1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990 2004) thực trạng và giải pháp

181 471 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH. 1.1. Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng. 1.1.1. Các quan niệm về du lịch. 1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch. 1.1.2.1. Tài nguyên du lịch. 1.1.2.2. Các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội. 1.1.2.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật. 1.1.2.4. Nguồn nhân lực. 1.2. Vai trò hoạt động du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội. 1.2.1. Du lịch và kinh tế. 1.2.2. Du lịch và chính trị. 1.2.3. Du lịch và xã hội. 1.2.4. Du lịch và văn hoá. 1.2.5. Du lịch và môi trường. 1.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch một số địa phương. 1.3.1. TP Hồ Chí Minh liên kết hợp tác phát triển du lịch. 1.3.2. Hà Tây phát huy tiềm năng văn hoá lễ hội để phát triển du lịch. 1.3.3. Liên kết phát triển du lịch Huế - Quảng Nam - Đà Nẵng. CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG DU LỊCH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1990 - 2004. 2.1. Những tiềm năng và lợi thế so sánh để phát triển du lịch Hà Nội. 2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên. 2.1.1.1. Địa hình. 2.1.1.1. Khí hậu. 2.1.1.3. Nguồn nước. 2.1.1.4. Động thực vật. 2.1.2. Tiềm năng về tài nguyên du lịch nhân văn. 2.1.3.1. Các di tích lịch sử - văn hoá - kiến trúc. 2.1.3.2. Các lễ hội dân gian. 2.1.3.3. Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học. 2.1.3.4. Các sự kiện đặc biệt. 2.1.3. Ưu thế về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. 2.1.4. Ưu thế về các nhà cung cấp dịch vụ du lịch. 2.1.5. Những ưu thế về vị thế trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội. 2.1.6. Ưu thế về vị trí địa lý. 2.1.7. Ưu thế về nguồn nhân lực. 2.2. Đặc điểm phát triển du lịch Hà Nội trước năm 1990. 2.2.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch Hà Nội. 2.2.2. Kết quả, hạn chế. 2.3. Thực trạng du lịch Hà Nội giai đoạn 1990 - 2004. 2.3.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch. 2.3.2. Thực trạng và kết quả du lịch Hà Nội. 2.3.3. Bài học kinh nghiệm. 2.3.3.1. Thành công. 2.3.3.2. Hạn chế. Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH HÀ NỘI. 3.1. Xu hướng và triển vọng phát triển du lịch. 3.1.1. Dự báo về ngành du lịch những năm đầu thế kỷ 21. 3.1.2. Định hướng phát triển du lịch Việt Nam. 3.2. Định hướng phát triển du lịch Hà Nội . 3.2.1. Quan điểm cơ bản về phát triển ngành du lịch Hà Nội. 3.2.2. Mục tiêu phát triển ngành du lịch Hà Nội. 3.3. Những giải pháp cơ bản để phát triển ngành du lịch Hà Nội. 3.3.1. Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với kinh doanh du lịch trên địa bàn Hà Nội. 3.3.2. Sắp xếp, kiện toàn hệ thống các doanh nghiệp du lịch. 3.3.3. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch Hà Nội. 3.4.4. Chú trọng tuyên truyền giáo dục du lịch và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch. 3.3.5. Mở rộng thu hút nguồn vốn đầu tư cho phát triển du lịch. 3.3.6. Hợp tác liên kết với các địa phương và hợp tác khu vực. 3.3.7. Tập trung xây dựng một số sản phẩm du lịch đặc trưng của Hà Nội. 3.3.8. Quy hoạch, bảo tồn, duy tu và khai thác hiệu quả các tài nguyên du lịch nhân văn. 3.3.9. Tăng cường phối hợp liên ngành trong phát triển du lịch. KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN Bảng 1.1. Sự phát triển của du lịch quốc tế giai đoạn 1950 - 2000. Bảng 2.1. Một số yếu tố khí hậu cơ bản của Hà Nội. Bảng 2.2. Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người. Bảng 2.3. Tương quan về số lượng di tích đã được xếp hạng. Bảng 2.4. Một số đền chùa tiêu biểu ở Hà Nội. Bảng 2.5. Một số bảo tàng tiêu biểu ở Hà Nội. Bảng 2.6. Một số lễ hội tiêu biểu ở Hà Nội. Bảng 2.7. Số lượng buồng khách sạn trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 1994 - 2004. Bảng 2.8. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và Hà Nội giai đoạn 1990 - 2004. Bảng 2.9. Các thị trường khách du lịch quốc tế chính của Hà Nội. Bảng 2.10. Lượng khách Hà Nội đi du lịch nước ngoài giai đoạn 1990 - 2004. Bảng 2.11. Lượng khách du lịch nội địa đến Hà Nội giai đoạn 1990 - 2004. Bảng 2.12. Lượng khách du lịch Hà Nội đi du lịch trong nước 1990 - 2004. Bảng 2.13. Số lượng và trình độ đội ngũ cán bộ quản lý Sở du lịch Hà Nội. Bảng 2.14. Doanh thu của ngành du lịch Hà Nội giai đoạn 1990 - 2004. Bảng 2.15. Nộp ngân sách của ngành du lịch Hà Nội giai đoạn 1990 - 2004. Bảng 3.1. Tốc độ tăng trưởng lượng khách trung bình hàng năm tính theo khu vực giai đoạn 1990 - 2000. Bảng 3.2. Sự phát triển du lịch khu vực châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn 1950 - 2000. Bảng 3.3. Hiện trạng khách du lịch quốc tế đến các nước ASEAN giai đoạn 1995 - 2002. Bảng 3.4. Dự báo lượng khách du lịch trên địa bàn Hà Nội 2005 và 2010. DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ TRONG LUẬN VĂN Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức quản lý du lịch Việt Nam. Sơ đồ 2.2. Bộ máy tổ chức quản lý du lịch Hà Nội. MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI. Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá - xã hội của loài người và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới. Hoạt động du lịch đã đạt được hiệu quả kinh tế cao, được gọi là “ngành xuất khẩu vô hình”, “ngành công nghiệp không khói” đem lại nguồn ngoại tệ lớn. Tốc độ tăng trưởng của du lịch vượt xa nhịp độ tăng trưởng của nhiều ngành kinh tế (năm 1950 thu nhập ngoại tệ về du lịch quốc tế chỉ ở mức 2,1 tỷ USD, năm 1980 đạt 102 tỷ, năm 1991 đạt 260 tỷ USD. Năm 1999, ngành du lịch tạo ra 10,4% GDP toàn cầu, chiếm 11% tổng chi tiêu cho tiêu dùng và là ngành dẫn đầu về nộp thuế - trên 670 tỷ USD. Năm 2000, số lượng khách du lịch toàn cầu là 698 triệu lượt người, thu nhập 467 tỷ USD. Năm 2002: 716,6 triệu lượt, 474 tỷ USD. Dự tính năm 2010: 1.006 triệu lượt, 900 tỷ USD. Nguồn WTO). Ở nước ta, với quá trình đổi mới tư duy kinh tế, đặc biệt là đổi mới về đường lối đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế, ngành du lịch đã và đang được đặt đúng vị trí của nó trong cơ cấu kinh tế của cả nước. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “…phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển của du lịch khu vực. Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước…”. Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội khoá 11 cũng đã xác định: “phát triển du lịch là một nhiệm vụ chiến lược, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá thủ đô”.

Trang 1

1.1.2.2 Các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội

1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch một số địa phương

1.3.1 TP Hồ Chí Minh liên kết hợp tác phát triển du lịch

1.3.2 Hà Tây phát huy tiềm năng văn hoá lễ hội để phát triển du lịch

1.3.3 Liên kết phát triển du lịch Huế - Quảng Nam - Đà Nẵng CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DU LỊCH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN

2.1.2 Tiềm năng về tài nguyên du lịch nhân văn

2.1.3.1 Các di tích lịch sử - văn hoá - kiến trúc

Trang 2

2.1.3.2 Các lễ hội dân gian

2.1.3.3 Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học

2.1.7 Ưu thế về nguồn nhân lực

2.2 Đặc điểm phát triển du lịch Hà Nội trước năm 1990

2.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch Hà Nội

2.2.2 Kết quả, hạn chế

2.3 Thực trạng du lịch Hà Nội giai đoạn 1990 - 2004

2.3.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch

3.1 Xu hướng và triển vọng phát triển du lịch

3.1.1 Dự báo về ngành du lịch những năm đầu thế kỷ 21

3.1.2 Định hướng phát triển du lịch Việt Nam

3.2 Định hướng phát triển du lịch Hà Nội

3.2.1 Quan điểm cơ bản về phát triển ngành du lịch Hà Nội

3.2.2 Mục tiêu phát triển ngành du lịch Hà Nội

3.3 Những giải pháp cơ bản để phát triển ngành du lịch Hà Nội

3.3.1 Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với kinh doanh

du lịch trên địa bàn Hà Nội

3.3.2 Sắp xếp, kiện toàn hệ thống các doanh nghiệp du lịch 3.3.3 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch Hà Nội

