Mục đích nghiên cứu Việc nghiên cứu đề tài nhằm xác định XHPT TTCĐ trên BIVN, thôngqua việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về TTCĐ, phân tíchviệc tổ chức TTCĐ trên các bá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN TRI THỨC
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng Đảng, Báo Lao Độngcuối tuần, báo An ninh thế giới cuối tháng, trong 3 năm, 2012 - 2014)
NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 62.32.01.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN TRI THỨC
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng Đảng, Báo Lao Độngcuối tuần, báo An ninh thế giới cuối tháng, trong 3 năm, 2012 - 2014)
NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 62.32.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM TẤT THẮNG PGS, TS HÀ HUY PHƯỢNG
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sựhướng dẫn khoa học của TS Phạm Tất Thắng, PGS, TS Hà Huy Phượng Các
số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu, phát hiện mới của luận án là trung thực vàchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nàotrước đây Luận án có sử dụng, phát triển, kế thừa một số tư liệu, số liệu, kết quảnghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu liên quan đến nội dung đề tài
Tác giả luận án
Nguyễn Tri Thức
Trang 4MỤC LỤC
TrangDanh mục các chữ viết tắt
Danh mục biểu đồ, bảng, ảnh
Chương 2: THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ TRÊN BÁO CHÍ –
2.2 Vai trò của thông tin chuyên đề báo chí 462.3 Đặc điểm của thông tin chuyên đề báo in 54
2.5 Những yêu cầu đối với việc tổ chức thông tin chuyên đề 72
Chương 3: THỰC TRẠNG THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ
3.1 Tổng quan về các báo, tạp chí thuộc diện khảo sát 833.2 Thực trạng nội dung thông tin chuyên đề trên các báo, tạp chí thuộc
3.3 Thực trạng hình thức tổ chức thông tin chuyên đề trên các báo, tạp
Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC
4.1 Đánh giá về việc tổ chức thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam 1274.2 Những yếu tố tác động đến xu hướng phát triển thông tin chuyên
Trang 54.3 Thực tiễn, bài học kinh nghiệm tổ chức thông tin chuyên đề trên
Chương 5: DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THÔNG TIN
CHUYÊN ĐỀ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP,
5.1 Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề trên báo in 1505.2 Các xu hướng phát triển nội dung thông tin chuyên đề 1525.3 Các xu hướng tổ chức hình thức thông tin chuyên đề 1605.4 Giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển thông tin chuyên đề báo in
Việt Nam hiện nay
Thông tin chuyên đề: TTCĐ
Báo chí – Truyền thông: BCTT
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG, ẢNH TRONG LUẬN ÁN
1 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ chủ đề thông tin chuyên đề trên Báo Lao
Động cuối tuần
94
2 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ dung lượng thông tin chuyên đề trên chuyên
san Hồ sơ sự kiện
Trang 7trên Hồ sơ sự kiện
7 Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ lĩnh vực phản ánh của thông tin chuyên đề
trên Lao động cuối tuần
102
8 Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ các bài chính có hộp dữ liệu trên Lao động
cuối tuần
115
9 Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ sử dụng thể loại báo chí trên Hồ sơ sự kiện 117
10 Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ thể loại báo chí dùng trên
13 Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ giới thiệu thông tin chuyên đề trên Báo Lao
động cuối tuần ở trang bìa
123
14 Biểu đồ 3.13 Tỷ lệ sử dụng ảnh chân dung trên Báo An ninh
thế giới
124
15 Ảnh 4.1 Sinh viên năm thứ tư Khoa Báo chí, Học viện Báo chí
và Tuyên truyền thảo luận về thông tin chuyên đề
172
Trang 8Thứ nhất, sự bùng nổ của truyền thông trong thời gian qua đã và đang
tạo ra môi trường giúp báo chí có những bước phát triển mạnh mẽ, với nhữngkhác biệt rõ ràng so với trước đây, cả về nội dung và hình thức chuyển tảithông tin Với sự trợ giúp của những thành tựu khoa học kỹ thuật, TTĐC dầnchiếm lĩnh, chi phối được quá trình tiếp nhận thông tin của cộng đồng Việcchuyển tải thông tin không còn là một chiều nữa, đặc biệt khi truyền thông xãhội giúp công chúng không chỉ có nhiều cơ hội lựa chọn thông tin, mà cònkhiến họ chính là những người chuyển tải thông tin Thậm chí, họ còn lànhững người đưa thông tin trực tiếp, nhanh chóng tại nơi sự kiện diễn ra, ởmọi lúc, mọi nơi bằng các thiết bị thông tin cầm tay có kết nối Internet Trong “biển thông tin” đa dạng, nhiều chiều ấy, không phải công chúng nàocũng đủ điều kiện để lựa chọn và tiếp nhận thông tin chính xác, khách quan,cần thiết Vấn đề đặt ra là các CQBC sẽ có những đường hướng, sách lược
Trang 9phát triển như thế nào để phù hợp với điều kiện thực tiễn? Mỗi loại hình báochí sẽ có sự biến đổi như thế nào để không chỉ tồn tại, mà còn cùng phát triển,phát huy hết khả năng của mỗi loại hình trong hệ thống BCTT thời đại toàncầu hóa Đó là câu hỏi đặt ra cần có lời giải đáp một cách thỏa đáng.
Thứ hai, thực tế những năm qua cho thấy, sự phát triển mạnh mẽ của
báo mạng điện tử và truyền hình khiến báo in gặp nhiều khó khăn Số lượngphát hành các tờ báo hàng đầu trên thế giới sụt giảm đáng kể Nhiều tờ báo thịtrường phải giảm kỳ, thậm chí tự đình bản, do không thể cân đối được nguồntài chính để duy trì hoạt động Nhưng, loại hình báo in không thể “chết”, bởi
nó vẫn có những giá trị với những đối tượng, mục đích, phân khúc bạn đọckhác nhau Vấn đề đặt ra là báo in sẽ phải thay đổi như thế nào về nội dungthông tin và hình thức trình bày để duy trì được bạn đọc và nguồn thu? Đây làcâu hỏi đặt ra cần có lời giải đáp cả về mặt lý luận và thực tiễn
Thứ ba, TTCĐ, dưới nhiều hình thức khác nhau, đã được thế giới thực
hiện từ lâu, với lợi thế về sự phân tích, bình luận, lý giải chuyên sâu, thể hiệntầm khái quát vấn đề Việc tổ chức TTCĐ nhằm nêu bật, chỉ rõ bản chất củavấn đề, sự kiện với những thông tin đa chiều, khách quan, sự phân tích, bìnhluận, kiến giải thông tin giàu hàm lượng trí tuệ, khoa học, tạo sức thuyết phụccao cho công chúng Việc làm rõ sự cần thiết của XHPT TTCĐ cùng nhữngyêu cầu cụ thể về nội dung, hình thức cho phù hợp với mỗi mô thức thông tinkhác nhau là những câu hỏi đặt ra cần có sự nghiên cứu và giải đáp
Thứ tư, hiện nay còn rất ít công trình nghiên cứu hệ thống về TTCĐ
trên báo in Một số tác giả các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề tổchức TTCĐ trên báo chí, nhưng còn ở dạng riêng lẻ, tính khái quát chưa cao.Việc nghiên cứu một cách có hệ thống về TTCĐ trên báo chí nói chung, trênbáo in nói riêng, vì thế là có ý nghĩa
Trang 10Thứ năm, thực tiễn hoạt động báo chí ở Việt Nam thời gian qua cho
thấy, đã xuất hiện những hình thức lợi dụng tính chất của việc tổ chức cácchuyên đề nhằm mục đích “ép” các đơn vị đăng quảng cáo trá hình, làm ảnhhưởng không nhỏ tới diện mạo nền báo chí nước nhà
Thứ sáu, trong quá trình tìm hiểu, tham gia giảng dạy ở các trung tâm
đào tạo báo chí khác nhau, nghiên cứu sinh nhận thấy TTCĐ dù đã được đưavào chương trình giảng dạy, nhưng chưa được thực sự coi trọng như nhữngnội dung chính, trọng tâm Thực tế, việc tổ chức TTCĐ không đơn giản chỉ lànhững kỹ năng đơn thuần, mà rất cần thiết được tổ chức một cách bài bản, từ
lý thuyết đến thực tiễn, cho phù hợp với các mô thức TTCĐ khác nhau
Sáu lý do chính kể trên cho thấy sự cấp thiết, cả về lý luận và thực tiễn
của việc thực hiện đề tài “Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề trên báo
in Việt Nam hiện nay” (Khảo sát Chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng
Đảng, Báo Lao động cuối tuần, Báo An ninh thế giới giữa tháng - cuối tháng, trong 3 năm, 2012-2014).
