1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài nguyên du lịch biển và việc xây dựng các sản phẩm du lịch biển tỉnh quảng ninh

125 340 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 277,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nghiên cứu lợi thế tài nguyên và các dịch vụ du lịch để thấy được lợithế phát triển du lịch nói chung và sản phẩm du lịch nói riêng và một số điểm du lịch trọng điểm của vùng nghiên cứ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Du lịch được coi là một ngành kinh tế chiếm vai trò quan trọng trongnền kinh tế của nhiều quốc gia và trên qui mô toàn cầu Cùng với sự phát triểncủa xã hội du lịch trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu Mỗi ngành kinh

tế đều tìm kiếm cho mình những sản phẩm độc đáo và có sức cạnh tranh.Ngành du lịch cũng vậy, vấn đề nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịchtrở thành vấn đề sống còn đối với phát triển ngành kinh tế nói chung và ngành

du lịch nói riêng Xây dựng sản phẩm du lịch là nhằm khai thác hiệu quảnguồn tài nguyên thiên nhiên tạo cơ hội phát triển các ngành dịch vụkhác.Phát triển sản phẩm du lich là cơ sở quan trọng để mỗi địa phương, mỗiquốc gia tiến hành phát triển quản lí, bảo tồn, tôn tạo và khai thác tài nguyêncũng như có những quy hoạch hợp lí để phát triển du lịch Đây cũng là conđường ngắn nhất để mỗi quốc gia khẳng định mình trong xu thế hội nhập Bởi

dù sản phẩm du lịch là gì đi nữa thì nó cũng phải đảm bảo yêu cầu bảo tồn vàtôn vinh tài nguyên và môi trường du lịch

Trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện nay, du lịchbiển có vị trí rất quan trọng Với hơn 70% số điểm du lịch tập trung ở dải venbiển, hàng năm thu hút đến 80% du khách đến tham quan nghỉ dưỡng ViệtNam là quốc gia có nguồn tài nguyên du lịch biển vô cùng phong phú Nhưngchưa khai thác và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên đó Thực tế cho thấy tạiViệt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, các quốc gia có nguồn tàinguyên du lịch phong phú, đa dạng, đặc sắc, và được điều tra đánh giá sửdụng hợp lí xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp thì sẽ đạt hiệu quả kinh tếcao và sử dụng bền vững Ngược lại những quốc gia có nguồn tài nguyên dulịch phong phú nhưng không được đánh giá qui hoạch hợp lí thì sẽ dẫn đếnlãng phí tài nguyên, làm cho nguồn tài nguyên du lịch bị cạn kiệt và hiệu quảkinh doanh du lịch thấp

Trang 2

Quảng ninh là một tỉnh có vị trí địa lí quan trọng, nằm trong tam giáctăng trưởng kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh Quảng Ninh cũng làmột tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú và là một trong những tỉnh có ngành

du lịch phát triển hàng đầu của nước ta Các sản phẩm du lịch của tỉnh cũng

đã bước đầu được xây dựng Tuy nhiên kết quả hoạt động du lịch của tỉnh vẫncòn khoảng cách rất xa so với nhiều điểm đến du lịch khác trên thế giới Sảnphẩm chưa đa dạng, phong phú và chưa tạo được sản phẩm mang tương hiệucủa Quảng Ninh Các sản phẩm chỉ dựa vào nguồn tài nguyên có sẵn mà chưađược đầu tư đúng mức Việc nghiên cứu thị trường, tâm lí, sở thích của dukhách chưa được quan tâm thỏa đáng

Từ thực trạng trên, nhằm sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên du lịch đểhình thành sản phẩm du lịch của vùng biển đảo tỉnh quảng ninh và có nhữngđinh hướng đúng đắn cho việc quy hoạch du lịch chung của tỉnh tôi đã chọn

đề tài: “ Tài nguyên du lịch biển và việc xây dựng các sản phẩm du lịch

biển tỉnh Quảng Ninh ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu

- Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu nguồn tài nguyên du lịch biển củatỉnh Quảng Ninh để làm sáng tỏ mức độ thuận lợi và khó khăn của việc khai tháctài nguyên cho phát triển sản phẩm du lịch Đồng thời nghiên cứu, đánh giá thựctrạng phát triển sản phẩm du lịch của vùng biển đảo tỉnh Quảng Ninh

- Qua quá trình nghiên cứu biết được những điểm mạnh và hạn chếtrong khai thác tài nguyên du lịch và xây dựng sản phẩm du lịch để từ đó đềxuất những giải pháp nhằm qui hoạch, phát triển, xây dựng sản phẩm du lịchvùng biển đảo Quảng Ninh

* Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục tiêu trên cần thực hiện nhiệm vụ

Trang 3

- Xác lập cơ sở lí luận và thực tiễn về tài nguyên du lịch và sản phẩm

du lịch

- Nghiên cứu lợi thế tài nguyên và các dịch vụ du lịch để thấy được lợithế phát triển du lịch nói chung và sản phẩm du lịch nói riêng và một số điểm

du lịch trọng điểm của vùng nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng phát triển các sản phẩm du lịch

- Từ kết quả nghiên cứu đưa ra được các định hướng và đề xuất đượcgiải pháp nhằm phát triển sản phẩm du lịch của địa bàn nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng: Phát triển du lịch là một vấn đề khá lớn tuy nhiên đề tàichỉ nghiên cứu các tài nguyên du lịch và vấn đề xây dựng phát triển sản phẩm

Đánh giá tiềm năng tự nhiên phục vụ phát triển du lịch bền vững khuvực ven biển và các đảo tỉnh Quảng Ninh Đã hệ thống lại và đánh giá tiềmnăng du lịch biển đảo của Quảng Ninh

Đề tài khoa học : “Luận chứng khoa học kỹ thuật xây dựng và pháttriển hệ thống du lịch biển Việt Nam”(1995) Vũ Tuấn Cảnh đã có những đánh

Trang 4

giá về vị trí, vai trò đồng thời đưa ra những định hướng để phát triển du lịchcho du lịch biển nước ta.

Đề tài khoa học: “ Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên,kinh tế xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh

tế xã hội biển” (1995) Lê Đức An Đề tài là cơ sở lí luận quan trọng chonghiên cứu điều kiện kinh tế xã hội vùng biển đảo

Đề tài khoa học cấp bộ: “ Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch biểnđảo tại vùng du lịch Bắc Bộ” Nguyễn Thu Hạnh(2006) đã hệ thống những vấn

đề về sản phẩm du lịch, hiện trạng phát triển các sản phẩm du lịch vùng biểnđảo Bắc Bộ

Đề tài khoa học: “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam cótính cạnh tranh trong khu vực và quốc tế”, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch(2007) Đã phân tích thực trạng phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam Phântích và so sánh những lợi thế cạnh tranh về tài nguyên cũng như hệ thống sảnphẩm du lịch Đề xuất những giải pháp mới để xây dựng sản phẩm du lịch cótính cạnh tranh trong khu vực và quốc tế Đề tài đã tổng kết các lý luận cơ bản

và quan trọng nhất trên thế giới và trong nước về các lý thuyết cạnh tranh để

từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu sản phẩm du lịch cạnh tranh

Trong cuốn “ Tài nguyên du lịch” do Bùi Thị Hải Yến chủ biên đãkhái quát cơ sở lí luận về tài nguyên du lịch, hệ thống lại các tài nguyên dulịch của Việt Nam Hệ thống các tiêu chí để đánh giá tài nguyên du lịch là cơ

sở để tìm hiểu, đánh giá tài nguyên du lịch của Quảng Ninh

Cuốn “ Địa lý du lịch Việt Nam” do nguyễn Minh Tuệ chủ biên đãphân tích đánh giá tiềm năng du lịch của Việt Nam, tài nguyên cũng như sảnphẩm du lịch của các vùng du lịch nước ta Đây là cơ sở để có thể hệ thống lạimột cách chi tiết các sản phẩm du lịch của Quảng Ninh, đồng thời đưa raphương hướng xây dựng sản phẩm du lịch mới

Trang 5

Trong cuốn “ Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninhđến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030” đã thống kê tài nguyên du lịch củatỉnh Quảng Ninh và đưa ra dược những định hướng giải pháp cơ bản pháttriển du lịch Quảng Ninh Những định hướng đó là cơ sở đưa đưa ra các địnhhướng và giải pháp chi tiết cho phát triển và khai thác sản phẩm du lịch củavùng nghiên cứu.

