6 Kết cấu của luận vănNgoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:Chương 1:Một số vấn đề cơ bản về huy động nguồn lực tài chính tại cáctrường đại học công lập tro
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN MỞ RỘNG QUYỀN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH 4
1.1 Một số nhận thức về cơ chế trao quyền tự chủ tài chính và các mô hình đối với cơ chế trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học công lập 4
1.1.1 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập 4
1.1.2 Các mô hình về cơ chế trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học công lập 10
1.2 Huy động vốn và những vấn đề dặt ra đối với vấn đề huy động vốn của các trường đại học công lập trong điều kiện trao quyền tự chủ tài chính 16
1.2.1 Huy động vốn đối với các trường ĐHCL 16
1.2.2 Những vấn đề đặt ra đối vấn đề huy động vốn trong các trường ĐHCL ở Việt Nam trong điều kiện được trao quyền tự chủ tài chính một các rộng rãi 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH GIAI ĐOẠN 2010-2014 24
2.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của trường Đại học Tài chính-Quản trị kinh doanh 24
2.2 Thực trạng huy động nguồn lực tài chính tại trường Đại học Tà i chính - Quản trị kinh doanh giai đoạn 2010-2014 30
2.2.1 Kết quả các khoản thu tài chính dưới góc nhìn tự chủ tài chính 30
2.2.2 Các chủ trương của nhà trường đối với công tác huy động vốn 34
2.2.3 Phương thức huy động các loại vốn trong nhà trường 35
2.2.4 Đánh giá chung về công tác huy động vốn 48
Trang 2CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHƯƠNG THỨC HUY
ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH ĐẾN NĂM 2020 51 3.1 Định hướng về tổ chức và hoạt động của nhà trường đến năm 2020
51
3.1.1 Định hướng phát triển giáo dục – đào tạo Việt Nam trong những năm tới
51 3.1.2 Định hướng phát triển Trường Đại học TC – QTKD trong những năm tới
52
3.2 Xác định nhu cầu nguồn lực tài chính của trường đến năm 2020 54 3.3 Các giải pháp hoàn thiện phương thức huy động nguồn lực tài chính
tại trường Đại học TC- QTKD 55
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện phương thức huy động nguồn lực tài chính từ
NSNN 55 3.3.2 Các giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện phương thức huy động nguồn
lực tài chính ngoài NSNN 58
KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Quy mô nhân sự của Trường Đại học TC – QTKD năm 2010-2014 28
Bảng 2.2 Quy mô đào tạo của trường Đại học TC-QTKD 29
Bảng 2.3 Tổng hợp các nguồn thu tài chính từ 2010 đến 2014 30
Bảng 2.4 Tỷ trọng các nguồn thu trong tổng nguồn thu tài chính giai đoạn 2010-2014 31
Bảng 2.5 Chi tiết nguồn thu sự nghiệp giai đoạn 2010 – 2014 32
Bảng 2.6 Mức đảm bảo chi hoạt động thường xuyên giai đoạn 2010 – 2014 33
Bảng 2.7 Tổng hợp kinh phí NSNN cấp giai đoạn 2010 - 2014 36
Bảng 2.8 Mức thu học phí tại Trường Cao đẳng Tài chính- QTKD 40
Bảng 2.9 Kết quả nguồn thu từ học phí giai đoạn 2010-2014 41
Bảng 2.10 Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ qua các năm 2010-2014 44
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài luận văn
Kể từ khi ra đời Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ với nội dungcốt yếu là tạo quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập, trong
đó có các trường đại học công lập Nhìn chung hoạt động đào tạo đại học cónhiều chuyễn biến tích cực trên nhiều phương diện Nổi bật là công tác quản
lý, quản trị tài chính ở các trường đại học công lập có nhiều đổi mới đáng kể.Nguồn thu các dịch vụ đào tạo từng bước được nâng cao, các khoản chithường xuyên có phần tiết kiệm hơn trước và quản lý được chặt chẽ hơn Tuynhiên,việc thực thi quyền tự chủ tài chính ở các trường đại học không phải làđiều kiện thuận lợi mang lại những kết quả tích cực như nhau ở các trường,nhất là những trường được nâng cấp từ cao đẳng lên đại học như trường Đạihọc Tài chính- Quản trị kinh doanh đóng trên địa bàn tỉnh Hưng yên Mộttrong những yêu cầu thực hiện quyền tự chủ tài chính ở các trường Đại họccông lập là tự khai thác nguồn thu để trang trải các nhu cầu chi thường xuyêngiảm gánh nặng cho NSNN, nghĩa là phần chi thường xuyên của nhà trườngtrước đây do NSNN đảm nhận nay nhà trường tự khai thác thông qua hoạtđộng thu học phí, hoạt động thu các dịch vụ để trang trải Là một trường mớinâng cấp, chỉ tiêu đào tạo còn ở mức khiêm tốn, hoạt động cung cấp dịch vụđào tạo, nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác của trường Đại học tàichính-Quản trị kinh doanh chưa triển khai nhiều nên công tác huy động vốncủa nhà trường còn gặp nhiều khó khăn Nhằm góp phần tìm lời giải bài toán
về vốn trong bối cảnh thực thi quyền tự chủ tài chính theo tinh thần của Nghịđịnh 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2014/NĐ-CP của Chính phủ đối vớitrường Đại học tài chính-Quản trị kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, học
viên chọn đề tài: “Hoàn thiện các phương thức huy động nguồn lực tài
Trang 6chính tại trường Đại học Tài chính – Quản trị kinh doanh trong điều kiện
mở rộng quyền tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập.” làm
luận văn bảo vệ học vị Thạc sĩ kinh tế
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra những phương thức huy động vốn hữu hiệu gắn với những đặcđiểm hoạt động của trường Đại học Tài chính-Quản trị kinh doanh trên địabàn tỉnh Hưng Yên nhằm khả dĩ tạo thêm nguồn vốn trang trải các hoạt độngcủa nhà trường trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ theo tinh thần của Nghịđịnh 16/2014/NĐ-CP của Chính phủ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn
- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn huy động vốntrong điều kiện thực hiện quyền tự chủ ở các trường đại học công lập
- Phạm vi nghiên cứu là thực tiễn ở trường Đại học Tài chính-Quản trịkinh doanh trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2010-2014 và giai đoạn2015-2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình thựchiện luận văn là phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn nghiên cứu đề tài của luận văn
Luận văn cung cấp những nhận thức cơ bản mang tính lý luận về vấn đềhuy động vốn đối với các trường đại học công lập trong điều kiện thực hiệnquyền tự chủ tài chính Gợi ý những phương thức khả dĩ có thể thực hiện cóhiệu quả trong công tác huy động vốn đối với trường Đại học Tài chính- Quảntrị kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 76 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:Chương 1:Một số vấn đề cơ bản về huy động nguồn lực tài chính tại cáctrường đại học công lập trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ tài chính
Chương 2: Thực trạng huy động nguồn lực tài chính tại trường Đại họcTài chính - Quản trị kinh doanh giai đoạn 2010-2014
Chương 3: Hoàn thiện các phương thức huy động nguồn lực tài chính tạitrường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh đến năm 2020
Trang 8
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN MỞ RỘNG QUYỀN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
1.1.Một số nhận thức về cơ chế trao quyền tự chủ tài chính và các mô hình đối với cơ chế trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học công lập
1.1.1.Cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập
1.1.1.1.Khái niệm, nội dung cơ chế tự chủ tài chính ở các trường đại học công lập
Hiểu một cách đơn giản nhất cơ chế tự chủ tài chính trong các trườngđại học công lập là một văn bản pháp luật chứa đựng những quy định vềquyền tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập Nó là những tậphợp những quy định chuyển giao quyền quyết định các vấn đề tài chính củanhà trường từ Nhà nước cho các trường đại học công lập
Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính bao gồm: những quy định phápluật về trao quyền tự chủ cho nhà trường về tạo lập, phân bổ, sử dụng và quản
lý nguồn lực tài chính của nhà trường Ở mỗi nước, ở mỗi giai đoạn mức độtrao các quyền đó cho các trường đại học công lập có khác nhau Có nhiềunhân tố ảnh hưởng đến mức độ trao các quyền quyết định các vấn đề tài chính
từ nhà nước cho các trường đại học công lập
1.1.1.2.Các nhân tố tác động đến cơ chế tự chủ tài chính ở các trường đại học công lập.