Trang 3

3.4.4 Chú trọng tuyên truyền giáo dục du lịch và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch

3.3.5 Mở rộng thu hút nguồn vốn đầu tư cho phát triển du lịch 3.3.6 Hợp tác liên kết với các địa phương và hợp tác khu vực 3.3.7 Tập trung xây dựng một số sản phẩm du lịch đặc trưng của

Trang 4

DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Bảng 1.1 Sự phát triển của du lịch quốc tế giai đoạn 1950 -

2000

Bảng 2.1 Một số yếu tố khí hậu cơ bản của Hà Nội

Bảng 2.2 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người

Bảng 2.3 Tương quan về số lượng di tích đã được xếp hạng Bảng 2.4 Một số đền chùa tiêu biểu ở Hà Nội

Bảng 2.5 Một số bảo tàng tiêu biểu ở Hà Nội

Bảng 2.6 Một số lễ hội tiêu biểu ở Hà Nội

Bảng 2.7 Số lượng buồng khách sạn trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 1994 - 2004

Bảng 2.8 Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và Hà Nội giai đoạn 1990 - 2004

Bảng 2.9 Các thị trường khách du lịch quốc tế chính của Hà Nội

Bảng 2.10 Lượng khách Hà Nội đi du lịch nước ngoài giai đoạn

Trang 5

Bảng 3.4 Dự báo lượng khách du lịch trên địa bàn Hà Nội 2005

và 2010

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ TRONG LUẬN VĂN

Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức quản lý du lịch Việt Nam

Sơ đồ 2.2 Bộ máy tổ chức quản lý du lịch Hà Nội

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá - xã hội của loài người và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới

Hoạt động du lịch đã đạt được hiệu quả kinh tế cao, được gọi

là “ngành xuất khẩu vô hình”, “ngành công nghiệp không khói”

đem lại nguồn ngoại tệ lớn Tốc độ tăng trưởng của du lịch vượt

xa nhịp độ tăng trưởng của nhiều ngành kinh tế (năm 1950 thu nhập ngoại tệ về du lịch quốc tế chỉ ở mức 2,1 tỷ USD, năm

1980 đạt 102 tỷ, năm 1991 đạt 260 tỷ USD Năm 1999, ngành du lịch tạo ra 10,4% GDP toàn cầu, chiếm 11% tổng chi tiêu cho tiêu dùng và là ngành dẫn đầu về nộp thuế - trên 670 tỷ USD Năm 2000, số lượng khách du lịch toàn cầu là 698 triệu lượt người, thu nhập 467 tỷ USD Năm 2002: 716,6 triệu lượt, 474 tỷ USD Dự tính năm 2010: 1.006 triệu lượt, 900 tỷ USD Nguồn WTO)

Trang 6

Ở nước ta, với quá trình đổi mới tư duy kinh tế, đặc biệt là đổi mới về đường lối đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế, ngành du lịch đã và đang được đặt đúng vị trí của nó trong cơ cấu kinh tế của cả nước Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ

rõ: “…phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ

sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển của du lịch khu vực Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước…” Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội khoá

11 cũng đã xác định: “phát triển du lịch là một nhiệm vụ chiến lược, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế và sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá thủ đô”

Trong bối cảnh đó, Hà Nội với những lợi thế riêng của mình

đã trở thành một trung tâm du lịch lớn và du lịch thực sự đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển năng động các hoạt

động kinh tế - xã hội của thủ đô (doanh thu từ du lịch Hà Nội năm 1992 là 300 tỷ VND, nộp ngân sách 30 tỷ; năm 2000 các số liệu này tương ứng là 1.400 tỷ và 200 tỷ VND) Tuy nhiên, kết

quả trên đây của du lịch Hà Nội vẫn chưa tương xứng với những lợi thế và tiềm năng hiện có, chưa thực sự tương xứng với vai trò trọng tâm phát triển của vùng du lịch Bắc Bộ

Xuất phát từ thực tế đó, vấn đề đặt ra là phải tìm ra những giải pháp để đưa du lịch Hà Nội phát triển tương xứng với tiềm năng

to lớn của thủ đô Tác giả chọn đề tài: “Sự phát triển du lịch

Hà Nội trong thời kỳ đổi mới (1990 - 2004) - Thực trạng và giải pháp”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Trang 7

Nghiên cứu, phân tích thực trạng du lịch Hà Nội giai đoạn

1990 - 2004 và trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp chủ yếu để phát triển ngành du lịch Hà Nội trong thời gian tới

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển du lịch Hà Nội Hoạt động du lịch liên quan tới nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, do khuôn khổ hạn chế, luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu thực trạng du lịch Hà Nội trong giai đoạn 1990 - 2004, trên cơ sở đó

đề ra những giải pháp phát triển du lịch Hà Nội trong thời gian tới

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp logic và các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh

để làm rõ đối tượng nghiên cứu

5 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động du lịch Chương 2: Thực trạng du lịch Hà Nội giai đoạn 1990 - 2004

Chương 3: Phương hướng và những giải pháp cơ bản phát

triển ngành du lịch Hà Nội

Trang 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

1.1 KHÁI NIỆM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

1.1.1 Các quan niệm về du lịch

Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu

cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá - xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới

Thuật ngữ “du lịch” trở nên rất thông dụng Trong ngôn ngữ nhiều nước thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “tornos”

với ý nghĩa đi một vòng Thuật ngữ này đã được Latinh hoá

thành “tornus”, và sau đó xuất hiện trong tiếng Pháp: “tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi; còn “tourisme” là người

đi dạo chơi, trong tiếng Nga là “typuzm”, trong tiếng Anh từ

“tourism”, “tourist” được xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1.800 (Robert Lanquar Kinh tế du lịch NXB Thế giới Hà Nội

1993 Người dịch: Phạm Ngọc Uyển và Bùi Ngọc Chưởng)

Cho đến nay, tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng du lịch là một hoạt động của loài người, đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Cùng với tiến trình phát triển của nhân loại, hoạt động du lịch ngày càng hoàn thiện Du lịch không còn là hiện tượng lẻ loi, đặc quyền của cá nhân hay một nhóm người nào đó Ngày nay, nó mang tính phổ biến và tính nhận thức với mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người, củng cố hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc

Mặc dù có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ nhanh như vậy, song cho đến nay lại tồn tại nhiều cách

hiểu khác nhau về khái niệm “du lịch”, điều đó xuất phát từ

nhiều nguyên nhân: do góc độ nghiên cứu khác nhau, do sự khác biệt về ngôn ngữ, do tính chất phức tạp của hoạt động du lịch, do trình độ phát triển của hoạt động du lịch có sự chênh lệch theo thời gian, theo không gian… Nhìn chung, cùng với quá trình phát triển của trình độ khoa học kỹ thuật, cùng với tiến trình phát

Trang 9

triển của xã hội loài người, hoạt động du lịch ngày càng phát

triển toàn diện và theo đó nhận thức về khái niệm “du lịch” của

con người cũng ngày càng thống nhất và đầy đủ hơn

1.1.1.1 Quan niệm trước đây về du lịch

Khái niệm “du lịch” có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và

lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Từ xa xưa, loài người đã khởi hành với nhiều lý do khác nhau: vì lòng ham hiểu biết về thế giới xung quanh, vì lòng yêu thiên nhiên… và du lịch mới chỉ là một hiện tượng tự phát của các cá nhân

Mầm mống đầu tiên của hoạt động kinh doanh du lịch bắt đầu

từ cuộc phân chia lao động xã hội lần thứ hai, lúc ngành thủ công nghiệp xuất hiện và tách ra khỏi ngành nông nghiệp truyền thống Và cho đến giai đoạn phân chia lao động lần thứ ba của

xã hội loài người, khi ngành thương nghiệp xuất hiện vào thời chiếm hữu nô lệ thì hoạt động kinh doanh du lịch trở nên rõ nét hơn