Luận văn “Tài nguyên du lịch biển và việc xây dựng các sản phẩm du

lịch biển tỉnh Quảng Ninh ” được thực hiện trên cơ sở kế thừa các công trình

nghiên cứu đồng thời có những ý tưởng đóng góp cho quá trình sử dụng tàinguyên du lịch và phát triển các sản phẩm du lịch biển đảo của Quảng Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lí thông tin

- Phương pháp thang điểm tổng hợp

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH BIỂN VÀ VIỆC XÂY DỰNG CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN

là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu của quốc gia

Có rất nhiều quan niệm về du lịch, ban đầu sự bùng nổ du lịch là donhững du khách nghỉ biển tạo nên Cho đến nay, du lịch nghỉ biển vẫn là dòng

du khách chính trên thế giới Chính vì vậy, có khái niệm du lịch 3S ( sea,sand, sun) với các nghĩa là biển, cát và nắng Ở nhiều nơi, dưới con mắt củangười bản xứ, du khách là những kẻ giàu có đáng ghét, những kẻ đem lại bấthạnh cho người dân địa phương Nhiều đoàn khách bị chính những người dânđịa phương tấn công Đó là lí do khách du lịch quan tâm đến an toàn trong dulịch Chữ S thứ tư ngày nay cần được hiểu là an toàn hay an ninh Đó vừa làyêu cầu của khách vừa là nhiệm vụ của nhà cung ứng

Hiện nay biển không còn là địa chỉ duy nhất của khách du lịch Có thểnói du lịch (tourism) bao gồm 4T là sự di chuyển ( travel), phương tiện vậnchuyển tốt (transport), về những nơi yên tĩnh thanh bình (tranquility) và cómôi trường tự nhiên, xã hội trong sạch ( transparently)

Trang 7

- Khái niệm về du lịch: Do hoàn cảnh ( thời gian, khu vực khác nhau,dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người lại có một cách hiểu khácnhau về du lịch Có một nhà nghiên cứu đã nhận định: “ đối với du lịch, cóbao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”.

Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh “

Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộchành trình với mục đích giải trí” Khái niệm này coi giải trí là động cơ củahoạt động du lịch

Năm 1930 Glusman người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinhphục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ

cư trú thường xuyên”

Hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lýthuyết về cung cầu du lịch đã định nghĩa: “ Du lịch là tập hợp của các mốiquan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú củanhững người ngoài địa phương, nếu việc cư trú đó không thành cư trú thườngxuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” Quan niệm này thể hiệntương đầy đủ và bao quát hơn các hiện tượng của du lịch so với 2 quan niệmtrên Tuy nhiên chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và của mốiquan hệ du lịch Ngoài ra định nghĩa cũng chưa nhắc đến vai trò trung giancủa các công ty tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hóa đáp ứng nhucầu của du khách

Trong cuốn Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan, với một nộidung khá chi tiết, nhà địa lý Pirojnik đã định nghĩa: “ Du lịch là một dạnghoạt động của dân cơ trong thời gian nhàn rỗi có liên quan đến sự di cư và lưutrú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất vàtinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa hoặc trình độ thể thao kèmtheo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ” Ông

Trang 8

đã nhấn mạnh yếu tố di chuyển trong thời gian nhàn rỗi Rõ ràng, một trongnhững yếu tố để phân biệt du lịch với chuyến đi bình thường là sử dụng thờigian nhàn rỗi Trong kinh doanh du lịch, thời gian nhàn rỗi của cư dân vàkhách tiềm tàng là một trong những đặc điểm được quan tâm nghiên cứu.

Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc vềRôma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: du lịch là tổng hợp cácmối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hànhtrình và lưu trú của cá nhân hay tập thể bên ngoài ở nơi ở thường xuyên của

họ hay ở ngoài nước với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải lànơi làm việc thường xuyên của họ

Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể thấy nhận thức về du lịch đã có

sự biến đổi Hầu như tất cả các định nghĩa đều xem hoạt động du lịch là mộthiện tượng xã hội hoặc là một ngành kinh tế Có định nghĩa được ghép từ cảhai yếu tố này Hoạt động du lịch có thể được hiểu là:

- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm ngoài nơi cư trú thường xuyên, trongthời gian rỗi với mục đích không phải kiếm tiền, có hoặc không kèm theo việctiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa, dịch vụ do các cơ sở chuyênnghiệp cung ứng

- Đứng dưới góc độ kinh tế, du lịch là một ngành kinh doanh nhằm đápứng nhu cầu di chuyển và lưu trú qua đêm của khách du lịch

1.1.1.2 Các loại hình du lịch

* Theo nhu cầu của khách du lịch:

- Du lịch chữa bệnh: là hình thức đi du lịch nhằm mục đích điều trịbệnh Khách du lịch cao tuổi thường lựa chọn loại hình du lịch này Loại hình

du lịch này thường gắn liền với việc nghỉ ngơi ở các trung tâm chữa bệnh, cáctrung tâm được xây dựng bên các nguồn nước khoáng có giá trị, có cảnh quanthiên nhiên đẹp và khí hậu thích hợp

Trang 9

Du lịch chữa bệnh có thể phân ra thành các loại khác nhau như chữabệnh bằng khí hậu, chữa bệnh bằng phương pháp thủy lý, chữa bệnh bằngbùn, bằng hoa quả…

- Du lịch nghỉ ngơi: Nảy sinh do nhu cầu cần phải nghỉ ngơi để phụchồi thể lực và tinh thần cho con người Nó làm cho cuộc sống thêm đa dạng

và bứt con người ra khỏi cuộc sống hàng ngày

- Du lịch thể thao: Đây là du lịch gắn liền với sở thích của du khách vềmột loại hình thể thao nào đó Du lịch thể thao có thể chia ra làm 2 loại đó là

du lịch thể thao chủ động và du lịch thể thao thụ động Du lịch thể thao chủđộng là hình thức du khách tham gia trực tiếp vào các hoạt động thể thao như:leo núi, câu cá, săn bắn… Du lịch thể thao thụ động là những chuyến đi đểxem các cuộc thi đấu thể thao, các thế vận hội…

- Du lịch công vụ: Với mục đích chính là nhằm thực hiện nhiệm vụcông tác hoặc nghề nghiệp nào đó Tham gia loại hình này là khách đi dự cáchội nghị, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc gặp gỡ… Hiện nay du lịch hộinghị là một trong những loại hình thu được hiệu quả cao nhất cho nước chủnhà Nhiều nước trên thế giới đã đầu tư xây dựng những công trình tổ hợpnhằm đảm bảo phục vụ toàn bộ các thành viên của hội nghị như ở Paris,Rome, Viên…

- Du lịch tôn giáo: loại hình này thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệtcủa những người theo các loại tôn giáo khác nhau Đây là loại hình du lịch lâuđời và rất phổ biến ở những nước tư bản

- Du lịch quá cảnh: Nảy sinh do nhu cầu đi qua lãnh thổ của một quốcgia nào đó trong thời gian ngắn để đến một đất nước khác

* Theo tài nguyên du lịch

- Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết của dukhách về lịch sử, kiến trúc, kinh tế- xã hội, lối sống, phong tục- tập quán nơi

Trang 10

họ đến thăm Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn háolịch sử, bảo tàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao…

- Du lịch sinh thái là hoạt động nhằm thỏa mãn du khách về tìm hiểu hệsinh thái tự nhiên và bản sắc văn hóa địa phương Địa điểm tổ chức loại hình

du lịch snh thái thường là những khu vực có hệ sinh thái còn tương đối hoang

sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa đang được bảo tồn gần như nguyênvẹn như các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, khu dự trữ sinh quyển,các làng, bản văn hóa,… Loại hình này hiện đang thu hút được sự chú ý củahầu hết các du khách yêu chuộng thiên nhiên và văn hóa trên toàn thế giới

* Theo vị trí địa lý

- Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với biển, và việc tổ chức cáchoạt động tắm biển, lướt ván, thể thao biển, … Loại hình này có tính mùa vụ

rõ rệt nên thường được tổ chức vào mùa nóng

- Du lịch núi là loại hình du lịch gắn liền với các khu vực có địa hìnhcao Du khách thường đến đây để nghỉ mát vào mùa hè ở các nước nhiệt đới

và nghỉ đông ở các nước xứ lạnh với nhiều hoạt động thể thao mùa đông nhưtrượt tuyết

- Du lịch đô thị mà điểm đến thường là các thành phố, các trung tâmkinh tế với nhiều công trình kiến trúc lớn, khu thương mại, đầu mối giaothông, công viên giải trí,… Du khách không chỉ là những người sống ở nôngthôn mà cả ở những thành phố khác đến để tham quan, ngắm cảnh cũng nhưmua bán,…

- Du lịch đồng quê thường diễn ra ở những nơi có không khí trong lànhyên tĩnh, thanh bình, thoáng mát Vì vậy, khu vực này thường có sức hút lớnđối với những người dân đô thị Về với nông thôn để khách tận hưởng bầukhông khí trong lành, mát mẻ và không gian làng quê thanh bình

* Theo phạm vi lãnh thổ

Trang 11

- Du lịch nội địa được hiểu là chuyến đi của người du lịch từ chỗ nàysang chỗ khác nhưng trong phạm vi lãnh thổ của đất nước mình Loại hình dulịch này nhằm khám phá thiên nhiên và đặc điểm văn hóa của quốc gia Điểmđến và điểm xuất phát đều nằm trong lãnh thổ của một đất nước.

