp tục nhận thức có chọn lọc các dữ kiện để lưu lại hình ảnh đó trong

bộ nhớ dài hạn của họ

+ Xác định phản ứng của người nhận tin

Một khi đã xác định được thị trường mục tiêu và những đặc điểm của nó thì truyềnthông marketing phải quyết định về phản ứng đáp lại mong muốn của công chúng vàtất nhiên phản ứng đáp lại cuối cùng được mong muốn là mua và hài lòng Người làmmarketing có thể tìm kiếm ở công chúng mục tiêu phản ứng đáp lại về nhận thức, vềtình cảm hay về hành vi; nghĩa là họ có thể muốn khắc sâu vào tâm lý công chúng mụctiêu hay thúc đẩy công chúng đến chỗ hành động và tuỳ theo từng trạng thái mà thựchiện hoạt động truyền thông cho thích hợp Có sáu trạng thái khác nhau của côngchúng mà người thực hiện truyền thông cần biết và nghiên cứu đó là:

- Nhận biết: Cần đặt ra các câu hỏi như mức độ nhận biết về hiện tượng hay tổchức tới mức độ nào? Công chúng mục tiêu còn biết thêm những gì? Từ đó hoạch địnhnhiệm vụ và chương trình truyền thông trong một khoảng thời gian nào đó tăng thêm

sự nhận biết của công chúng mục tiêu;

- Hiểu biết: Công chúng mục tiêu hiểu như thế nào về hiện tượng và tổ chức, sốngười hiểu được chiếm đa số hay thiểu số? Công chúng mục tiêu có những phân biệtđánh giá chi tiết thì họ càng hiểu về hàng hoá của công ty thì càng tốt;

Trang 15

- Thiện cảm: Nếu công chúng mục tiêu đã hiểu về hiện tượng của công ty thì họcảm giác và suy nghĩ như thế nào?;

- Ưa chuộng: Công chúng mục tiêu tuy có thiện cảm đối với hiện tượng truyềnthông, song chưa hẳn đã ưa chuộng nó Do đó người truyền thông phải cố gắng tạo nên

sự ưa chuộng của công chúng mục tiêu;

- Ý định mua: Công chúng mục tiêu đã ưa chuộng hàng hoá song ý định muachưa hình thành thì cần phải tác động để tạo lên niềm tin của họ, thúc đẩy họ sớmquyết định có thể bằng những lời khuyên, lời cổ vũ hoặc những lợi ích kinh tế…

- Hành động mua: Tuy có ý định song để đi tới hành động mua còn bị nhiều yếu

tố chi phối Cần nghiên cứu xác định rõ nguyên nhân để có giải pháp thoả đáng giúpngười mua có đủ điều kiện thực hiện ý định mua của mình

Công việc của người truyền thông là xác định xem đa số người tiêu dùng đang ở mức

độ nào để có chiến lược truyền thông thích hợp đưa họ đến mức độ có lợi hơn cho côngty

+ Lựa chọn phương tiện truyền thông

Người truyền thông phải lựa chọn những kênh truyền thông có hiệu quả để truyền tảithông điệp đó Có thể phân loại kênh truyền thông thành 2 loại sau:

- Kênh trực tiếp: Các kênh truyền thông trực tiếp đòi hỏi có hai hay nhiều ngườigiao tiếp trực tiếp với nhau, đó là sự giao tiếp giữa hai người với nhau, giữa một ngườivới công chúng, qua điện thoại hay qua thư từ Những loại kênh này có hiệu quả vìnhững người tham gia có khả năng phản hồi thông tin Trong các kênh truyền thôngtrực tiếp còn có thể phân ra nhiều loại riêng biệt với những nội dung và phưng thức tiếnhành độc đáo Đặc biệt là kênh đánh giá của các chuyên gia về hàng hoá, dịch vụ; do

uy tín chuyên môn, khoa học hay uy tín xã hội cao, các chuyên gia dễ dàng thuyết phụckhách hàng mục tiêu một cách nhanh chóng

- Kênh truyền thông không trực tiếp: Đó là những kênh trong đó các phương tiệntruyền phát tin không có sự tiếp xúc cá nhân và không có cơ chế để thu nhận ngaythông tin ngược chiều Các phương tiện tác động đại chúng cần được quan tâm gồm có:

Trang 16

những phương tiện tác động đại chúng có chọn lọc, khung cảnh môi trường vật chất,những biện pháp gắn liền với các sự kiện Các phương tiện truyền thông đại chúng vàchọn lọc bao gồm những phương tiện trực tiếp như báo chí, tạp chí, thư, những phươngtiện truyền thông điện tử (đài, ti vi, máy tính kết lối internet…) cùng những phươngtiện trưng bày (bảng hiệu, áp phích,….) Ngoài ra còn có những loại truyền thôngchuyên dùng hướng vào những đối tượng đặc biệt.

Mặc dù truyền thông trực tiếp thường có hiệu quả hơn so với truyền thông đại chúngnhưng các phương tiện truyền thông đại chúng vẫn có thể là những phương tiện chủyếu kích thích truyền thông trực tiếp Truyền thông đại chúng tác động đến thái độ,hành vi của cá nhân thông qua một quá trình truyền dòng thông tin hai cấp, từ ngườiphát đến người hướng dẫn dư luận rồi đến bộ phận dân cư

+ Lựa chọn và thiết kế thông điệp

Sau khi đã xác định mong muốn của người nhận tin, người truyền thông cần thiết kếmột thông điệp có hiệu quả để truyền tải tới công chúng mục tiêu Việc thiết kế mộtthông điệp cần phải giải quyết ba vấn đề:

Nội dung thông điệp: Người truyền thông phải hình dung được những điều sẽnói với công chúng mục tiêu để tạo ra phản ứng đáp lại mong muốn Nội dung thôngđiệp cần phải ngắn gọn, xúc tích nhưng dễ hiểu, dễ nghe và nó cần phải được nhấnmạnh vào các yếu tố có tính thành thực với người nhận tin như: Đề cập tới yếu tố quyếtđịnh, trong từng đơn vị khách hàng có người quyết định và ảnh hưởng tới hành vi, nộidung tin cần được truyền đạt tới các đối tượng trên Cần khai thác chi tiết các yếu tố,khơi dậy tính quyền lực trong cá thể những người, thúc đẩy họ ra các quyết định Đềcập tới lĩnh vực tình cảm, các trạng thái bình thường như vui buồn, hờn giận, sợ hãi,…đều có thể được khai thác trong thông điệp truyền thông Tuy nhiên hướng đề cập nàychỉ đạt tới một mức độ nào đó trong một giới hạn thời gian nào đó vì rằng con người taluôn thay đổi các trạng thái tình cảm và chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác

Đề cập tới vấn đề đạo đức, nhân bản, tạo ra tình cảm trong sáng và lương thiện trongcông chúng; đề cao tính nhân đạo, ủng hộ các tiến bộ như làm sạch môi trường, tôntrọng và duy trì thuần phong mĩ tục, tính đồng loại…nhờ đó mà tạo nên thiện cảm củacông chúng

Trang 17

Cấu trúc thông điệp: Cấu trúc thông điệp phải logic và hợp lý nhằm tăng cường sựnhận thức và tính hấp dẫn về nội dung đối với người nhận tin Khi xác định cấu trúcthông điệp người phát tin phải giải quyết ba vấn đề sau:

Thứ nhất, có nên đưa ra kết luận dứt khoát hay dành phần đó cho người nhậntin, thông thường kết luận được đưa ra trước đối với công chúng sẽ hiệu quả hơn;

Thứ hai, trình bày lập luận một mặt “nên” hay cả hai mặt “nên” và “không nên”.Thông thường cách lập luận một mặt lại hiệu quả hơn so với việc phân tích cả hai mặt;