Việc quy định mức độ tự chủ cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều nhân tố
Cụ thể:
Một là, phân cấp quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục&đào tạo
Phân cấp quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục & đào tạo là sự
Trang 9phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa Nhà nước với các cơ sở giáo dục vàđào tạo trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩmquyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục & đào tạonhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý nhànước đối với lĩnh vực giáo dục & đào tạo của một quốc gia Đối lập với hìnhthái phân cấp là hình thái tập trung, nghĩa là mọi hoạt động của các cơ sở giáodục & đào tạo đều thuộc về trách nhiệm và quyền hạn của Nhà nước Lịch sửquản lý ở các cơ sở giáo dục và đào tạo của các nước trên thể giới cũng như ởViệt Nam đã từng trải qua trạng thái quản lý tập trung của Nhà nước Ở ViệtNam trong nền kinh tế KHH tập trung hầu như các cơ sở giáo dục và đào tạokhông có quyền tự chủ tài chính Cấp trên giao kế hoạch NS chi thườngxuyên, hoạt động NCKH, đầu tư, sửa chữa tài sản, mức thu, cấp học bổng chođối tượng sinh viên, nội dung chương trình đào tạo, thời lượng đào tạo, phânphối sản phẩm đào tạo đều thuộc quyền của Nhà nước Với việc thực hiện cơchế quản lý tập trung như vậy, đã thủ tiêu tính năng động sáng tạo của cơ sở,phát sinh tư tưởng ỷ lại, chất lượng giáo dục đào tạo giảm sút, không đủnguồn lực cho sự gia tăng số lượng đào tạo theo nhu cầu phát triển của xãhội Những hạn chế này bắt buộc Nhà nước phải thay đổi phương thức quản
lý đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo, chuyển từ phương thức quản lý tậptrung sang phương thức phân cấp quản lý cho các cơ sở giáo dục đào tạo Từ
đó xuất hiện cụm từ “ tự chủ đại học” Tự chủ đại học bao gồm: tự chủ về họcthuật, tự chủ về tổ chức nhân sự và tự chủ về tài chính Trong 3 nội dung tựchủ trên đây tự chủ về tài chính có vị trí cực kỳ quan trọng, nó nhân tố có tínhquyết định đến việc thực hiện thành công các quyền tự chủ khác của các cơ sởgiáo dục và đào tạo Về mặt lý luận, cũng như thực tiễn cho thấy hoạt động tàichính là hoạt động trọng tâm của các chủ thể trong xã hội Mỗi một khi hoạtđộng tài chính ngưng trệ thì hầu như các hoạt động khác của các chủ thể khó
Trang 10vận hành.Hoạt động tài chính nhằm bảo đảm điều kiện vật chất cần thiết đểcác chủ thể có thể tồn tại và phát triển Chính vì lẽ đó mà cơ chế trao quyền tựchủ của Nhà nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
Trong giai đoạn hiện nay khi các quy luật của kinh tế thì trường pháthuy tác dụng thì vấn đề trao quyền tự chủ tài chính cho các cơ sở giáo dục đạihọc trở nên cần thiết Tuy nhiên mức độ trao quyền tự chủ tài chính cho các
cơ sở giáo dục đại học cao hay thấp còn tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động vànăng lực lý nói chung quản lý tài chính của từng cơ sở giáo dục đại học cônglập, nói cách khác đặc điểm hoạt động và năng lực quản lý của từng cơ sởgiáo dục đại học công lập là nhân tố anh hưởng đến mức độ tự chủ tài chínhcủa nó
Hai là, đặc điểm hoạt động và năng lực quản lý của từng cơ sở của từng trường đại học công lập
Trong thực tiễn các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và nhiềuhoạt động khác của các trường đại học công lập không giống nhau do sứmệnh, chức năng, ngành nghề đào tạo các trường khác nhau Chính sự khácnhau này làm cho nhu cầu nguồn lực và cách thức tạo ra nguồn lực tài chínhcũng khác nhau và do đó mức độ tự chủ TC của các trường khác nhau Ngay
ở những loại trường có đặc điểm giống nhau song mức độ tự chủ tài chínhcũng có thể khác nhau, Sự khác nhau này bắt nguồn từ sự khác nhau về nănglực trình độ quản lý nói chung quản lý tài chính nói riêng ở các trường Thựcchất Nhà nước trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học công lập làtrao quyền huy động, quyền phân bổ va sử dụng nguôn lực tai chính của xãhội cho các trường đại học với cầu bảo đảm việc sử dụng nguồn lực đó mộtcách có hiệu quả nhất mang lại nhiều lợi ích cho xã hội Chính vì vậy, Nhànước chỉ giao toàn quyền trong việc huy động, phân bô sử dụng nguồn lực tàichính của xã hội cho các cơ sở đào tạo công lập khi có đầy đủ năng lực quản
Trang 11lý theo yêu cầu quản lý tài chính của Nhà nước Nói cách khác, năng lực quản
lý là nhân tố quyết định đến mức độ trao quyền quản lý Thiếu năng lực quản
lý, năng lực quản lý yếu kém mà giao toàn bộ quyền lực tài chính cho đơn vịkhông những làm tiêu tốn nguồn lực tài chính vô ích mà còn để lại nhiều hậuquả về chính trị, xã hội
Tóm lại, trên đây là hai nhân tố quan trọng ảnh hưởng có tính chấtquyết định đến việc trao quyền và mức độ trao quyền tự chủ tài chính cho cáctrường đại học công lập
1.1.1.3.Nội dung của cơ chế trao quyền tự chủ tài chính trong các trường đại học công lập
Cũng như mọi đơn vị khác trong xã hội, hoạt động tài chính trong cáctrường đại học công lập bao gồm hoạt động tạo lâp, phân bổ và sử dụng vốntài chính phục vụ cho hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ một cách trôi chảy
và đạt được hiệu quả cao nhất Do đó,nội dung cơ chế trao quyền tự chủ tàichính trong các trường đại học công lập bao gồm: (i) trao quyền huy độngnguồn lực tài chính trong xã hội cho các cơ sở đào tạo đại học công lập, (ii)trao quyền tự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính đã động viên đượccho các trường đại học công lập, Cụ thể:
Thứ nhất, trao quyền huy động nguồn lực tài chính
Nội dung của cơ chế trao quyền huy động nguồn lực tài chính là quyđịnh các nguồn lực tài chính được phép động viên, mức độ động viên cácnguồn lực tài chính, cách thức động viên
Yêu cầu đặt ra đối với cơ chế trao quyền huy động nguồn lực tài chínhcho các trường đại học công lâp là bảo đảm hài hòa các mặt lợi ích, phù hợpvới chính sách tài chính chung của Nhà nước, không làm ảnh hưởng các mụctiêu quản lý vĩ mô của Nhà nước, tránh sự lãng phí, thất thoát nguồn lực tàichính của xã hội
Trang 12Thứ hai, cơ chế trao quyền tự phân bổ, sử dụng nguồn lực đã động viên được.