- Du lịch quốc tế được hiểu là chuyến đi từ nước này sang nước khác,khách phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch Du lịch quốc tếchia làm 2 loại: du lịch chủ động là nước này chủ động đón khách du lịch từnước khác đến và tăng nguồn thu nhập ngoại tệ và du lịch bị động là nước nàygửi khách du lịch sang nước khác và mất một khoản ngoại tệ Hiện nay tất cảcác nước đều muốn phát triển du lịch quốc tế chủ động

* Theo thời gian của cuộc hành trình

- Du lịch ngắn ngày là loại hình du lịch chỉ diễn ra từ 1-3 ngày (hoặc dưới

1 tuần), tập trung vào những ngày cuối tuần Loại hình này thích hợp với các đốitượng du khách ít thời gian, du khách tham quan du lịch vào cuối tuần

- Du lịch dài ngày là loại hình gắn với các kỳ nghỉ dài từ cài tuần đến 1năm ở các địa điểm cách xa nơi ở của du khách, kể cả khách trong nước vàngoài nước

* Theo hình thức tổ chức

- Du lịch có tổ chức theo đoàn là loại hình du lịch có sự chuẩn bịchương trình từ trước hay thông qua các tổ chức du lịch Mỗi thành viên trongđoàn đều biết được kế hoạch đi du lịch của mình

- Du lịch cá nhân là hoạt động du lịch do cá nhân tự quyết định chuyến

đi, kế hoạch lưu trú, địa điểm ăn uống Đây là loại hình ngày càng phát triển

và chiếm ưu thế trong hoạt động du lịch

- Du lịch gia đình là loại hình du lịch do các gia đình tự tổ chức hoặcthông qua các công ty tổ chức và cung cấp dịch vụ trong thời gian sao chophù hợp với công việc và thu nhập của mình

Trang 12

1.1.1.3 Các khái niệm điểm, tuyến, khu du lịch

- Điểm du lịch quốc gia: có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn, có khảnăng bảo đảm phục vụ tối thiểu một trăm nghìn lượt khách du lịch một năm,

có đường giao thông thuận tiện đến điểm du lịch, có các dịch vụ: bãi đỗ xe, cókhu vệ sinh công cộng, phòng cháy chữa cháy, cấp, thoát nước, thông tin liênlạc và các dịch vụ khác đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch, đáp ứng cácđiều kiện về bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự, vệ sinh môi trường theo quyđịnh của pháp luật

- Điểm du lịch địa phương: có tài nguyên du lịch hấp dẫn với nhu cầutham quan của khách du lịch, có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết,

có khả năng đảm bảo phục vụ ít nhất 10.000 lượt khách tham quan mỗi năm

* Tuyến du lịch: theo điều 4 chương 1 luật du lịch Việt Nam tuyến dulịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ

du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy vàđưởng hàng không” Tuyến du lịch bao gồm tuyến du lịch quốc gia và tuyến

du lịch địa phương

- Tuyến du lịch quốc gia cần có các điều kiện sau: Nối các khu du lịch,điểm du lịch, trong đó có khu du lịch, điểm du lịch quốc gia có tính chất liên

Trang 13

vùng, liên tỉnh nối với các cửa khẩu quốc tế, có biện pháp bảo vệ cảnh quanmôi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến.

- Tuyến du lịch địa phương cần có các điều kiện sau: nối các khu dulịch, điểm du lịch trong phạm vi địa phương, có biện pháp bảo vệ cảnh quanmôi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến

1.1.2 Tài nguyên du lịch

1.1.2.1 Định nghĩa

Theo quan niệm hiện nay thì tài nguyên nói chung là tất cả nhữngnguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trong tự nhiên hoặc do conngười sáng tạo và sử dụng để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển củamình Yếu tố quyết định của tài nguyên là giá trị sử dụng của chúng để phục

vụ cuộc sống con người Tất cả những gì có giá trị sử dụng phục vụ cuộc sốngcủa con người đều được gọi là tài nguyên Phạm trù tài nguyên rất rộng và đadạng Hoạt động của đời sống con người rất đa dạng, trong đó du lịch chỉ làmột lĩnh vực và do vậy chỉ có một bộ phận tài nguyên được sử dụng phục vụ

du lịch Các học giả Trung Quốc đã viết: “ Tất cả những nhân tố có thể kíchthích động cơ du lịch của du khách được ngành du lịch tận dụng và từ đó sinh

ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội thì đều gọi là tài nguyên du lịch” ( ĐồngNgọc Minh &Vương Lôi Đình, tr 127)

Theo Nguyễn Minh Tuệ và nnk “ TNDL là tổng thể tự nhiên, và vănhóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thểlực, trí lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ.Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, choviệc sản xuất dịch vụ du lịch.”

Theo luật du lịch Việt Nam thì: “ tài nguyên du lịch là cảnh quan thiênnhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạocủa con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp

Trang 14

ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm dulịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”

Như vậy có thể đi đến một nhận định chung tài nguyên du lịch là tất cảnhững giá trị của tự nhiên hoặc do con người tạo ra có sức hấp dẫn du khách Nóbao gồm cả những giá trị đã khai thác, đang khai thác và sẽ khai thác cho mụcđích du lịch nhằm mang lại những lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường

Tài nguyên du lịch biển là tất cả những giá trị tự nhiên và nhân văn cósức hấp dẫn du khách và được khai thác phục vụ mục đích du lịch biển

1.1.2.2 Đặc điểm của tài nguyên du lịch

Để có thể khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch một cách bền vữngthì cần tìm hiểu đặc điểm của các tài nguyên du lịch :

*Tài nguyên du lịch có tính tổng hợp

Tài nguyên du lịch có thể là một nguồn năng lượng tự nhiên như ánhnắng mặt trời, gió, nước hay các nền văn hóa, một khu công nghiệp, các côngtrình kiến trúc TNDL cũng có thể là hưu hình có thể là vô hình dường nhưbất cứ một tồn tại khách quan nào cũng có thể là tài nguyên du lịch đó có thể

là ánh trăng, là những con sóng, hiện tượng nguyệt thực, đều có thể là tàinguyên du lịch, bất cứ không gian nào con người có thể vươn tới đều có thể làtài nguyên du lịch như không gian vũ trụ hay đáy các đại dương Vì thế nêncác sản phẩm du lịch cũng sẽ có tính đa dạng phục vụ các nhu cầu đa dạngcủa du khách

* Tài nguyên du lịch có tính nhạy cảm cao

Khi có những tác động từ bên ngoài thì các tài nguyên có thể bị mất

đi Ví dụ như nền văn hóa của một địa phương khi phát triển du lịch cóthể bị mất đi Vì thế khi thác sản phẩm du lịch cần chú ý đến vai trò củacộng đồng địa phương Muốn một sản phẩm tồn tại lâu dài chỉ có conđường phát triển bền vững

Trang 15

* Phần lớn TNDL được sử dụng tại chỗ, không thể di rời

Vì tất cả những tài nguyên tự nhiên như hồ, sông, biển, các công trìnhkiến trúc… đều không thể di dời Ngay cả nhữ lễ hội văn hóa dân gian cũngchỉ phát huy tác dụng trên chính quê hương sản sinh ra chúng Rõ ràng là lễhội cồng chiêng ở Tây Nguyên sẽ không thể hấp dẫn du khách khi người tadựng lại nó ở thủ đô Hà Nội Cũng vì thế mà các sản phẩm du lịch không thểmang đến tận nơi cho du khách mà du khách phải di chuyển từ nơi lưu trúthường xuyên đến nơi tiêu thụ sản phẩm

* TNDL có thời gian khai thác khác nhau

Khí hậu của một địa phương thay đổi theo mùa, hay các lễ hội tập trungtheo mùa Điều này làm cho tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khácnhau tạo nên tính mùa vụ trong du lịch Vì thế cần biết tổ chức khai thác tốt,tận dụng những lợi thế của địa phương để hạn chế tính mùa vụ

*Tài nguyên du lịch được sử dụng nhiều lần

Khác với những tài nguyên khác, phần lớn tài nguyên du lịch có thểđược khai thác, sử dụng nhiều lần, chừng nào chúng còn có được sức hấp dẫn

và thu hút khách Tuy nhiên , do nhiều tác động khác nhau TNDL có thể vẫntồn tại nhưng mất đi tính hấp dẫn thì sẽ không còn khả năng khai thác phục vụ

du lịch Đây là vấn đề tồn tại ở rất nhiều điểm du lịch Ví dụ như Sa Pa dochạy theo xu hướng thương mại hóa nên làm nhái các sản phẩm thổ cẩm đểbán cho du khách hay bán các sản phẩm nguồn gốc từ nơi khác đó chính lànguyên nhân làm cho du khách không quay trở lại điểm du lịch đó nữa

* Một số loại tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngànhkinh tế xã hội

TNDL tự nhiên giá trị sử dụng để phục vụ cho các hoạt động vui chơigiải trí, nghỉ ngơi, an dưỡng, chữa bệnh cao Khách du lịch thường tìm đếnnhững điểm tài nguyên du lịch tự nhiên đẹp như những vùng biển , những conthác, những khu rừng nguyên sinh… để thưởng thức vẻ đẹp của tự nhiên, nghỉngơi, thư giãn sau những ngày làm việc, căng thẳng và phục hồi sức khỏe…

Trang 16

Bên cạnh đó, nhiều dạng tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị làm đẹp môitrường như tài nguyên nước với các sông hồ hay một cánh rừng xanh bạt ngàngây hứng thú đối với du khách.