Thứ ba, nên đưa ra lập luận có sức thuyết phục ngay lúc mở đầu hay sau đó.Nếu trình bày lúc mở đầu sẽ thu hút sự chú ý nhưng khi kết thúc sự chú ý nguy hiểmhơn rất nhiều

Hình thức thông điệp: thông điệp được đưa qua các phương tiện truyền thông đểgửi tới người nhận tin vì vậy thông điệp cần phải có những hình thức sinh động Trongmột quảng cáo in ấn người truyền thông phải quyết định về tiêu đề, lời lẽ, minh hoạ vàmàu sắc Để thu hút sự chú ý thông điệp phải mang tính mới lạ, tương phản, hình ảnh

và tiêu đề lôi cuốn, kích cỡ và vị trí đặc biệt,… Nếu thông điệp qua radio thì quantrọng là từ ngữ và chất lượng đọc Tuy nhiên, thông điệp không phải là cấu trúc truyềnthông cố định mà ngược lại đó là cấu trúc biến đổi trong một mức độ nào đó, sự thayđổi này chỉ trong một phạm vi còn duy trì ý tưởng về thiết kế thông điệp của ngườiphát tin Còn người nhận tin tiếp nhận thông điệp tới mức nào còn phụ thuộc trình độnhận thức của họ Vì vậy thông điệp có sự biến đổi so với thiết kế

+ Chọn lọc những thuộc tính của nguồn tin

Hiệu quả của truyền thông không những phụ thuộc vào việc sáng tạo thông điệp, vàongười nhận tin mà còn phụ thuộc vào tính chất của nguồn phát tin Nguồn tin có độ tincậy cao sẽ tăng cường tính thuyết phục Có ba yếu tố làm tăng cường độ tin cậy củanguồn tin là: tính chuyên môn, sự tín nhiệm và tính khả ái

Tính chuyên môn là mức độ chuyên môn mà bên truyền thông đạt tới, được xãhội thừa nhận để có thể hiện quan điểm của mình về lĩnh vực chuyên môn nào đó;

Trang 18

Tính đáng tin cậy liên quan đến việc nguồn phát tin được cảm nhận có uy tínmức độ nào trong xã hội, cộng đồng;

Tính khả ái mô tả mức mến mộ của công chúng đối với nguồn tin tới mức độnào Những phẩm chất như thật thà, hài hước và tự nhiên, khiến cho nguồn tin trở nênkhả ái hơn

+ Thu nhận thông tin phản hồi

Sau khi thông điệp được truyền đi, người phát tin phải tiến hành nghiên cứu hiệu quảcủa nó đối với khách hàng mục tiêu có nhận được tin hay không, thấy nó bao nhiêu lần

và nhớ được những nội dung gì, thái độ của họ khi tiếp nhận thông tin đó, thái độ của

họ đối với hàng hoá của công ty và sau khi công ty đã nhận được thông tin…

Để thu nhận thông tin phản hồi cần phải tổ chức điều tra nghiên cứu chu đáo, cần phảitạo cơ chế thu nhận thích hợp để bảo đảm cho kênh truyền thông hoàn chỉnh Thu nhậnthông tin phản hồi đầy đủ và chính xác mới có thể đánh giá đúng mức hiệu quả củahoạt động truyền thông, từ đó có các biện pháp điều chỉnh nhằm hướng hoạt độngtruyền thông vào các mục tiêu đã định và tăng cường hiệu quả của chúng

Xác định được đối tượng nhận tin mục tiêu phân tích hành vi của đối tượng, sau đó lựachọn phương tiện truyền thông phù hợp với những hành vi đặc điểm của đối tượngnhận tin đó, sau đó mới lựa chọn thiết kế thông điệp, đặc biệt với những đối tượng nhưthanh niên những phản ứng trai chiều là điều không thể tránh khỏi khi tiếp nhận và giải

mã thông điệp truyền thông, đối tượng này thường thể hiện rất rõ ràng những quanđiểm của mình Việc thiết kế một thông điệp truyền thông ấn tượng cho chiến dịchtruyền thông cho đi chung xe đến với thanh niên đòi hỏi có sự khéo léo và tìm hiểu kỹcàng xuất phát từ chính những đặc điểm nổi bật nhất từ đối tượng nhận tin mục tiêunày

Trang 19

1.1.3 Quá trình lên kế hoạch truyền thông marketing tích hợp (IMC)

1.1.3.1 Xem xét kế hoạch truyền thông marketing tích hợp

Trong bất kì tình huống nào, việc lập kế hoạch trước luôn đóng vai trò quantrọng trong phát triển và thực hiện chương trình IMC hiệu quả Quy trình lập kế hoạchcung cấp nền tảng để phát triển, thực hiện và kiểm soát chương trình IMC của doanhnghiệp Trong chương trình IMC, cần xác định vai trò và chức năng của các công cụtruyền thông cụ thể, phát triển chiến lược cho mỗi công cụ, xác định nguyên tắc kếthợp, lên kế hoạch cho việc thực hiện, xem xét đánh giá kết quả đạt được và thực hiệnđiều chỉnh cần thiết

1.1.3.2 Phân tích các yếu tố chi phối tới chương trình IMC

Người lên kế hoạch IMC cần hiểu thông điệp quảng cáo khác nhau có thể cóảnh hưởng khác nhau lên nhận thức và hành vi khách hàng Do đó cần xem xét từngloại thông điệp để xác định chúng có phù hợp không? Cần nghiên cứu các vấn đề như:liệu có thuê các ngôi sao để quảng cáo? Chi phí bao nhiêu là có thể chấp nhận được vàbao nhiêu thì thuê họ được? Những thảo luận sơ bộ về các lựa chọn phương tiện truyềnthông hỗn hợp(ấn phẩm, tivi, radio, báo giấy, marketing trực tiếp, internet) và dự trù vềkinh phí cũng nên được thực hiện ở bước này Trong bước này cũng cần phân tích kỹlưỡng các đặc điểm của quá trình truyền thông tới công chúng mục tiêu Với những đốitượng người nhận tin khác nhau thường bị ảnh hưởng bởi các công cụ truyền thôngmarketing khác nhau

1.1.3.3 Xác định mục tiêu truyền thông

Một phần quan trọng của lập kế hoạch xúc tiến hỗn hợp là thiết lập mục tiêutruyền thông Mục tiêu truyền thông liên quan tới những thứ mà doanh nghiệp cố gắng

để đạt được trong chương trình xúc tiến hỗn hợp Mục tiêu truyền thông có thể baogồm việc tạo ra nhận thức hoặc kiến thức về một sản phẩm và những thuộc tính của nóhay các lợi ích của nó; tạo ra hình ảnh thương hiệu; hoặc phát triển thái độ tích cực, sự

ưa thích hoặc dự định mua hàng Mục tiêu truyền thông là nỗ lực mang tính chỉ dẫncho sự phát triển của chiến lược truyền thông marketing tổng thể và các mục tiêu chomỗi hoạt động xúc tiến hỗn hợp

Trang 20

1.1.3.4 Xác định ngân sách

Sau khi mục tiêu truyền thông được xác định, cần quan tâm tới ngân sách choxúc tiến hỗn hợp sẽ là bao nhiêu? Tiền sẽ được phân bổ như thế nào? Số tiền doanhnghiệp chi cho trương trình xúc tiến nên được xác định từ các hoạt động xúc tiến màdoanh nghiệp cần thực hiện để đạt được mục tiêu truyền thông Trên thực tế, ngân sáchcho IMC thường được xác định bằng cách tiếp cận tương đối đơn giản như doanhnghiệp có sẵn bao nhiêu tiền, chiếm bao nhiêu phần trăm so với doanh thu bán hànghoặc doanh thu từ thương hiệu Tại bước này, ngân sách chỉ được dự trù Nó có thểđược xác định lần cuối khi chiến lược xúc tiến hỗn hợp - IMC đã được thông qua