Vào đầu thế kỷ 17, đầu máy hơi nước được sử dụng rộng rãi

đã tạo nên một cuộc cách mạng trong lĩnh vực giao thông, và đây chính là nguyên nhân làm cho du lịch phát triển mạnh mẽ - các cuộc hành trình của khách du lịch trở nên dễ dàng hơn Đến thế

kỷ 19, hoạt động du lịch cũng chủ yếu mới mang tính tự phát, khách du lịch vẫn còn tự tổ chức và đảm bảo các nhu cầu của mình trong các chuyến đi Trong suốt quá trình lịch sử lâu dài như vậy, do nhiều lý do: trình độ phát triển của hoạt động du lịch, do sự nhìn nhận của xã hội về du lịch, do sự đóng góp của ngành du lịch vào nền kinh tế xã hội còn khiêm tốn… nên nhận thức về du lịch còn chưa đầy đủ Trong thực tế thì du khách hầu hết là những người hành hương, thương nhân, các văn nhân nghệ

sĩ, tầng lớp quan lại quý tộc… Người ta quan niệm du lịch là một hoạt động mang tính văn hoá, nhằm thoả mãn nhu cầu giải trí và những nhu cầu hiểu biết của con người Du lịch không được coi

là hoạt động kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít được chú trọng đầu tư để phát triển

Trang 10

Mãi cho đến tận khi du lịch trở thành hiện tượng đại chúng, nhu cầu du lịch trở nên phổ biến hơn thì bắt đầu nảy sinh hàng loạt các vấn đề về việc đảm bảo chỗ ăn, chỗ ngủ, các sinh hoạt khác… cho khách du lịch trong thời gian họ tạm thời sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ, dẫn đến việc xuất hiện các nghề mới phục vụ nhu cầu khách du lịch như kinh doanh khách sạn, nhà hàng, hướng dẫn du lịch… Hàng loạt các cơ sở kinh doanh

du lịch cùng các tổ chức du lịch ra đời Và cho đến giữa thế kỷ

20, sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, tạo điều kiện

ổn định về môi trường kinh tế chính trị, hoạt động du lịch mới thực sự trở thành một ngành kinh tế và có vị trí ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội loài người

Du lịch là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nó không ngừng được mở rộng và ngày càng phong phú Trong bối cảnh đó, để đảm bảo sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch thì việc xây dựng một quan niệm đúng đắn về du lịch, vừa mang tính chất bao quát, vừa mang tính chất lý luận và thực tiễn là hết sức cần thiết

1.1.1 2 Quan niệm khoa học về du lịch

Trong lịch sử phát triển lý thuyết về khoa học du lịch, đã tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau, chúng ta sẽ xem xét một số khái niệm tiêu biểu về du lịch

Năm 1811, tại Anh đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về du lịch:

“Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” Định nghĩa này

xem xét hoạt động du lịch dưới góc độ động cơ, và chưa phản ánh hết các hoạt động du lịch bởi giải trí chỉ là một trong những động cơ đi du lịch

“Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không cư trú thường xuyên”(Glusman,

Thuỵ Sĩ, 1930) Du lịch gắn với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm hồi phục, nâng cao sức khoẻ và khả năng lao động của con người, nhưng trước hết liên quan tới sự di chuyển của họ

Trang 11

Với các cách tiếp cận trên, bản chất của du lịch chủ yếu mới chỉ được giải thích dưới góc độ là một hiện tượng, một hoạt động thuộc nhu cầu của khách du lịch

Theo GS TS Hunziker và GS TS Krapf, Thuỵ Sĩ: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” Định nghĩa này đã thành công

trong việc mở rộng và bao quát đầy đủ hơn hiện tượng du lịch, tuy nhiên vẫn có hạn chế khi chưa phản ánh hết các hoạt động du

lịch (VD: hoạt động trung gian, hoạt động sản xuất sản phẩm…) Định nghĩa này được Đại hội lần thứ 5 của Hiệp hội

quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học du lịch (IAEST - International Association of Scientific Experts in Tourism) chấp nhận làm cơ sở cho môn khoa học du lịch nhưng cần phải tiếp tục hoàn thiện

“Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích chọn trước và một bên là những công cụ làm thoả mãn các nhu cầu của họ” (Từ điển bách khoa quốc tế về du lịch - Le Dictionnaire international du tourisme, Viện hàn lâm khoa học quốc tế về du lịch) Định nghĩa này chỉ xem xét chung hiện tượng du lịch,

không phản ánh nó như một hoạt động kinh tế

Định nghĩa của Đại học kinh tế Praha, Cộng hoà Séc: “Du lịch

là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng thường kỳ”

Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, 1963 với mục

đích quốc tế hoá đã đưa ra định nghĩa sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn

từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục

Trang 12

đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Định nghĩa của Michael Coltman, Mỹ: “Du lịch là sự kết hợp

và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, các nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương” (Tiếp thị du lịch, Trung tâm dịch vụ đầu tư và ứng dụng khoa học kinh tế, TP Hồ Chí Minh 1991)

Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa,

Canada 06/1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) , trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm

vi vùng tới thăm” Định nghĩa này xem xét hoạt động du lịch từ

góc độ khách du lịch, do vậy chưa phản ánh đầy đủ nội dung của hoạt động du lịch

Hội nghị bộ trưởng du lịch thế giới (OSAKA, Nhật Bản ngày

03&04/11/1994) đã khẳng định: “Du lịch là nguồn lớn nhất tạo

ra GDP và việc làm của thế giới chiếm tới 1/10 mỗi loại, đồng thời đầu tư cho du lịch và các khoản thuế liên quan tới du lịch tương ứng cũng tăng cao Nhưng sự gia tăng này cùng với các hiệu quả kinh tế khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc và như vậy du lịch sẽ là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21” (Tuyên bố du lịch OSAKA,

Trang 13

du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan nhà nước có liên quan đến

du lịch” Định nghĩa này xem xét du lịch như là một hoạt động,

xem xét du lịch thông qua những hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi

Định nghĩa của Khoa Du lịch và Khách sạn, ĐHKTQD Hà Nội đã đưa ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và

thực tiễn của hoạt động du lịch thế giới và tại Việt Nam: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, ăn uống, lưu trú, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” Định nghĩa này đã phản ánh đầy đủ nội dung và

bản chất của hoạt động du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ

Qua các định nghĩa trên, có thể thấy được sự biến đổi trong nhận thức về nội dung thuật ngữ du lịch, một số quan điểm cho rằng du lịch là một hiện tượng xã hội, số khác lại cho rằng đây phải là một hoạt động kinh tế, nhiều học giả lại lồng ghép cả hai nội dung trên, tức du lịch là tổng hoà các mối quan hệ kinh tế xã hội phát sinh từ hoạt động di chuyển

Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm kinh tế, lại vừa có đặc của ngành văn hoá - xã hội

Ngày nay, hoạt động du lịch đã được nhìn nhận như là ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển nhanh Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước không những đem lại lợi ích kinh tế,

mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội… và ngành du lịch

đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội

Trang 14

Bảng 1.1: Sự phát triển của du lịch quốc tế giai đoạn 1950 -

Doanh thu (triệu USD) Tốc độ tăng trưởng TB

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, quá trình phục vụ nhu

cầu của khách du lịch có sự tham gia của nhiều ngành khác nhau,

do vậy sự hình thành và phát triển du lịch chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tố, khách quan lẫn chủ quan, trực tiếp hay gián tiếp Chúng ta sẽ xem xét một số nhân tố chủ yếu:

1.1.2.1 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hoá lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch

Tài nguyên du lịch có thể chia làm hai nhóm:

Trang 15

- Tài nguyên du lịch tự nhiên: là các đối tượng và hiện tượng

trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta Tài nguyên du lịch tự nhiên chính là môi trường sống của hoạt động du lịch Các thành phần của tự nhiên có ý nghĩa nhất đối với hoạt động

du lịch bao gồm:

+ Địa hình: có các dạng địa hình cơ bản: đồng bằng, đồi núi, karst, địa hình ven bờ Mọi hoạt động sống của con người trên một lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình, với hoạt động du lịch điều quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình Sự tiếp nhận hình dạng bên ngoài của tự nhiên gọi là phong cảnh Các dấu hiệu đặc biệt bên ngoài của địa hình có sức hấp dẫn khai thác cho du lịch bởi khách du lịch thường ưa thích những nơi có phong cảnh đẹp và đa dạng Những địa hình có giá trị cao về mặt

du lịch là địa hình vùng núi, địa hình karst và địa hình ven bờ + Khí hậu: khí hậu là chỉ tiêu có liên quan trực tiếp tới trạng thái tâm lý - thể lực của con người, khí hậu càng ôn hoà thì chất lượng của khu vực dành cho du lịch và nghỉ ngơi càng tốt lên Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng tới việc tổ chức các hoạt động tham quan du lịch và chất lượng các dịch vụ du lịch Tính mùa

vụ trong du lịch chịu tác động chủ yếu của nhân tố khí hậu Nhiệt độ trung bình ngày đêm, biên độ dao động nhiệt, độ ẩm, tốc độ gió… tác động tới sức khoẻ con người, và đây cũng là các tiêu chí mà khách du lịch quốc tế quan tâm