Nội dung của cơ chế này là đưa ra những quy định cần thiết mang tínhchất hướng dẫn không can thiệp sâu vào việc phân bổ và sử dụng nguồn lựctài chính của các trường đại học công lập bao gồm những quy định về địnhhướng, nguyên tắc phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính trong các trường đạihọc công lập; quy định việc giám sát của các cơ quan, cộng đồng đối với hoạtđộng tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập…
Yêu cầu của cơ chế trao quyền tự chủ phân bổ,sử dụng nguồn lực tàichính trong các trường đại học công lập là bảo đảm việc phân bổ, sử dụngnguồn lực tài chính tập trung có trọng điểm bảo đảm tiết kiệm hiệu quả, thúcđẩy chất lượng hoạt động đào tạo nghiên cứu khoa học trong các trường đạihọc công lập
1.1.1.4.Vai trò của cơ chế trao quyền tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập.
Mặc dù mức độ trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại họccông lập có khác nhau do đặc điểm hoạt động và năng lực quản lý của cáctrường, song nhìn chung việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học cônglập co nhiều tác động tích cực
Thứ nhất, tạo tính linh hoạt, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, kích thích
tính sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập
Thứ hai, thu hút nhân lực tài năng đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt
động, cải thiện chất lượng dịch vụ
Một thực tế trong những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và ngânsách nhà nước còn nhiều khó khăn, Nhà nước vẫn quan tâm dành một tỷ lệngân sách đáng kể để đầu tư cho giáo dục Với nguồn ngân sách đó, lĩnh vựcgiáo dục và đào tạo đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên,trong khi nền kinh tế nước ta đã chuyển sang cơ chế thị trường được 20 năm,
Trang 13đã hình thành các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày một tăng, thì cơ chế tàichính giáo dục thực tế vẫn chưa có thay đổi về chất so với thời kỳ kinh tế kếhoạch hoá tập trung, bao cấp Mức chi đầu tư xây dựng cơ bản còn rất thấp sovới nhu cầu rất lớn của ngành Định mức phân bổ ngân sách giáo dục chưagắn chặt với các tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo (đội ngũ nhà giáo, điềukiện về cơ sở vật chất ), chưa làm rõ trách nhiệm chia sẻ chi phí đào tạo giữanhà nước và người học ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, về cơ bảnvẫn mang nặng tính bao cấp và bình quân Việc phân bổ ngân sách cho giáodục chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, thiếu cơ sở khoa học xây dựng mức chi vàđơn giá chuẩn Việc giao kế hoạch thu chi ngân sách hằng năm chưa gắn với
kế hoạch phát triển trung hạn và dài hạn của ngành, gây khó khăn cho việcchủ động sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ, chế độ, chính sách vàcân đối giữa nhu cầu chi với khả năng nguồn lực tài chính công Chế độ họcphí xây dựng đã lâu chưa có sự thay đổi nhiều Mức học phí quá thấp, dướikhả năng chi trả của người dân ở các vùng đô thị, không phù hợp với mặtbằng giá cả cùng với chính sách cải cách tiền lương trong những năm qua.Một hệ quả tất yếu là môi trường và chất lượng giáo dục không đáp ứng yêucầu của xã hội, thạc sĩ, tiến sĩ đi tu nghiệp ở nước ngoài không muốn quay vềphục vụ do mức lương quá thấp Những gia đình có điều kiện, ngay cả Bộtrưởng Bộ giáo dục & đào tạo cũng cho con đi du học Đã có người từng gọi
“du học” như một hình thức “tị nạn giáo dục” Với cơ chế tự chủ tài chính, tựchủ tổ chức, ngành giáo dục có thể khắc phục được những khuyết điểm vàhạn chế trên, thu hút nguồn nhân lực tài năng, cải thiện chất lượng đào tạo từ
đó mới phát triển ngành giáo dục Việt Nam xứng tầm với sự phát triển ngàymột mạnh mẽ của đất nước, biến các đại học Việt Nam trong tương lai không
xa trở thành trung tâm của tri thức
Trang 14Thứ ba, giảm gánh nặng chi tiêu cho ngân sách nhà nước Đơn cử
ngành giáo dục chẳng hạn, ngân sách chi cho giáo dục năm 2008 đã tăng hơn
40 lần so với năm 1990 với mức chi lên tới 4.7 tỷ USD, chiếm khoảng 20%tổng chi ngân sách quốc gia trong khi mức học phí chỉ chiếm 5.5% ngân sáchhằng năm chi cho giáo dục Nếu giao quyền tự chủ tài chính cho các trường sẽ
có thể tiết kiệm được một khoản lớn
Mặc dù lợi ích mang lại của cơ chế trao quyền tự chủ tài chính là rất rõràng, song việc trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học công lập làmột đề nhạy cảm đối với xã hội không chỉ đối với Việt Nam mà đối các trênthế giới, đã có nhiều quan điểm khác nhau của các nước về trao quyền tự chủnói chung tự chủ tài chính cho các trường đại học công lập đã và đang diễn ratrên thế giới Từ những quan điểm khác nhau hình thành nên các mô hình tựchủ nói chung, tự chủ tài chính nói riêng trong các trường đại học công lập:
1.1.2.Các mô hình về cơ chế trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học công lập
1.1.2.1 Mô hình tự chủ cao
Mô hình này được hình thành từ quan điểm cho rằng tự chủ đại học làbản chất nội tại của các trường đại học và là điều kiện tiên quyết cho việcthực hiện một cách hữu hiệu chức năng và trách nhiệm của nó đối với xã hội.Với quan điểm này cho rằng trường đại học dù là trường đại học công lập đều
có chức năng tuyệt đối với xã hội chứ không là chức năng đối với Nhà nước (nghĩa là trung lập hóa các trường đại học) Từ quan điểm này người ta yêucầu các trường đại học phải được tự chủ hoàn toàn về học thuật, về tổ chứcnhân sự về tài chính không có can thiệp của Nhà nước cho dù Nhà nước vẫnđầu tư NSNN cho các trường
Mô hình tự chủ hoàn toàn hay tự chủ cao được áp dụng phổ biến ở các
Trang 15nước như Anh, Mỹ, Canada, Úc nơi mà các trường được tự chủ hoàn toàn vềmặt tài chính của mình ngay cả phần được NSNN cấp.
1.1.2.2 Mô hình đại học có tự chủ tài chính hạn chế
Đây là mô hình khá phổ biến ở các nước đang phát triển, song ngay cảcác nước phát triển như Đức, Pháp cũng theo đuổi mô hình này họ vẫn canthiệp sâu vào hoạt động tài chính của các trường đại học công lập Luận điểmhình thành mô hình này là coi trường đại học nói chung, đại học công lập nóiriêng là một thể chế không tách rời Nhà nước, nó phải có trách nhiệm phục vụNhà nước
Mô hình đại học có tự chủ tài chính hạn chế đặt ra yêu cầu chuyển chứcnăng kiểm soát của nhà nước sang chức năng giám sát, nghĩa là Nhà nướckhông can thiệp sâu vào hoạt động tài chính của các trường đại học, songcũng không buông lỏng hoàn toàn hoạt động tài chính của các trường mà phảithực việc giám sát thông qua việc sử dụng các công cụ kinh tế
Xu hướng hiện nay của các nước trên thế giới là chuyển từ mô hình tựchủ tài chính có giới hạn sang tự chủ tài chính hoàn toàn cho các trường đạihọc công lập Pháp bắt đầu giao quyền tự chủ tài chính hoàn toàn cho cáctrường đại học công lập từ tháng 8/2007 sau khi có Luật cải cách giáo dục ỞNhật sau cải cách giáo dục tháng 7 năm 2003 với việc khuyến khích cáctrường đại học áp dụng mô hình quản trị theo kiểu doanh nghiệp đã trao nhiềuquyền tự chủ tài chính nhiều hơn cho các trường đại học công lập Hàn Quốc
kể từ năm 2008 đến nay các trường đại học được thí điểm giao quyền tự chủtài chính nhiều hơn, đặc biệt các đại học ở thành phố Seoul
Xu hướng này càng phát triển ở các nước kể trên là bắt nguồn từ yêucầu cạnh tranh với các trường đại học ở Mỹ,Canada Úc đồng thời bắt nguồn
từ yêu cầu phải đổi mới giáo dục đại công lập trong xu thế toàn cầu hóa.Tuy
xu hướng này phát triển khá mạnh mẽ ở các nước song không vì thế mà các
Trang 16nước không chú trọng đến yêu cầu tăng cường trách nhiệm giải trình của cáctrường và tăng cường sự giám sát của Nhà nước và cộng đồng.