1.1.3.5 Phát triển chương trình truyền thông marketing tích hợp.

Phát triển chương trình IMC nhìn chung là các bước cụ thể và liên quan đến quytrình lập kế hoạch xúc tiến hỗn hợp Như đã được thảo luận ở phần trước, mỗi công cụxúc tiến hỗn hợp có ưu điểm và hạn chế nhất định Tại phần này của quy trình lập kếhoạch, phải xác định vai trò và tầm quan trọng của mỗi công cụ và sự kết hợp chúngvới các công cụ khác Mỗi công cụ xúc tiến hỗn hợp có những mục tiêu riêng và mộtngân sách và chiến lược được lập nên để đạt được mục tiêu đó Cần xác định cụ thể cácquyết định và hoạt động cụ thể sẽ được thực hiện trong chương trình

1.1.3.6 Theo dõi đánh giá và kiểm soát chương trình truyền thông marketing

- Đánh giá kết quả và hiệu quả chương trình xúc tiến thương mại

- Đo lường, kiểm soát và điều chỉnh chiến lược xúc tiến thương mại

1.2 Sự tác động của truyền thông marketing đến thái độ, hành vi của đối tượng nhận tin mục tiêu

Quá trình diễn biến tâm lý của người nhận tin được nhận những thông điệp và kênhtruyền thông khác nhau Song dù có sự khác nhau đó thì các kênh truyền thông tácđộng vào khách hàng mục tiêu đều thống nhất và thích nghi với quy luật diễn biến tâm

lý Ba giai đoạn diễn biến tâm lý mang tính quy luật của người nhận tin là giai đoạnliên hệ, giai đoạn tình cảm và giai đoạn hành vi Đối với từng giai đoạn cần phải cónhững hoạt động truyền thông, kênh truyền thông và thông điệp riêng biệt phù hợp đểđáp ứng yêu cầu ở từng giai đoạn diễn biến tâm lý đó

Trang 21

Mục tiêu truyền thông luôn gắn với mục tiêu marketing và mục tiêu cuối cùngcủa truyền thông chính là thúc đẩy khách hàng mua hàng và hài lòng Tuy nhiên để cóđược hành vi đó thì họ phải trải qua một quá trình biến đổi trạng thái và cảm xúc liênquan đến sản phẩm – gọi là “các trạng thái sẵn sàng mua”:

Trang 22

Bảng 1.1: Quá trình biến đổi trạng thái và cảm xúc

Nhận

thức

marketing có thểtìm kiếm ở côngchúng mục tiêuphản ứng đáp lại

về nhận thức(khắc sâu ghi nhớđiều gì đó), vềtình cảm (thay đổithái độ) hay vềhành vi (thúc đẩyhành động)

Giới thiệu sự hiện diện của sản phẩm

Tình

cảm

Ưa chuộng Giới thiệu những điểm khác biệt vượt trội

Trang 23

lựa chọn những công cụ truyền thông phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thựctế.Trong tổ chức, hỗn hợp phương tiện truyền thông được xác lập như thế nào phải căn

cứ vào mục tiêu của tổ chức đặt ra cho chiến lược truyền thông, vào đối tượng cầntruyền thông, vào khách hàng mục tiêu của mình, vào bản chất của các phương tiệntruyền thông

Trong chương này đã đề cập đến cơ sở lý thuyết về truyền thông marketing tác độngđến thái độ, hành vi, tầm quan trọng của truyền thông, ảnh hưởng của truyền thông tới thái

độ, hành vi nói chung Về việc định hướng nhận thức của giới trẻ về việc đi chung xe,truyền thông có ảnh hưởng rất lớn và những chương sau sẽ nói rõ hơn về sự tác động nàycũng như tính cấp thiết của nó với tình hình giao thông nói chung và xu hướng đi chung xenói riêng

Trang 24

1.3 Những đề tài đã nghiên cứu có liên quan đến đi chung xe nói riêng và giao thông đô thị nói chung

Do là trào lưu mới được du nhập vào Việt Nam mấy năm gần đây nên có rất ít côngtrình nghiên cứu trực tiếp về vấn đề này, đa phần chỉ là những công trình nghiên cứu vàbáo cáo liên quan đến vận tải công cộng hay xe buýt nói riêng…

Phân tích ban đầu cho thấy, ùn tắc giao thông ở khu nội đô gây ra nhiều tác động tiêucực về mặt kinh tế, xã hội và môi trường:

- Tăng chi phí nhiên liệu: 3.942 tỷ VNĐ/năm theo báo cáo năm 2010 (Bảng 1)

- Giảm hiệu suất làm việc: 8.870 tỷ VNĐ/năm theo báo cáo năm 2010 (Bảng 2)

- Tăng chi phí khấu hao phương tiện

- Tăng lượng khí thải và ô nhiễm môi trường

- Áp lực tâm lý và ảnh hưởng lâu dài sức khoẻ cộng đồng

Vấn đề ùn tắc giao thông ở thành phố Hà Nội ngày càng trở nên trầm trọng Điều này

đã tác động tiêu cực đến kinh tế, tâm lý và sức khoẻ của người tham gia giao thông ởThủ đô Hằng ngày, mỗi người dân tham gia giao thông ở Thủ đô đều cảm thấy nhữngbức xúc và phiền toái do nạn ùn tắc giao thông ngày càng tăng

Một vài con số tính toán sơ bộ ở trên chưa nói đầy đủ những thiệt hại do ùn tắc giaothông ở thủ đô Hà Nội cũng như các thành phố lớn trên cả nước Nhưng những con số

đó đáng báo động cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách phải suy nghĩ và cónhững giải pháp đồng bộ và mạnh mẽ góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế và đápứng nguyện vọng của người dân

Trang 25

Bảng 1.2: Tăng chi phí nhiên liệu khu vực nội thành Hà Nội (gồm 10 quận và

huyện Từ Liêm) do ùn tắc giao thông 2010

Phương

tiện

đường (km/

ngày/

xe)

Tiêu thụ nhiên liệu (Không

ùn tắc) (lít/

100km/

xe)

Giá nhiên liệu (000 VNĐ/

lít)

Chi phí nhiên liệu ngày

Chi phí nhiên liệu tăng 1 ngày (000 VNĐ/

ngày)

Chi phí nhiên liệu tăng cả năm

(000 VNĐ/ năm)

Bảng 1.3: Lãng phí công lao động khu vực nội thành Hà Nội do ùn tắc giao thông

Dân số khu nội thành (45% sân số TP Hà Nội) Người 3,110,850

Trang 26

Số người có việc làm ở nội thành (50% dân số) Người 1,555,425

Số giờ tắc đường theo ngày (tính trung bình) Giờ/người/ngày 0.50

Lãng phí công lao động/người/năm VNĐ/người/năm 5,703,125

Lãng phí công lao đông nội thành/ngày VNĐ/ngày 24,303,515,625Lãng phí công lao đông nội thành/năm VNĐ/năm 8,870,783,203,12

5 -

*Trung tâm NCCS Phát triển Bền vững (CSDP)

Vào năm 2012 Vina Research có làm một cuộc nghiên cứu về: “Mức độ hài lòng củangười dân về chất lượng dịch vụ của xe buýt” trong báo cáo ngày 04.12.2012

Những người đi xe buýt được khảo sát cho biết "thỉnh thoảng" có gặp phải những tệnạn Trong đó, họ thường xuyên gặp tình trạng "Móc túi/Móc điện thoại" (86.7%) trên

xe buýt ngoài ra còn về chất lượng xe buýt trên 50% người dân ở Hà Nội không hàilòng, thái độ phục vụ của nhân viên phục vụ trên xe… Mặc dù xe buýt đang là mộttrong những phương tiện giao thông công cộng chủ lực để giải bài toán ùn tắc giaothông đô thị Có thể thấy tình hình giao thông hiện tại ở Hà Nội đang rất có vấn đề, vấn