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm xác định XHPT TTCĐ trên BIVN, thôngqua việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về TTCĐ, phân tíchviệc tổ chức TTCĐ trên các báo, tạp chí thuộc diện khảo sát, làm rõ bản chất
và xu hướng vận động của TTCĐ, những vấn đề đặt ra đối với XHPT TTCĐtrên BIVN cũng như dự báo XHPT TTCĐ hiện nay, đề xuất một số giải pháp,khuyến nghị nhằm phát triển, nâng cao chất lượng TTCĐ trên báo in
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề
nghiên cứu; xây dựng, hình thành khung lý thuyết về TTCĐ trên báo in hiệnnay Cụ thể: Làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài, như: xuhướng, XHPT, thông tin, chuyên đề, TTCĐ, báo in; nêu bật vai trò của
Trang 11TTCĐ; những đặc điểm của TTCĐ báo in, như: Thông tin bám sát, đi cùng sựkiện thời sự; thông tin khái quát, toàn cảnh, đa chiều; thông tin có chiều sâu,chi tiết; thông tin sự kiện, vấn đề có hệ thống, tác động xã hội mạnh mẽ;thông tin có giá trị học thuật, lưu trữ, tham khảo; thông tin thuộc thể loạichính luận báo chí; thông tin được tổ chức khoa học; thông tin được tổ chứchiện đại, nhiều “cửa sổ” Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh có cơ sở phân loạiTTCĐ, dựa vào loại hình báo chí, đối tượng thông tin, lĩnh vực phản ánh, quy
mô tổ chức thông tin… và chỉ ra những loại TTCĐ phổ biến Đồng thời,nghiên cứu sinh đưa ra những yêu cầu đối với việc tổ chức TTCĐ báo in vềmặt nội dung và hình thức
- Thứ hai, khảo sát, đánh giá thực trạng sản phẩm TTCĐ trên báo in
hiện nay qua một số tờ báo, tạp chí trong diện khảo sát; làm rõ đặc điểm, vaitrò của sản phẩm TTCĐ cũng như những yếu tố tác động đến sản phẩm
TTCĐ báo in hiện nay Cụ thể, thông qua khảo sát TTCĐ trên Chuyên san Hồ
sơ sự kiện (Tạp chí Cộng sản), Tạp chí Xây dựng Đảng, Báo Lao động cuối tuần và Chuyên đề An ninh thế giới giữa tháng – cuối tháng (Báo Công an nhân dân), nghiên cứu sinh chỉ rõ các loại TTCĐ, đánh giá thực trạng nội
dung, hình thức TTCĐ trên các báo, tạp chí thuộc diện khảo sát phù hợp vớikhung lý thuyết đã xây dựng ở phần trước đó
- Thứ ba, nghiên cứu sinh nêu ra những yếu tố tác động đến XHPT
TTCĐ ở Việt Nam hiện nay; chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với việc tổ chứcTTCĐ trên BIVN Đồng thời, nghiên cứu sinh đưa ra khái quát tình hình thựctiễn, bài học kinh nghiệm tổ chức TTCĐ trên thế giới thông qua nghiên cứumột số trường hợp cụ thể, phù hợp với đề tài của luận án
- Thứ tư, đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất
lượng TTCĐ trên BIVN, đặc biệt là các báo, tạp chí thuộc diện khảo sát Từkết quả nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng sản phẩm TTCĐ trên BIVNhiện nay, nghiên cứu sinh dự báo XHPT TTCĐ trên BIVN cùng một số
Trang 12XHPT TTCĐ về nội dung, hình thức Đồng thời, đề xuất một số giải pháp vàkhuyến nghị nhằm phát triển TTCĐ trên BIVN trong thời gian tới.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc tổ chức TTCĐ trên BIVNhiện nay về mặt nội dung, hình thức, cách thức tổ chức thực hiện Từ đó, có
cơ sở đưa ra một số dự báo về XHPT TTCĐ báo in trong tương lai
3.2 Đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát:Luận án khảo sát TTCĐ trên các ấn phẩm báo in
cụ thể là:Chuyên san Hồ sơ sự kiện (Tạp chí Cộng sản), Tạp chí Xây dựng
Đảng, Báo Lao động cuối tuần, Báo An ninh thế giới giữa tháng - cuối tháng.
Đây là các ấn phẩm báo in tiêu biểu về việc tổ chức TTCĐ theo quy mô tổchức thông tin là: trang chuyên đề, nhóm bài chuyên đề và số chuyên đề mànghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu Đồng thời, từ các đối tượng khảo sát,nghiên cứu điển hình này, cùng những nghiên cứu về lý luận trên thế giới,trong nước mà nghiên cứu sinh kế thừa, phát triển, xây dựng mới, sẽ là cơ sở
để các CQBC có thể nghiên cứu, áp dụng vào thực tiễn tổ chức các dạngTTCĐ khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, thời điểm tiến hành, cũng như việc
tổ chức các mô hình thông tin chuyên đề khác nhau, như thông tin sự kiện,vấn đề, chỉ dẫn, giải trí, lý luận…
- Phạm vi nghiên cứu:Luận án đánh giá thực trạng tổ chức TTCĐ, tác
động, hiệu quả của nó trên các ấn phẩm báo in thuộc diện khảo sát, thời giankhảo sát,trong 3 năm, 2012-2014
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Báo chí sẽ có những biến đổi mạnh mẽ trong thời gian tới, bởi tácđộng của các thành tựu khoa học kỹ thuật có liên quan đến BCTT ?
Trang 13- Các loại hình báo chí sẽ có nhiều biến đổi, tiếp tục cạnh tranh gaygắt trong thời gian tới ?
- Báo in Việt Nam tiếp tục gặp nhiều bất lợi trong quá trình cạnh tranh
ở thời đại số, và buộc phải tìm nhiều giải pháp phù hợp để tồn tại cùng cácloại hình báo chí khác?
- Việc phát triển TTCĐ sẽ là một trong những thế mạnh, là sự lựachọn của báo in khi không còn thế mạnh về việc đưa tin so với các loại hìnhbáo chí khác, bởi tính định kỳ, quy trình xuất bản?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Đề tài “Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam hiện nay” (Khảo sát Chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng Đảng, Báo
Lao động cuối tuần, Báo An ninh thế giới giữa tháng - cuối tháng, trong 3 năm, 2012-2014) được thực hiện nhằm kiểm chứng giả thuyết cho rằng báo in sẽ
tiếp tục phải đương đầu với nhiều thách thức trong tương lai và XHPT TTCĐ
là một trong những sự lựa chọn quan trọng của BIVN hiện đại, nhằm thíchứng với sự vận động, biến đổi của xã hội nói chung, báo chí nói riêng, để tiếptục phát triển, cùng tồn tại với các loại hình báo chí mới
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở nhận thức luận những vấn đề lý luận về triếthọc, chính trị học, báo chí học (chức năng và đặc thù loại hình báo in, kinh tếbáo chí truyền thông, công chúng báo chí truyền thông hiện đại, tâm lý họcbáo chí, đặc thù và tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo in…),các khoa học liênquan như: kinh tế học, xã hội học, logic học, toán học kết hợp phân tích lýluận và thực tiễn nhằm làm rõ nội dung, nhiệm vụ của đề tài
5.2.Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu công cụ chínhsau đây để thực hiện đề tài:
Trang 14- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được tiến hành
thông qua việc sưu tầm, tuyển chọn, nghiên cứu các tài liệu, như: sách, báo,quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về báo chí, văn bản pháp luật liênquan đến đề tài, giúp nghiên cứu sinh hiểu, hệ thống hóa luận điểm, so sánh,minh họa cùng các kết qua khảo sát của mình, từ đó đưa ra quan điểm của cánhân để khẳng định khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát: Phương pháp này được tiến hành thông qua
việckhảo sát, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, chứng minh các thông
số thu được, nhằm có được kết quả khảo sát thực tiễn, cả định tính và địnhlượng nhằm sử dụng để chứng minh giả thuyết đã đặt ra Việc khảo sát đượcnghiên cứu sinh tiến hành chặt chẽ, kỹ lưỡng, bảo đảm sự khoa khọc, tínhchính xác, đáng tin cậy
- Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi (an-két): Phương pháp này được
tiến hành thông qua việc lập bảng hỏi, phiếu điều tra nhằm thu nhận các ýkiến, đánh giá của công chúng về đối tượng nghiên cứu của đề tài Phươngpháp này chỉ tiến hành riêng cho chuyên san Hồ sơ sự kiện, kết quả cũng chỉphù hợp với rất ít nội dung có liên quan đến thực trạng việc tổ chức TTCĐtrên chuyên san Hồ sơ sự kiện
- Phương pháp phỏng vấn sâu (phương pháp chuyên gia): Phương
pháp này được tiến hành thông qua việc phỏng vấn sâu những nhà khoa học,các chuyên gia, nhà báo có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án,nhằm có cái nhìn về thực trạng tổ chức TTCĐ trên BIVN, chỉ ra những thếmạnh, hạn chế của nó đồng thời đưa ra những dự báo khách quan về XHPTTTCĐ trên BIVN trong tương lai
- Phương pháp tọa đàm, thảo luận nhóm: Để có được kết quả khách
quan, tác giả luận án tiến hành tọa đàm, thảo luận nhóm giữa một số nhà báo,sinh viên báo chí tại tòa soạn, trường đại học về các vấn đề chính liên quan
đến TTCĐ trên BIVN Đặc biệt, buổi tọa đàm tại chuyên san Hồ sơ sự kiện,
Tạp chí Cộng sản thu hút đông đảo biên tập viên, cộng tác viên thường xuyên
Trang 15của Hồ sơ sự kiện, những người am hiểu nghiệp vụ báo chí, đặc biệt là báo in
và trực tiếp thực hiện các chuyên đề nên có những nhận xét xác đáng về cácvấn đề liên quan như: thực trạng việc tổ chức TTCĐ, những ưu điểm, hạn chế,giải pháp nâng cao chất lượng TTCĐ trong thời gian tới
- Phương pháp dự báo: Nghiên cứu sinh sử dụng các phương pháp dự
báo định đính và dự báo định lượng Với phương pháp dự báo định tính,nghiên cứu sinhphân tích định tính dựa vào suy đoán, cảm nhận về thực tiễncũng như dự báo XHPT TTCĐ dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu và thực tiễncủa cá nhân Với phương pháp dự báo định lượng, nghiên cứu sinh dựavàoviệc phân tích khoa học về các dữ liệu thống kê đã thu thập được, dựa trên
cơ sở lý thuyết khung đã được xây dựng, làm cơ sở để dự báo XHPTTTCĐtrong tương lai… Với phương pháp dự báo, nghiên cứu sinh sử dụng 3phương pháp phổ biến hiện nay là: (1) Phương pháp ngoại suy; (2) Phươngpháp chuyên gia và (3) Phương pháp mô hình hóa
- Phương pháp nghiên cứu đồng đại - lịch đại: Nghiên cứu sinh dựa
vào đặc tính so sánh theo chiều cạnh thời gian – không gian của việc tổ chức,phát triển TTCĐ trên báo in để tiến hành nghiên cứu Đó là việc thu thập vàphân tích thông tin theo thời gian (nghiên cứu lịch đại), trong một thời điểm,hay một khoảng thời gian ngắn (nghiên cứu đồng đại) Từ những sự pháttriển, biến đổi của việc tổ chức TTCĐ trên báo in trong khoảng thời gianngắn, cũng như việc phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức TTCĐ tại thờiđiểm hiện tại, nghiên cứu sinh có cơ sở đưa ra những nhận xét về quá trìnhphát triển, cũng như dự báo XHPT TTCĐ trong thời gian tới
6 Đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu đề tài của luận án góp phần:
- Làm rõ và mới hơn về nhận thức, cách tiếp cận, đánh giá về vai tròcủa thông tin chuyên đề trên báo in nước ta trong điều kiện và yêu cầu mới;Luận án cũng góp phần làm phong phú, sinh động hơn về lý luận và thực tiễn
Trang 16của báo in trong bối cảnh cạnh tranh và khó khăn của báo in hiện nay, với cáckết quả nghiên cứu định tính và định lượng đáng tin cậy.
- Kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá về thông tin chuyên đề trên báo
in Việt Nam thông qua việc khảo sát các ấn phẩm tiêu biểu cho loại hình
thông tin chuyên đề theo quy mô tổ chức thông tin, là: Báo Lao động cuối
tuần, Chuyên đề An ninh thế giới giữa tháng – cuối tháng (trang chuyên đề); Tạp chí Xây dựng Đảng (nhóm bài chuyên đề) và Chuyên san Hồ sơ sự kiện
(số chuyên đề), cùng việc nghiên cứu lý thuyết khẳng định rõ thế mạnh, hạnchế của thông tin chuyên đề trên báo in
- Trên cơ sở phân tích các cấp độ của thông tin chuyên đề theo quy mô
tổ chức thông tin, với việc phân tích chuyên sâu, đáp ứng hiểu biết sâu sắc vềvấn đề, sự kiện nào đó; luận án khẳng định đây là lợi thế của báo in trong việcphát huy thế mạnh của mình trong cuộc cạnh tranh gay gắt với các loại hìnhbáo chí khác, và truyền thông xã hội trong tương lai
- Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hóa lý thuyết về thông tin chuyên đềtrên báo in, khảo sát, đánh giá thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam, luận
án là sự tổng hợp làn đầu tiên trong nghiên cứu về tính chất, hiệu quả củaphương thức thông tin chuyên đề ở Việt Nam
- Luận án là cơ sở có tính thuyết phục để khẳng định rằng báo in sẽ tiếptục gặp nhiều khó khăn, thách thức trong tương lai và buộc phải tìm những
“thị trường ngách” để tồn tại, thông qua việc duy trì, phát huy những thếmạnh chuyên sâu, đa chiều, phản biện của mình
- Những kết quả nghiên cứu mới của luận án là cơ sở lý luận cho việcđịnh hướng hoạt động báo chí trong thực tiễn Đây là tài liệu tham khảo hữuích cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà báo, giảng viên và sinh viên báochí về thông tin chuyên đề trên báo in, cũng như các loại hình báo chí khác
7 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
Trang 17Đề tài “Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam hiện nay” (Khảo sát Chuyên san Hồ sơ sự kiện, Tạp chí Xây dựng Đảng, Báo
Lao động cuối tuần, Báo An ninh thế giới giữa tháng - cuối tháng, trong 3 năm, 2012-2014) là một đề tài có những ý nghĩa cụ thể sau:
- Luận án góp phần làm rõ và mới hơn về nhận thức, cách tiếp cận, đánhgiá về vai trò của TTCĐ trên báo in nước ta trong điều kiện và yêu cầu mới;
- Luận án góp phần làm phong phú, sinh động hơn về lý luận và thực tiễncủa báo in trong bối cảnh cạnh tranh và khó khăn của báo in hiện nay
+Ý nghĩa thực tiễn:
- Là tài liệu để lãnh đạo các cơ quan báo chí, trong đó có báo in, thamkhảo, đưa ra những quyết sách đúng, phù hợp với xu hướng phát triển củaTTCĐ trên báo in và các loại hình báo chí khác
- Là tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu về các vấn đề liên quanđến TTCĐ trên báo chí nói chung, trên báo in nói riêng; làm tài liệu tham khảocho các cơ sở đào tạo báo chí, cho cán bộ, giảng viên, người học ngành báo chí
- Có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà báo viết chuyên đề,những biên tập viên, những ai quan tâm tới chủ đề này
- Có thể làm tài liệu tham khảo để các cơ sở đào tạo báo chí giảng dạymôn các chuyên đề báo chí, hoặc báo chí chuyên biệt, báo chí dữ liệu
- Đóng góp số liệu, thông tin cho hệ thống thư viện, phòng lưu trữ, nhàvăn hoá, cũng như cho báo chí khu vực và thế giới
Trang 188 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tàigồm 5 chương,18tiết, 191 trang, 15hình minh họa Cụ thể:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thông tin chuyên đề trên báo chí – những vấn đề lý luận cơbản
Chương 3: Thực trạng thông tin chuyên đề trên báo in Việt Nam
Chương 4: Những vấn đề đặt ra đối với việc tổ chức thông tin chuyên
đề báo in
Chương 5: Dự báo xu hướng phát triển thông tin chuyên đềở Việt Nam
và một số giải pháp, khuyến nghị
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về vấn đề nghiên cứu
Thời đại bùng nổ truyền thông, với sự hỗ trợ tích cực của các thành tựu
về khoa học công nghệ, đặc biệt là thiết bị di động thông minh và mạng Internetgiúp báo chí phát triển mạnh mẽ, với những khác biệt rõ ràng so với trước đây,
cả về nội dung lẫn hình thức chuyển tải thông tin Công chúng không chỉ cónhiều cơ hội lựa chọn thông tin, mà họ còn là những người chuyển tải thôngtin, hình ảnh đầu tiên tại nơi sự kiện diễn ra bằng các thiết bị di độngthôngminh có kết nối Internet Nói như tác giả Mitchell Stephens, trong cuốn
“Hơn cả tin tức – tương lai của báo chí”, đó là:
“Mạng Internet khiến ai cũng có thể ra một “tờ báo” của riêng mình Khi luôn có cơ hội rằng điều ta “đăng lên mạng” có thể tiếp cận được một lượng khán giả cực kỳ lớn, khi điều ta chọn để chia sẻ trên mạng có thể quan trọng hơn những chuyện riêng tư tầm phào, viễn
Trang 19cảnh về tự do báo chí dường như một lần nữa được mở rộng, vượt khỏi giới hạn của những nhà xuất bản giàu có Tất nhiên, mạng Internet cũng thêm vào vô số thứ cho “những ồn ào vô tận trên đời” Vì vậy, tìm được “điểm nhấn quan trọng cũng không hề đơn giản” [99, tr.283].
Mạng xã hội sẽ còn thay đổi mạnh mẽ, với nhiều tính năng mới Báochí cũng sẽ phải chuyển mình theo sự vận động chung của xã hội, của cuộccách mạng khoa học-công nghệ, để đáp ứng đúng, trúng, kịp thời nhu cầu, thịhiếu của bạn đọc Vào đầu tháng 5-2015, thông báo từ Facebook cho biết -trang MXH có số người sử dụng lớn nhất thế giới, với hơn 1,44 tỷ người dùng
- sẽ trực tiếp cung cấp nội dung từ báo chí một cách rộng rãi Thay vì phảibấm vào liên kết để đến trang tin gốc, người sử dụng Facebook có thể đọctrực tiếp nội dung từ các CQBC ngay trên MXH này Facebook sẽ áp dụngtính năng Instant Articles nhằm tăng tốc độ tải nội dung từ những luồng báochí mà họ hợp tác Bước đầu, MXH này “bắt tay” với BuzzFeed, The NewYork Times, National Geographic và một số nhà xuất bản khác để lưu trữ tintức, video trực tiếp trên Facebook từ tháng 5-2015 Ở thời điểm “bắt tay” giữaMXH và báo chí, có những phản ứng trái chiều khác nhau khi một số CQBC,nhà xuất bản tỏ ra hào hứng thì không ít cơ quan thuộc lĩnh vực này lại longại mất đi tính chủ động trong việc cung cấp thông tin đến người đọc.Nhưng thống kê cho thấy, hiện nay trung bình có khoảng 60% lưu lượng truycập các báo, trang tin điện tử đến từ người dùng Facebook
Trong khi đó, kết quả khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Pow vàonăm 2014 cho thấy, 48% số người được hỏi nói rằng họ đọc tin tức về chínhtrị và xã hội từ MXH Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, đặcbiệt là vấn đề chia sẻ lợi nhuận từ nguồn quảng cáo trên Facebook đối vớinhững thông tin mà báo chí, các nhà xuất bản cung cấp Tuy nhiên, “sự bắttay” giữa MXH này và các CQBC sẽ tác động không nhỏ đến sự phát triểncủa báo chí trong tương lai Vào tháng 3-2016, Facebook cho ra đời tính năngtruyền hình trực tiếp (live) từ Facebook cá nhân cho tất cả người dùng, khiến
Trang 20mỗi chủ tài khoản của MXH này đều có thể làm truyền hình trực tiếp Điềunày tác động mạnh đến các loại hình báo chí, và cần có những sự đổi thay vềluật pháp, sự hành nghề của cơ quan quản lý báo chí và các CQBC, nhà báo.