+ Nguồn nước: tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm Tài nguyên nước có ý nghĩa trên nhiều mặt khác nhau đối với hoạt động du lịch Nước cần cho sinh hoạt hàng ngày của du khách, một số nguồn nước đặc biệt (nước khoáng, nước biển) có giá trị an dưỡng và chữa bệnh, tài nguyên nước cũng là môi trường để tổ chức các hoạt động du lịch thể thao

nước (câu cá, lặn biển, đua thuyền…), ngoài ra tài nguyên nước

có tác dụng ảnh hưởng tốt tới những thành phần khác của môi trường sống

+ Động, thực vật: nguồn tài nguyên động - thực vật cùng với quang cảnh sống động, hài hoà của nó là môi trường hấp dẫn để

tổ chức các hoạt động tham quan du lịch, du lịch săn bắn thể

Trang 16

thao và du lịch nghiên cứu khoa học Trong bối cảnh nhịp sống công nghiệp đơn điệu và căng thẳng thì nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch trong môi trường tự nhiên ngày càng cấp thiết hơn

- Tài nguyên du lịch nhân văn: là các đối tượng và hiện tượng

được tạo ra một cách nhân tạo, bao gồm:

+ Các di tích lịch sử - văn hoá - kiến trúc: là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị lịch

sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hoá khác Chúng là tài sản văn hoá quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và của cả nhân loại Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hoá của mỗi nước

Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia Những di tích này không chỉ chứa đựng giá trị văn hoá vật chất, mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hoá xã hội, văn hoá tinh thần

+ Các lễ hội: lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được Lễ hội

thu hút khách du lịch trước hết là bầu không khí: “lễ hội đã tạo nên tấm thảm muôn màu Mọi sự ở đó đều đan quyện vào nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ

và bản năng” (tạp chí Người đưa tin UNESCO, 12 - 1989) Lễ

hội trở thành dịp con người hành hương về với cội rễ, bản thể của mình Ngoài ra, trong lễ hội khách du lịch còn quan tâm tới nhiều yếu tố khác: phần nghi lễ với các nghi thức nghiêm túc, trọng thể tạo thành một yếu tố văn hoá thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ với toàn thể cộng đồng người đi hội; phần hội diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của văn hoá dân tộc, của tâm lý cộng đồng với các trò chơi, các món ăn đặc sản, các loại

Trang 17

hình nghệ thuật, các nghề thủ công… Khách du lịch tham dự các

lễ hội là gắn chặt vào kết cấu của đời sống quốc gia và chính tại đây tình cảm cộng đồng, sự hiểu biết về dân tộc được bộc lộ mạnh mẽ

+ Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học: mỗi dân tộc đều có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa đối với du khách là các tập tục lạ về

cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc cổ, trang phục dân tộc…Khách mong muốn được gặp gỡ, được quan sát, được đối thoại để hấp thụ các nguồn dinh dưỡng của các nền văn hoá khác, để nuôi dưỡng lại các nền văn hoá ấy, đồng thời cũng là để không ngừng tìm kiếm bản sắc dân tộc mình

+ Các đối tượng văn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác:

đó là các trường đại học, các viện nghiên cứu, các thư viện nổi tiếng, các triển lãm nghệ thuật, các cuộc thi đấu thể thao, các liên hoan âm nhạc, các hội nghị quốc tế… Chúng thu hút khách với mục đích tham quan, nghiên cứu, để thưởng thức các giá trị văn hoá của đất nước mà họ đến thăm một cách sống động

Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt Quy mô, tính chất, sức hấp dẫn và tính mùa vụ của hoạt động

du lịch trên một vùng lãnh thổ được xác định trên cơ sở khối lượng, tính chất và mức độ giá trị của nguồn tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành cấu trúc và chuyên môn hoá các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch

1.1.2.2 Các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội

- Dân cư và lao động: Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội, và đây cũng chính là nguồn nhân lực lao động trong

du lịch và các lĩnh vực hoạt động sản xuất và dịch vụ gắn liền trực tiếp với kinh tế du lịch Đồng thời, cũng chính họ lại là

Trang 18

nguồn khách du lịch Nhu cầu du lịch của con người tuỳ thuộc vào các đặc điểm xã hội, nhân khẩu

- Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế: Sự phát triển nền sản xuất xã hội có tác dụng trước hết làm xuất hiện nhu cầu du lịch và mở rộng những nhu cầu du lịch, cũng như làm ra đời hoạt động du lịch, và sau đó chi phối sự phát triển của hoạt động du lịch Trong nền sản xuất xã hội nói chung, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và thông tin liên lạc có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch

- Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch: đó là nhu cầu về hồi phục sức khoẻ

và khả năng lao động, về sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần của con người Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch có tính chất kinh

tế - xã hội là sản phẩm của sự phát triển xã hội Nhu cầu du lịch quyết định cấu trúc, tính chất, tốc độ phát triển, trình độ phát triển của ngành du lịch

- Cách mạng khoa học kỹ thuật: tác động tới hoạt động du lịch trên nhiều góc độ Trước hết, cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghiệp hoá và tự động hoá quá trình sản xuất liên quan chặt chẽ với nhau, và chúng là những nhân tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu du lịch Khi khoa học công nghệ hiện đại được sử dụng, lao động chân tay giảm xuống với tốc độ nhanh chóng, nhưng cường

độ và sự căng thẳng trong lao động lại tăng lên tương ứng và đòi hỏi con người cần phải được phục hồi sức khỏe thông qua con đường nghỉ ngơi du lịch Dưới một góc độ khác, cách mạng khoa học kỹ thuật đã đem lại năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao, là tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, tăng thêm khả năng thực tế tham gia hoạt động nghỉ ngơi du lịch, hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch

- Quá trình đô thị hoá: là nhân tố phát sinh góp phần đẩy mạnh nhu cầu du lịch Đô thị hoá là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, là một xu thế phát triển tất yếu và có những đóng góp

to lớn cho việc cải thiện điều kiện sống về phương diện vật chất, văn hoá… Tuy nhiên, mặt trái của quá trình này là làm biến đổi

Trang 19

các điều kiện sống tự nhiên, tách con người ra khỏi môi trường

tự nhiên, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người và việc thông qua các chuyến du lịch để trở về với thiên nhiên là một xu thế tất yếu

- Điều kiện sống: du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống của con người đạt tới trình độ nhất định, trong đó mức thu nhập của người dân là yếu tố then chốt Cùng với việc tăng thu nhập thực

tế, các điều kiện sống khác được cải thiện thì quá trình nghỉ ngơi giải trí sẽ tăng lên tương ứng

- Thời gian rỗi: Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, trong đó diễn ra các hoạt động nhằm phục hồi và phát triển thể lực, trí lực, tinh thần của con người Quỹ thời gian rỗi của mỗi người sẽ là giới hạn độ dài về mặt thời gian dành cho các chuyến du lịch của chính họ Thời gian rỗi cuối tuần của người lao động có ý nghĩa chủ yếu với loại hình du lịch cuối tuần với các tuyến điểm lân cận thành phố, trong khi các kỳ nghỉ khác trong năm sẽ được dành cho các chuyến du lịch dài ngày Ngày nay, người lao động có tổng số ngày nghỉ chiếm khoảng 1/3 thời gian trong năm, đây là nhân tố rất thuận lợi để phát triển du lịch

- Các nhân tố chính trị: du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hoà bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hoà bình Thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động trong hoà bình và hữu nghị Và đó cũng chính là lý do mà nhân loại đã chọn khẩu

hiệu cho “năm du lịch quốc tế” vào năm 1967 là “Du lịch là giấy thông hành của hoà bình”

1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

- Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh du lịch Bản chất của du lịch là di chuyển, du lịch gắn với

sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Do vậy nó phụ thuộc vào mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông Hệ thống giao thông thuận tiện, nhanh chóng sẽ làm cho các hành trình trở nên dễ dàng hơn, thời gian đi lại sẽ giảm bớt,

Trang 20

thời gian nghỉ ngơi và du lịch được tăng lên Thông tin liên lạc là điều kiện cần thiết để đảm bảo thông tin, trong du lịch nhu cầu trao đổi thông tin bao gồm các dòng chủ yếu: trao đổi giữa khách

du lịch và người thân, với đối tác, trao đổi giữa khách du lịch với các cơ sở kinh doanh du lịch và trao đổi lẫn nhau giữa các cơ sở kinh doanh du lịch Trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn phải

đề cập đến hệ thống điện, nước phục vụ trực tiếp cho nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của khách

Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch Ngày nay, sự hoàn thiện của cơ

sở hạ tầng còn được coi là một hướng hoàn thiện chất lượng phục vụ du lịch, là phương thức cạnh tranh giữa các điểm du lịch, giữa các quốc gia