Tóm lại, nghiên cứu các mô hình tự chủ tài chính của các nước thể giớicho thấy vấn đề hình cơ chế tự chủ tài chính là hết sức đa dạng và phức tạptùy theo quan điểm của từng nước đối với thể chế giáo dục đại học
1.1.3 Đánh giá khái quát về cơ chế trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học công lập.
Ở Việt Nam cơ chế trao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại họccông lập được thể hiện rõ nét trong Nghị định 43/2006/NĐ-CP và gần đây là
Nghị dịnh 16/2014/NĐ-CP của Chính phủ
Tinh thần chung của Nghị định 43/2006/NĐ-CP là giao cho các trườngđại học công lập tự lo liệu các khoản chi tiêu thường xuyên đáp ứng nhu cầuhoạt động thường xuyên của các nhà trường Để đáp ứng yêu cầu này Nghịđịnh cho phép các trường đại học được tự chủ trong việc huy động nguồn vốn
để tài trợ cho các khoản chi tiêu thường xuyên Mức độ tự chủ nguồn lực đểtrang trải các khoản chi tiêu thường xuyên căn cứ vào việc phân chia khảnăng nguồn thu của các trường đại học công lập Đối với các trường tự bảođảm 100% chi phí chi tiêu thường xuyên thì có thể dùng toàn bộ số thu hoạtđộng để trang trải các khoản chi tiêu thường xuyên không có nguồn NSNN hỗtrợ Đối với các trường chưa bảo đảm đủ 100% kinh phí chi tiêu thườngxuyên thì NSNN bù đắp phần thiếu hụt sau khi đã sử dụng nguồn thu từ hoạtđộng Đối với các trường không có khả năng tự bảo đảm các khoản chithường xuyên thì NSNN phải tài trợ và sử dụng khoản tài trợ này phải tuântheo những quy định của Luật NSNN năm 2002 Đến nay, qua gần 9 nămthực thi Nghị định 43/2006/NĐ-CP đứng phương diện trao quyền tự chủ tàichính cho các trường đại học công lập nổi lên một số vấn đề sau đây:
Trang 17Thứ nhất, về tính hiệu lực của cơ chế trao quyền tự chủ
Theo đánh giá chung của cơ quan quản lý tài chính cho thấy:
Nghị định 43/2006/NĐ- CP là một loại văn bản quy phạm pháp luật nó
có giá trị thi hành trong thực tiễn Về cơ bản mục tiêu, nội dung và những quyđịnh về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tài chính trong Nghị định là khá rõ,hợp hiến hợp pháp phù hợp với điều kinh chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta
và xu hướng hội nhập quốc tế Nghị định đã tạo ra khung pháp lý cần thiết đểcác trường có thể tổ chức các hoạt động tài chính một cách có hiệu quả hơn.Mục tiêu quy trình, thủ tục liên quan đến quyền tự chủ, tự chịu trách về tàichính thể hiện trong Nghị định về cơ bản bảo đảm được yêu cầu công khaiminh bạch, thừa nhận nhà trường là một chủ thể có tư cách pháp nhân chịutrách đưa ra những quyết định của mình để nâng cao hiệu quả khai thác và sửdụng nguồn lực tài chính Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, đứng trên giác
độ pháp lý Nghị định 43/2006/NĐ-CP vẫn còn một số bất cập Cụ thể:
- Những quy định trong Nghị định chưa bảo đảm tính đồng bộ với cácvăn bản quy phạm pháp luật khác dẫn đến sự chồng chéo khó thực hiện trongthực tế Sự phối hợp giữa các bộ chuyên ngành với các bộ tổng hợp chưa kịpthời trong việc ra các văn ban hướng dẫn
- Mặc dù Nghị định mới giao quyền tự chủ chi thường xuyên song chưagiao quyền đầy đủ trong công tác huy động nguồn vốn nhất là nguồn từ họcphí (khung học phí thấp)
- Các văn bản mang tính chất hướng dẫn thực hiện Nghị định của chínhphủ, của các bộ ngành đôi khi đi ngược lại những quy định về quyền tự chủtrong Nghị định Chẳng hạn như tại Nghị định 10/CP Chính phủ quy địnhcho phép các trường được thanh toán 100% thu nhập tăng thêm cho CBCNVtheo tháng, song Nghị định 43 và các văn bản hướng dẫn lại quy định việc trảthu nhập tăng thêm chỉ được chi theo qúy với mức tối đa 60% số chênh lệchthu lớn hơn chi
Trang 18Thứ hai, về tính hiệu quả của cơ chế trao quyền tự chủ thể hiện trong Nghị định 43/2006/NĐ-CP
Có thể nhìn nhận hiệu quả của cơ chế trao quyền tự chủ,tự chịu tráchnhiệm về tài chính cho các trường đại học công lập thời gian qua trên các tiêuchí sau đây: Quy mô thu chi và tốc độ tăng giảm thu chi tài chính; cơ cấu thuchi; cơ cấu và tỷ lệ giảng viên trên sinh viên; số lượng, chất lượng các côngtrình nghiên cứu khoa học
Theo như số liệu báo cáo của các trường được trao quyền tự chủ tàichính cho thấy hầu hết các chỉ tiêu nêu trên có những kết quả tích cực Quy
mô chi thu chi của các trường không ngừng tăng năm sau tăng hơn năm trước,
tỷ trọng các khoản thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học so với tổng cáckhoản thu tuy không lớn, song có xu hướng tăng lên qua các năm; tỷ lệ giảngviên so với số sinh viên có xu hướng tăng so với trước khi chưa thực hiệnquyền tự chủ tài chính
Thứ ba, xét về tính linh hoạt của cơ chế tự chủ quy định trong Nghị định 43/2006/NĐ-CP
Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã tạo cho các trường chủ động, linh hoạthơn trong tìm kiếm khai thác đa dạng các nguồn thu từ ngân sách và ngoàingân sách như đã chủ động tham gia đấu thầu các dự án, đề tài khoa học cấp
bộ, cấp nhà nước, đề xuất đổi mới, mở rộng các chương trình đào tạo, ứngdụng chuyển giao công nghệ đến các doanh nghiệp Việc cho phép ban hành,
sử dụng quy chế chi tiêu nội bộ đã khuyến khích, thúc đẩy các trường tăngcường công tác quản lý nội bộ, tích cực đổi mới phương thức hoạt động theohướng tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn lực, các nguồn kinh phí, giảm bớt
tư tưởng ỷ lại trông chờ nguồn NS cấp trên Phần NS sách cấp cho chi hoạtđộng thường xuyên được thực hiện theo phương thức khoán, số dư chưa sửdụng hết trong năm không bị thu hồi nộp trả NS mà chuyển sang năm sau
Trang 19thực hiện tiếp đã góp phần hạn chế tình trạng lãng phí cố gắng chi hết trongniên độ kế toán, tạo điều kiện để các trường tích tụ vốn phục vụ nhu cầu cảithiện, bổ sung kinh phí cho đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất , ổn định thu nhậpcho cán bộ công nhân viên, khuyến khích mọi người hoàn thành nhiệm vụđược giao Cơ chế tự chủ tài chính theo tinh thành Nghị định 43 đã bải bỏquy định sử dụng 40% nguồn thu học phí được để lại để chi cho đầu tư,mua sắm tài sản cố định đã tạo điều kiện cho các trường chủ động phân bổ