Vấn đề đáng chú ý khác, sự phát triển mạnh mẽ của báo mạng điện
tử, truyền hình khiến báo in đã, đang và sẽ còn bị chao đảo dữ dội Sốlượng phát hành các tờ báo hàng đầu đều sụt giảm, thậm chí giảm tới gần50% so với thời hoàng kim Nhiều tờ báo phải giảm kỳ, thậm chí đình bản,
do không thể tự cân đối được tài chính để duy trì sự hoạt động Mới đây
nhất, ngày 26-3-2016, The Independent - một trong những tờ báo uy tín
nhất ở Anh - đã ra mắt ấn phẩm cuối cùng để ngừng xuất bản báo giấy, chỉcòn tập trung vào phát triển phiên bản điện tử, bởi trực tuyến sẽ là xu
hướng của tương lai Tại Việt Nam, kể từ ngày 1-4-2016, tờ Thể thao 24h
thông báo tạm ngừng xuất bản trong 3 tháng để cơ cấu lại hoạt động…
Trong những sự chuyển hướng, thích ứng đầy khó khăn của báo in,việc tổ chức TTCĐ theo các hình thức khác nhau, nhằm phục vụ các đốitượng bạn đọc riêng biệt, đặc biệt là việc tổ chức TTCĐ theo quy mô về nộidung thông tin chuyên sâu về một chủ đề, đề tài nào đó, với những lợi thế về
sự phân tích, bình luận, lý giải một cách đa chiều, khái quát, giàu hàm lượngtrí tuệ, mang định hướng vấn đề được sử dụng, coi đó là thế mạnh của mình,giúp bạn đọc thấy được những thông tin bản chất, tổng quan về các vấn đềđược đề cập, chuyển tải Có thể khẳng định rằng, đây là điều có ý nghĩa quantrọng đối với việc tiếp nhận thông tin của những nhóm công chúng khác nhau
Qua tìm hiểu của nghiên cứu sinh, việc tổ chức TTCĐ được tiến hành
từ lâu, nhưng vai trò, vị trí, thế mạnh của dạng thức thông tin này gần như là
sự mặc định, nên không có những nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt, hệthống Vì vậy, trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu tài liệu phục vụ luận án,nghiên cứu sinh gặp nhiều khó khăn bởi trên thế giới chưa có nhiều công trìnhkhoa học bàn sâu, hệ thống về TTCĐ báo in theo quy mô tổ chức thông tin,
Trang 21mà chỉ đề cập từng khía cạnh, lĩnh vực của TTCĐ cũng như tầm quan trọngcủa nó Trong khi đó, các nghiên cứu ở trong nước còn rất ít, riêng lẻ, mặc dùviệc tổ chức chuyên đề được thực hiện từ lâu Một số tác giả công trình luậnvăn, một số nhà báo có những nghiên cứu, đề cập đến TTCĐ báo in, nhưngcòn ở dạng cá biệt, riêng lẻ, chứ chưa mang tính khái quát, hệ thống Do đó,việc nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về TTCĐ báo in theo quy
mô tổ chức thông tin là có ý nghĩa, mang tính lý luận và thực tiễn cao
1.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1 Khái quát chung
Theo tìm hiểu của nghiên cứu sinh, việc tổ chức TTCĐ báo in theo cáchình thức khác nhau, đặc biệt là theo lĩnh vực phản ánh xuất hiện từ lâu, vàokhoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII ở châu Âu Sự manh nha về TTCĐ,theo lĩnh vực phản ánh (chủ yếu là các vấn đề chính trị, chiến tranh…), phạm
vi phản ánh (đề cập chủ yếu đến tin tức ở châu lục) dần xuất hiện trên báo chíchâu Âu ngày một nhiều, rõ nét hơn Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,báo in xuất hiện trên hầu khắp thế giới, trở thành phương tiện thông tin cơ bản
và hữu ích của con người Báo chí ở Mỹ ra đời muộn hơn, nhưng nhanhchóng có những bước phát triển, sớm tạo ra những hướng đi độc đáo, phù hợpvới yêu cầu của bạn đọc, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của báo chí trongđời sống chính trị-xã hội Báo chí Mỹ nhanh chóng vượt qua việc thông tinkiểu tường thuật, mạnh dạn đột phá vào việc cung cấp những thông tinchuyên sâu, mang tính lý giải, bình luận, định hướng cho công chúng Có thểkhẳng định rằng, sau khi xuất hiện không lâu, báo in đã tổ chức TTCĐ theonhững lĩnh vực, phạm vi phản ánh khác nhau, như chính trị, kinh tế, xã hội,quốc gia, khu vực, thế giới Tiếp đến, các dạng TTCĐ cho lứa tuổi, giới tính,ngành nghề dần xuất hiện, phục vụ những đối tượng công chúng khác nhau
Thực tế, nhiều thập niên qua có rất nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn
đề của báo chí hiện đại; sự tác động của toàn cầu hóa đến các phương tiệntruyền thông đại chúng; những xu hướng phát triển của báo chí hiện đại; cách
Trang 22tổ chức thông tin, trình bày báo chí; những vấn đề liên quan đến tương lai củabáo in trong kỷ nguyên số Theo tìm hiểu của nghiên cứu sinh, các cuốnsách, những công trình nghiên cứu, các bài viết, bài nghiên cứu đăng tải trêncác phương tiện truyền thông đại chúng có liên quan trực tiếp đến TTCĐthường chỉ mổ xẻ một khía cạnh, bộ phận nào đó hoặc gián tiếp có liên quanchứ không đề cập một cách sâu đậm, riêng biệt, hệ thống Việc có đề cập đếnTTCĐ cũng hết sức khái lược, mang tính nhận diện và thiên về các kỹ năng,kinh nghiệm viết bài, tổ chức các loại hình TTCĐ trên báo chí.
1.2.2 Sách
+Nhóm sách về lý luận và thực tiễn hoạt động báo chí
- E.P Prôkhôrốp; Cơ sở lý luận của báo chí (tập 1,2 - 2005); Nxb
Thông tấn, Hà Nội [96] Ở tập 1, tác giả giới thiệu về quá trình xuất hiện vàphát triển của báo chí; bản chất của thông tin đại chúng; vị trí, vai trò và chứcnăng của báo chí trong xã hội Các quan điểm và nguyên tắc của hoạt độngbáo chí nói chung, với nhà báo nói riêng; tự do báo chí và trách nhiệm củanhà báo; phương diện pháp lý của tự do báo chí Tập 2, tác giả giới thiệu báochí trong hệ thống các thiết chế xã hội; trong không gian thông tin; báo chívới tư cách là một lĩnh vực hoạt động sáng tạo; hiệu lực và tính hiệu quả củabáo chí; những phẩm chất nghề nghiệp, đạo đức, trách nhiệm công dân, địa vịpháp lý của nhà báo cũng như quyền tác giả trong hoạt động báo chí
- V.V Vôrôsilốp; Nghiệp vụ báo chí: Lý luận và thực tiễn (2004); Nxb
Thông tấn, Hà Nội [101] Cuốn sách đề cập nhiều nội dung, từ những vấn đề
lý luận đến kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động báo chí của Nga và thếgiới Tác giả điểm qua lịch sử báo chí của một số nước trên thế giới, sự pháttriển của kỹ thuật-công nghệ thông tin, các loại hình, chức năng và kết quảhoạt độngcủa nó Tác giả bàn sâu về chuẩn mực pháp lý-đạo đức, quan hệ tiếpthị, quản lý kinh tế, nhân sự và nghiệp vụ tại các CQBC
Trang 23- A.A Chertưchơnưi; Các thể loại báo chí (2005); Nxb Thông tấn, Hà
Nội [75] Sách đề cập đến lý luận chung về các yếu tố hình thành thể loại, tínhchất của các thể loại báo chí, đó là: tin, phân tích, chính luận-nghệ thuật
- X.A.Mikhailốp; Báo chí hiện đại nước ngoài: Những quy tắc và
nghịch lý (2004); Nxb Thông tấn, Hà Nội [94] Cuốn sách giới thiệu một số
nét cơ bản về đặc điểm, tình hình, XHPT hiện nay của báo chí thế giới; đề cập
vị trí, vai trò của báo chí trong xã hội; những XHPT của báo chí trong bốicảnh toàn cầu hoá không gian thông tin; báo chí và kinh tế; sự tập trung hoá
và độc quyền hoá của hoạt động báo chí ở một số quốc gia
- Claudia Mast; Truyền thông đại chúng, công tác biên tập (2003), Nxb
Thông tấn, Hà Nội [93] Cuốn sách gồm 7 chương, ngoài chương 1 đề cậpđến công tác biên tập, các chương còn lại bàn tới khá toàn diện các nội dung
về BCTT, từ ma-két tới thiết kế chương trình, đề tài và lĩnh vực, nghề làm báogiữa chức năng thông tin và chức năng công quyền
- Sally Adams, Wynford Hicks; Kỹ năng phỏng vấn dành cho các nhà báo
(2007), Nxb Thông tấn, Hà Nội [70] Cuốn sách đề cập đến các kỹ năng phỏngvấn dành cho các nhà báo một cách cụ thể, chi tiết, gồm các phần: Chuẩn bị
và bắt đầu; kỹ thuật phỏng vấn; hiểu được phỏng vấn và các vấn đề cần tránh;những đối tượng phỏng vấn khác nhau
- The Missouri Group; Nhà báo hiện đại (2014); Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí
Minh [86] Cuốn sách đề cập đến cách tác nghiệp với sự hỗ trợ của máy tính
và những cơ sở dữ liệu trên mạng Internet; cách làm tin và viết tin cho báotrực tuyến, bên cạnh những phương pháp truyền thống cho báo in và truyềnhình được cách tân theo nhu cầu mới của thời đại
- Jane T Harrigan, Karen Brown Dunlap; Con mắt biên tập (2011);
Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh [87] Cuốn sách khẳng định, ngườibiên tập ngày nay không chỉ biết biên tập văn bản mà còn phải am hiểu các kỹnăng trình bày, dàn trang và tư duy hình ảnh
Trang 24- Jack Hart; Huấn luyện viên của người viết báo (2007); Nxb Thông tấn, Hà
Nội [88] Cuốn sách đề cập đa dạng về vấn đề thu thập ý tưởng, chủ đề viết tinbài và cách phác họa bài vở, cùng những kinh nghiệm về việc sáng tác, sángtạo, duy trì bút lực để các tác phẩm đến với bạn đọc
- Mitchell Stephens; Hơn cả tin tức – tương lai của báo chí (2015);
Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh [99] Cuốn sách đề xuất một tiêu chuẩnmới: “báo chí trí tuệ” (wisdom journalism) - một hỗn hợp của các hình thứcđưa tin – độc quyền, táo bạo, điều tra – với việc nắm bắt sự kiện đương thờimột cách am hiểu, sâu sắc, có tính diễn giải, thậm chí có chủ kiến kiên định
- Tom Plate; Lời tự thú của một nhà báo Mỹ (2010); Nxb Trẻ, Thành
phố Hồ Chí Minh [95] Tác giả đúc kết những góc nhìn sâu sắc về nghề báo;chỉ ra những tiêu chuẩn mà một nhà báo cần phải có… Trong chương 1, tác
giả nói về “Câu chuyện về thằng lùn nhảy trang: Cuộc đời của một phóng
viên chuyên đề” Theo tác giả, phóng viên chuyên đề là phóng viên chuyên
theo dõi về một lĩnh vực nào đó, ở một phạm vi không gian nào đó Với chínhtác giả, đó là chuyên viết về ngoại giao, ở khu vực châu Á, ở một chuyên mục
cố định trên tờ Los Angeles Times.