đề ùn tắc giao thông chưa được giải quyết, khí thải khói bụi từ các phương tiên giaothông luôn là bài toán mà các cơ quan chức năng đau đầu từ nhiều năm nay nhưngchưa có lời giải, những tổn thất hệ lụy mà nó mang đến là điều dễ dàng thấy trongnhững báo cáo hay nghiên cứu về môi trường, giao thông…

Trang 27

Việc triển khai các dự án cải tiến tình hình giao thông đô thị như thay đổi giờ làm việchay khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng đều khôngđem lại hiệu quả như mong muốn, thay đổi giờ làm đã gây ra nhiều hệ lụy xấu và mấtcân bằng xã hội, người dân phản ứng gay gắt do phải thay đổi thói quen sinh hoạt, dự

án khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng đã có dấu hiệu tích cực nhưng chưathực sự hiệu quả do chất lượng dịch vụ công cộng còn thấp, cơ quan chức năng chưa cócách quản lý phù hợp gây ra những ý kiến không hay về những dịch vụ công cộng như

xe buýt, taxi,… những câu chuyện như xe buýt vi phạm luật giao thông, phụ lái xe buýtđánh hành khách, hay những hình ảnh chen trúc trên xe buýt làm cho tâm lý của ngườidân vô cùng hoang mang, mặc dù tất cả đều hiểu xe buýt rất tiết kiệm và xe buýt rất tốtcho sự phát triển mạng lưới giao thông đô thị

Cần có một phương án cải thiện tình hình giao thông đô thị khác hiệu quả hơn, và đặcbiệt phải tạo được sự ổn định, sự tin tưởng của đông đảo người dân Đi chung xe là mộttrào lưu mới, lợi ích thì có thể dễ dàng nhìn thấy được nếu làm tốt, điều quan trọng với

đi chung xe hiện giờ là làm sao để cho thật nhiều người biết đến và tham gia vào pháttriển đi chung xe, việc tạo được một cộng đồng lớn sẽ là bước đệm để duy trì và pháttriển trào lưu này

Bắt đầu từ những bạn thanh niên trẻ tuổi, nhiệt huyết và dám thử những cái mới sẽ là

sự lựa chọn phù hợp cho đi chung xe khi nó còn xa lạ với người dân Việt Nam ở thờiđiểm hiện tại Chính vì vậy việc sử dụng những phương thức truyền thông hiệu quả đểđẩy mạnh hoạt động này là vô cùng cần thiết, chỉ khi thanh niên biết đến đi chung xethì mới dám thử và chỉ khi thử xong mới có được những trải nghiệm từ hình thức thamgia giao thông mới này, các thế hệ sẽ có sự tiếp nối nhau với cơ sở là chính những lợiích mà đi chung xe mang lại

Với góc độ các tổ chức doanh nghiệp, một khi đi chung xe phát triển như một phươngthức di chuyển phỏ biến, họ hoàn toàn có thể phát triển những dịch vụ liên quan manglại lợi nhuận cho chính mình

Trang 28

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ ĐI CHUNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THỨC ĐI CHUNG XE TẠI HÀ NỘI

Hiện nay chưa có cơ quan, tổ chức nào đưa ra định nghĩa chính thức cho hình thứctham gia giao thông này, mỗi quốc gia có tình hình giao thông khác nhau, và nhìn nhậnmột góc độ và sự phát triển khác nhau Những nước phát triển như Mỹ hay Pháp, Anh,

Hà Lan… với đi chung chủ yếu là đi chung ô tô, chia sẻ chỗ chống trên xe của mìnhvới những người khác có chung lộ trình di chuyển, họ xây dựng những website chuyênnghiệp để kết nối mọi người

Với Việt Nam, đa phần người tham gia giao thông sử dụng xe máy, thì đi chung đượcnhìn nhận rộng hơn không chỉ là đi chung với ô tô, và được tóm lược khái niệm nhưsau:

“ Đi chung là hoạt động nhiều người cùng đi trên một phương tiện giao thông, sử dụngtối đa các chỗ còn trống và chia sẻ chi phí đi lại”

Việc đi chung xe có nghĩa bạn sẽ chia sẻ chỗ trống trên xe của bạn cho một người cóchung đường đi với bạn Người đi chung xe sẽ trả cho chủ phương tiện một khoản chiphí, điều này giúp chủ phương tiện và người đi cùng bỏ ra một khoản chi phí nhỏ hơn

so với việc họ đi đơn lẻ hay sử dụng các phương tiện khác

Tuy mới du nhập vào Việt Nam, nhưng hình thức di chuyển này cũng đang dần pháttriển Chỉ trong 3 năm gần đây, cụm từ “đi chung”, “đi chung xe”, hay được gọi làcarpooling đã dần trở nên phổ biến Đây là hình thức di chuyển có nhiều ưu điểm vàthuận lợi cho người dùng, đặc biệt là giới trẻ – những người thích khám phá và thửthách

2.2 Đi chung xe ở các quốc gia khác và các tổ chức, doanh nghiệp lớn đang phát triển đi chung xe trên thế giới

Carpool (đi chung xe) là một xu hướng phổ biến ở các nước châu Âu và châu Mỹ Xuhướng này đang dần thịnh hành trên thế giới khi các website khai thác dịch vụ này xuấthiện ngày càng nhiều

Trang 29

Để sử dụng dịch vụ, các bạn trẻ chỉ cần đưa thông tin lên website về hành trình sắpthực hiện, số người đi, giờ xuất hành, tên và số điện thoại liên hệ Thành viên nào cócùng một lịch trình sẽ chủ động liên hệ và hẹn nhau đúng ngày, đúng giờ lên đường.

Đi chung xe, hoặc chia sẻ xe tại Anh, được thúc đẩy bởi một tổ chức từ thiện Anh quốcCarplus, có nhiệm vụ là để phát triển việc sử dụng hình thức tham gia giao thông nàynhằm giảm bớt chi phí tài chính, môi trường và xã hội của xe hơi Carplus được hỗ trợbởi các cơ quan quản lý giao thông tại London, sáng kiến của chính phủ Anh để giảm

ùn tắc và bãi đậu xe áp lực và góp phần làm giảm gánh nặng về môi trường và giảmlưu lượng truy cập có liên quan đến ô nhiễm không khí, tại London

Blablacar, một công ty khởi nghiệp tại Châu Âu, đã và đang lớn mạnh nhanh chóng vớimạng lưới phủ rộng khắp và tới nay đã vận chuyển hơn 3 triệu lượt người

Ý tưởng về việc đi chung xe với người lạ đã trải qua hàng thập kỉ nay FrédéricMazzella, nhà sáng lập mô hình đi chung xe Blablacar, đã mơ ước về công ty khi mớichỉ là sinh viên của đại học Stanford Ông ấy đã so sánh khái niệm về mô hình này vớinhững người hippies đi chung nhóm vào thập kỉ 70 của thế kỉ trước, nhưng khác làcông ty bây giờ đã có độ tin cậy, kế hoạch và chiến lược cụ thể, hơn nữa việc chi trả lạiđược thiết kế bởi internet Khi sử dụng dịch vụ của Blablacar, những chủ xe thườngxuyên phải đi trên quãng đường gần 200 dặm, phải tìm kiếm các giải pháp tối ưu hơn,đón nhiều hành khách hơn để giúp chi trả cho các phí xăng xe, lệ phí cầu đường và cóthể cả chi phí phát sinh khác trên đường

Điều thú vị là, Blablacar là một trong những doanh nghiệp được thành lập từ thủ đôParis của nước Pháp chỉ trong một thời gian rất ngắn, tiềm năng của công ty đangđược kì vọng chở số người đạt 10 triệu lượt vào cuối năm nay Đó là con số gấpkhoảng 3 lần số lượt người được chuyên chở vào năm 2012 ( 3 triệu người) Blablacarđang lớn mạnh vượt bậc ở những quốc gia như Đức ( nơi nó vừa mới được giới thiệudịch vụ này), và Mazzella nói rằng trong một khoảng thời gian không xa nữa thì sốlượng người sẽ sử dụng dịch vụ này tăng lên tới 600,000 lượt hành khách trong mỗitháng trong toàn khu vực Châu Âu Điều đó đáng để so sánh với hệ thống tàu điệnngầm Eurostar hiện đang giúp 900,000 lượt khách đi lại mỗi tháng