- Cơ sở vật chất kỹ thuật: đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách Sự đa dạng, phong phú trong nhu cầu của du khách đòi hỏi cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần khác nhau: các cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống; các cơ sở thể thao, giải trí; các cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung… Chúng tồn tại một cách độc lập tương đối nhưng lại có mối quan

hệ khăng khít: tính đồng bộ của hệ thống phục vụ du lịch góp phần nâng cao tính đồng bộ của sản phẩm du lịch, tính hấp dẫn của điểm du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và tài nguyên

du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự kết hợp hài hoà giữa chúng giúp cho các cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động có hiệu quả, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Việc phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

1.1.2.4 Nguồn nhân lực

Con người là nhân tố trung tâm và là mục đích của nền sản

xuất xã hội Con người giữ vai trò quyết định đối với sản xuất Trong điều kiện ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển, vị trí trung tâm của con người càng được nhấn mạnh

Trang 21

Các yếu tố của nguồn nhân lực có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng sản phẩm và năng suất lao động là số lượng, chất lượng và

cơ cấu nguồn nhân lực

Du lịch là một lĩnh vực hoạt động cung cấp dịch vụ có nhiều đặc thù Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể Thành phần chính của sản phẩm du lịch là

dịch vụ (thường chiếm 80% - 90% về mặt giá trị), lao động trực

tiếp chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá trị của sản phẩm du lịch Sản phẩm còn có một đặc điểm khác là quá trình sản xuất và tiêu dùng trùng khít nhau về mặt không gian và thời gian, chất lượng phục vụ du lịch không chỉ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm du lịch mà còn phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách du lịch, và sự đánh giá của du khách luôn phụ thuộc rất lớn vào trạng thái tâm

lý của họ khi tiếp xúc với nhân viên phục vụ Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố quyết định chất lượng sản phẩm, quyết định chất lượng phục vụ trong du lịch Nguồn nhân lực trong du lịch cũng quyết định hiệu quả khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, tài nguyên du lịch

1.2 VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

1.2.1 Du lịch và kinh tế

Hội nghị bộ trưởng du lịch thế giới (OSAKA, Nhật Bản ngày

03&04/11/1994) đã khẳng định: “Du lịch là nguồn lớn nhất tạo

ra GDP và việc làm của thế giới chiếm tới 1/10 mỗi loại, đồng thời đầu tư cho du lịch và các khoản thuế liên quan tới du lịch tương ứng cũng tăng cao Nhưng sự gia tăng này cùng với các hiệu quả kinh tế khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc và như vậy du lịch sẽ là đầu tàu kéo nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21” (Tuyên bố du lịch OSAKA,

điểm 2, phần I)

Du lịch được đánh giá rất khác nhau giữa các nước, nhưng hầu hết các quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng của du lịch trong phát triển kinh tế, và theo thời gian thì những nhận thức đó ngày càng được khẳng định và nhìn nhận đầy đủ hơn Trước hết,

Trang 22

du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân, làm tăng thêm GDP

Đối với hoạt động du lịch nội địa, du lịch tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập, tác động tích cực tới việc cân đối cấu trúc thu nhập và chi tiêu của nhân dân giữa các vùng Đối với hoạt động du lịch quốc tế thì du lịch còn được coi là nguồn thu ngoại tệ quan trọng có tác dụng cải thiện cán cân

thanh toán quốc tế Đây cũng là hoạt động “xuất khẩu tại chỗ”

có hiệu quả cao nhất: được trao đổi thông qua con đường du lịch, các hàng hoá được xuất khẩu mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế, không phải mất cước phí vận chuyển, không phải mất chi phí lưu kho, chi phí bao bì … Du lịch quốc tế

không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ”, mà còn là ngành “xuất khẩu vô hình”, đó là các cảnh quan thiên nhiên, ánh nắng mặt

trời vùng nhiệt đới, các giá trị văn hoá truyền thống độc đáo …

và các giá trị này không hề bị mất đi, ngược lại qua mỗi lần bán thì giá trị và uy tín của nó còn tăng lên Du lịch quốc tế còn là kênh thu hút đầu tư nước ngoài, thông qua các chuyến du lịch các nhà đầu tư sẽ tìm kiếm cơ hội làm ăn, đồng thời bản thân du lịch cũng là lĩnh vực thu hút đầu tư đầy hấp dẫn Du lịch quốc tế góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt chính sự phát triển của du lịch đã là động lực chính trong việc mở rộng các tuyến giao thông quốc tế Nhiều quốc gia

đã chọn du lịch là một hướng mở cửa nền kinh tế: Thái Lan, Malaysia, Singapore Du lịch quốc tế cũng chính là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho các nước chủ nhà

Du lịch là một ngành kinh tế đem lại tỷ suất lợi nhuận cao bởi vốn đầu tư vào du lịch tương đối ít so với các ngành công nghiệp nặng mà khả năng thu hồi vốn lại nhanh, kỹ thuật không phức tạp Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, trong cơ cấu nền kinh

tế hiện đại thì giá trị các ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩm xã hội do vậy phát triển du lịch là hướng đi chiến lược nhằm tăng tỷ trọng khối dịch vụ, góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế theo hướng hiện đại hoá cơ cấu nền kinh tế quốc dân, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế

Trang 23

cao Phát triển du lịch còn góp phần phát triển cân đối cơ cấu vùng của nền kinh tế bởi du lịch đòi hỏi phải có sự thay đổi trên nhiều mặt ở những vùng có tài nguyên du lịch, hầu hết đó đều là các vùng sâu, vùng xa Phát triển du lịch còn là nhân tố thúc đẩy

sự phát triển các ngành kinh tế khác như giao thông, xây dựng, ngân hàng, bưu điện và hoàn thiện cơ sở hạ tầng của xã hội Tuy nhiên, việc phát triển du lịch quá tải sẽ tạo ra sự mất cân đối trong cơ cấu nền kinh tế và tạo ra sự phụ thuộc của nền kinh tế vào ngành dịch vụ du lịch, sự phát triển đó của nền kinh tế sẽ thiếu tính ổn định và bền vững

1.2.2 Du lịch và chính trị

Du lịch là cầu nối hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới, thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động trong hoà bình và hữu nghị Hoạt động du lịch giúp cho du khách hiểu biết hơn về đất nước, con người, lịch sử truyền thống dân tộc, về các mặt kinh

tế, văn hoá, xã hội của đất nước mình đến thăm Trên cơ sở đó giúp cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc vì hoà bình và sự phồn thịnh của nhân loại

1.2.3 Du lịch và xã hội

Đối với xã hội, du lịch trước hết có vai trò giữ gìn, phục hồi

sức khoẻ và khả năng lao động cho người dân

Khi đi du lịch mọi người có điều kiện gặp gỡ, gần gũi nhau hơn và qua đó mọi người hiểu nhau hơn, tăng cường tình đoàn kết cộng đồng

Cũng thông qua những chuyến du lịch, khi được tiếp xúc với các danh lam thắng cảnh, các giá trị văn hoá lịch sử, con người thêm hiểu và yêu quê hương đất nước Du lịch có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước

Du lịch cũng còn là một phương thức nâng cao dân trí, “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, qua mỗi chuyến du lịch, du

khách lại tăng thêm hiểu biết và vốn sống, làm cho tinh thần của con người trở nên phong phú hơn

Trang 24

Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân Theo thống kê năm 2000 trên phạm vi toàn thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm quan trọng: lao động du lịch chiếm 10,7% tổng số lao động toàn cầu, đến năm 2005 cứ 8 lao động thì có 1 người làm trong ngành du lịch Theo dự báo của WTO, năm

2010 ngành du lịch sẽ tạo thêm khoảng 150 triệu việc làm

Du lịch góp phần làm giảm sự tập trung căng thẳng ở những trung tâm dân cư: các tài nguyên thiên nhiên thường nằm ở những vùng xa xôi hẻo lánh, việc khai thác các tài nguyên này đòi hỏi phải có sự đầu tư về mọi mặt giao thông, bưu điện, văn hoá, xã hội … và làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở những vùng đó

Du lịch còn là phương tiện quảng cáo hữu hiệu cho các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội …

Du lịch đánh thức các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống bởi các món đồ thủ công mỹ nghệ luôn là những mặt hàng lưu niệm hấp dẫn

1.2.4 Du lịch và văn hoá

WTO đã lấy chủ đề của năm du lịch đầu tiên của thiên niên kỷ

là: “Du lịch - một công cụ hữu hiệu của giao lưu văn hoá giữa các nền văn minh” Chủ đề năm du lịch thế giới năm 2001 đã

nhấn mạnh tác dụng văn hoá xã hội của du lịch, chỉ ra mối quan

hệ giữa du lịch với văn hoá, làm cho toàn thế giới nhận thức đúng đắn hơn về văn hoá du lịch và tác dụng của nó để thúc đẩy ngành du lịch phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững

Mỗi dân tộc đều có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định Những yêú tố văn hoá truyền thống đó được tích tụ từ lâu đời