- Ellen Lupton; Graphic Design Thinking: Beyond Brainstorming
(2011); Princeton Architectural Press, New York [112] Cuốn sách gồm 3phần chính, là các bước cơ bản của quá trình thiết kế đồ họa tư duy, nhữngphương pháp kích thích tư duy mới để thu hút, hấp dẫn công chúng Đó là:Làm thế nào để xác định vấn đề (How to define problems), hình thành ýtưởng (How to get ideas) và định dạng mẫu (How to create form) và phần bàn
về những người thiết kế nghĩ thế nào (How designers think)
- Tom Altstiel, Jean Grow; Advertising Creative strategy, copy and
design (2013); SAGE Publications, Inc, London [103] Cuốn sách trình bày
những quan điểm cơ bản, thấu đáo về việc sử dụng hình ảnh, màu sắc trongthiết kế, trình bày ấn phẩm báo chí, đặc biệt là các ấn phẩm quảng cáo…
Trang 25- Fred S Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm, Bốn học thuyết
truyền thông (2013), Nxb Tri Thức, Hà Nội [99] Cuốn sách tổng kết 4 học
thuyết truyền thông trên thế giới, phân tích ảnh hưởng của xã hội tới các môhình đó và ảnh hưởng của cách thức truyền thông tới xã hội Đó là: ThuyếtĐộc đoán, Thuyết Tự do, Thuyết Trách nhiệm xã hội và Thuyết Toàn trị XôViết được dùng để xác định các loại hình báo chí của thế giới phương Tây
- Howard Gardner, Năm tư duy cho tương lai (2012), Nxb Trẻ, Thành
phố Hồ Chí Minh [83] Cuốn sách xác định rõ những khả năng nhận thức sẽ
có vị trí hàng đầu trong những năm sắp tới, đó là: Tư duy nguyên tắc, thôngthạo một lĩnh vực chính và ít nhất một công việc chuyên môn; Tư duy tổnghợp, khả năng hợp nhất các ý kiến từ những chuyên môn và những lĩnh vựckhác nhau thành một tổng thể liền lạc và liên kết sự hợp nhất đó với nhữngtổng thể khác; Tư duy sáng tạo, khả năng khám phá và làm rõ những vấn đề,những câu hỏi và những hiện tượng mới; Tư duy tôn trọng, nhận biết, thấuhiểu sự khác biệt giữa con người với nhau và Tư duy đạo đức, hoàn thànhtrách nhiệm là một người lao động, một người công dân
Tóm lại, thông qua việc nghiên cứu các cuốn sách thuộc nhóm lý luận
và thực tiễn hoạt động báo chí, nghiên cứu sinh rút ra các vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu sinh có được những kiến thức nền tảng, cơ bản,
hệ thống về báo chí; những kiến thức lý luận và kinh nghiệm về tình hình một
số quốc gia có nền báo chí phát triển cũng như trên thế giới, từ đó có thể thamkhảo, kế thừa để xây dựng khung lý thuyết của luận án, đồng thời tiến hànhkhảo sát thực tiễn một số vấn đề liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Thứ hai, nghiên cứu sinh có cái nhìn cơ bản về lý luận báo chí, đặc
biệt là các vấn đề liên quan đến nội dung và hình thức của báo chí, làm cơ sở
để đánh giá, phân tích các nội dung liên quan đến luận án
Trang 26- Thứ ba, nghiên cứu sinh nắm được hệ thống những vấn đề liên quan
đế thể loại báo chí, đến các công việc quan trọng của báo chí, như tổ chức tòasoạn, biên tập làm cơ sở để khảo sát, phân tích về việc sử dụng các thể loạibáo chí trong những ấn phẩm thuộc diện khảo sát, chỉ ra những bất cập, hạnchế cũng như đề ra giải pháp phù hợp với đề tài nghiên cứu
- Thứ tư, nghiên cứu sinh có cái nhìn toàn cảnh, chi tiết về việc thiết kế,
trình bày báo in, những nguyên tắc trong sử dụng ảnh, màu sắc, đồ họa thôngtin trong trình bày báo in Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh áp dụng vào việckhảo sát, đánh giá việc trình bày các ấn phẩm thuộc diện khảo sát, đưa ranhững nhận xét và dự báo xu hướng trình bày báo in trong điều kiện có nhiềubiến đổi về thị hiếu xem và đọc của công chúng
- Thứ năm, nghiên cứu sinh có được kiến thức cơ bản về báo chí hiện
đại, những kỹ năng của nhà báo hiện đại, XHPT của báo chí hiện đại, qua đóứng dụng cụ thể vào việc xây dựng khung lý thuyết cũng như khảo sát thựctiễn, đánh giá thực trạng, chỉ ra những giải pháp phù hợp với BIVN
- Thứ sáu, nghiên cứu sinh có thể thấy được sự khác biệt của hệ thống
truyền thông giữa các nước một cách toàn diện nhất, dựa vào hệ thống xã hội
mà báo chí đang hoạt động, thông qua những niềm tin và quan niệm cơ bảncủa xã hội đó cũng như những dự báo cho tương lai Từ đó, nghiên cứu sinh
có cơ sở phân tích, nhận định, dự báo những vấn đề liên quan đến đề tài
+ Nhóm sách, công trình nghiên cứu bàn về thông tin chuyên đề
- Jacques Locquin, Truyền thông đại chúng: Từ thông tin đến quảng
cáo (2003), Nxb Thông tấn, Hà Nội [85] Cuốn sách cho rằng, TTCĐ là các
ấn phẩm chuyên môn, rất phong phú về thông tin hữu ích, được xây dựng trênthủ thuật đề cao cái mới lạ “nhất” (tác phẩm mới nhất, phát minh mới nhất) đã
ra sức đáp ứng yêu cầu của loại khách hàng đó, với sự hỗ trợ của quảng cáo.Thực ra các ấn phẩm đó là đất làm ăn béo bở của quảng cáo, của các chuyên
Trang 27gia quảng cáo Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của TTCĐ rằng, nhiều cuộcphiêu lưu về chuyên đề rồi sẽ không thể tồn tại do mắc những bệnh ấu trĩ, dothiếu người xem, người đọc và nguồn tài chính
- Donald L Ferguson, Journalism Today, Glencoe/Mcgraw-Hill; 7 Tch
edition (June 2005) [106] Đây là cuốn giáo trình báo chí hiện đại, dành phần
4 đề cập đến loại bài chuyên đề trên các phương diện: đặc điểm, xu hướng,cách viết Có thể nói, đây là cuốn sách giáo khoa hướng dẫn về TTCĐ nhưmột trong những thể loại báo chí hiện đại, ngang bằng với các thể loại báo chítruyền thống như: bài phản ánh, phóng sự, ghi chép, điều tra, bút ký
Tác giả chỉ ra một số đặc điểm của bài chuyên đề: Tính cập nhật, văn
phong sáng tạo và chủ đề đa dạng Tác giả cho rằng: “Các nhà báo chuyên đề
có phần tự do hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ, nhưng về cơ bản họ vẫn tuân thủ các nguyên tắc báo chí… Các tiêu chuẩn đạo đức giống nhau áp dụng đối với cả tin tức và bài chuyên đề” [106, tr.269].
- Joseph Turrow, Media Today (2009), Routledge [116] Cuốn giáo
trình BCTT này có đề cập đến TTCĐ như một trong những nội dung quantrọng của một tờ báo, trong bối cảnh truyền thông hiện đại ở Mỹ Tác giả chorằng, có 3 loại nội dung trong một tờ báo, đó là: tin tức, TTCĐ và quảng cáo.Theo sự phân biệt này, TTCĐ không hẳn là tin tức, cũng không phải là quảngcáo TTCĐ được đề cập một cách chi tiết, từ nội hàm của khái niệm đến vị trí,vai trò, chức năng của nó
- Richard Weiner, Dictionary of Media and Communications (1990), Websters [117] Cuốn từ điển định nghĩa “chuyên đề là một loạt các bài
chuyên đề hoặc bài báo xuất hiện định kỳ trên báo hoặc tạp chí, do một nhà báo nhất định viết (nhà báo chuyên đề) hoặc về một chủ đề cụ thể” [117,
tr.101] Nhà báo chuyên đề là người viết những bài chuyên đề xuất hiện định
kỳ trên báo hoặc tạp chí Tác giả cho rằng, “bài báo chuyên đề thường mang
Trang 28tính nhẹ nhàng, đề cập đến những vấn đề nhân văn hay cuộc sống, khác với tin tức thường đề cập đến những sự kiện có tính chất thời sự” [117, tr.177].
- Christopher H Sterling, Encyclopedia of American Journalism
(2009); Routledge [115] Cuốn sách đề cập đến loại bài chuyên đề và chorằng, các báo nghiêm túc, chính thống thường có bài chuyên đề đăng trêntrang nhất để phân biệt với báo lá cải Bài chuyên đề là bài báo về chủ đềquan trọng trong số báo Điều này được thể hiện khá rõ nét và dễ nhận diệnvới khá nhiều tờ báo ở Mỹ Tác giả phân biệt vai trò của nhà báo viết tin tức,viết xã luận và nhà báo chuyên đề Theo đó, nhiệm vụ của phóng viên là cungcấp cho độc giả thông tin chính xác và khách quan về sự kiện Nhà báo viết xãluận thể hiện quan điểm, lập trường của CQBC về các vấn đề khác nhau mà
không được thể hiện quan điểm cá nhân Trong khi đó, “nhà báo chuyên đề ít
phụ thuộc hơn vào chu trình tin tức, có thể đưa ra quan điểm riêng và thoải mái hơn trong việc sử dụng các thủ pháp báo chí” [115, tr.317].