Về nguồn gốc, tài nguyên du lịch tự nhiên do điều kiện tự nhiên tạo ra.Tài nguyên này thường ở các vùng núi xa, những vùng dân cư khó khăn điềunày làm cho việc tiếp cận khó khăn nhưng nếu phát triển du lịch tốt thì lại tạođiều kiện cải thiện đời sống kinh tế của người dân địa phương

* Tài nguyên du lịch nhân văn: do là sản phẩm của con người tạo ranên chúng có những đặc tính khác với tài nguyên du lịch tự nhiên

- Tài nguyên du lịch nhân văn có tính phổ biến Ở bất cứ đâu có conngười thì đều có một nền văn hóa và tinh thần của con người Vì thế tàinguyên nhân văn có tính phổ biến hơn

- Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính nhận thức: Khi khách du lịchđến một điểm du lịch nhân văn nào đó thì thường là vì động cơ nhận thứcđiều này phân biệt TNDL tự nhiên với TNDL nhân văn Trong thực tế cónhững tài nguyên mang cả đặc điểm của tài nguyên du lịch tự nhiên và tàinguyên du lịch nhân văn Ví dụ như Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt mặc dù là hồnhân tạo nhưng nó lại mang đầy đủ những đặc tính của tự nhiên Nguồn tàinguyên du lịch càng phong phú đa dạng thì tiềm năng phát triển du lịch cànglớn Nhưng trên thực tế bên cạnh sự phong phú đa dạng đó một điều cần thiếtnữa là tính độc đáo đặc sắc của tài nguyên cũng đóng vai trò đặc biệt quantrọng , có ý nghĩa quyết định cho sự thành công của hoạt động du lịch Điều

đó giải thích tại sao có nơi chỉ có 1 điểm tài nguyên nhưng lại là nguồn thuhút khách du lịch chủ yếu của một lãnh thổ hay của một quốc gia Như vậymuốn phát triển một sản phẩm du lịch một cách lâu bền thì cẩn phải quantâm , bảo vệ những giá trị đặc sắc của tài nguyên, đặc biệt là những bản sắcdân tộc độc đáo của tài nguyên du lịch văn hóa Mặt khác cũng phải nhìnnhận rằng, có nguồn tài nguyên du lịch phong phú rồi nhưng nếu việc tổ chức

Trang 17

quản lí và khai thác không tốt thì cũng không duy trì được sự phát triển bềnvững của du lịch Việc khai thác quá mức hoặc khai thác sai mục đích đềulàm tài nguyên xuống cấp, ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lí du khách Do vậy,tài nguyên du lịch cần được đánh giá cả về mức độ thuận lợi và mức độ hấpdẫn cho phát triển các sản phẩm du lịch để đảm bảo khai thác hợp lý và pháthuy được những giá trị và bảo tồn được tài nguyên.

- Tài nguyên nhân văn mỗi vùng đều có bản sắc riêng: do mỗi khu vực,mỗi quốc gia có một điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau và văn hóa của mỗinơi đều có nét đặc sắc riêng góp phần tạo nên những sản phẩm du lịch độcđáo, có sức cạnh tranh và hấp dẫn du khách riêng

- Tài nguyên nhân văn thường phân bố ở gần những khu dân cư, đặc biệt

là những khu vực tập trung đông dân cư Vì tài nguyên nhân văn là sản phẩm

do con người tạo ra Khác với TNDL tự nhiên, TNDL nhân văn ít chịu ảnhhưởng của tính mùa vụ cũng ít chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết

1.1.2.3Vai trò của TNDL đối với việc xây dựng sản phẩm du lịch:

Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành nên sản phẩm du lịch

* Tài nguyên du lịch qui định các loại hình du lịch tại một điểm du lịch:

Sự ra đời và phát triển của một loại hình du lịch nào đó phải dựa trênviệc khai thác tài nguyên Loại hình du lịch nghỉ dưỡng sẽ phát triển ở nhữngnơi có khí hậu ôn hòa những vùng có môi trường trong sạch, cảnh quan đẹp.Loại hình du lịch mạo hiểm sẽ phát triển ở nơi có địa hình hiểm trở hay loạihình du lịch tắm biển phát triển ở những bãi biển đẹp…

* Sự phong phú của tài nguyên quyết định sự phong phú của sản phẩm

du lịch: Một vùng biển đảo có nhiều loại tài nguyên tự nhiên, nhân văn, kinh

tế kỹ thuật bổ trợ đáp ứng được nhu cầu của mỗi du khách thì sẽ xây dựngđược nhiều loại sản phẩm du lịch khác nhau Hơn nữa số lượng, quy mô, sựphân bố, chất lượng của tài nguyên ảnh hưởng đến chất lượng, quy mô vàhiệu quả của sản phẩm du lịch

Trang 18

* Tài nguyên du lịch ảnh hưởng đến đối tượng tiêu dùng sản phẩm: Mộtđịa điểm có tài nguyên du lịch phong phú sẽ thu hút được nhiều đối tượng khách

du lịch khác nhau Những điểm du lịch suối nước nóng thì sẽ phát triên loại hình

du lịch nghỉ dưỡng,chữa bệnh thu hút đối tượng là những người cao tuổi Mộtkhu du lịch có nhiều trung tâm mua sắm sẽ thu hút đối tượng khách nữ Hay mộtvùng núi hiểm trở sẽ thu hút những khách du lịch trẻ tuổi ưa du lịch mạo hiểm

Như vậy du lịch là ngành định hướng tài nguyên Tài nguyên du lịch ảnhhưởng trực tiếp đến cơ cấu và hướng chuyên môn hóa của vùng du lịch Quy môhoạt động du lịch của một lãnh thổ được xác định trên cơ sở tài nguyên Sức hấp dẫncủa một lãnh thổ phụ thuộc vào tài nguyên Bởi thế, trong bất cứ một quy hoạch pháttriển du lịch nào thì tài nguyên du lịch cũng là nhân tố được đánh giá đầu tiên vàtrong việc xây dựng bất kì sản phẩm du lịch nào thì tài nguyên du lịch cũng là điềuđầu tiên mà người ta chú ý Hay mục đích đi du lịch của mỗi du khách đều hướngđến tài nguyên du lịch của vùng đó như du lịch biển, núi, văn hóa tâm linh…

Theo G.Cazes – R Lanquar – Y Raynouard (1) ( dẫn theo địa lý du lịchViệt Nam- Nguyễn Minh Tuệ, Nxb Giáo dục Việt Nam) trong du lịch có thểphân loại tài nguyên du lịch như sau:

-Tài nguyên thiên nhiên như khí hậu ( thuận lợi hay khó khăn cho việcphát triển loại hình du lịch này hay loại hình du lịch khác), địa hình tạo raphong cảnh núi, phong cảnh hồ hoặc bãi biển), động vật và thực vật,…

Trang 19

- Tài nguyên văn hóa- xã hội như các cuộc trình diễn nghệ thuật, liênhoan, âm nhạc, hòa nhạc quốc tế, triển lãm, hội thảo văn học, trình diễn thể thao,khoa học công nghệ, các thành phố hiện đại, các điểm khảo cổ và lịch sử.

- Tài nguyên thuộc nhóm kinh tế, như các nhà máy, các trung tâm kỹthuật; kể cả những điều kiện kinh tế thuận lợi cho việc mua sắm,…

Ở nước ta, từ cuối những năm 80 đầu những năm 90 một số tác giả( Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trunglương) trong quá trình đánh giá tài nguyên du lịch của Việt Nam đã phânchúng thành hai nhóm:

- Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật

- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm có: di tích các loại, lễ hội, làngnghề, văn hóa- văn nghệ dân gian, ẩm thực…

Bảng 1.1: Phân loại tài nguyên du lịch

Để thuận tiện cho việc xây dựng sản phẩm du lịch luận văn sử dụng sơ

đồ phân loại tài nguyên du lịch trên để tiến hành nghiên cứu

Lễ hội

Di tích văn hóa lịch sử

Trang 20

Nhu cầu chính là động lực thôi thúc con người hành động nói chung vàmua hàng nói riêng Vậy nhu cầu là gì?

Nhu cầu tự nhiên hay nhu cầu con người là nhu cầu được hình thànhkhi con người cảm thấy thiếu hụt một cái gì đó Nhà kinh tế học Maslow đãphân loại nhu cầu tự nhiên của con người thành 5 bậc khác nhau: nhu cầu tựnhiên là vốn có đối với con người

Bảng 1.2: Bậc thang phân loại nhu cầu con người của Maslow

Xã hội phát triển thì con người cũng có những nhu cầu cao hơn Nhucầu ăn uống, nhu cầu được an toàn và các nhu cầu xã hội như giao lưu tìnhcảm,… các nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu thiết yếu của con người Nhucầu đi du lịch nằm ở bậc trên cùng thể hiện khát vọng được khám phá vàhưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần mới: nhu cầu giải trí nâng cao thểlực, tìm hiểu văn hóa nghệ thuật… và các nhu cầu này luôn thay đổi Cónghĩa là khi một người khách đi du lịch thì họ đã được đáp ứng các nhu cầu

cơ bản Ở những giai đoạn khác nhau của xã hội nền kinh tế phát triển khácnhau thì nhu cầu du lịch cũng khác nhau Khi một quốc gia còn lạc hậu kém

Nhu cầu tự khẳng định bản thân

Nhu cầu được tôn trọng

Nhu cầu xã hội ( tình cảm, giao lưu…)

Nhu cầu an toàn (được bảo vệ, yên ổn

Nhu cầu tự nhiên (ăn uống, thở, duy trì nòi giống)

Trang 21

phát triển thì nhu cầu ăn no mặc ấm là cần thiết Khi đã được ăn no thì nhucầu tiếp theo là được bảo vệ được giao lưu tình cảm Con người sống trong xãhội phát triển hơn thì nhu cầu cũng đa dạng hơn và cao hơn.