sử dụng nguồn lực tài chính cho các nhiệm vụ cấp bách thiết thực hơnnhư đầu tư đổi mới nội dung chương trình đào tạo, giáo trình giảng dạy…Thời gian giao dự toán năm kế hoạch được thực hiện sớm hơn (hoànthành trước 31/12 của năm báo cáo), các thủ tục hành chính liên quanđược giảm bớt (chẳng hạn như việc điều chỉnh dự toán phải trải qua nhiềukhâu mới được thực hiện thì nay theo quy định trong Nghị định 43 chỉ cầnlập lại dự toán báo cáo với cơ quan chủ quan và kho bạc nhà nước là cóthể được điều chỉnh)
Tuy nhiên đó là những thuận lợi trong các quy định của Nghị định 43tạo ra tính linh hoạt hơn trong sử dụng nguồn tài chính ở trường đại học cônglập Tuy nhiên bên những quy định có tính linh hoạt thì Nghị định 43 còn cónhững quy định cứng nhắc ảnh hưởng đến tính tự chủ, linh hoạt của cáctrường Cụ thể:
- Các trường vẫn còn chịu sự quản lý, kiểm soát của nhà nhiều cơ quanchức năng đặc biệt là kho bạc nhà nước trong việc thanh toán, rút kinh phí đểchi cho các hoạt động
- Các quỹ của nhà trường bắt buộc phải mở tài khoản gửi ở kho bạckhông được chuyển sang ký gửi ở ngân hàng để hưởng lãi suất
- Quy định không được trích lập quỹ phát triển hoạt động từ nguồnNSNN chi cho hoạt động thường xuyên, điều phát sinh khó khăn cho các
Trang 20trường sư phạm trong việc thực hiện phần kinh phí đối ứng của đầu tư xâydựng cơ bản Đó những quy định mang tính cứng nhắc làm hạn chế đến tính
tự chủ tài chính của các trường đại học công lập
Tóm lại, trên đây những nét cơ bản về việc trao quyền tự chủ tài chínhcho các trường đại học công lập ở Việt Nam theo tinh thần của Nghị đinh43/2006/NĐ- CP của Chính phủ Nói chung qua quá trình gần 9 năm thựchiện Nghị định 43 có nhiều tác dụng tích cực song cũng còn tồn tại hạn chếlàm hạn chế tác dụng tích cực của cơ chế trao quyền tự chủ tài chính của Nhànước cho các trường đại học công lập ở Việt Nam
1.2 Huy động vốn và những vấn đề dặt ra đối với vấn đề huy động vốn của các trường đại học công lập trong điều kiện trao quyền tự chủ tài chính
1.2.1 Huy động vốn đối với các trường ĐHCL
1.2.1.1.Khái niệm, đặc điểm huy động vốn đối với các trường đại học công lập
Hiểu một cách đơn giản song không kém phần chuẩn xác huy động vốnđối với các trường ĐHCL là cách thức khai thác nguồn vốn hiện hữu từ cácchủ thể trong xã hội nhằm tài trợ cho các hoạt động cần thiết của nhà trường
Huy động vốn của các trường ĐHCL luôn gắn liền với những năng lựcnội sinh của nhà trường, chính sách chế độ tài chính của Nhà nước tạo cơ sởpháp lý cho việc huy động vốn và khả năng nguồn vốn trong xã hội
Nói đến năng lực nội sinh của nhà trường là nói đến thương hiệu củanhà trường thể hiện qua nhiều tiêu thức như chất lượng đào tạo, nghiên cứukhoa học, đội ngũ giảng viên, sự tín nhiệm của xã hội… những yếu tố này hếtsức quan trọng tác động không nhỏ đến kết quả huy động vốn của nhà trường.Nói đến khả năng nguồn vốn trong xã hội là nói quy mô nguồn vốn vàphương thức sử dụng nguồn vốn của các chủ thể trong xã hội (chủ thể trong
Trang 21xã hội bao gồm nhà nước, doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư trong và ngoàinước) Nói đến chính sách chế độ tài chính của Nhà nước là nói đến cơ sởpháp lý cho việc huy động vốn của các trường ĐHCL Huy động vốn của cáctrường ĐHCL có gắn kết được 3 yếu tố đó mới khai thác được nguồn vốntrong xã hội Gắn kết 3 yếu tố đó được coi là đặc điểm cơ bản đối với vấn đềhuy động vốn trong các trường ĐHCL.
Mỗi một khi gắn kết được 3 yếu tố thì vấn đề quan trọng đưa đến thànhcông đối với công tác huy động vốn đối với là phải xác lập được quy trìnhhuy động vốn
1.2.1.2.Quy trình huy động vốn
Về cơ bản quy trình huy động vốn trong các trường ĐHCL được xácđịnh theo các bước chủ yếu sau đây:
Bước 1: Xác định nhu cầu huy động vốn
Xác định nhu cầu huy động vốn là công việc đầu tiên có ý nghĩa quantrọng trong việc xác định số vốn cần thiết cho việc thực hiện chiến lược pháttriển lâu dài của trường cũng như kế hoạch hoạt động hàng năm của trường
Việc xác định nhu cầu vốn bao gồm việc xác định nhu cầu tổng các loạivốn cần huy động cũng như tỷ trọng của từng loại vốn cần huy động Nhưchúng ta biết vốn tài chính trong các trường ĐHCL bao gồm: phần vốnNSNN cấp (chi thường xuyên, chi đầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơbản), phần vốn thu được từ học phí phần vốn thu được từ các hoạt động dịch
vụ, phần vốn liên doanh liên kết phần vốn vay thông qua các tổ chức tài chínhtrung gian hoặc qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu (nếu chính sách cơ chế tàichính của Nhà nước cho phép) Mỗi một lợi vốn do đặc điểm sở hữu và đặcđiểm hoạt động nên mức độ huy động có khác nhau Trong quá trình xác địnhnhu cầu vốn, đặc biết xác định mức độ huy động từng loại vốn cần thiết phải
Trang 22chú trọng phân tích được đặc thù từng loại vốn để xác định nhu cầu.
Căn cứ để xác định nhu cầu vốn là dựa vào chiến lược phát triển củanhà trường trong dài hạn cũng như kế hoạch phát triển hàng năm của nhàtrường, đồng thời căn cứ vào kết quả phân tích, dự báo khả năng huy độngnguồn vốn của các chủ thể trong xã hội
Bước 2, lập kế hoạch huy động vốn hàng năm
Trên cơ xác định được nhu cầu vốn trong dài hạn của nhà trường, tínhtoán xây dựng kế hoạch huy động vốn hàng năm của nhà trường Đây bướchết sức quan trọng, có xây dựng được KH hoạch huy động vốn hàng năm xácthực, có tính khả thi thì mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức huy độngvốn của nhà trường
Việc xây dựng KH huy động vốn hàng năm không chỉ dựa vào KH hoạtđộng hàng năm của nhà trường mà đòi hỏi vừa phải nắm chắc những chínhsách chế độ tài chính liên quan đến vấn đề huy động vốn đã, đang và sẽ banhành, vừa phải hiểu rõ khả năng nguồn vốn trong xã hội để xây dựng KH vốnphù hợp
Bước 3, tổ chức thực hiện KH huy động vốn hàng năm.