Trang 30

2.3 Lợi ích đi chung xe mang lại

2.3.1 Lợi ích với xã hội

Đi chung xe để giảm chi phí, tiết kiệm nhiên liệu, giảm ùn tắc giao thông, bảo vệ môitrường… là những lợi ích nhìn thấy ngay từ xu hướng này

Mô hình “chung đường, chung xe” giúp kết nối những người tham gia giao thông cóchung điểm đi, điểm đến, thời gian giống hoặc gần giống nhau để họ có thể đi chungbằng cách chia sẻ những chỗ còn trống trên phương tiện, không phải bây giờ mới có

mà đã được "nhen nhóm" cách đây khoảng 2-3 năm, như các trang web chungxe.netcủa trang vicongdong (FPT), diễn đàn chungduong.com, website chungxe.com,dichungxe.com, Tuy nhiên, cho đến nay, ngoại trừ diễn đàn chungduong.com, nhữngtrang web còn lại đều hoạt động rất yếu ớt Mặc dù vậy, trong bối cảnh giao thông ngàycàng trở thành một vấn đề nhức nhối đối với toàn xã hội, trào lưu này đang xuất hiệntrở lại với những trang web được đầu tư bài bản hơn về giao diện, chức năng nhưdichung.vn, dichungxe.vn

Bởi có nhiều người sử dụng một chiếc xe, đi chung xe làm giảm chi phí của từng người

đi như chi phí nhiên liệu, lệ phí cầu đường, và sự căng thẳng của lái xe Xe chung đượcxem như là một cách thân thiện hơn với môi trường và bền vững phải đi du lịch hànhtrình chia sẻ làm giảm lượng khí thải carbon, tắc nghẽn giao thông trên đường phố, vàcác nhu cầu đỗ xe không gian

Đi chung xe đi lại khá phổ biến với những người làm việc ở những nơi có nhiều việclàm ở gần đó, và những người sống ở những nơi có mật độ dân cư cao Đi chung xe cótương quan đáng kể với chi phí điều hành giao thông vận tải, bao gồm cả giá gas vàthời gian đi lại, và với các biện pháp xã hội vốn, chẳng hạn như thời gian với nhữngngười khác, thời gian dành cho ăn uống, là chưa lập gia đình Tuy nhiên, đi xe chung là

ít có khả năng đáng kể trong số những người dành nhiều thời gian hơn trong công việc,công nhân lớn tuổi, và chủ nhà

Các cơ quan chức năng cần có những phản ứng kịp thời với trào lưu mới này, đưa raphương án quản lý và định hướng phát triển nhất định, đây có thể là phương án hiệuquả để cải thiện tình hình giao thông của Hà Nội trong tương lai gần

Trang 31

Thực tế, trên thế giới, mô hình “chung đường – chung xe” (Carpool hay Ridesharing)

đã có từ rất lâu, phát triển mạnh tại một số nước như: Mỹ, Đức, hiện tại đang lan nhanhtại một số nước châu Á

2.3.2 Lợi ích với người dân

Thay vì một mình một xe và chịu mọi chi phí về nhiên liệu khi di chuyển, thì ngườichủ xe có thể chia sẻ chỗ chống trên xe của mình với những người có chung lộ trình,đặc biệt là với những người làm chung một cơ quan, một tòa nhà hay một khu vực gầnnhau, hai người có thể chia sẻ chi phí di chuyển của mình, bên cạnh đó còn thêm phầngắn kết tình cảm bạn bè, đồng nghiệp… Xét trên khía cạnh người không phải chủ xe,

họ sẽ không mất chi phí khấu hao, không mất phí đỗ xe Mọi người không biết nhau cóthể lên các website, diễn đàn để đăng ký thông tin và tìm bạn đường cho mình rất đơngiản, và có một số website yêu cầu minh bạch thông tin của hội viên rất an toàn

Anh Nguyễn Thanh Tùng – một người thành viên của trang web dichungxe.vn chia sẻ:

“Công việc tôi hằng ngày ở Mê Linh Plaza, lái xe một mình mỗi ngày 30 km khá mệt

và tốn kém, nên tôi đăng ký tuyến Hà Nội – Sân bay Nội Bài, cho những bạn có nhucầu lên sân bay đi ghép cùng mình Vừa tiết kiệm chút chi phí cho cả 2 bên, vừa vuihơn.”

Còn theo một trong những người sáng lập web dichung.vn – Anh Nguyễn Minh Quangchia sẻ: “ Đây là một mô hình mang lại lợi ích xã hội Những người tham gia giaothông có thể tiết kiệm chi phí đi lại, giảm bớt sự gia tăng của các phương tiện giaothông, tránh ùn tắc và bảo vệ môi trường”

2.3.3 Lợi ích với doanh nghiệp kinh doanh

Có thể thấy đang những bước đi đầu tiên tại Việt Nam của đi chung xe là từ những lỗlực của các doanh nghiệp xã hội, các tổ chức tình nguyện, ngoài ra còn có những doanhnghiệp khai thác những dịch vụ dựa trên chính những nguyên lý của đi chung xe đểphát triển, mang lại cho doanh nghiệp những lợi cho doanh nghiệp

Nhưng diễn đàn đi chung xe được lập ra thu hút lượng thành viên tham gia, qua đâyhaonf toàn có thể mang lại những giá trị từ quảng cáo nhất định cho chủ diễn đàn duytrì hoạt động, đối tượng của những diễn đàn này chủ yếu là thanh niên

Các doanh nghiệp khai thác giá trị từ những dịch vụ theo nguyên lý đi chung xe, nhưcác hình thức taxi, taxi đi chung của các hàng như Airport taxi, Nội Bài connect,… Cáchãng taxi này sẽ liên kết những người có chung lộ trình đi từ nội thành Hà Nội ra Sân

Trang 32

Bay Nội Bài và ngược lại, bình thường khách hàng đi từ trung tâm Hà Nội ra Nội Bàigiá 320.000 đồng đến 350.000 đồng thì khi đăng ký đi chung xe giá chỉ còn 150.000đồng đến 180.000 đồng trên một người, đây rõ ràng rất tiết kiệm cho người đi taxi, vàgiá này áp dụng ngay cả khi hãng xe không ghép được người đi chung

Sau khi phỏng vấn trực tiếp bộ phận quản lý, điều hành xe của Airport Taxi thì trungbình mỗi ngày có khoảng 8000 lượt xe taxi chạy lên Nội Bài trả khách, đặc biệt ngàythứ 6 sẽ đông hơn, nếu như tổ chức ghép xe được cho số lượng khách như vậy với nhauthì số tiền tiết kiệm được sẽ rất lớn Cũng theo kết quả kinh doanh của Airport taxi thìtrung bình mỗi ngày chỉ có khoảng 60 chuyến xe của hãng này ghép thành công đượcngười đi chung, chương trình đi chung được Airport taxi bắt đầu từ cuối năm 2013 đếnnay, đây là một con số rất khiêm tốn, lý do được đưa ra là do chưa truyền thông đượcrộng rãi tới người có nhu cầu đi Sân Bay nên kết quả chưa mong đợi

Với Uber lại khác, khai thác dịch vụ taxi trên nguyên lý đi chung xe, nhưng người lái

xe chính là chủ sở hữu xe luôn, và cho người khác đi chung xe với mình và hai bênchia sẻ chi phí thông qua tài khoản được Uber quản lý Uber hưởng phần trăm hoahồng từ mỗi chuyến đi, trong những năm gần đây Uber tăng trưởng rất mạnh ở cácquốc gia khác, và giờ bắt đầu ở Việt Nam cũng rất ấn tượng do chi phí rẻ hơn nhiều sovới taxi thông thường