- Bruce Garrison, Professional Feature Writing (2004), Lawrence
Erlbaum Associates [109] Cuốn sách bàn đến bài chuyên đề, và cho rằng:
“Bài chuyên đề thường là các bài đặc biệt trong ấn phẩm Chúng có nhiều
cách tiếp cận và dạng thức khác nhau” [109, tr.6] Các bài chuyên đề thường
mang nhiều sắc thái tình cảm và cuốn hút người đọc Chúng khiến người đọcbày tỏ thái độ vì những bài viết này có thể nghiêm túc hoặc nhẹ nhàng, hàihước hoặc buồn bã, vui vẻ hoặc đau khổ Những bài viết này cho chúng ta
biết về trạng thái của con người và “Bài chuyên đề là bài viết có tính sáng tạo
và chủ quan được tạo nên để thông tin và cuốn hút người đọc” [109, tr.7]
- Brendan Hennessy, Writing Feature Articles (2006), Focal Press
[111] Cuốn sách cho rằng, trong báo chí, bài chuyên đề, giống như tin tứcnhằm mục đích thông tin nhưng nó còn dẫn chuyện, mô tả, giải thích, thuyếtphục hoặc giải trí và đôi khi nhằm cả 5 mục đích này Bài chuyên đề đem lạithông tin và cái nhìn sâu sắc về sự kiện đồng thời nó có thể hướng đến việctruyền cảm hứng hoặc kích thích độc giả tư duy hoặc khuyến khích hành động
[111, tr.288] Tác giả cho rằng, nhà báo chuyên đề giỏi là người biết “tổ chức
Trang 29hoặc sắp xếp tài liệu, khai thác khiếu hài hước, có khả năng tư duy độc lập,
sử dụng từ ngữ điêu luyện và làm sống động các dữ kiện thông qua việc liên kết với các trải nghiệm của bản thân” [111, tr.305].
Tóm lại, thông qua việc nghiên cứu, tham khảo các cuốn sách có bàn về
TTCĐ, nghiên cứu sinh rút ra một số kết luận sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu sinh có được những thông tin lý luận nền tảng,
cơ bản liên quan đến TTCĐ ở các phương diện, chiều kích, đặc trưng khácnhau, là cơ sở để kế thừa, phát triển, xây dựng khung lý thuyết phù hợp
- Thứ hai, nghiên cứu sinh có được những thông tin về đặc điểm của
TTCĐ, cách phân loại TTCĐ, vai trò của TTCĐ trên báo chí, với báo in
- Thứ ba, nghiên cứu sinh có được cái nhìn khái lược, căn cốt về việc
nhận diện TTCĐ trên báo chí, trong điều kiện tương quan, so sánh với các thểloại báo chí khác, các nội dung thông tin khác để có cơ sở đánh giá, so sánh,khẳng định vai trò, vị trí của TTCĐ trên báo chí nói chung, báo in nói riêng
- Thứ tư, nghiên cứu sinh có thể nhận diện được những sự hạn chế,
những biến tướng của việc tổ chức TTCĐ khiến nó bị “lợi dụng” vào mụcđích không chính đáng Từ đó, có thể đưa ra những cảnh báo về việc TTCĐ bịlạm dụng để trục lợi, biến tướng
- Thứ năm, nghiên cứu sinh có cái nhìn toàn cảnh về các công trình
khoa học có đề cập trực tiếp đến TTCĐ, nhận rõ rằng chưa có nhiều côngtrình nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu, riêng biệt, quy mô về TTCĐ,đặc biệt là với loại TTCĐ theo quy mô tổ chức thông tin
1.2.2 Bài báo, hội thảo khoa học
- Với những bài báo nghiên cứu tương đối tập trung về TTCĐ dướidạng tạp chí chuyên đề, đáng chú ý là bài báo đăng tải kết quả một nghiên cứu
khoa học trên trang mạng http://www.inpublishing.co.uk, công bố ngày
1-3-2005 Theo bài báo, nhìn một cách tổng thể, các tạp chí chuyên đề đều mangtầm quan trọng rất lớn đối với ngành công nghiệp báo chí Song nhìn cụ thể,phần lớn các tạp chí này đều ở quy mô nhỏ Các tạp chí chuyên đề thườngcung cấp cho người đọc cơ hội được tìm hiểu về bất cứ chủ đề nào mà họ
Trang 30quan tâm, nhưng là những nhóm đối tượng độc giả có chọn lựa Các tạp chíchuyên đề thường được xây dựng để đáp ứng sự quan tâm cụ thể của các đốitượng cụ thể, có thể bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống
- Trong một bài viết của nhà nghiên cứu văn hoá, nhà báo Richard
Grant White đăng trên Tạp chí The Galaxy 8, số 6 (năm 1869), với nhan đề
“The Morals and Manners of Journalism”, khẳng định: “Trong hai nhánh của nghề báo, một là thu thập và phát hành tin tức; và hai là thảo luận và giải thích những sự kiện được công khai, nhánh đầu cần thiết, căn bản hơn còn nhánh sau thì quan trong hơn” Và Richard Grant White đề cao nhánh có
tính chất tranh biện này của nghề báo là “luôn định hướng, một người cố vấn
thường nhật; vừa truyền đạt thông tin vừa giáo dục; mở rộng tầm hiểu biết về
tư tưởng và tình cảm của con người”.
- Trong một bài giảng của mình, Jeanne Acton - Giám đốc báo chí củaUIL/ILPC – cho rằng: Bài chuyên đề kể cho bạn đọc một câu chuyện Nó cóphần mở đầu, phần thân và phần kết Nó thường sử dụng các trích dẫn mộtcách linh hoạt và cho bạn đọc thấy câu chuyện thông qua những mô tả chi tiết
và ngôn ngữ sinh động Câu mở đầu phải hấp dẫn và cuốn hút được sự chú ýcủa độc giả bằng cách sử dụng từ ngữ cụ thể và kích thích mối quan tâm.Phần dẫn dắt phải thể hiện được tinh thần của câu chuyện và tạo ra giọng điệuphù hợp: nghiêm túc, châm biếm, mỉa mai hoặc xuồng xã… Theo JeanneActon, bài chuyên đề hay cần có các yếu tố: trích dẫn hay, lời dẫn thu hútđược sự chú ý, cách tiếp cận độc đáo, mô tả không kể lể và chi tiết phù hợp
- Tại buổi hội thảo về tương lai của báo chí (The Future of News) do
Tạp chí TIME tổ chức hôm 12-10-2011, nhà báo kỳ cựu Ayman Mohyeldin
của Đài NBC News (Mỹ) cho rằng:
Chúng ta đang quên mất rằng có một sự khác biệt rất lớn giữa thông tin và kiến thức Nếu một quả bom phát nổ ở Afghanistan, mọi người sẽ biết ngay sau vài giây thông qua Twitter, Facebook nhưng chắc chắn họ không biết quả bom đó có ý nghĩa thế nào? Vụ nổ đó có
Trang 31nguồn gốc từ đâu? Ai đã gây ra? Chuyện gì đang xảy ra ở đó? Và đó
là công việc của báo chí.
Từ sự phân tích này, Ayman Mohyeldin cho rằng, đã đến lúc BCTTcần phải quên đi cách làm báo cũ: Tập trung đưa tin mới nhất, nóng nhất(breaking news) Trong khi đó, Rick Stengel - Tổng Biên tập điều hành của
Tạp chí TIME - cho biết:
Hãy nhớ rằng, dù bạn có nhanh đến đâu thì chỉ 2 ngày sau người ta đã không còn nói đến cái chết của Steve Jobs nữa Nhiệm vụ của chúng tôi không phải là thông báo cho độc giả biết về cái chết của Steve Jobs mà chúng tôi phải nói về cuộc đời ông ấy, về việc ông ấy đã thay đổi thế giới của chúng ta ra sao và điều gì sẽ xảy ra tiếp theo khi ông ấy không còn nữa Nhu cầu của độc giả là vô cùng và việc biết một thông tin nào đó không thể ngăn cản họ muốn biết thêm nữa.
Và đây cũng chính là tương lai của báo chí Thông tin sẽ sản sinhnhanh hơn, đến tay độc giả nhanh hơn và giúp cho ngày càng nhiều người cấtlên tiếng nói của mình Trong số vô vàn những tiếng “hò hét” và những tít bài
“giật gân”, sẽ luôn luôn có một vị trí cho những bài báo chau chuốt, sâu sắc,cẩn thận… những bài báo buộc bạn đọc phải dừng lại để đọc từ đầu đến cuốibất kể nó xuất hiện trên báo in hay báo điện tử
- Đầu năm 2015, Tổng biên tập tờ New York Times, ông Dean Baquet
viết gửi nhân viên của tòa soạn, đề cập đến những định hướng của tòa soạn
trong tương lai, với tiêu đề “Chartingthe Future” (Tìm hướng cho tương lai).
Lá thư đề cập đến cuộc khủng hoảng lớn của tờ báo trong những năm 1970,khi tờ báo rơi vào nợ nần bởi truyền hình lên ngôi, quảng cáo sụt giảm, nhiềuCQBC khác phải đóng cửa Dean Baquet viết rằng:
Giữa lúc khủng hoảng, toà soạn có quyết định rất quan trọng
-họ nắm lấy quyền dẫn dắt tương lai đó Bất chấp những chỉ trích,
dè bỉu về việc tờ Times từ bỏ lý tưởng của mình, toà soạn lập ra
Trang 32mục feature (phóng sự, ký sự, các bài chuyên sâu) mà đã cứu tờ báo, định ra con đường giúp đưa tờ báo tới những năm huy hoàng nhất
và khiến các bài viết có chiều sâu hơn cho bạn đọc mỗi ngày.