Du lịch là một hình thức quan trọng để các dân tộc giao lưu văn hoá với nhau Khách mong muốn được gặp gỡ, được quan sát, được đối thoại để hấp thụ các nguồn dinh dưỡng của các nền văn hoá khác, để nuôi dưỡng lại các nền văn hoá ấy, đồng thời cũng

là để không ngừng tìm kiếm bản sắc dân tộc mình Thông qua

Trang 25

các hành trình du lịch, những giá trị văn hoá độc đáo của mỗi dân tộc sẽ được tôn vinh, những yếu tố văn minh trong nền văn hoá nhân loại càng kích thích những nét độc đáo của văn hoá dân tộc, sự giao thoa đó làm cho nền văn hoá nhân loại cũng như nền văn hoá của mỗi dân tộc ngày càng phong phú, đa dạng hơn

Du lịch cũng là hoạt động góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, nguồn thu từ du lịch văn hoá sẽ được tái đầu tư để phát triển các làng nghề, để tôn tạo các di tích

1.2.5 Du lịch và môi trường

Việc tiếp xúc, tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận một cách trực quan sự hùng vĩ, trong lành, tươi mát của các cảnh quan tự nhiên có ý nghĩa to lớn đối với du khách Nó tạo điều kiện cho họ hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của thiên nhiên đối với đời sống con người Điều đó có nghĩa là bằng thực tiễn phong phú, du lịch sẽ góp phần rất tích cực vào sự nghiệp giáo dục môi trường Nhu cầu du lịch nghỉ ngơi tại những nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên đã kích thích việc tôn tạo, bảo vệ môi trường Với nhiều quốc gia, sự phát triển du lịch là

cơ hội tốt để cải thiện tiêu chuẩn sống của dân cư thông qua việc cải thiện hệ thống cung cấp nước, nguồn năng lượng, những điều kiện vệ sinh không phù hợp, những hiểm hoạ bệnh tật… Nguồn thu từ du lịch cũng là nguồn vốn quan trọng để cải thiện và bảo

vệ môi trường Xuất phát từ những cơ sở trên, nhằm mục đích kết hợp giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường tự nhiên, theo sáng kiến của WTO, Liên hiệp quốc đã chọn năm 2002 là

“Năm quốc tế du lịch sinh thái”

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.3.1 Thành phố Hồ Chí Minh liên kết hợp tác phát triển du lịch

Thành phố Hồ Chí Minh có ưu thế về vị trí địa lý: là cửa ngõ quốc tế đón khách du lịch đường hàng không, đường biển và là đầu mối giao thông đường bộ và trung chuyển khách du lịch của

Trang 26

phía Nam: từ Đồng bằng sông Cửu Long đi các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và ngược lại

Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ

1995 - 2010 đã xác định Thành phố Hồ Chí Minh là Trung tâm

du lịch của vùng du lịch số 3 Do đó sự liên kết phối hợp với ngành du lịch các địa phương trong vùng sẽ đem lại lợi ích nhiều mặt cho mỗi bên: thế mạnh của Thành phố sẽ hỗ trợ công tác tuyên truyền, xúc tiến quảng bá và đem khách du lịch đến các địa phương; đồng thời, tài nguyên du lịch của mỗi địa phương sẽ góp phần làm phong phú các sản phẩm du lịch liên kết Thành phố với các tỉnh

Sự hợp tác liên kết phát triển du lịch được xác định theo các nội dung chủ yếu sau:

- Thứ nhất: Phối hợp xây dựng và khai thác các tour tuyến

Trong những năm qua, sự phối hợp phát triển du lịch giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh thành trong cả nước đã được thể hiện cụ thể nhất là các tuyến du lịch đến các địa phương do Sở Du lịch phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành của Thành phố khảo sát, thiết kế hoặc do chính các doanh nghiệp liên kết với các địa phương để đầu tư nghiên cứu, xây dựng đưa vào phục vụ khách du lịch

Ngoài các tuyến điểm truyền thống tại Vũng Tàu, Cần Thơ, Nha Trang, Đà Lạt… nhiều tuyến, điểm du lịch mới được thiết

kế trong vòng chục năm trở lại đây đang trở thành các sản phẩm hấp dẫn và được ưa thích: Hòn Rơm - Mũi Né (Phan Thiết); Nam Cát Tiên (Đồng Nai); Tây Nguyên; đường mòn Hồ Chí Minh và thăm chiến trường xưa; du lịch sông nước trên sông Tiền, Sông Hậu; nghỉ dưỡng tại Phú Quốc, Côn Đảo… và đặc biệt có tuyến được mở do sự phối hợp giữa nhiều quốc gia như tuyến du lịch đường thuỷ Thành phố Hồ Chí Minh - Phnôm Pênh

- Siêm Riệp, tuyến du lịch tàu biển Vũng Tàu - Thành phố Hồ Chí Minh - Côn Đảo - Thái Lan Sự phối hợp xây dựng và khai thác các tour tuyến đã làm đa dạng, phong phú thêm sản phẩm

du lịch và qua đó thúc đẩy ngành du lịch Thành phố và các tỉnh trong vùng ngày càng phát triển

Trang 27

- Thứ hai: Liên kết hợp tác trong lĩnh vực đầu tư

Trên lĩnh vực này, Tổng công ty du lịch Sài Gòn đã có vai trò rất lớn trong việc hợp tác với các địa phương Với thế mạnh là doanh nghiệp hàng đầu của cả nước, có tiềm lực cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ công nhân viên và nguồn tài chính dồi dào, đến nay Saigon Tourist đã liên doanh với hơn 10 tỉnh thành trong cả nước để xây dựng các khách sạn lớn và các khu du lịch tại các

địa phương (Khu du lịch Bình Châu tại Bà Rịa - Vũng Tàu, khu

du lịch Sài Gòn - Phú Quốc tại Phú Quốc, khu du lịch Sài Gòn - Mũi Né tại Phan Thiết, khu du lịch Suối Tiên tại Lâm Đồng…)

Tổng số vốn đầu tư của Saigon Tourist lên tới trên 1000 tỷ đồng, thu hút hàng ngàn lao động tại các địa phương, doanh thu năm

2000 đạt hơn 76 tỷ đồng, nộp ngân sách 5 tỷ 675 triệu đồng Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân hoạt động kinh doanh du lịch của Thành phố cũng đầu tư xây dựng tại một

số địa phương giàu tiềm năng như: Lâm Đồng, Phan Thiết, Nha Trang, Phan Rang… Các hoạt động đầu tư này đã tạo cơ hội cung cấp nhiều việc làm, nâng cao trình độ, tay nghề của đội ngũ nhân viên du lịch, đóng góp ngân sách và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trong các khu vực tư nhân và Nhà nước tại các địa phương

- Thứ ba: đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Trên lĩnh vực này, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có khả năng cung cấp đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh phía Nam Ngoài một số trường đại học, cao đẳng có khoa đào tạo về du lịch, Thành phố còn có 2 trường đào tạo nghề về du lịch cung cấp nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp du lịch của Thành phố và các tỉnh bạn Sở du lịch Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã hợp tác với các cơ sở đào tạo, với các tổ chức trong nước và quốc tế để

mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên ngành du lịch Thành phố và các tỉnh thành phía Nam

- Thứ tư: Hoạt động tuyên truyền quảng bá

Các liên hoan du lịch “Gặp gỡ Đất phương Nam”, “Hương sắc miền Nam”, “Lễ hội trái cây Nam Bộ”… là nơi gặp gỡ giao

lưu giữa các doanh nghiệp du lịch Thành phố với ngành du lịch

Trang 28

và các doanh nghiệp du lịch các tỉnh nhằm giới thiệu khả năng phong phú của mỗi địa phương, trao đổi kinh nghiệm học tập lẫn nhau và tạo điều kiện, cơ hội cho các doanh nghiệp giao lưu, tiếp xúc liên kết mở rộng kinh doanh, thu hút khách du lịch đến địa phương mình

Song song với các sự kiện du lịch được tổ chức tại Thành phố

Hồ Chí Minh, trong quan hệ hợp tác phát triển du lịch với các địa phương, ngành du lịch Thành phố đã tham gia các sự kiện du lịch, các lễ hội văn hoá lớn của các tỉnh thành trong khu vực như: lễ hội Katê (Ninh Thuận), lễ hội đua voi Buôn Đôn (Đaklak), đua ghe ngho (Sóc Trăng) … để cùng quảng bá du lịch