Đây là bước có tính quyết định nhất đến kết quả huy động vốn của cáctrường ĐHCL
Công việc của bước này bao gồm:
- Phân công, phân nhiệm các bộ phận dưới sự chủ trì của phòng ban tài
vụ tiến hành công tác huy động vốn
- Xác định các phương thức khai thác đối với từng loại vốn và tổ chứcthực hiện các phương thức đó Mỗi một loại có tính đặc thù riêng nên cóphương thức huy động vốn riêng
1.2.1.3 Phương thức huy động các loại vốn đối với các trường ĐHCL
Do tính đặc thù của nó nên mỗi loại vốn có phương thức huy động riêng Cụ thể:
Trang 23a.Đối với vốn NSNN cấp
Cho đến nay, theo tinh thần trao quyền tự chủ tài chính cho cáctrường ĐHCL thì nói chung các khoản chi cho hoạt động thường xuyên,các trường tự lo nguồn kinh phí lấy từ các khoản thu được trao quyền tựchủ NSNN không tài trợ, NSNN chỉ tài trợ cho các khoản chi khôngthường xuyên bao gồm:
- Chi thực hiện nhiệm vụ KH&CN
- Chi chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án khác
- Chi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
- Chi giảm biên chế do Nhà nước quy định (nếu có)
- Chi đối ứng thực hiện các dự án nước ngoài theo quyết định của cấp cóthẩm quyền
- Chi đầu tư XDCB, sửa chữa lớn TSCĐ, chi mua sắm trang thiết bị phục
vụ cho hoạt động sự nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Chi thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao
Về cơ bản để nhận được nguồn tài trợ cho các khoản chi này từ NSNN,bắt buộc phải tuân thủ theo những quy định của Luật NSNN Các trường phảilập dự toán các khoản chi này và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mới
có được NSNN cấp
Sơ đồ 1.1 Quy trình lập và phân bổ dự toán NSNN cho GD ĐHCL
Trang 24b Đối với các khoản thu từ học phí.
Hiện nay học phí là khoản thu chủ yếu đối với các trường ĐHCL ở ViệtNam Có hai phương thức đang thực hiện trong các trường ĐHCL ở ViệtNam: Phương thức thu trực tiếp tại trường và thu qua hệ thống NHTM
Phương thức thu trực tiếp tại trường do phòng, ban tài chính của trườngthực hiện Để thực hiện phương thức này, nhà trường xây dựng quy chế thu
và thông báo cho sinh viên biết, hàng tháng vào ngày quy định sinh viên cóthể đến trực tiếp đến phòng tài vụ để nộp hoặc nộp qua văn phòng khoa, Vấn
đề quan trọng khi thực hiện phương thu này là phải tăng cường công tác giámsát kiểm tra tránh sự biện lận các khoản học phí
Phương thức thu học phí gián tiếp thông qua hệ thống NHTM.Việc tiếnhành phương thức thu này được thực hiện theo các bước sau:
Trang 25Bước 1: Các lớp cử cán bộ lớp đến nhận bộ đăng ký mở và sử dụng
dịch vụ ngân hàng tại Phòng Ban tài vụ của trường theo thời gian quy định
Bước 2: Sau khi kê khai đầy đủ theo mẫu, cán bộ lớp tập trung toàn bộ
hồ sơ đăng ký của cả lớp và nộp lại cho Phòng, Ban Tài vụ
Bước 3: Cán bộ lớp nhận thẻ và số tài khoản cho cả lớp theo thời gian
quy định tại phòng, ban tài vụ
Bước 4: Sinh viên nộp học phí qua các kênh thanh toán đã được hướng
dẫn theo thời gian quy định
Đi kèm với phương thức quy định nộp như trên, nhà trường cũng đưa
ra chế tài đối các trường hợp nộp chậm, không nộp học phí để bảo đảm việcnộp học phí đạt được kết quả tốt
c.Đối với các khoản thu từ hoạt động dịch vụ
Hiện nay, hoạt động dịch vụ trong các trường ĐHCL hết sức đa dạngtùy theo đặc điểm và năng lực của từng trường mà việc tổ chức các loại dịch
vụ khác nhau Có thể nói ở những trường ĐHCL được nhà nước giao quyền
tự chủ tài chính, thì nguồn thu từ hoạt động dịch vụ trong những năm gần đâychiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số thu của nhà trường Phương thức khoảnthu này chủ yếu là dựa vào hợp đồng đã ký kết với các đơn vị Do đó vấn đềquan trọng để có thu được khoản thu này đúng chính sách chế độ Nhà nướcquy định là phải quan tâm đến khâu ký hợp đồng, khâu theo dõi và thực hiện
hợp đồng.
d.Các khoản thu từ hoạt động đi vay của các tổ chức tài chính trung gian
Nói chung phương thức thực hiện khoản thu này phải tuân thủ theonhững quy định của NH trong hợp đồng vay mượn với hệ thống NHTM
Tóm lại, trên đây là phương thức huy động của một số khoản thu chínhcủa các trường ĐHCL ở Việt Nam
Trang 261.2.2 Những vấn đề đặt ra đối vấn đề huy động vốn trong các trường
ĐHCL ở Việt Nam trong điều kiện được trao quyền tự chủ tài chính một các rộng rãi.