Và Dean Baquet tiết lộ, những loạt bài chuyên đề chuyên sâu vẫn sẽ làthế mạnh của tờ báo trong tương lai, vẫn được tòa soạn chú trọng đầu tư
Tóm lại, thông qua việc tìm hiểu các công trình khoa học trên thế giới
liên quan đến BCTT, đến TTCĐ, nghiên cứu sinh thấy rằng các nhà nghiêncứu tập trung đánh giá tác động của truyền thông đại chúng tới xã hội, trongkhi đó, nghiên cứu cách thức tổ chức, chất lượng của TTCĐ như là một khíacạnh nội dung (hình thức), phần nhiều chỉ nằm xen kẽ, là một bộ phận trongcác nghiên cứu mà chưa đi sâu một cách bài bản, khoa học, hệ thống
1.3 Các nghiên cứu trong nước
1.3.1 Nhóm sách về lý luận và thực tiễn hoạt động báo chí.
- Tạ Ngọc Tấn; Cơ sở lý luận báo chí (2005); Nxb Lý luận chính trị, Hà
Nội [59] Cuốn sách cung cấp những thông tin lý luận nền tảng, căn bản vềcác quan niệm chung về báo chí, lịch sử hình thành và phát triển báo chí, chứcnăng và mối liên hệ giữa nhà báo - tác phẩm với công chúng
- Nguyễn Văn Dững; Cơ sở lý luận báo chí (2013); Nxb Lao động, Hà
Nội [15] Cuốn sách đề cập đến các vấn đề tổng quan về BCTT quan trọngnhư: Khái quát về truyền thông, Quan niệm chung về báo chí, Tổng quan cácloại hình, Công chúng báo chí, Chức năng xã hội của báo chí, Các nguyên tắc
cơ bản của hoạt động báo chí, Tự do báo chí, Lao động báo chí, Nhà báo - chủthể hoạt động báo chí
- Nguyễn Văn Dững; Báo chí truyền thông hiện đại – Từ hàn lâm đến
đời thường (2010); Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội [12] Cuốn sách trình bày
khái niệm báo chí nhìn từ quan điểm hệ thống, nhằm cung cấp cái nhìn rõ hơnbản chất chính trị - xã hội của hiện tượng này Tác giả phác thảo hệ thống
Trang 33phạm trù, khái niệm của báo chí học hiện đại, dùng nó để có thể giải thíchnhững hiện tượng báo chí trong các xã hội có thể chế chính trị khác nhau.
- Nguyễn Văn Dững (chủ biên); Tác phẩm báo chí (2006); Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội [11] Cuốn sách chỉ ra những tri thức lý luận và thực tiễn vềtác phẩm báo chí, về phân loại tác phẩm báo chí và các thể loại báo chí Cáctác giả chú trọng những yếu tố quan trọng nhất của từng thể loại như sự ra đời
và phát triển, khái niệm và đặc điểm cơ bản của thể loại, kỹ năng thực hiện
- Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang; Cơ sở lý luận báo
chí truyền thông (2004); Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội [56] Cuốn sách đề
cập đến những vấn đề chung của báo chí như vị trí, vai trò của báo chí trong
xã hội, sự ra đời và phát triển của báo chí, những điều kiện và yếu tố để hìnhthành và phát triển báo chí, các loại hình truyền thông đại chúng
- Nguyễn Văn Dững (chủ biên) – Đỗ Thị Thu Hằng; Truyền thông - lý
thuyết và kỹ năng cơ bản (2012); Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [14] Cuốn
sách cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản nóichung, truyền thông - vận động xã hội và truyền thông đại chúng nói riêng;cũng như đề cập đến một số nội dung, khái niệm, kỹ năng, tình huống, cơ chế,chức năng của một số hoạt động truyền thông; chu trình, việc lập kế hoạchtruyền thông, giám sát, đánh giá, phương pháp sử dụng trong giám sát, đánhgiá và các hoạt động để duy trì hoạt động truyền thông
- Dương Xuân Sơn; Các loại hình báo chí truyền thông (2014); Nxb
Thông tin và Truyền thông, Hà Nội [55] Cuốn sách cung cấp cho người đọcnhững hiểu biết cơ bản, có hệ thống về khái niệm, đặc trưng, đặc điểm củatruyền thông và truyền thông đại chúng hiện đại Ngoài ra nội dung cuốn sáchcũng trình bày lịch sử ra đời và phát triển, những ưu điểm và hạn chế, nguyêntắc và phương pháp sáng tạo, xu hướng phát triển riêng của từng loại hình
Trang 34nhằm phát huy tốt vai trò, sức mạnh của các loại hình báo chí truyền thôngtrong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
- Phạm Minh Sơn, Nguyễn Thành Lợi; Thông tấn báo chí – Lý thuyết và
kỹ năng (2014); Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội [54] Cuốn sách làm
rõ những vấn đề lý thuyết và đưa ra các bài tập thực hành để rèn luyện những
kỹ năng viết các thể loại thông tấn báo chí cơ bản như tin, phỏng vấn, bàithông tấn, phóng sự điều tra
- Hà Huy Phượng; Tổ chức nội dung và thiết kế, trình bày báo in
(2006); Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội [49] Cuốn sách nghiên cứu những vấn
đề lý luận, kỹ năng về tổ chức nội dung và thiết kế, trình bày báo in, trong đóluận bàn nhiều về kỹ năng xử lý văn bản, hình ảnh tĩnh và các yếu tố cấuthành sản phẩm báo in, trong đó có nội dung bàn về tổ chức chuyên trang
- Vũ Quang Hào; Ngôn ngữ báo chí (2012); Nxb Thông tấn, Hà Nội
[23] Tác giả phân tích và chỉ ra những vấn đề về lý luận và thực tiễn cơ bản
và cần thiết của ngôn ngữ báo chí Trong đó, tác giả đề cập sâu tới các dạngngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ chuẩn mực trên báo in Tác giả tập trung luậnbàn về vấn đề ngôn ngữ văn tự, chưa đề cập đến vấn đề ngôn ngữ phi văn tự,đặc biệt là ngôn ngữ hình ảnh trên báo in
- Mats Wikman, Phạm Thị Thúy Hằng; Những trang báo đẹp - Cẩm
nang dành cho các nhà thiết kế (2010); Tài liệu của dự án “Đào tạo nâng cáo
báo chí Việt Nam” giữa Việt Nam và Thụy Điển [69] Cuốn sách đưa ranhững ví dụ thực tiễn là các tác phẩm báo chí được trình bày đẹp về bố cụcgiữa các mảng chữ viết, tít bài và ảnh
- Đinh Thị Thúy Hằng; Báo chí thế giới và xu hướng phát triển (2008);
Nxb Thông tấn, Hà Nội [27] Cuốn sách đưa ra những lý luận, khái niệm,phạm trù và hoạt động báo chí thế giới đang được phổ biến tại các trường đạihọc trên thế giới và trong giới nghiên cứu báo chí Khái niệm báo chí trong
Trang 35cuốn sách được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các loại hình báo chínhư báo in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử.
- Ngọc Trân; Thuật viết lách từ A đến Z (2015); Nxb Văn hóa - Văn
nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh [65] Cuốn sách cung cấp phương pháp tư duy,nghiên cứu và phỏng vấn cùng những nội dung cần thiết như cách dùng tựđiển, phép nối, chuyển văn nói sang văn viết, cách phân biệt văn trang trọng,nghiêm trang với những loại văn đời thường; cách diễn đạt giản dị, cụ thể vàmàu sắc, mở rộng câu…
- Nguyễn Thị Trường Giang; 100 bản quy tắc đạo đức nghề báo trên
thế giới (2014); Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [20] Cuốn sách được chia
làm 2 phần, phần 1 là những vấn đề cơ bản của các quy tắc về đạo đức nghềbáo trên thế giới và Việt Nam như hoàn cảnh ra đời, những nguyên tắc, tiêuchuẩn chung cũng như những điểm riêng biệt trong các bản quy tắc, đạo đứcnghề báo; phần 2 là các bản quy tắc đạo đức nghề báo trên thế giới Trong đótác giả khái quát đặc điểm của 100 bản quy tắc đạo đức nghề báo của cácquốc gia, vùng lãnh thổ, các CQBC, các tổ chức xã hội nghề nghiệp của cácnhà báo được lưu hành rộng rãi trên thế giới
- Đinh Văn Hường, Bùi Chí Trung; Một số vấn đề về kinh tế báo in
(2015); Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội [34] Cuốn sách tập trung vào xác lậpmột cách cơ bản, hệ thống các học thuyết về kinh tế truyền thông đang phổbiến trên thế giới hiện nay Các tác giả tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giáthực trạng các hoạt động kinh tế chủ yếu của báo in Việt Nam những nămqua, bước đầu hệ thống hóa các hoạt động đó từ góc nhìn kinh tế báo chí…Cuốn sách cũng tìm hiểu những kinh nghiệm của kinh tế báo chí truyền thôngthế giới nhằm tham khảo, vận dụng phù hợp vào điều kiện cụ thể của báo chítruyền thông Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp, kiến nghị để báo innước ta hoạt động kinh tế năng động, hiệu quả trong bối cảnh mới
Trang 36- Huỳnh Dũng Nhân; Phóng sự - từ giảng đường đến trang viết (2007);
Nxb Thông tấn, Hà Nội [43] Cuốn sách kể về những suy nghĩ tâm huyết,nghiêm túc, những dấu ấn và sự trải nghiệm về nghề của tác giả về việc viếtphóng sự, từ lý luận đến kinh nghiệm và đúc kết thành nguyên tắc, quy phạm
- Nguyễn Thành Lợi; Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông
hiện đại (2014); Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội [39] Cuốn sách đề
cập đến những nét khái quát nhất về các vấn đề đang được nghiên cứu rộngrãi trên thế giới nhiều thập niên qua như truyền thông xã hội, các lý thuyếttruyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ; trình bày đặc điểm, những
kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyềnthông Tác giả giới thiệu những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện,cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phươngthức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại
- Phan Văn Kiền; Phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam qua
một số sự kiện nổi bật (2012); Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội [36].
Cuốn sách gồm 2 phần, phần thứ nhất: Bàn về một số vấn đề chung về phảnbiện xã hội của báo chí truyền thông Việt Nam hiện đại và phần thứ hai: Phảnbiện của xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật
- Đỗ Đình Tấn; Một nền báo chí phẳng (2014); Nxb Trẻ, Thành phố Hồ
Chí Minh [57] Cuốn sách là nghiên cứu của tác giả về tác động xã hội của
báo chí dựa trên việc khảo sát các chiến dịch thông tin lớn trên Báo Tuổi Trẻ
Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003 đến năm 2005, như “cơm tù”, “điện kế
điện tử”, “bán lúa non”, “xây cầu Nông Sơn” và “nhật ký Đặng Thùy Trâm” Qua đó, tác giả chỉ ra những điều kiện cần thiết để báo chí có thể tạo ra nhữngtác động xã hội mạnh mẽ lên công chúng và trở thành một sức mạnh cho sựphát triển xã hội Cuốn sách có bàn sâu về các chiến dịch thông tin lớn, nhưnhững vệt/loạt bài chuyên đề đầy sức nặng
Trang 37- Nhiều tác giả, Dọc đường tác nghiệp (2006); Nxb Thông tấn, Hà Nội [9] Cuốn sách có loạt bài “Tôi đi làm phóng viên chuyên đề”, phản ánh việc
một bộ phận nhỏ “phóng viên” ở một số cơ quan báo chí lạm dụng việc tổchức TTCĐ để làm quảng cáo, đưa thông tin thiếu khách quan, một chiều Bàibáo cho rằng: Chuyên đề thực chất là cách làm của một vài người lợi dụngdanh nghĩa tờ báo, tạp chí chỉ để tìm hợp đồng quảng cáo Để thực hiện 1
“chuyên đề”, nhân viên quảng cáo của những tờ báo, tạp chí trên thường lấydanh nghĩa phóng viên rồi xin công văn giới thiệu của tỉnh Sau đó, họ dùnggiấy giới thiệu như “lá bùa” để đi đến các doanh nghiệp ép quảng cáo Đóthực sự chỉ là những bài quảng cáo một chiều, thiếu khách quan, là những
chiêu thức kiếm tiền một cách biến tướng, một kiểu “làm ăn chụp giật, lợi
dụng danh nghĩa báo chí để đi hù dọa, ép doanh nghiệp làm quảng cáo”.