Những thuận lợi mang lại từ sự liên kết phối hợp phát triển du lịch của Thành phố và các tỉnh thành là không thể phủ nhận được

và là động lực thúc đẩy phát triển du lịch chung của toàn vùng Tuy nhiên công tác tuyên truyền quảng bá các sự kiện du lịch giữa Thành phố với các địa phương thời gian qua chưa được tổ chức chặt chẽ, và thiếu thông tin cung cấp từ Ban tổ chức của các địa phương làm cho việc xây dựng, chào bán tour của các doanh nghiệp du lịch bị hạn chế Hoạt động du lịch tại các điểm

du lịch nổi tiếng vào mùa cao điểm thường quá tải, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, nâng giá tuỳ tiện và cắt giảm dịch vụ, chất lượng phục vụ kém Chưa có sự liên kết hợp tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch lâu dài và quy mô lớn giữa Thành phố với các địa phương nhằm khai thác thế mạnh hệ thống cơ sở đào tạo và đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm Hoạt động liên kết đầu tư của du lịch Thành phố với các địa phương còn mang tính tự phát hoặc riêng lẻ vì mục đích kinh doanh của từng doanh nghiệp, chưa có sự phối hợp đồng bộ trên quy mô lớn của toàn ngành như: liên kết phối hợp đầu tư chung, hoặc phân vùng đầu tư tại các địa phương để giao cho các đơn vị kinh doanh du lịch theo thế mạnh của từng đơn vị

Qua những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, trong tương lai cần có một chiến lược hợp tác lâu dài, toàn diện hơn giữa du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương ở nhiều

Trang 29

cấp, Sở, Ban, Ngành và trên nhiều lĩnh vực: đầu tư, xây dựng sản phẩm mới, khai thác các sự kiện lễ hội, tham gia hội chợ triển lãm du lịch trong và ngoài nước để xúc tiến quảng bá sự phát triển chung của du lịch toàn vùng

1.3.2 Hà Tây phát huy tiềm năng văn hoá lễ hội để phát triển du lịch

Hà Tây vốn là vùng đất cổ Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của lịch sử đã hun đúc, sàng lọc và lưu giữ cho hậu thế nhiều giá trị đặc sắc của các tầng văn hoá cổ: hệ thống các di tích lịch sử văn hoá kiến trúc với mật độ dày đặc, trong đó nhiều di tích có giá trị như đình Tây Đằng, đình Thuỵ Phiêu, chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian…; cùng với di tích là các lễ hội, hàng năm có đến trên 700 lễ hội diễn ra trên mảnh đất quê lụa

Có thể nói rằng khi mùa Xuân trở về trên các xóm làng, ở đâu cũng gặp những hình ảnh cây đa giếng nước sân đình với tiếng

trống hội thôi thúc với những hội đền (đền Và, đền Văn Khê, đền Măng Sơn…), hội chùa (ở chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương…), hội làng (hội Chuông, hội Bá Giang, hội Bình Đà, hội Khê Hồi…)… Có thể nói rằng hầu như không có làng nào ở

Hà Tây lại không có lễ hội, đó là những giá trị truyền thống quý báu, giá trị tinh thần phản ánh ý thức cội nguồn và là tài sản không dễ gì có được Lễ hội ở Hà Tây tuy nhiều, nhưng mỗi nơi lại có dáng vẻ riêng, gắn liền với đặc điểm từng địa phương, tạo nên một bức tranh lễ hội đầy màu sắc Bên cạnh đó, vốn văn hoá

cổ truyền còn có các loại hình nghệ thuật có xuất xứ là các sinh hoạt văn nghệ dân gian: hát dô, hát chèo tầu… Thông thường, những nơi xây dựng các di tích lịch sử văn hoá thường là những nơi có phong cảnh đẹp, và cũng là khung cảnh để tổ chức các lễ hội vào ngày Xuân, đồng thời cũng là nơi diễn ra các loại hình nghệ thuật truyền thống Tất cả những giá trị văn hoá đặc sắc đó được hội tụ, hoà quyện vào nhau trong bầu không khí nô nức của ngày hội đã có sức cuốn hút kỳ lạ đối với cộng đồng nhân dân và

du khách thập phương

Trang 30

Nhận thức rõ phát triển văn hoá là nền tảng của tinh thần xã hội để đảm bảo nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, nhận thức rõ những tiềm năng và lợi thế của địa phương trong phát triển du lịch, để đạt mục tiêu phát triển toàn diện và bền vững, trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân Hà Tây đã thực hiện chủ trương phát huy tiềm năng văn hoá để phát triển du lịch, đưa

du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh

Hà Tây đã thực hiện có hiệu quả Nghị quyết TW V (khoá IX),

thông qua triển khai chương trình số 61 - Ctr/TU của Tỉnh uỷ về

“Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc”, qua đó tạo chuyển biến và nâng cao

nhận thức của các ngành, các cấp và nhân dân trong tỉnh Để kết hợp hiệu quả giữa việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống và phát triển du lịch, Hà Tây đã có nhiều nỗ lực Công tác bảo tồn di sản văn hoá đặc biệt được coi trọng, được quan tâm đầu tư, tu bổ, tôn tạo và đã thành công với chất lượng

cao ở nhiều di tích (chùa Mía, đình Tây Đằng, hai pho tượng thiền sư chùa Đậu…) Đặc biệt, việc tu bổ các di tích được tiến

hành trên cơ sở khoa học, trước khi can thiệp trực tiếp vào di tích tỉnh đã mời các nhà khoa học có uy tín tiến hành nghiên cứu lịch

sử, nguồn gốc, đánh giá hiện trạng… để xây dựng hồ sơ cho di tích Việc tu bổ sẽ được tiến hành trên cơ sở tôn trọng nguồn gốc nguyên bản của các hiện vật, kết hợp giữa việc nghiên cứu và sử dụng các vật liệu và phương pháp truyền thống với ứng dụng các công nghệ kỹ thuật hiện đại Nguồn vốn đầu tư tu bổ các di tích được hình thành từ hai nguồn quan trọng là ngân sách Nhà nước, ngoài ra tỉnh còn làm tốt công tác huy động sự đóng góp của nhân dân và khách thập phương Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hoá ngày càng được tăng cường và đạt được những tiến bộ rõ rệt, sự việc nổi bật là đã giải quyết những tồn tại trong việc tổ chức và quản lý các lễ hội, xoá bỏ những điểm xây dựng trái phép ở chùa Hương, trong đó có các ngôi chùa tư nhân giả mạo được xây dựng từ những năm 60

Trang 31

Tỉnh đã xác định các lễ hội chính là cơ hội tốt để thu hút khách du lịch, việc tổ chức các lễ hội phải quan tâm tới điều kiện sinh hoạt của du khách, sản phẩm du lịch lễ hội sẽ là sản phẩm

du lịch chủ đạo trong hướng phát triển du lịch của tỉnh Trên cơ

sở đó, tỉnh đã chỉ đạo ngành văn hoá thông tin, ngành du lịch chủ trì phối hợp với các ngành, các cấp địa phương trong tỉnh tổ chức và quản lý tốt các lễ hội, tránh lãng phí, bài trừ các tệ nạn như mê tín dị đoan, cờ bạc, móc túi, chèn ép giá cả, trong đó đặc biệt quan tâm tới điều kiện giao thông, ăn nghỉ và các nhu cầu khác của khách du lịch Khâu tổ chức các lễ hội đã được quan tâm đầu tư, công tác chuẩn bị và thực hiện được tiến hành chu đáo, không chỉ về hình thức mà đã có sự đầu tư công phu về nội dung, do đó đã tạo nên sự hấp dẫn rất cao đối với cả khách du

lịch quốc tế và nội địa (riêng lễ hội chùa Hương năm 2004 đã thu hút 356.524 lượt khách)

Bên cạnh những thành công đạt được, lãnh đạo tỉnh Hà Tây cũng đã có những đánh giá khách quan, để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết để đưa các lễ hội văn hoá thực sự trở thành một sản phẩm du lịch mang dấu ấn riêng của tỉnh Tỉnh đã rút ra những tồn tại trong việc tổ chức các lễ hội văn hoá du lịch: việc tổ chức các lễ hội đã xảy ra tình trạng nóng vội, chạy theo

số lượng dẫn đến tình trạng “lạm phát lễ hội”; tổ chức các lễ hội

còn có sự trùng lặp về nội dung, về hình thức tổ chức, thiếu tính độc đáo của từng địa phương; các lễ hội còn có sự trùng lặp về không gian và thời gian; nhiều lễ hội nội dung còn sơ sài, chưa được chuẩn bị kỹ về nội dung và hình thức tổ chức, thiếu tính hấp dẫn; sự gia tăng về lượng khách đột ngột đã gây những sức

ép đối với môi trường tự nhiên và xã hội: rác thải, giá cả, giao thông… và kết quả là vẫn còn một khoảng cách khá xa giữa một

lễ hội du lịch với lễ hội thực tế Do vậy, thời gian tới, lãnh đạo tỉnh xác định sẽ trực tiếp chỉ đạo hai đầu mối chính là sở văn hoá thông tin, sở du lịch phối hợp với các ban ngành chức năng và chính quyền các cấp cần phải có những thay đổi trên nhiều mặt