Nhu cầu du lịch là một dạng nhu cầu chỉ xuất hiện khi trình độ xã hộiphát triển đến một mức độ nhất định, là hành vi văn hóa cao cấp của loàingười biểu hiện sự mong muốn tạm thời rời nơi thường xuyên để đến vớikhông gian thiên nhiên và văn hóa ở một nơi khác; là nguyện vọng rất cầnthiết của con người muốn được giải phóng khỏi sự căng thẳng, tiếng ồn sự ônhiễm môi trường ngày càng tăng tại các trung tâm công nghiệp để nghỉ ngơi,giải trí, tăng cường hiểu biết, phục hồi sức khỏe

* Đặc điểm của nhu cầu du lịch

-Đặc tính dễ thay thế: nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp, nằm ở mứctrên cùng của bậc thang nhu cầu của con người và nó dễ bị thay thế ví dụ thay

vì đi du lịch một gia đình có thể mua sắm thiết bị phục vụ cuộc sống hàngngày Vì thế việc cung cấp các thông tin về dịch vụ du lịch để giảm sự phâncách giữa khả năng cung ứng và nhu cầu du lịch là cần thiết

-Tính linh hoạt: được xem như là phản ứng của khách hàng đối với nhữngthay đổi của thị trường du lịch Những thay đổi về thu nhập của của dân chúng,của giá cả các hàng hóa dịch vụ hoặc do tác động của cả hai yếu tố đều ảnhhưởng đến nhu cầu du lịch Tính linh hoạt của nhu cầu ngày càng mạnh mẽ hơn

do sự cuung cấp các hàng hóa và dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng

-Nhu cầu du lịch của du khách phân bố không đều: Khắp toàn cầu mỗicông dân là một khách du lịch tiền năng, sự phân bố không đều này dẫn đếnkhó tổ chức tập trung vì khách du lịch phần lớn đi theo nhóm nhỏ hoặc đi lẻ

Nhu cầu du lịch mang tính chu kỳ: Cầu trong du lịch xuất hiện vài lầntrong năm và vào những thời điểm nhất định bởi nó phụ thuộc vào thời gian

Trang 22

rỗi của con người, khả năng thu nhập và tích lũy tài chính, thói quen tâm lýcủa người đi du lịch.

* Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đi du lịch

Có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng ảnh hưởng đến sự ra tăng nhu cầucủa khách du lịch Trong đó có một số các nhân tố chính đóng vai trò “lựcđẩy” nhu cầu du lịch

Nhân tố kinh tế

-Thu nhập

Nhân tố kinh tế là nhân tố quan trọng nhất liên quan đến sự gia tăngnhu cầu đi du lịch Thông thường, đóng góp của ngành du lịch vào cơ cấukinh tế cũng như số lượng khách gia tăng khi mà nền kinh tế phát triển và lớnmạnh Khi kinh tế mỗi hộ gia đình đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu, cơbản như thức ăn, quần áo, đi lại, giáo dục… họ có tiền dư thì nảy sinh nhu cầu

đi du lịch Những quỹ tiền đó sẽ được tiết kiệm và đầu tư cho các hàng hóasang trọng và dịch vụ ví dụ như một kì nghỉ ở những resort sang trọng haymột nhà hàng với những bữa ăn đắt tiền

Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn làngười tiêu dùng nhiều loại dịch vụ hàng hóa Để có thể đi du lịch và tiêu dùng dulịch, họ phải có phương tiện vật chất đầy đủ Đó là điều kiện cần thiết để biếnnhu cầu đi du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán, vì khi đi dulịch khách phải trả thêm tiền tàu xe, tiền nhà ở và xu hướng của con người khi đi

du lịch là tiêu tiền Do vậy thu nhập của khách du lịch là chỉ tiêu quan trọng và làđiều kiện vật chất để họ có thể đi du lịch thu nhập của người dân tăng sẽ dẫn đếnnhu cầu du lịch tăng theo và ngược lại Mức thu nhập cao hay thấp, ổn định haykhông ổn định cũng ảnh hưởng đến nhu cầu đi du lịch xa hay gần, nhiều hay ít

- Giá cả hàng hóa trên thị trường chung giảm sức mua sẽ tăng, nếu giá

cả các tour du lịch thay đổi thì sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu đi du lịch

Trang 23

- Tỷ giá trao đổi ngoại tệ: khách du lịch sẽ đến nơi mà tỷ giá hối đoáigiữa đồng tiền với nước nhận khách cao nhất Yếu tố này tác động chủ yếuđến sự hình thành cầu, đến khối lượng và cơ cấu của cầu du lịch quốc tế.

- Nhân tố tâm lí: Sự giảm quy mô gia đình, tăng dân số và quá trình đôthị hóa đều tác động đến nhu cầu du lịch Các yếu tố tâm lí như thư giãn, sứckhỏe tốt hay tình trạng buồn chán, sức khỏe không đảm bảo, hoặc nhu cầunghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, chữa bệnh đều ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch

- Độ tuổi và giới tính của khách du lịch: khách trẻ tuổi thích du lịchmạo hiểm, người già thích các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng, phụ nữ thích cáchoạt dộng du lịch mua sắm,…

- Trình độ dân trí: Sự phát triển của du lịch còn phụ thuộc vào trình độvăn hóa chung của một đất nước Nếu trình độ văn hóa của cộng đồng đượcnâng cao, nhu cầu du lịch của nhân dân ở đó được tăng lên rõ rệt Tại cácnước phát triển, nhu cầu đi du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu

và người ta dùng nó để đánh giá chất lượng cuộc sống Trình độ dân trí thểhiện bằng thái độ, hành động, cách cư xử cụ thể với môi trường xung quanh,bằng thái độ với du khách của người dân địa phương, bằng cách cư xử của dukhách với tại nơi du lịch Nếu du khách hoặc người dân địa phương có cách

Trang 24

nhìn nhận có hiểu biết sẽ làm cho hoạt động du lịch tăng thêm giá trị, ngượclại nếu hành vi đó thiếu văn hóa thì sẽ cản trở sự phát triển của du lịch.

- Nghề nghiệp: Tùy thuộc vào đặc thù nghề nghiệp, con người sẽ phảidịch chuyển, phải đi du lịch nhiều hay ít Mặt khác, điều này cũng quyết địnhnhu cầu của họ đối với các loại hình dịch vụ du lịch

Yếu tố khoa học công nghệ

Sự phát triển khoa học kỹ thuật làm cho khoảng cách địa lí khoảngcách địa lí được thu hẹp lại bởi sự phát triển của giao thông vận tải, các máymóc hiện đại giải phóng sức lao động của con người khiến cho quỹ thời gianrảnh rỗi nhiều hơn, cùng với đó các thông tin về sản phẩm du lịch nhanh hơn

từ đó làm nảy sinh nhu cầu du lịch của con người

Yếu tố chính trị:

Những yếu tố chính trị ổn định, hòa bình, chính sách phát triển du lịchhay các thủ tục xuất nhập cảnh, đi lại, lưu trú, tham quan, mua sắm,… đều tácđộng đến nhu cầu đi du lịch

* Các dạng thức của nhu cầu du lịch

Cần phân biệt giữa nhu cầu và mong muốn của khách du lịch Nhu cầu

tự nhiên là nhu cầu được hình thành khi con người cảm thấy thiếu thốn mộtcái gì đó Nhu cầu tự nhiên là vốn có đối với con người Còn mong muốn lànhu cầu tự nhiên có dạng đặc thù, cụ thể Mỗi cá nhân có cách riêng để thỏamãn mong muốn của mình Ví dụ như cùng có nhu cầu về dịch vụ lưu trúnhưng có người lại chọn ở khách sạn năm sao, có người lại chọn ở nhà nghỉbình dân hay nhà trọ, người lại thích ngủ đêm tại các lều trại… Vì thế cácdoanh nghiêp lữ hành không những hiểu biết về nhu cầu tự nhiên của kháchhàng mà còn phải nắm được mong muốn của họ để tạo ra các sản phẩm dulịch đặc thù có tính cạnh tranh giúp doanh nghiệp thắng lợi Đáp ứng đượccác mong muốn của các nhóm khách hàng khác nhau sẽ giúp cho doanhnghiệp tăng được khả năng cạnh tranh, đồng thời mang lại cho khách du lịch

Trang 25

nhiều loại sản phẩm dịch vụ du lịch khác nhau để cùng thỏa mãn cùng mộtnhu cầu tự nhiên của con người.