Kết luận, thông qua việc nghiên cứu, tham khảo các cuốn sách về lý
luận và thực tiễn hoạt động báo chí ở Việt Nam, nghiên cứu sinh có nhữnghiểu biết thêm kiến thức lý luận, thực tiễn liên quan đến báo chí và vấn đềphát triển, quản lý báo chí trong thời đại hiện nay, phù hợp với điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với chủ trương, đường lối là Đảng
và Nhà nước lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện nền báo chí cách mạng Từ đó,nghiên cứu sinh rút ra một số vấn đề cơ bản, quan trọng sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu sinh có được những kiến thức cơ bản, nền tảng
về lý luận báo chí của Việt Nam, kế thừa và làm cơ sở để phát triển nhữngvấn đề liên quan đến việc xây dựng khung lý thuyết phù hợp với đề tài nghiêncứu của luận án
- Thứ hai, nghiên cứu sinh có được những kiến thức cơ bản về các loại
hình báo chí, tác phẩm, thể loại báo chí để có thể dựa vào đó khảo sát, phântích, nhận định, đánh giá những vấn đề liên quan đến đề tài của luận án
- Thứ ba, nghiên cứu sinh nắm được những kiến thức cơ bản, khái quát,
căn cốt về trình bày báo để có thể kế thừa, phát huy nhằm đánh giá việc trình
Trang 38bày TTCĐ các ấn phẩm thuộc diện khảo sát, dự báo những xu hướng trìnhbày báo in trong tương lai.
- Thứ tư, nghiên cứu sinh có được những XHPT của báo chí Việt Nam
thời gian qua, những kỹ năng thực hành, tác nghiệp, tổ chức các sản phẩm báochí , từ đó kế thừa, phát triển trong việc phân tích, đánh giá, dự báo XHPTTTCĐ báo in trong tương lai
- Thứ năm, nghiên cứu sinh thấy được những mặt trái, hạn chế của loại
hình TTCĐ để từ đó phân tích, đánh giá thực trạng TTCĐ trên BIVN, đồngthời đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm khắc phục tình trạng này
1.3.2 Những bài báo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến thông tin chuyên đề
- Tại Hội nghị toàn quốc Tổng kết công tác báo chí năm 2014, triểnkhai nhiệm vụ năm 2015 do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin vàTruyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức ngày 31-12-2014, đồng chí Lê
Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư cho rằng: “Một số
cơ quan báo chí còn xa rời tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ chủ yếu, chạy theo lối làm báo thiếu tính chuyên nghiệp, nặng về thông tin những mặt trái, tiêu cực; thông tin giật gân, câu khách, nhất là trong các ấn phẩm phụ,
số chuyên đề, một số báo điện tử, trang thông tin điện tử”
“Số chuyên đề” trong sự đề cập này đó là những số chuyên đề, chuyênsan, những ấn phẩm phụ của một số cơ quan báo chí được phát hành rộng rãitrên thị trường, dưới dạng đa phần là những thông tin mặt trái, giật gân, câukhách khiến người đọc khi tiếp thu sản phẩm báo chí ấy có cái nhìn phiếndiện về đời sống xã hội của đất nước, tác động tiêu cực đến nhiều mặt, thậmchí còn “vẽ đường cho hươu chạy”, gây những nhiễu loạn nhất định cho xãhội, không những phản tác dụng mà thậm chí còn hướng dẫn một bộ phận nhỏđối tượng độc giả thiếu bản lĩnh, sự phân tích, nhìn nhận, dễ kích động làmtheo những điều trái, những mặt xấu đáng phê phán, lên án trong xã hội
Trang 39- Bài báo Tổ chức nội dung các trang thông tin chuyên đề trên Báo Lao
động (Tạp chí Người làm báo, số tháng 11-2014), tác giả Nguyễn Thị Thu
Huyền cho rằng, Báo Lao động duy trì đều đặn các trang TTCĐ: Hà Nội, Tiền
tệ - Đầu Tư, Nhân lực - Việc Làm, Sống khỏe - Sống sạch, Đời sống - Thịtrường, Doanh nghiệp - Doanh nhân, Giao thông - An toàn… được in kèmnhư những món quà ý nghĩa dành tặng độc giả.Tuy nhiên, những trang TTCĐ
mà bài báo đề cập là các trang chuyên đề về địa phương hoặc lĩnh vực phảnánh, cũng giống như các trang Kinh tế - Xã hội, Văn hóa - Thể thao, Quốc tế,Phóng sự - Ghi chép của tờ báo chính Đó là dạngTTCĐ theo lĩnh vực, lànhững thông tin thời sự về địa phương, ngành nghề, lĩnh vực; chứ không phảichuyên đề theo quy mô tổ chức thông tin về một chủ đề, đề tài cụ thể nào đó ởmỗi số Vì thế, chất lượng nội dung của thông tin trên các chuyên trang nàykhông được xem trọng như các trang của báo chính
- Nghiên cứu sinh có 4 bài báo khoa học đề cập cụ thể đến TTCĐ, đó
là: Thông tin chuyên đề - hướng đi mới của báo in (Tạp chí Lý luận chính trị
và Truyền thông, số tháng 6-2012); Thông tin chuyên đề - “đặc sản” của báo Tết (Tạp chí Người làm báo, số tháng 2-2015); Thông tin chuyên đề - thế mạnh, hạn chế và mặt trái (Tạp chí Người làm báo, số tháng 12-2015); Loạt bài chuyên đề - sức nặng của “những cú đấm” (Tạp chí Lý luận chính trị & Truyền thông, số tháng 5-2016) Bốn bài báo đều nhận diện rõ TTCĐ, đề cập
khái quát về các loại hình TTCĐ trên báo in hiện nay cũng như những ưuđiểm và những hạn chế, tồn tại cần khắc phục trong việc tổ chức TTCĐ
- Nghiên cứu sinh tổ chức 1 số chuyên đề với chủ đề Thông tin chuyên
đề - thế mạnh và hạn chế (chuyên san Hồ sơ sự kiện, số ra ngày 10-6-2015).
Số chuyên đề gồm 11 bài độc lập thuộc các chuyên mục “Vấn đề và bìnhluận” và “Bên lề sự kiện” và 5 bài thuộc phần “Hồ sơ” Trong đó, nghiên cứu
sinh viết 3 bài là: “Thông tin chuyên đề “xưa” và nay”, “Những hạn chế và
mặt trái”và “Thế mạnh, cũng là hạn chế” Bên cạnh đó, là các bài có liên
Trang 40quan trực tiếp đến TTCĐ, như: “Sự gặp gỡ giữa cung và cầu”, “Pulitzer –
“vòng nguyệt quế” dành cho TTCĐ?”, “Một số kinh nghiệm tổ chức TTCĐ”,
“Rất cần tái cấu trúc báo chí”, “Những khó khăn phải vượt qua”, “Chuyên sâu và quảng cáo”, “Đơn giản hóa những vấn đề phức tạp”, “Đừng vội nói đến “cái chết” Với 33 trang chuyên san Hồ sơ sự kiện, TTCĐ đã được đề
cập một cách khá khái lược, toàn cảnh, tiếp cận ở nhiều góc độ, chiều kíchkhác nhau Tuy nhiên, ấn phẩm này cũng chưa đề cập chuyên sâu, hệ thống
về việc tổ chức TTCĐ dựa vào quy mô thông tin
- Những năm qua, có một số công trình đề cập đến TTCĐ trên BIVN
Đó là luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng với chủ đề: Mô thức thông tin
trên chuyên san Hồ sơ sự kiện (Khảo sát từ tháng 1-2007 đến hết tháng
6-2008),của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương (bảo vệ thành công tại Học việnBáo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, năm 2008); luận văn thạc sĩ truyền thông
đại chúng với chủ đề: Thông tin chuyên đề trên chuyên san Hồ sơ sự kiện
(khảo sát từ năm 2006 đến hết tháng 3-2011) của tác giả Nguyễn Tri Thức(bảo vệ thành công tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2011)
Cả 2 luận văn mới dừng lại ở việc khảo sát, phân tích thực trạng tổ
chức thông tin trên chuyên san Hồ sơ sự kiện ở những thời điểm khác nhau.
Luận văn mới chỉ dừng lại trong việc nghiên cứu sâu về mô thức thông tin
trên chuyên san Hồ sơ sự kiện - một điển hình của số chuyên đề, chưa đưa ra
cái nhìn toàn cảnh về TTCĐ trên BIVN, để từ đó có cái nhìn bao quát vềTTCĐ, nhằm chỉ ra những bất cập, tồn tại cũng như hiệu quả của việc tổ chứcTTCĐ để từ đó làm cơ sở cho những giải pháp thấu đáo, hợp lý cho mỗi loạiTTCĐ phổ biến trên báo in hiện nay và trong tương lai
- Luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng với chủ đề: Tổ chức chiến
dịch truyền thông trên báo Tuổi trẻ của tác giả Đỗ Thị Ngọc Hà (bảo vệ thành
công tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2008) có đề cập đến mộtdạng TTCĐ khác, như một loạt bài quy mô, tầm vóc về chủ đề nào đó Luận