Có thể nói kể từ khi thực hiện trao quyền tự chủ tài chính cho các
trường ĐHCL, cơ cấu các khoản thu trong các trường ĐHCL đã có nhữngthay đổi đáng kể, tỷ trọng các khoản thu NSNN đang có xu hướng giảm dần,các khoản thu về dịch vụ của nhà trường có bước cải thiện đáng kể Với xuhướng đó, đặt ra nhiều vấn đề huy động vốn đối với các trường ĐHCL củaViệt Nam Những vấn đề đó là:
1.2.2.1.Khai thác tốt hơn khoản thu từ nguồn học phí
Việc tăng nguồn học phí phụ thuộc vào hai yếu tố: số lượng sinh viêntham gia quá trình đào tạo và mức học phí do Nhà nước quy định
Việc tăng mức học phí phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước Tuynhiên,theo như báo cáo của các trường, mức thu học phí hiện nay không đủ đểtrang trải chi phí đào tạo cho sinh viên trong điều kiện đổi mới nâng cao chấtlượng dạy và và học.Để có thể tăng học phí trước hết phải có nhận thức chunghọc phí là giá dịch vụ của đào tạo Trong điều kinh tế thị trường đã gọi là giáthì học phí trước hết phải đảm bảo bù đắp chi phí đào tạo Chưa nói đến phải
có tích lũy cho cơ sở đào tạo Mặt khác đã gọi là giá thì có tính cạnh tranh,những dịch vụ đào tạo có chất lượng tất yếu đòi hỏi người hưởng dịch vụ phảitrả giá cao Do đó mức học phí không nên quy định mang tính bình quân đốivới tất cả các trường đại học.Trong bối cảnh nhà nước chưa có sự cải thiện vềmức thu học phí thì vấn đề đặt ra để có thể huy động vốn từ học phí đòi hỏicác trường phải có nhiều biện pháp nâng cao chất lượng, thương hiệu của nhàtrường để thu hút nhiều người tham gia đào tạo Trong điều kiện mở rộng tựchủ đại học bao gồm tự chủ về học thuật, tự chủ về tổ chức nhân sự, tự chủ vềtài chính, tự chủ về tuyển sinh thì việc thu hút nhiều người học là vấn đề hoàn
Trang 27thuộc về quyền của nhà trường miễn là trường có uy tín, thương hiệu khôngngừng đổi mới công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và các mặt hoạt độngkhác của nhà trường Bên cạnh đó, cần thiết phải mở rộng thêm chuyên ngànhđào tạo phù hợp với yêu cầu của người học trong điều kiện đỏi mới kinh tế, xãhội khoa học kỹ thuật và HNKT sâu rộng
1.2.2.2 Tập trung các biện pháp nhằm gia tăng các khoản thu từ dịch vụ
Hiện nay trong các trường ĐHCL có hai loại dịch vụ quan trọng đó làdịch vụ nghiên cứu khoa học công nghệ chuyển giao kết quả cho các cơ sởSXKD, doanh nghiệp và dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đào tạo, khoa học côngnghệ, cải tiến công tác quản lý, cải tiến quy trình sản xuất Để có thể tạo ranguồn ra nguồn thu này ngày một nâng cao, đòi hỏi một mặt, các trường phảihết sức chăm lo đến các hoạt động dịch vụ tạo ra được nhiều sản phẩm dịch
vụ có chất lượng, mặt khác nhà trường phải chú trọng đến vấn đề tiếp thị, tạo
ra nhiều quan hệ rộng rãi với các khách hàng
Đó là những nguồn thu mà các trường ĐHCL hết sức quan tâm khiđược trao quyền tự chủ tài chính rộng rãi mới có thể đảm bảo được nguồnkinh phí cho việc đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của nhà trường
Nói tóm lại, trong điều kiện được trao quyền tự chủ tài chính rộng rãiđòi hỏi nhà trường phải không ngừng cải cách đổi mới các hoạt động củamình mới tạo ra được nhiều nguồn thu
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH
GIAI ĐOẠN 2010-20142.1.Khái quát về tổ chức và hoạt động của trường Đại học Tài chính- Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Tài chính Quản trị kinh doanh được thành lập theoQuyết định số 1320/QĐ-TTg ngày 18/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ trên
cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị Kinh doanh
Trường Đại học Tài chính- Quản trị kinh doanh là đơn vị sự nghiệptrực thuộc Bộ Tài chính (trụ sở đóng tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên), cóquá trình xây dựng và phát triển 50 năm (1965-2015) Tiền thân của trường làcác cơ sở đào tạo của Bộ Tài chính và Uỷ ban vật giá nhà nước Trường CaoĐẳng Tài chính- Quản trị kinh doanh được thành lập năm 2005 trên cơ sở sápnhập hai trường: Trường Cao đẳng Tài chính kế toán I và Trường Cao đẳngBán công Quản trị kinh doanh theo Quyết định số 6584/QĐ- BGD&ĐT ngày21/11/2005 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo
Trường Cao đẳng Tài chính Kế toán I tiền thân là trường Trung học Tàichính Kế toán I được thành lập năm 1965, chuyên đào tạo cán bộ Tài chính
Kế toán Năm 2003 trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Tài chính
Kế toán theo quyết định số 3539/QĐ-BGD&ĐT ngày 03/07/2003 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Với bề dày 40 năm xây dựng và trưởng thành,nhà trường đã đào tạo hàng chục vạn cán bộ Tài chính Kế toán cung cấpnguồn nhân lực cho ngành Tài chính và cho xã hội, nhà trường được Chủ tịchnước tặng thưởng Huân chương lao động hàng ba năm 1995, Huân chươnglao động hạng nhất năm 2000, Huân chương độc lập hạng ba năm 2005
Trường Cao đẳng bán công Quản trị Kinh doanh tiền thân là trường Vật
Trang 29giá Trung ương được thành lập năm 1967, đến năm 1994 đổi tên là trườngTrung học Quản trị Kinh doanh Năm 1996 trường được nâng cấp thànhtrường Cao đẳng bán công Quản trị Kinh doanh theo quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 06/06/1996 của Thủ tướng Chính phủ Trải qua 38 năm xây dựng
và trưởng thành (trong đó có 9 năm đào tạo bậc Cao đẳng) nhà trường đã mởrộng qui mô và nâng dần chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lựcquản lý kinh tế cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế Nhà trườngđược Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Ba năm 1997,Huân chương lao động hạng Nhất năm 2002
Nhiệm vụ của nhà trường được Đảng và Nhà nước giao cho là : Đàotạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước Trải qua 43 năm, Trường đã đào tạo được 68 nghìn cán bộ,chuyên viên có trình độ Cao đẳng, trung học theo các hình thức chính qui tậptrung, chuyên tu, tại chức, bồi dưỡng theo chuyên đề trong và ngoài nước
Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từngthời kỳ, Trường không ngừng hoàn thiện mục tiêu, chương trình đào tạo, xâydựng đội ngũ giảng viên, công nhân viên, xây dựng cơ sở vật chất để đáp ứngnhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước Hiện nayTrường đang là một cơ sở đào tạo bậc cử nhân cao đẳng có qui mô và thương
hiệu mạnh của ngành tài chính và của đất nước Trường đào tạo 4 ngành với 9
chuyên ngành phù hợp với nhu cầu trong điều kiện nền kinh tế thị trường Cụthể các ngành đào tạo và chương trình đào tạo như sau:
- Ngành Kế toán – Kiểm toán, có các chuyên ngành đào tạo : Kế toán doanhnghiệp; Kế toán công và Kiểm toán
- Ngành Quản trị kinh doanh, với chuyên ngành đào tạo: Quản trị kinhdoanh tổng hợp
- Ngành Tài chính- Ngân hàng, có các chuyên ngành đào tạo: Tài chínhdoanh nghiệp; Ngân hàng; Thẩm định giá và Thuế
Trang 30- Ngành Hệ thống thông tin kinh tế, với chuyên ngành đào tạo: Tin học
kế toán
Chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng liên thông, gồm các bậcđào tạo, các ngành đào tạo phù hợp với Khối các trường kinh tế nhằm tạo điềukiện cho sinh viên có thể học chuyển tiếp bậc Đại học (từ 1- 1,5 năm) hoặcchuyển sang các trường đại học, cao đẳng khác cùng khối Trường đang xúctiến hợp tác đào tạo với các trường nước ngoài (Úc, Xingapo…) để thực hiệnhình thức du học
Sau 3 năm hoạt động dưới tên gọi trường Cao đẳng Tài chính - Quản trịkinh doanh, 2 năm hoạt động sau khi nâng cấp lên đại học Tài chính – Quảntrị kinh doanh mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng nhà trường đã đạt đượcnhững thành quả đáng ghi nhận :
Qui mô đào tạo tăng nhanh, chất lượng đào tạo và công tác nghiên cứukhoa học phát triển khá vững chắc (đã đào tạo 8.000 sinh viên, đang đào tạo10.300 sinh viên)
Tập thể cán bộ công chức với một bộ máy tổ chức hoạt động tương đốinhịp nhàng, đều tay Tập thể đó mạnh dần cả số lượng và chất lượng theohướng chuẩn hoá, đang hướng tới mục tiêu chung lớn là xây dựng thươnghiệu trường Cao đẳng TC- QTKD ; Mọi người sống và làm việc theo phápluật, nội qui, qui chế vì sự đoàn kết, phát triển , tiến bộ và hạnh phúc của tất
cả mọi người
Đời sống vật chất và tinh thần được ổn định và nâng cao công bằng,công khai hoá, dân chủ hoá, từng bước chiếm lĩnh hoạt động của trường.Trật tự trị an được giữ vững, tệ nạn xã hội trong trường học giảm mạnh.Tài sản, tiền vốn của trường được quản lý và sử dụng có hiệu quả
Trang thiết bị dạy học và cơ sở vật chất được tăng cường một bước, đápứng yêu cầu qui mô đào tạo tăng nhanh và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
và học trong trường
Trang 31Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy Trường Đại học Tài chính- QTKD
BAN GIÁM HIỆU
( HIỆU TRƯỞNG, CÁC PHÓ HIỆU TRƯỞNG)
Phòng Quản
lý đào tạo
Phòng Quản
lý Khoa học và HTQT
Phòng Tài chính
Kế toán
Phòng Quản trị Thiết bị
Khoa
Lý luận chính trị
Khoa Tài chính Ngân hàng
Khoa
Kế toán Kiểm toán
Khoa Quản trị kinh doanh
Khoa Thẩm định giá
Khoa
Hệ thông tin và quản lý
Khoa Ngoại ngữ
Khoa Giáo dục thể chất
Các Ban, Trung tâm, Trạm
Ban Quản
lý ký túc
xá
Trung tâm Thông tin – Thư viện
Trung tâm Tin học Ngoại ngữ
Trung tâm tư vấn định giá và Thẩm định giá
Trung tâm tư Dịch
vụ Tư vấn Tài chính KT
Trung tâm
Hỗ trợ
SV và Quan
hệ DN
Trạm Y tế
Trang 32Bảng 2.1 Quy mô nhân sự của Trường Đại học TC – QTKD
Nguồn: Phòng tổ chức cán bộ Trường Đại học TC - QTKD
Qua bảng số liệu trên có thể thấy quy mô đội ngũ cán bộ giảng viên củatrường tăng dần qua các năm (năm 2010 là 228 người, năm 2011 là 242người, đặc biệt từ năm 2012 đến năm 2014 tăng từ 249 người năm 2012 lên
315 người năm 2014 ) trong đó số lượng cán bộ giảng viên tăng nhanh chóng.Nguyên nhân của việc tăng này được lí giải do trường bắt đầu lên đại học11/2012 nên thiếu hụt đội ngũ cán bộ giảng viên để đáp ứng yêu cầu giảngdạy hệ đại học Do đó phát sinh nhu cầu tuyển dụng thêm: Nhà trường tuyểndụng liên tục từ năm 2012 đến năm 2014 với số lượng tuyển dụng bình quân
từ 30 đến 40 viên chức mỗi năm Không chỉ coi trọng số lượng, nhà trườngcòn chú ý đến chất lượng cán bộ, giảng viên tuyển dụng, điều kiện tuyển dụngtrong những năm gần đây: chỉ áp dụng với người tốt nghiệp đại học chính quy(không áp dụng đối với các hình thức đào tạo liên thông) loại khá trở lên,đúng ngành, chuyên ngành, trường đào tạo với vị trí đăng ký dự tuyển Hàngnăm, nhà trường cử 20-25 giảng viên đi học cao học, 10-15 giảng viên đi họcnghiên cứu sinh
Đây có thể coi là hướng đi đúng đắn của nhà trường khi mà trường đượcnâng cấp từ cao đẳng lên đại học Điều đó thể hiện tầm nhìn chiến lược trongviệc phát triển lâu dài của nhà trường, khẳng định vị thế cũng như là thươnghiệu của nhà trường về chất lượng đào tạo giảng dạy thông qua việc đầu tư
Trang 33cho con người – nguồn nhân lực chất lượng cao cho hoạt động giảng dạy.
Bảng 2.2 Quy mô đào tạo của trường Đại học TC-QTKD
Cao đẳng Ngành 2
Đại học CQ
Đại học Liên thông
Tổng cộng
Nguồn: Phòng Quản lý Đào tạo-Trường Đại học TC - QTKD
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy giai đoạn từ năm 2010 đến năm
2014 số lượng sinh viên các bậc đào tạo của trường có sự thay đổi đáng kể
Từ năm 2010 đến năm 2012 chủ yếu là sinh viên các hệ đào tạo cao đẳngchính quy, từ năm 2013 đến năm 2014 chủ yếu là sinh viên hệ đào tạo đại họcchính quy và liên thông chính quy Nguyên nhân là do từ tháng 11/2012 nhàtrường chính thức được nâng cấp từ cao đẳng lên đại học do đó số lượng sinhviên cao đẳng tuyển sinh hàng năm có xu hướng giảm dần và số lượng sinhviên hệ đại học tăng dần, chuyển dần từ đào tạo hệ cao đẳng làm căn bản sangđào tạo hệ đại học làm căn bản Đây là hướng đi đúng đắn hiện nay của nhàtrường khi nâng cấp lên đại học, phù hợp với xu thế tuyển dụng hiện naytrong ngành tài chính - ngân hàng, kế toán - kiểm toán, quản trị
Trang 342.2 Thực trạng huy động nguồn lực tài chính tại trường Đại học Tà i chính - Quản trị kinh doanh giai đoạn 2010-2014
2.2.1 Kết quả các khoản thu tài chính dưới góc nhìn tự chủ tài chính
Bảng 2.3 Tổng hợp các nguồn thu tài chính từ 2010 đến 2014
Đơn vị: triệu đồngSTT Các khoản thu được 2010 2011 2012 2013 2014
1 NSNN cấp 13.310 13.290 16.990 20.587 31.1691.1 Chi thường xuyên 6.600 9.840 12.700 15.851 17.1751.2 Chi không thường
Nguồn: Phòng Tài chính Kế toán-Trường ĐH TC – QTKD
Qua bảng số liệu trên ta thấy, quy mô tổng nguồn thu của nhà trườngtăng dần qua các năm, mức tăng lần lượt các năm so với năm trước là 1.558triệu đồng, 4.836 triệu đồng, 4.059 triệu đồng và 6.623 triệu đồng, tốc độ tănglần lượt các năm so với năm trước là 3,7%; 11,17%; 8,4% và 12,7% do nhiềunguyên nhân Thứ nhất phải kể đến là nguồn kinh phí NSNN cấp tăng rõ rệt,trong đó có nguồn kinh phí NSNN cấp cho chi thường xuyên tăng đều đặntheo quy mô phát triển của nhà trường do nhà trường đang trong giai đoạnphát triển và ổn định cả về nhân sự cũng như là cơ sở vật chất của nhàtrường đáp ứng yêu cầu giảng dạy.Đặc biệt nguồn kinh phí cấp khôngthường xuyên năm 2014 tăng một cách đột biến trong giai đoạn từ năm
2010 đến năm 2014 Bên cạnh đó nguồn thu từ học phí không ổn định từnăm 2010 đến năm 2014 Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ của nhà trườnggiảm rõ rệt với mức giảm nhanh năm 2010 là 10.952 triệu đồng giảmxuống mức 2.821 triệu đồng năm 2014
Ngoài sự thay đổi về quy mô, các khoản thu được của nhà trường qua
Trang 35các năm cũng có sự thay đổi về tỷ trọng trong tổng nguồn thu tài chính.
Bảng 2.4 Tỷ trọng các nguồn thu trong tổng nguồn thu tài chính giai
Việc này được giải thích do nhà trường chưa khai thác hết lợi thế và thếmạnh của nhà trường từ mảng dịch vụ Đồng thời do những quy định của bộgiáo dục- đào tạo liên quan đến đào tạo ngoài trường nên nguồn thu từ hoạtđộng đào tạo liên kết với các đơn vị ngoài trường sụt giảm mạnh
Bên cạnh đó hiệu quả của công tác tự chủ về huy động nguồn tài chínhđược thể hiện qua tỷ lệ giữa nguồn thu sự nghiệp so với nguồn ngân sách cấpcho chi thường xuyên
Bảng 2.5 Chi tiết nguồn thu sự nghiệp giai đoạn 2010 – 2014