Nhu cầu du lịch của con người có nhiều các dạng thức thể hiện khácnhau như có 3 dạng thức chính đó là:

- Nhu cầu thay đổi không gian sống: đây là nhu cầu cơ bản của mỗikhách du lịch muốn thay đổi môi trường sống quen thuộc để đến với nhữngvùng đất mới, tìm kiếm những trải nghiệm mới

- Nhu cầu về hoạt động du lịch

TT Nhu cầu về hoạt động

du lịch

Mong muốn về hoạt động du lịch

Hoạt động tham quan

nghiên cứu

Tham quan thắng cảnhTham quan di tích lịch sửTìm hiểu phong tục tập quánTham quan làng nghề

Tham quan chiến trường xưaTham quan đô thị

Tham quan khu công nghiệpTham quan rừng

Tham quan hang độngTham quan đáy biểnTham quan vũ trụ

Hoạt động nghỉ

dưỡng

Nghỉ dưỡng biểnNghỉ dưỡng suối nước nóng, nướckhoáng

Nghỉ dưỡng núiHoạt động vui chơi

giải trí

Vui chơi giải trí gắn với việc khai thác tàinguyên du lịch sẵn có (tắm biển, leo núicâu cá, bơi thuyền, thể thao nước,….)Vui chơi giải trí gắn với trình độ pháttriển của khoa học kỹ thuật ( công viênthu nhỏ, công viên cảm giác mạnh,…)

Bảng 1.3 Nhu cầu và mong muốn về hoạt động du lịch

- Nhu cầu về dịch vụ du lịch

TT Nhu cầu về dịch vụ Mong muốn về dịch vụ du lịch

Trang 26

du lịch

Phương tiện vận chuyển hiện đại: Máybay, tàu thủy, ô tô, xe lửa,…

Phương tiện vận chuyển thô sơ: xe đạp,

xe máy, xe trâu, xe ngựa, xe voi,

…Phương tiện khác: cáp treo, kinh khí cầu,phi cơ…

đá, nhà nghỉ nổi, nhà nghỉ trên cây,…

Lưu trú di động: Trên tàu hỏa, trênthuyền, trên ô tô,…

Trang 27

lịch” Các dịch vụ đó là: dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú,

ăn uống, vui chơi giải trí và nhiều dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu du lịch

Định nghĩa đơn giản thì sản phẩm du lịch là những thứ mà người tamua khi ở xa nhà Theo quan điểm marketing bất cứ cái gì (vật thể, dịch vụ,người, nơi chốn, các tổ chức và ý tưởng) có thể được đưa ra thị trường để gâychú ý, để người ta mua, sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu thì đều là sản phẩm.Đối với ngành du lịch thì sản phẩm chủ yếu là các dịch vụ và nơi chốn Dulịch là ngành biến tài nguyên du lịch thành sản phẩm du lịch

Theo Michael M Coltman “ Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồmcác thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình” Sản phẩm du lịch cóthể là một món hàng cụ thể như thức ăn, đồ lưu niệm hay những món hàngkhông cụ thể như bầu không khí, thái độ phục vụ… Khái niệm này rộng hơn,phong phú hơn Sản phẩm du lịch không chỉ đơn thuần là những dịch vụ mà

là kinh nghiệm du lịch của du khách trong mỗi chuyến đi

John Wiley khái niệm về sản phẩm du lịch như sau: “ một khi điểm đếnđược mời chào bán, tức là một điểm mà khách du lịch mong muốn được đếnthăm thì phải được phát triển sản phẩm một cách tổng thể Phải đảm bảo được

cơ sở hạ tầng tương xứng, phải mở rộng và trình diễn được di sản văn hóa củamình, cần phải phát triển một hệ thống đầy đủ và đa dạng về khách sạn và cơ

sở lưu trú khác, nhà hàng và các dịch vụ, hệ thống vận chuyển nội địa và cácdịch vụ liên quan khác” Ngành du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp Muốnphát triển du lịch cần phát triển nhiều ngành kinh tế khác như nông nghiệp,công nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc… một khi phát triển haychào bán một sản phẩm du lịch nào đó cần phát triển đồng bộ bởi khi đến mộtđiểm du lịch những yếu tố như môi trường văn hóa đô thị, hoạt động sinh hoạt

ở khu dân cư, các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp… được du khách cảmnhận và điều đó làm tăng sự hấp dẫn của một điểm đến du lịch

Trang 28

Đề tài Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch biển đảo tại vùng du lịchBắc Bộ của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch xác định: “ sản phẩm du lịchtổng thể của một điểm đến là sự hòa trộn mang tính quy luật của các giá trị tựnhiên và nhân văn, các giá trị vật thể, phi vật thể chứa đựng trong không giancủa một điểm đến Sản phẩm du lịch tổng thể sẽ đem lại cho du khách những

ấn tượng và cảm xúc đặc trưng nhất về một điểm đến.”

Như vậy, ta có thể hiểu sản phẩm du lịch là một trải nghiệm của dukhách khi sử dụng các dịch vụ và phương tiện cũng như các cơ sở vật chất kỹthuật trên cơ sở khai thác nguồn tài nguyên du lịch Xây dựng phát triển mộtsản phẩm du lịch gắn liền với việc phát triển tổng hợp các ngành kinh tế khác

kỹ thuật và được “đóng gói” thành nguồn ra trung gian đó là các dịch vụ haycòn gọi là các sản phẩm du lịch đơn lẻ như hướng dẫn du lịch, biểu diễn vănhóa nghệ thuật, đồ lưu niệm, hội nghị, lễ hội, sự kiện… Chúng có tiềm năngtrở thành một phần của sản phẩm du lịch Những phòng nghỉ được chào bánbởi những chủ khách sạn nhưng chúng không thể trở thành một phần của sảnphẩm du lịch cho đến khi khách hàng quyết định nghỉ lại những phòng đó.Những dịch vụ của ngành du lịch phải được “tinh chế” để phù hợp với nhucầu của khách để trở thành nguồn ra đó là trải nghiệm của du khách đó là sự

Trang 29

giải trí, sự tiếp xúc xã hội, sự giáo dục, sự thư giãn, những kí ức và giao lưu

Sản phẩm hoàn chỉnh ( Kinh nghiệm

Trung tâm hội nghị Đồ lưu niệm Những kí ức

thương mại

Hội nghịDịch vụ vậnchuyển

Biểu diễn vănhóa nghệ thuật

Bảng1.3 : Chức năng của một sản phẩm du lịch

Ta thấy rằng giá trị của sản phẩm du lịch được thêm vào ở mỗi giai

đoạn sản xuất

* Đặc điểm của một sản phẩm du lịch biển

Sản phẩm du lịch biển mang những nét chung của một sản phẩm du

lịch nói chung

Trang 30

Sản phẩm du lịch rất trừu tượng, nó không tồn tại dưới dạng vật thểnhư là một món hàng mà người ta có thể cầm nắm Sản phẩm du lịch là sự trảinghiệm của du khách, nói đúng hơn là một kinh nghiệm Các thành phần cơbản của sản phẩm du lịch dễ bị các công ty du lịch sao chép, bắt chước lẫnnhau về hình thức và kết cấu Ví dụ như bắt chước theo 1 quy trình tổ chứctour du lịch Vì thế người ta khó có thể kiểm tra chất lượng sản phẩm Chấtlượng của sản phẩm du lịch được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa mức

Khoảng thời gian mua và sử dụng sản phẩm là quá lâu Bởi lẽ từ khi kíhợp đồng đến khi đi và cảm nhận sản phẩm diễn ra trong thời gian dài Cácnhà thiết kế tour rất khó khăn trong việc điều chỉnh hay bổ sung các dịch vụ

để đem lại sự hài lòng cao cho du khách

-Sản phẩm du lịch không thể để tồn kho, không thể dự trữ được như cácmặt hàng khác Ví dụ như chỗ ngồi trên tàu du lịch trống thì sẽ mất đi doanhthu chứ không thể cất đi để dành cho hành khách khách vào ngày mai Vì vậy,

để tạo sự nhịp nhàng giữa sản xuất và tiêu dùng còn gặp nhiều khó khăn.Vìthế các nhà kinh doanh du lịch luôn có các chính sách, cơ chế khuyến khíchkhách đi nhiều người chung trong một chuyến đi du lịch

Trang 31

- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ Chủ yếu là do khíhậu từng khu vực Dẫn tới có những mùa lượng khách lớn, tập trung dẫn tớicung không đủ cầu và ngược lại.

Ngoài ra sản phẩm du lịch biển mang những đặc điểm riêng

- Do vị trí địa lí nên điều kiện kinh tế xã hội ở các vùng biển đặc biệt làvùng biển xa bờ còn gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy muốn phát triển các sảnphẩm du lịch ở đây thì việc đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật, phương tiện giaothông cần quan tâm Đặc biệt phát triển sản phẩm du lịch biển không thể táchrời với vùng ven bờ

- Tài nguyên du lịch biển đảo rất nhạy cảm cho nên khi khai thác cầnchú ý đến yếu tố phát triển bền vững

- Nguồn nhân lực tại các vùng biển đảo còn thiếu nên phát triển nguồnnhân lực là vấn đề càn được quan tâm

Tài nguyên là nhóm yếu tố góp phần quan trọng nhất có thể nói là đóngvai trò tiên quyết trong việc hình thành sản phẩm du lịch Nếu không có cácbãi tắm đẹp, không có hàng nghìn hòn đảo với những hang động thì sẽ không

có hoạt động du lịch và những dịch vụ du lịch Vì thế bảo vệ tài nguyên dulịch là điều kiện sống còn đối với phát triển du lịch Hay nói cách khác các

Trang 32

hoạt động dịch vụ du lịch làm tô điểm thêm, tăng thêm giá trị cho tài nguyên

du lịch

Việc nghiên cứu và hiểu rõ về tài nguyên du lịch các hình thái, cấu trúc,giá trị và xu hướng biến đổi là điều kiện tất yếu để phát triển sản phẩm dulịch Cần nhận thức được mức độ nhạy cảm của tài nguyên du lịch biển đểđảm bảo khai thác lâu dài tài nguyên du lịch Mặt khác khi hiểu rõ về tàinguyên du lịch sẽ có những ý tưởng sáng tạo trong việc hình thành các sảnphẩm du lịch