Trang 33

2.4 Những thách thức của đi chung xe với giao thông Hà Nội

Sự an toàn: Cho một người lạ lên xe của mình, hoặc lên xe của một người lạ đi cùngthực sự là rất nhạy cảm với bất kỳ ai, việc tìm hiểu người đồng hành trước chuyến đi

là một việc làm hết sức cần thiết, cả hai bên phải thống nhất với nhau về kế hoạch vàlịch trình trước khi đi sao cho thoải mái và hợp lý nhất Với những người chủ xe, trướckhi đi một quãng đường xa cũng nên kiểm tra giấy phép lái xe, bảo hiểm xe và sẵnsàng cho phép người bạn đồng hành kiểm tra những thông tin này Nếu như có thay đổi

về lịch trình đã thống nhất hãy thông báo sớm cho người đồng hành

Sự lâu bền: Chưa có một tổ chức thuộc quản lý của nhà nước nào đứng ra đẩy mạnhhình thức này, đa phần là đều xuất phát từ các doanh nghiệp xã hội, tổ chức tìnhnguyện, câu lạc bộ, hội nhóm nhỏ… chưa có tính tổng thể và định hướng lâu dài, hiệnnay cũng chưa có luật nào quy đinh liên quan đến đi chung xe

Chỉ phát triển khi nhận thức xã hội tăng lên, Tiến sĩ Nguyễn Công Thoại (hội Tâm lýgiáo dục Việt Nam) cho biết: "Trào lưu đi chung xe tại Việt Nam chưa thực sự phổbiến, những nhóm đi chung xe thường quen biết nhau từ trước, chưa có nhiều sự chủđộng của các chủ xe trong việc mời những người xa lạ đi chung với mình trong mộthành trình Xe cá nhân ở nước ta vẫn là một phương tiện có giá trị lớn, do một vài lý donào đó mà nhiều chủ xe từ chối những để những người có nhu cầu đi chung với mình.Khi các trình độ nhận thức mặt bằng chung của xã hội còn chưa cởi mở thì đi chungvẫn khiến người có phương tiện e ngại Trong khi đó, nếu trào lưu này trở nên phổ biến

sẽ góp phần giảm tình trạng ùn tắc, giảm chi phí hạ tầng đường xá, bãi đỗ, tai nạn vàkhí thải… tiết kiệm cho cả chủ xe và khách đi cùng xe"

Trang 34

2.5 Môi trường phát triển đi chung xe ở Việt Nam

2.5.1 Nhóm yếu tố vi mô

- Doanh nghiệp: Hiện tại ở Việt Nam đã có một số doanh nghiệp, tổ chức hoạt

động dựa trên ý tưởng đi chung xe nhưng dưới nhiều góc đọ và cách khai thác khácnhau Có những doanh nghiệp, tổ chức hoạt động phi lợi nhuận như các câu lạc bộ tìnhnguyện, tổ chức xã hội về môi trường, về an toàn giao thông, đặc biệt có sự xuất hiệncủa doanh nghiệp xã hội một trong những loại hình doanh nghiệp phát triển rất nhanh ởViệt Nam trong những năm gần đây các doanh nghiệp tổ chức này có thể duy trì trênnhững nguồn thu từ hoạt động khuyên góp hay từ tài trợ của các tổ chức nước ngoàicũng như trong nước

Bên cạnh đó cũng có rất nhiều doanh nghiệp đã khai thác giá trị lợi ích về kinh tế mà đichung xe mang lại để đem về lợi nhuận cho mình như: Công ty cổ phần đi chung,Uber, Ariport taxi, Nội Bài connect… Hoạt động dựa trên nguyên lý của đi chung xe,chia sẻ chỗ trống trên xe, mỗi doanh nghiệp đều có cách áp dụng khác nhau để đem lạilợi nhuận dựa trên sự chêch lệch giữa số tiền những người đi chung xe chia sẻ vớinhau

- Các trung gian Marketing: Do đây là một hình thức tham gia giao thông mới

lạ ở Việt Nam và bước đầu đã có những thành công ở các nước phát triển khác nên đãtạo sự chú ý cho các đơn vị truyền thông đưa tin Đặc biệt là các tổ chức phi lợi nhuậnluôn dành được sự hỗ trợ rất nhiều từ các cơ quan truyền thông lớn này Gần đây vớiviệc Uber đẩy mạnh phát triển ở Việt Nam đã gây tốn không ít giấy mực của các nhàbáo, các cơ quan báo chí đăng rất nhiều phân tích, nhận định về Uber Việt Nam

- Đối thủ cạnh tranh:

Cạnh tranh giữa các hình thức tham gia giao thông: Hiện nay ở Hà Nội có 2 hình thứctham gia giao thông cơ bản là sử dụng phương tiện cá nhân và sử dụng phương tiệngiao thông công cộng

Với phương tiện cá nhân như xe ô tô, xe máy, xe đạp… Với phương thức tham gia giaothông này thì người sử dung phương tiện chủ động di chuyển, chịu trách nhiệm về sự

an toàn của chính bản thân mình khi tham gia giao thông và chịu toàn bộ chi phí chophương tiện như chi phí nhiên liệu, chi phí bảo dưỡng phương tiện, chi phí đỗ xe…

Trang 35

Ngoài ra cũng có thể nhìn ra những mặt lãng phí của nó gây ra cũng như tác hại của khíthải mà nó mang lại.

Với phương tiện công cộng như xe buýt, taxi,… có thể nói xe buýt là một trong nhữngphương tiện giao thông công cộng mà bất cứ đô thị lớn nào cũng đầu tư phát triển, vìđây được coi như lời giải hợp lý nhất cho bài toán giảm ùn tắc giao thông đô thị Đặcbiệt với các đô thị đang phát triển như Hà Nội, chưa có sự xuất hiện của tàu điện haynhững phương tiện hiện đại khác Nhưng nếu nhìn vào thực trạng xe buýt Hà Nội hiệnnay thì thực sự đáng buồn, chúng ta dễ dàng bắt gặp được những vấn đề vô cùng nóngbỏng mà xe buýt mang lại, từ chất lượng dịch vụ, nhân lực, chi phí vận hành, quản lý…

có quá nhiều vấn đề nhức nhối Còn với taxi, đây cũng là phương tiện giao thông côngcộng nhưng có thể nó là phương tiện giao thông công cộng cao cấp, vì chi phí để sửdụng cao hơn nhiều so với xe buýt, bù lại người dùng có không gian tốt hơn và sự chủđộng cao hơn khi đi taxi, nói vậy không có nghĩa là chất lượng dịch vụ taxi ở Hà Nộiđang tốt, vì có rất nhiều hãng taxi đào tạo nhân viên không nghiêm túc, tuyển chọn lái

xe không kỹ càng… gây ra những ứng xử với khách hàng thiếu văn hóa làm ảnh hưởngđến đánh giá nhìn nhận của mọi người về taxi hoạt động tại Hà Nội hiện nay

Cạnh tranh giữa các hình thức đi chung xe: Có rất nhiều hình thức đi chung xe, như đichung xe máy, đi chung xe ô tô, hay đi chung xe du lịch, đi chung xe về quê… Có thểnói xuất phát từ nhu cầu đi lại chính những hình thức này lại cạnh tranh với nhau, đichung xe máy và đi chung xe ô tô cạnh tranh nhau về mặt chi phí, về sự tiện dụng…

Cạnh tranh giữa các đơn vị cùng hoạt động để phát triển đi chung xe, hiện nay tại HàNội nói riêng và Việt Nam nói chung có rất nhiều các doanh nghiệp, tổ chức, câu lạc

bộ xây dựng những dịch vụ liên quan đến đi chung xe Việc có sự cạnh tranh chính từnhững đơn vì này với nhau để phát triển cũng là điều rất bình thường, bất kỳ tổ chứcnào cũng mong muốn được phát triển thu hút người sử dụng dịch vụ, thu hút cộng đồngtham gia đi chung xe

Trang 36

cố gắng thu hút sự chú ý của họ, nhưng buộc phải để ý đến họ nếu họ xuất hiện (Ví dụnhóm người tiêu dùng tẩy chay).

Các loại công chúng trực tiếp của thường là:

1 Giới tài chính Có ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo nguồn vốn của tổ chức.Công chúng trực tiếp cơ bản trong giới tài chính là ngân hàng, các công ty đầu tư, cáccông ty môi giới của Sở giao dịch chứng khoán, các cổ đông

2 Công chúng trực tiếp thuộc các phương tiện thông tin Công chúng thuộc cácphương tiện thông tin là những tổ chức phổ biến tin tức, những bài báo và bài xã luận.Trước hết đó là báo chí, đài phát thanh và đài truyền hình

3 Công chúng trực tiếp thuộc các cơ quan Nhà nước Ban lãnh đạo phải nhất thiếtchú ý đến tất cả những gì xảy ra trong lĩnh vực Nhà nước

4 Các nhóm công dân hành động Những quyết định marketing được các công tythông qua có thể gây nên những điều nghi vấn từ phía các tổ chức người tiêu dùng, cácnhóm bảo vệ môi trường, đại diện của các dân tộc ít người…

5 Công chúng trực tiếp địa phương Mọi tổ chức đều có quan hệ với công chúngtrực tiếp địa phương như những người dân sống ở vùng xung quanh và các tổ chức địaphương ở đây là Hà Nội

Trang 37

6 Quần chúng đông đảo: cần phải theo dõi chặt chẽ thái độ của quần chúng đôngđảo đối với hàng hóa và hoạt động của mình Và tuy rằng quần chúng đông đảo khôngphải là một lực lượng có tổ chức đối với tổ chức, những hình ảnh của tổ chức dưới conmắt của quần chúng có ảnh hưởng đến hoạt động thương mại của nó.

7 Công chúng trực tiếp nội bộ Công chúng trực tiếp nội bộ của doanh nghiệp tổchức bao gồm công nhân viên chức, những người tình nguyện giúp đỡ, các nhà quảntrị, các ủy viên Hội đồng giám đốc của công ty Khi công nhân viên chức có thái độ tốtđối với tổ chức thì thái độ tốt đó của họ sẽ truyền lan ra các nhóm công chúng trực tiếpkhác

- Khách hàng:

Đi chung xe hướng đến toàn xã hội, xây dựng một cộng đồng với ý thức tham gia giaothông cao và luôn coi trọng vấn đề môi trường, tiết kiệm nhiên liệu… Hiểu rõ điều đónhưng do đây là trao lưu mới và cần có thời gian kiểm chứng cũng như thời gian biếnđổi để phù hợp với văn háo giao thông ở Việt Nam nên đi chung xe cần phải làm vớigiới trẻ trước vì đây là những người dám chấp nhận cái mới, tinh thần yêu thích sự đổimới sáng tạo, nhanh nhẹn bị tác động văn hóa nhanh và dễ dàng thay đổi nhận thứccũng như hành vi… Quan trọng hơn khi giới trẻ tiếp nhận đi chung xe về lâu về dài sẽ

là bàn đạp để tạo ra những thế hệ tiếp theo quen với đi chung xe, phát triển cộng đồng

đi chung xe một cách bền vững

Trang 38

2.5.2 Nhóm yếu tố vĩ mô

Môi trường nhân khẩu học:

Theo Tổng Cục Thống Kê đến năm 2014 dân số Hà Nội là 7,2 triệu người, chưa kể cókhoảng gần 1 triệu người không đăng ký hộ khẩu thường trú

Mật độ dân số hiện nay của Hà Nội khoảng 2100 người/km2 So với thủ đô của cácnước trong khu vực ASEAN thì con số này rất cao Bình quân mật độ dân số của cácnước chỉ từ 100-200 người/km2 Chẳng hạn như ở Indonesia khoảng 124 người/km2,Myanmar là 88 người/1 km2, Thái Lan là 130 người/km2, Philippin là 124người/km2…Còn nếu so với mật độ chung của cả nước thì mật độ chung của thủ đôcao gấp 8 đến 9 lần so với mật độ trung bình Điều đó cho thấy, các khu vực nội thành

cũ đang chịu áp lực quá tải về dân số vì đa phần dân số tập trung vào trong những quậnnội thành, ảnh hưởng không nhỏ tới một số lĩnh vực như giao thông, nhà ở, y tế, giáodục, trật tự công cộng, trật tự vệ sinh, trật tự đô thị, mỹ quan thành phố, theo tính toán

sơ bộ chi phí tăng thêm do tiêu hao nhiên liệu và lãng phí công lao động do ùn tắc giaothông ở nội thành Hà Nội khoảng 36.4 tỷ VNĐ/ngày (12.812 tỷ VNĐ/năm, tươngđương khoảng 600 triệu USD/năm), ở đây, chưa tính đến tăng chi phí khấu hao phươngtiện, tác động của tăng lượng khí thải, các áp lực về tâm lý, ảnh hưởng lâu dài tới sứckhoẻ và hệ lụy của người tham gia giao thông

Tính trung bình, mỗi năm Việt Nam tăng trên 929 ngàn dân Tỷ suất tăng dân số trungbình giai đoạn 2009-2014 đạt 1,06%/năm, thấp hơn giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm.Song, tổng tỷ suất sinh trên mỗi phụ nữ vẫn là 2,09 trẻ em

Môi trường kinh tế:

Kinh tế phát triển dẫn tới xe cộ, cách thức di chuyển của người dân cũng thay đổi, cácphương tiện giao thông hiện đại hơn được đưa vào sử dụng, số lượng xe cá nhân tăngmạnh trong những năm gần đây đặc biệt là số lượng ô tô Trong thời gian gần đây, nhucầu đi du lịch nước ngoài, nhu cầu mua sắm xe hơi, nhu cầu chơi golf… đang hìnhthành và lan tỏa trong một bộ phận không nhỏ dân cư

Khi thu nhập của dân cư tăng lên thì đồng thời cơ cấu chi tiêu của họ cũng thay đổinhanh chóng Đối với bộ phận dân cư có thu nhập tăng lên nhanh chóng bất thường thì

Trang 39

nhu cầu tiêu xài chuyển mạnh sang hàng hóa và dịch vụ cao cấp, tiếp tục mua sắm,đầu cơ bất động sản vàng, các dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp… Còn đối với đại bộ phậndân cư có thu nhập tăng lên từ từ thì đồng thờ chi tiêu cho ăn uống cũng chiến tỷ lệngày càng nhỏ.