Dịch vụ du lịch

Dịch vụ du lịch là cầu nối giữa khách du lịch và các giá trị tài nguyên

du lịch Thông qua các hình thức và nội dung của các hoạt động dịch vụ đểgiới thiệu với du khách các giá trị đặc thù của tài nguyên Những dịch vụ màkhách du lịch sử dụng nhằm thõa mãn nhu cầu du lịch là ở mức độ cao và tinh

tế chứ không đơn thuần là nhu cầu thiết yếu hàng ngày ở nơi mà du khách cưtrú Ví dụ món chả mực Hạ Long khi du khách thuởng thức tại điểm du lịchkhác với món chả mực du khách ăn tại lúc đói Vì khi sử dụng món ăn đó dukhách biết được văn hóa, lối sống của cư dân bản địa thông qua việc chế biếnmón ăn, và nghề biển của cư dân địa phương

Quá trình con người tổ chức các hoạt động dịch vụ như nhà hàng,khách sạn, công viên cũng là quá trình con người tác động vào tài nguyên dulịch dẫn tới sự thay đổi của môi trường Vì thế để đảm bảo có những sảnphẩm du lịch bền vững thì cần kiểm soát các dịch vụ du lịch

Các yếu tố tạo nên một sản phẩm du lịch có mối quan hệ qua lại vớinhau không thể tách rời nhau Tài nguyên du lịch là điều kiện tiên quyết thìdịch vụ du lịch là cầu nối là điều kiện bắt buộc khi tổ chức khai thác một sảnphẩm du lịch Vì thế cần nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch trong một hệthống để đảm bảo sự phát triển hài hòa

Trang 33

*Tính chất của sản phẩm du lịch

- Tính đặc trưng nổi bật

Bất cứ một sản phẩm du lịch nào muốn cạnh tranh được thì cần phảixây dựng cho mình một thương hiệu Thương hiệu được xem như một dấuhiệu ( hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa haymột dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân haymột tổ chức Thương hiệu có thể là một cái tên, một logo, một hình ảnh, một

ký hiệu, một câu triết lý, một bài hát hay bản nhạc, cũng có khi là sự phối hợpcủa các yếu tố trên nhằm mục đích để tạo ra sự khác biệt về sản phẩm haydịch vụ của một thành phố du lịch, một khu du lịch, một khách sạn so với cácđối thủ cạnh tranh Có nhiều cách để tạo dựng thương hiệu cho một điểm đến

Đó có thể là cách tiếp cận với bề dày văn hóa lịch sử của khu vực, từ đặcđiểm hình thái của cảnh quan thiên nhiên, quỹ di sản kiến trúc, từ những chứcnăng nổi bật về du lịch như: trung tâm nghỉ dưỡng biển, trung tâm vui chơigiải trí,… hay từ chính chất lượng của các loại hình dịch vụ du lịch Tùy theothế mạnh đặc thù của điểm đến mà lựa chọn cách tiếp cận phù hợp nhất đểsáng tạo thương hiệu

- Tính đa dạng

Giá trị của một sản phẩm là khác nhau tùy thuộc vào thị trường kháchkhác nhau Thi trường đa dạng và nhu cầu của con người cũng đa dạng nênđòi hỏi sản phẩm du lịch đa dạng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của dukhách Ví dụ cùng là khách du lịch trẻ tuổi nhưng khách du lịch nam ưa dulịch thể thao trong khi đó khách du lịch nữ lại thích du lịch mua sắm Khách

du lịch châu Âu lại tỏ ra háo hức với cái nắng nóng của vùng nhiệt đới Chính

vì thế nên cần phải phát triển nhiều điểm du lịch với những dịch vụ đa dạng

để thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách Du khách có quyền lựa chọn sảnphẩm phù hợp với nhu cầu, sở thích, túi tiền của họ

Trang 34

Tính vô hình: Du khách không thể cầm nắm đo đặc các yếu tố phi hìnhnhưng họ có thể cảm nhận được bằng khinh nghiệm du lịch Các yếu tố nàythể hiện qua phong tục tập quán, nếp nghĩ, nếp làm, tiếng nói, giao tiếp củangười dân địa phương Ví du như đến một điểm du lịch không có sự chèo kéo

du khách, người dân thân thiện sẽ làm tăng thêm thiện cảm của du khách vàchất lượng của một sản phẩm du lịch cũng cao hơn Vì vậy cần nâng cao nhậnthức của người dân địa phương trong tổ chức du lịch, xây dựng một cộngđồng thân thiện nhằm lôi kéo khách du lịch

- Tính đầy đủ trọn vẹn

Ngành du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp Một sản phẩm du lịchhoàn chỉnh là sự kết hợp của nhiều yếu tố cấu thành Muốn phát triển một sảmphẩm du lịch thì cần phát triển nó trong một hệ thống và theo một chiến lượcnhất định

Sản phẩm du lịch là một tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhucầu của du khách trong một chuyến đi, bởi vậy sản phẩm du lịch phải có tínhliên kết cao, các yếu tố phải có mối quan hệ khăng khít, song song, tương tác,

hỗ trợ lẫn nhau Khi xây dựng sản phẩm du lịch cần đặt nó trong một hệthống, tạo thuận lợi cho du khách lựa chọn sản phẩm du lịch Điều này đặc

Trang 35

biệt quan trọng, vì thông thường để tiết kiệm chi phí và di chuyển du kháchthường lựa chọn thêm những sản phẩm gần gũi với sản phẩm chính Cần có

sự liên kết giữa các địa phương trong phát triển du lịch nhằm tránh sự lặp lạitrong sản phẩm du lịch và sự nhàm chán và lãng phí trong đầu tư

-Tính thay đổi

Do nhu cầu luôn thay đổi như văn hóa thay đổi theo thời gian, kinh tếthu nhập, trình độ học vấn được nâng cao, các tiến bộ khoa học kỹ thuật,nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch ngày càng đầy đủ cả nề chất lượng và sốlượng làm cho các sản phẩm du lịch cũng phải luôn thay đổi để phù hợp vớinhu cầu của thị trường

* Phân loại sản phẩm du lịch

Ngành du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp những dịch vụ của ngành

du lịch được cung cấp bởi nhiều ngành khác nhau công nghiệp, nông nghiệp,giao thông vận tải, thông tin liên lạc…, các giá trị đó hòa quyện vào nhau đểtạo nên sức hấp dẫn của một điểm du lịch Nhiều các thành phần kinh tế khácnhau cần phải nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong việc gópphần bổ xung các giá trị mới cho sản phẩm du lịch Trên quan điểm đó có thểphân loại sản phẩm du lịch bao gồm:

Nhóm phân loại sản phẩm theo mục tiêu quản lí

* Phân loại theo quan điểm quản lí vĩ mô: bao gồm 2 loại sản phẩm dulịch chính:

- Sản phẩm du lịch tổng thể: Là giá trị hoàn hảo của không gian tổngthể điểm du lịch sau khi đã đầu tư toàn diện các cấu thành của nó Giai đoạnđầu, sản phẩm này chỉ tồn tại dưới dạng ý tưởng, mang tính chiến lược, đượcthiết lập bởi các nhà quản lý và hoạch định, là công cụ để quản lí và kiểm soát

sự phát triển của những sản phẩm đơn lẻ nhằm tạo ra sự phát triển hài hòa vàbền vững cho hệ thống sản phẩm du lịch

Trang 36

- Sản phẩm du lịch đơn lẻ: bao gồm các dạng thức sau:

+ Sản phẩm du lịch do ngành du lịch cung cấp bao gồm các loại hìnhdịch vụ du lịch tổng hợp hoặc du lịch đơn lẻ (do các doanh nghiệp đầu tư vàquản lý)

+ Sản phẩm du lịch do các ngành kinh tế khác cung cấp: Các trung tâmthương mại sầm uất, các khu công nghiệp hay sản xuất mang tính đặc thù củađiểm đến ( ví dụ khu khai thác than – Hạ Long, khu nuôi trồng và chế biếnngọc trai, khu công nghiệp đóng tàu ở một số điểm du lịch ven biển), cáccông trình kiến trúc thể hiện trình độ khoa học tân tiến như tháp đôi ở Mỹ

+ Sản phẩm du lịch do cộng đồng dân cư cung cấp: các làng nghề, cáckhu phố ẩm thực, chợ đêm…

* Phân loại theo quan điểm tổ chức không gian du lịch:

- Không gian du lịch ( không gian hạt nhân):

+ Không gian tài nguyên du lịch ( không gian cần bảo tồn) : vịnh-đảo,hang động, bãi cát, các HST, di tích…

+ Không gian dịch vụ du lịch: (không gian đêm, phát triển có kiểm soátchặt chẽ) bao quanh các khu vực tổ chức các dịch vụ lưu trú, tham quan, …

- Không gian phụ trợ cho du lịch bao gồm:

+ Không gian các khu ở của cư dân địa phương

+ Không gian công cộng trong đô thị

+ Không gian của các ngành kinh tế khác ( cảng, công nghiệp khai thác

và chế biến hải sản)

+ Không gian thiên nhiên- quĩ không gian dự trữ phát triển

* Phân loại sản phẩm du lịch theo không gian lãnh thổ du lịch:

- Sản phẩm du lịch của vùng du lịch

- Sản phẩm du lịch của tiểu vùng du lịch

- Sản phẩm du lịch của đô thị du lịch

Trang 37

- Sản phẩm du lịch của khu du lịch

- Sản phẩm du lịch của điểm tham quan du lịch

* Phân loại sản phẩm du lịch theo đơn vị quản lí hành chính

- Sản phẩm du lịch cấp quốc gia

- Sản phẩm du lịch cấp tỉnh

- Sản phẩm du lịch cấp huyện

Nhóm phân loại theo mục tiêu khai thác

*Phân loại theo đặc điểm giá trị

- Sản phẩm có giá trị vật chất hay tinh thần

- Sản phẩm có giá trị thẩm mỹ, giá trị địa chất, giá trị văn hóa, giá trị đadạng sinh học, giá trị văn hóa lịch sử, giá trị kiến trúc, giá trị sử dụng ( giá trịkinh tế)

* Phân loại sản phẩm theo đặc thù tài nguyên:

- Sản phẩm du lịch sinh thái: sản phẩm du lịch sinh thái biển ( HST san

hô, HST rừng ngập mặn, HST tùng áng,…), sinh thái núi, sinh thái rừng tựnhiên,…

- Sản phẩm du lịch văn hóa: Tham quan di tích làng lễ hội,…

- Sản phẩm du lịch đô thị: tham quan mua sắm tại các trung tâm thươngmại, hội nghị, hội thảo

- Sản phẩm du lịch nông thôn: phong cảnh làng quê, làng nghề truyềnthống,

- Sản phẩm du lịch biển đảo: Tắm biển, nghỉ dưỡng biển, tham quancảnh quan, di tích, các HST biển,…

* Phân loại sản phẩm du lịch trên quan điểm bảo vệ môi trường

- Sản phẩm du lịch ít gây ô nhiễm tới môi trường

- Sản phẩm du lịch gây ô nhiễm nhiều đến môi trường

* Phân loại sản phẩm du lịch theo đặc điểm hoạt động du lịch:

Trang 38

* Phân loại sản phẩm du lịch theo các nhóm thị trường

- Sản phẩm du lịch cao cấp, sản phẩm du lịch bình dân (đại trà)

- Sản phẩm du lịch cho thị trường khách châu Âu, châu Á, châu Mỹ…

- Sản phẩm du lịch cho khách cao tuổi, trung tuổi, thanh niên,…

- Sản phẩm du lịch cho khách quốc tế, khách nội địa

* Phân loại sản phẩm du lịch theo quan điểm đu tư kinh doanh

- Sản phẩm có vốn đầu tư ít, vốn đầu tư nhiều

- Sản phẩm có lãi suất ít, lãi suất nhiều

Trang 39

tồn…), du lịch biển đảo ( tham quan nghỉ dưỡng, tắm biển, thể thao bãi biển,

du lịch đảo…), và du lịch đô thị (du lịch đô thị cổ, du lịch đô thị hiện đại)

Dọc ven biển nước ta có khoảng 126 bãi cát biển có khả năng chứakhoảng vài chục đến vài trăm ngàn người, trong đó có khoảng 20 bãi cát biển đạttiêu chuẩn quốc tế, dài 16km Đấy là chưa kể đến hàng trăm bãi biển nhỏ đẹp,nằm ven các vụng, vũng tĩnh lặng, ven các đảo hoang thuộc quần đảo Tây Bắcvịnh Bắc Bộ, quần đảo Cát Bà, Cù Lao Chàm, cụm đảo hòn Mun, Lý Sơn, CônĐảo, Phú Quốc Tuy sức chứa khách không lớn nhưng rất thích hợp với loại hình

du lịch picnic, du ngoạn của các nhóm nhỏ du khách yêu thiên nhiên

Nhiều khu vực ven biển nước ta có các bãi biển khá bằng phẳng, nướcbiển trong, sóng gió vừa phải, không có chỗ nước xoáy, không có sinh vật gâyhại Sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên biển đảo, hang độngngầm, cảnh quan ngầm của các rạn san hô với các phong cảnh thiên nhiên venbiển và các giá trị văn hóa, xã hội vùng biển…đã tạo cho du lịch biển ViệtNam nhiều lợi thế phát triển so với du lịch trên đất liền Các giá trị trên rấtthích hợp cho hình thành các sản phẩm du lịch với các lợi thế và sức cạnhtranh trên thi trường trong nước và quốc tế Nó cũng là điều kiện thuận lợi đểphát triển các cụm du lịch tập trung với các loại hình đa dạng như: Du lịchsinh thái, khoa học, lặn ngầm, tắm biển, thể thao giải trí, nghỉ dưỡng, chữabệnh

Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìnđến năm 2030, lãnh thổ Việt Nam được chia thành 7 vùng du lịch: VùngTrung du miền núi phía Bắc, Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải ĐôngBắc, Vùng Bắc Trung Bộ, Vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Vùng TâyNguyên, Vùng Đông Nam Bộ , Vùng Tây Nam Bộ

1.2.2 Cơ sở thực tiễn phát triển sản phẩm du lịch biển đảo vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc.

Trang 40

* Tài nguyên du lịch

Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc có 11 tỉnh tuynhiên chỉ có 5 tỉnh giáp biển và có nguồn tài nguyên du lịch biển khá phongphú bao gồm: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình

Hệ thống đảo ven bờ: đây là khu vực tập trung nhiều đảo nhất nước ta.Trong đó có ý nghĩa lớn nhất đối với phát triển du lịch đó là đảo Cát Bà, quầnđảo Cô Tô, các đảo trong vịnh Hạ Long, Bái tử Long với hàng ngàn hìnhdáng khác nhau, Các đảo này vừa có ý nghĩa về phát triển kinh tế nói chung

và du lịch nói riêng vừa có ý nghĩa đối với an ninh quốc phòng

Hang động: trong số rất nhiều hang động đã được phát hiện ở vùng cónhiều hang động đẹp, rộng có khả năng khai thác phục vụ mục đích thamquan, nghiên cứu như Tràng An- Tam Cốc- Bích Động,Bồ Nâu, Sửng Sốt…thuận lợi để hình thành các sản phẩm du lịch tham quan, nghiên cứu

Các bãi biển vùng du lịch đồng bằng sông Hồng và duyên hải ĐôngBắc: vùng có nhiều bãi biển đẹp như Trà Cổ, Quan Lạn, Đồ Sơn, các bãi tắmtrên đảo Cát Bà, bãi biển Đồng Châu- Thái Bình, bãi biển Thịnh Long (NamĐịnh) Các bãi biển này đã và đang được khai thác để phục vụ cho nghỉ mát,tắm biển, nghỉ dưỡng biển Nhìn chung các bãi biển ở đây đều thuận lợi chokhai thác để xây dựng các sản phẩm du lịch vì nền đáy chắc, không có xoáyngầm độ mặn vừa phải nên thích hợp cho nhiều loại hình du lịch biển Tuynhiên các bãi biển có gia trị tắm biển thì đều nằm ở phía bắc và các đảo nhưTrà Cổ, Quan Lạn Các bãi biển như Đồ Sơn, Quất Lâm, Thịnh Long… nướcđục nên cũng ít có giá trị đối với du lịch tắm biển

Vùng ven biển có nhiều khu rừng đặc dụng như vườn quốc gia XuânThủy ( Nam Định, vườn quốc gia Bái Tử Long ( Quảng Ninh), khu dự trữsinh quyển Cát Bà ( Hải Phòng) Những vườn quốc gia này còn bảo tồn đượcnhững diện tích rừng nguyên sinh với nhiều loại động, thực vật nhiệt đới điển

Ngày đăng: 11/07/2016, 09:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Phân loại tài nguyên du lịch - Tài nguyên du lịch biển và việc xây dựng các sản phẩm du lịch biển tỉnh quảng ninh
Bảng 1.1 Phân loại tài nguyên du lịch (Trang 19)
Bảng 1.2: Bậc thang phân loại nhu cầu con người của Maslow Xã hội phát triển thì con người cũng có những nhu cầu cao hơn - Tài nguyên du lịch biển và việc xây dựng các sản phẩm du lịch biển tỉnh quảng ninh
Bảng 1.2 Bậc thang phân loại nhu cầu con người của Maslow Xã hội phát triển thì con người cũng có những nhu cầu cao hơn (Trang 20)
Bảng 1.3 Nhu cầu và mong muốn về hoạt động du lịch - Tài nguyên du lịch biển và việc xây dựng các sản phẩm du lịch biển tỉnh quảng ninh
Bảng 1.3 Nhu cầu và mong muốn về hoạt động du lịch (Trang 25)
Bảng 1.4 Nhu cầu và mong muốn về hoạt động du lịch 1.1.3.2  Sản phẩm du lịch - Tài nguyên du lịch biển và việc xây dựng các sản phẩm du lịch biển tỉnh quảng ninh
Bảng 1.4 Nhu cầu và mong muốn về hoạt động du lịch 1.1.3.2 Sản phẩm du lịch (Trang 26)
Bảng 2.2: Các di tích lich sử ở khu vực nghiên cứu - Tài nguyên du lịch biển và việc xây dựng các sản phẩm du lịch biển tỉnh quảng ninh
Bảng 2.2 Các di tích lich sử ở khu vực nghiên cứu (Trang 57)
Bảng 2.3: Một số lễ hội chính ở khu vực biển đảo tỉnh Quảng Ninh - Tài nguyên du lịch biển và việc xây dựng các sản phẩm du lịch biển tỉnh quảng ninh
Bảng 2.3 Một số lễ hội chính ở khu vực biển đảo tỉnh Quảng Ninh (Trang 62)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w