Chính vì vậy ngay cả việc di chuyển thường ngày cũng chịu tác động rất lớn từ yếu tốkinh tế đi lên chung, người dân quan tâm đến yêu tố chi phí, an toàn, thời gian… Mộtcách thức di chuyển hợp lý về chi phí, đảm bảo sự an toàn nhưng phải quan trọng làđáp ứng được thời gian của họ, đối với thời đại công nghiệp thì thời gian quý nhưvàng, con người ta coi trọng từng giây từng phút của mình, việc tối thiểu hóa thời gian

di chuyển luôn được mọi người quan tâm

Một cái nhìn tổng quát, khi nền kinh tế đi lên vô hình chung nhận thức xã hội cũng sẽđược nâng lên do đời sống người dân được cả thiện, có nhiều cơ hội va chạm vớinhững nền văn hóa khác nhau, cơ sở hạ tầng được nâng cấp, đặc biệt hệ thống giaothông đường bộ đó đều là những yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến việc phát triển đichung xe ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng

Môi trường tự nhiên:

Các vấn đề chủ yếu cần nghiên cứu về môi trường tự nhiên phục vụ cho hoạt động pháttriển đi chung xe bao gồm: Xu hướng bảo về môi trường, sự thiếu hụt nguồn nguyênvật liệu, sự gia tăng chi phí năng lượng, chất thải công nghiệp, và các quy định củachính phủ về vệ sinh công nghiệp Môi trường bao gồm các tài nguyên, khí hậu, địahình và các yếu tố tự nhiên khác Và hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức chịu ảnhhưởng bởi các yếu tố này Xu hướng mạnh mẽ thế kỉ 21 là “môi trường xanh” cácdoanh nghiệp cần có các nguồn nguyên liệu phù hợp, và sẵn sàng phương án thay thếkhi cần thiết, tránh vào việc quá phụ thuộc vào những nguồn nguyên liệu khan hiếm.Từng yếu tố tự nhiên sẽ tác động đến vấn đề giao thông chung cũng như phát triển cácbiện pháp truyền thông marketing cụ thể Đặc biệt với đi chung xe, một trong nhữnggiải pháp được đánh giá cao về tính thân thiện với môi trường cũng như tiết kiệm nănglượng

Môi trường công nghệ:

Với sự phát triển của khoa học công nghệ với nhiều công nghệ hiện đại, các phươngtiện giao thông cũng được hiện đại hóa dần, xu hướng phát triển các phương tiện giaothông thân thiện với môi trường, tiết kiệm nhiên liệu được đầu tư nghiên cứu, một sốdoanh nghiệp còn đầu tư nghiên cứu những loại phương tiện lái tự động, chạy bằngnăng lượng mặt trời…

Trang 40

Về mặt phương tiện giao thông:

Theo Ủy ban ATGT Quốc gia, bình quân mỗi năm thị trường Việt Nam "khai sinh”thêm hơn 3 triệu chiếc xe máy Với đà tăng như vậy, đến năm 2020, tổng số lượng xemáy lưu hành trên thị trường có khả năng đạt tới 60 triệu chiếc, vượt gần 24 triệu chiếc

so với dự đoán

Thực tế phát sinh trên thị trường có sự khác biệt lớn Đến thời điểm thống kế từ năm

2014, số lượng xe máy được sử dụng trên địa bàn cả nước lên đến xấp xỉ 40 triệu chiếcnếu tính số lượng xe sở hữu trên đầu người thì Việt Nam là một trong những nước có

tỷ lệ cao nhất thế giới, với 450 xe trên 1000 người dân Xem xét thuần túy về con số,hiếm có sản phẩm hàng hóa nào sớm về đích như là chỉ tiêu sử dụng xe máy

Đến thời điểm này hơn 96% thị phần xe máy tại Việt Nam thuộc về 5 hãng sản xuất cótên tuổi lớn như: Honda, Yamaha, Suzuki, Piaggio, VMEP Trong nhóm các đại gia nóitrên, Honda chiếm tỷ trọng cao nhất với tổng công suất lên đến hơn 2,5 triệu chiếc xemáy/năm

Bình quân mỗi năm thị trường Việt Nam "khai sinh” thêm hơn 3 triệu chiếc xe máy.Với đà tăng tiến như vậy, đến 2020, tổng số lượng xe máy lưu hành trên thị trường cókhả năng đạt tới 60 triệu chiếc, vượt gần 24 triệu chiếc so với chỉ tiêu đã được phêduyệt Là phương tiện giao thông thiết yếu của số đông người dân, nhưng lượng xemáy tăng nhanh sẽ gây ra nhiều hệ lụy rất đáng lo ngại

Về mặt hạ tầng viễn thông:

Theo Sách Trắng Công nghệ thông tin-Truyền thông Việt Nam năm 2014 vừa được BộThông tin Truyền thông công bố, thuê bao di động toàn Việt Nam năm 2013 chỉ còn123,7 triệu - giảm 8 triệu (tương ứng 6%) so với năm 2012

Trong khi đó, thuê bao di động 3G đạt 19,7 triệu thuê bao, tăng 4 triệu thuê bao, tươngứng với 25,4% so với năm 2012 Thuê bao điện thoại cố định tiếp tục giảm, đạt trên 6,7triệu thuê bao

Dịch vụ internet Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú Các loại hình dịch vụ kếtnối tốc độ cao có mức độ tăng trưởng nhanh chóng Những năm gần đây, dịch vụ truy

Ngày đăng: 11/07/2016, 09:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Quá trình biến đổi trạng thái và cảm xúc - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 1.1 Quá trình biến đổi trạng thái và cảm xúc (Trang 21)
Bảng 4: Thanh niên cho rằng đi chung xe rất an toàn - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 4 Thanh niên cho rằng đi chung xe rất an toàn (Trang 92)
Bảng 5: Thanh niên cho rằng Đi chung xe giúp tiết kiệm chị phí đi lại - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 5 Thanh niên cho rằng Đi chung xe giúp tiết kiệm chị phí đi lại (Trang 93)
Bảng 7: Thanh niên cho rằng Đi chung xe sẽ giúp giảm ùn tắc giao thông - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 7 Thanh niên cho rằng Đi chung xe sẽ giúp giảm ùn tắc giao thông (Trang 94)
Hình   thức khác - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
nh thức khác (Trang 100)
Hình   thức khác - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
nh thức khác (Trang 100)
Bảng 20: Mối quan hệ giữa Giới tính và Thanh niên phản ứng với việc cho người lạ đi nhờ xe và chia sẻ chi phí - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 20 Mối quan hệ giữa Giới tính và Thanh niên phản ứng với việc cho người lạ đi nhờ xe và chia sẻ chi phí (Trang 101)
Bảng 21: Mối quan hệ giữa Tuổi và Thanh niên Sẵn sàng đi chung xe với 1 người lạ trong thành phố - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 21 Mối quan hệ giữa Tuổi và Thanh niên Sẵn sàng đi chung xe với 1 người lạ trong thành phố (Trang 102)
Bảng 22: Mối quan hệ giữa Tuổi và Thanh niên phản ứng với việc cho người lạ đi nhờ xe và chia sẻ chi phí - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 22 Mối quan hệ giữa Tuổi và Thanh niên phản ứng với việc cho người lạ đi nhờ xe và chia sẻ chi phí (Trang 103)
Bảng 23: Mối quan hệ giữa hình thức tham gia giao thông và tiêu chí xếp hạng ưu tiên về yếu tố chi phí khi lựa chọn phương tiên đi lại của thanh niên. - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 23 Mối quan hệ giữa hình thức tham gia giao thông và tiêu chí xếp hạng ưu tiên về yếu tố chi phí khi lựa chọn phương tiên đi lại của thanh niên (Trang 103)
Bảng 23: Mối quan hệ giữa  đoạn đường thường di chuyển hàng ngày với việc thanh niên phản ứng với việc cho người lạ đi nhờ xe và chia sẻ chi phí - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 23 Mối quan hệ giữa đoạn đường thường di chuyển hàng ngày với việc thanh niên phản ứng với việc cho người lạ đi nhờ xe và chia sẻ chi phí (Trang 104)
Bảng 24: Thanh niên Sẵn sàng đi chung xe với 1 người lạ trong thành phố - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 24 Thanh niên Sẵn sàng đi chung xe với 1 người lạ trong thành phố (Trang 105)
Bảng 26: Mối quan hệ hình thức tham gia giao thông và tiêu chí xếp hạng ưu tiên về yếu tố bảo vệ môi trường khi lựa chọn phương tiên đi lại của thanh niên. - Ứng dụng truyền thông marketing định hướng nhận thức, thái độ hành vi về việc đi chung xe của thanh niên trên địa bàn thành phố hà nội
Bảng 26 Mối quan hệ hình thức tham gia giao thông và tiêu chí xếp hạng ưu tiên về yếu tố bảo vệ môi trường khi lựa chọn phương tiên đi lại của thanh niên (Trang 107)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w