để đảm bảo hiệu quả khai thác các lễ hội du lịch: phân công rõ ràng trách nhiệm của các ban ngành trong việc phối kết hợp tổ

Trang 32

chức lễ hội; hoàn thiện cơ sở hạ tầng; quy hoạch lại hệ thống cơ

sở lưu trú, ăn uống và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ phục vụ khách du lịch; chỉnh trang môi trường cảnh quan; giáo dục tuyên truyền cộng đồng địa phương; tập trung vào một số lễ hội chủ đạo để tránh tình trạng manh mún, xẻ nhỏ lượng khách; tổ chức các lễ hội phải được chuyên nghiệp hoá nhằm phục vụ mục đích phát triển du lịch; tăng cường công tác an ninh đảm bảo an toàn tuyệt đối cho du khách; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và

có các hình thức phạt nặng đối với các trường hợp chèn ép giá cả đối với khách, tiến tới quy định giá sàn, giá trần cho các dịch vụ…

Sự quan tâm sát sao và những chủ trương đúng đắn, kịp thời của lãnh đạo tỉnh Hà Tây đã tạo nên sự hài hoà giữa bảo tồn di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho khách du lịch Sản phẩm du lịch lễ hội đã trở thành một hướng đi hiệu quả của du lịch Hà Tây, đã trở thành một sản phẩm có chất lượng, có tính hấp dẫn cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thưởng ngoạn thắng cảnh và tâm linh của khách du lịch

1.3.3 Liên kết phát triển du lịch Huế - Quảng Nam - Đà Nẵng

Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam là những địa phương có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và khả năng hợp tác phát triển du lịch của 3 tỉnh là rất lớn Về mặt địa lý, khoảng cách giữa ba tỉnh là rất gần, thuận tiện cho việc đi lại tham quan của khách Về mặt tài nguyên du lịch, cả ba tỉnh đều có nhiều tiềm năng, đều có di sản văn hoá thế giới, đều có các bãi biển đẹp Việc xây dựng các sản phẩm du lịch chung cho cả ba tỉnh, khả năng liên kết giữa các điểm trên địa bàn ba tỉnh trong một tuyến du lịch mang tính khả thi cao Xuất phát từ những cơ sở

đó, lãnh đạo ba tỉnh đã xác định du lịch sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn, xác định Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam là một điểm đến chung, du khách đến Huế sẽ đến Đà Nẵng, Quảng Nam

và ngược lại

Trang 33

Từ cuối năm 2002, được sự hỗ trợ của Tổng cục du lịch, ba địa phương đã có những khởi động để chương trình hợp tác phát triển du lịch đi vào hiện thực Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam đã liên kết nhằm đa dạng hoá sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng và xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm

du lịch của mình: đẩy mạnh dự án “Bãi biển Mặt trời mọc”

nhằm tạo thương hiệu riêng cho các bãi biển nổi tiếng như Lăng

Cô, Non Nước, Hà My, Cửa Đại, Thuận An…; tham gia tích cực

vào dự án “Con đường di sản miền Trung”; tranh thủ các nguồn

lực, tập trung xây dựng các kế hoạch, các dự án để cụ thể hoá bằng những sản phẩm du lịch có chất lượng cao trong tương lai

Ba địa phương đã phối hợp tăng tần suất phục vụ du lịch tuyến

sông Hàn (Đà Nẵng) đến cù lao Chàm (Quảng Nam); kết nối

tuyến sông Hương - cửa Thuận An - sông Hàn - Sơn Trà - cù lao Chàm - sông Thu Bồn; triển khai sản phẩm du lịch sông nước tham quan dọc sông Cổ Cò theo bờ biển nối Quảng Nam và Đà Nẵng; phối hợp khảo sát, khôi phục và đưa vào khai thác một số làng nghề gắn với hoạt động du lịch, biến lợi thế về các làng nghề thành các tour du lịch chuyên đề hoặc tour tổng hợp gắn với du lịch làng quê, làng nghề, nhà vườn qua ba địa phương… Ngoài ra, một sản phẩm du lịch đặc sắc khác của khu vực là du lịch lễ hội Các lễ hội dân gian và hiện đại diễn ra hầu như quanh năm Ba tỉnh đã phối hợp trong khâu tổ chức và quảng bá, tiếp đón khách để biến các sự kiện, các lễ hội thành các sự kiện văn hoá du lịch lớn như: Festival Huế, hành trình di sản Quảng Nam, phố đêm Hội An, liên hoan du lịch Đà Nẵng…

Ba tỉnh cũng đã xây dựng kế hoạch hợp tác xúc tiến quảng bá

du lịch, phối hợp thành lập Trung tâm xúc tiến du lịch để giới thiệu hình ảnh sản phẩm du lịch, chú trọng xúc tiến tại thị trường

nước ngoài, xác định dự án “Con đường di sản miền Trung” là

điều kiện tốt để các tỉnh, thành miền Trung và khu vực Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam quảng bá điểm đến của mình

Lãnh đạo ba tỉnh cũng đã nhận ra hạn chế chung của khu vực

là hiện nay chất lượng nguồn nhân lực chưa cao Do vậy để đáp

Trang 34

ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách, các địa phương

đã có kế hoạch tăng cường phối hợp trong đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng lao động du lịch, tổ chức các đoàn tham quan học tập kinh nghiệm lẫn nhau, liên kết chặt chẽ với các cơ sở đào tạo du lịch, phối hợp tổ chức các cuộc thi tay nghề, các hoạt động giao lưu, gặp gỡ giữa lao động du lịch giữa ba tỉnh…

Bằng lợi thế và khả năng, sự liên kết, hợp tác toàn diện giữa

ba địa phương đã góp phần quan trọng vào việc đưa ngành của

du lịch khu vực phát triển nhanh chóng, đưa Thừa Thiên - Huế,

Đà Nẵng, Quảng Nam trở thành một mắt xích quan trọng nhất

trong dự án “Con đường di sản miền Trung”, đưa du lịch của

khu vực trở thành trọng điểm du lịch của cả nước và khu vực Đông Nam Á

2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm Bắc Bộ, giới hạn trong khoảng

từ 2053 đến 2053 vĩ độ Bắc, 10544 đến 10602 kinh độ

Trang 35

Đông, tiếp giáp 5 tỉnh Thái Nguyên và Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, Hà Tây ở phía Tây Nam và phía Tây Hà Nội có diện tích 921 km2

(2004), khoảng cách dài nhất từ phía Bắc xuống phía Nam thành phố dài trên 50 km và chỗ rộng nhất từ Tây sang Đông là 130 km Điểm cao nhất ở

thành phố là dãy Chân Chim (462 m, huyện Sóc Sơn) và nơi thấp nhất là xã Gia Thuỵ (huyện Gia Lâm, cao 12 m so với mực nước biển)

Về mặt vị trí, Hà Nội có tầm quan trọng đặc biệt so với các tỉnh ở phía Bắc cũng như các tỉnh khác trong cả nước Vùng Đồng bằng sông Hồng do sông Hồng và các chi lưu tạo nên có hình dạng là một hình tam giác với đỉnh là Việt Trì và đáy là bờ biển Bắc Bộ thì Hà Nội chính là trọng tâm của tam giác đó

2.1.1.1 Địa hình

Địa hình có ảnh hưởng sâu sắc đến cấu trúc cảnh quan, vì thế

một bộ phận của địa hình đóng vai trò như là tài nguyên du lịch Đại bộ phận diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao trung bình từ 5 m đến 20 m so với mặt nước biển Địa hình của Hà Nội thấp dần từ Bắc xuống Nam và

từ Tây sang Đông Điều này được phản ánh rõ nét qua hướng dòng chảy tự nhiên của các dòng sông chính chảy qua Hà Nội Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi hiện đại, bãi bồi cao và các

bậc thềm (chỉ có ở phần lớn huyện Sóc Sơn và phía Bắc huyện Đông Anh) Xen giữa các bãi bồi còn có các vùng trũng với các

hồ đầm (dấu vết của các lòng sông cổ) Ngoài ra, Hà Nội còn có

các dạng địa hình núi và đồi xâm thực tập trung ở khu vực Sóc Sơn với diện tích không lớn lắm

Vùng đồng bằng của Hà Nội là nơi gặp gỡ giữa đất và nước, giữa con người và quần thể cảnh quan, giữa môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội, chúng hoà quyện vào nhau tạo nên một Thủ đô nên thơ, một Thủ đô duyên dáng Đặc điểm địa hình của

Hà Nội là không bị giới hạn trong khuôn khổ diện tích đất đai để

xây dựng các tổ hợp công trình phục vụ du lịch (nhiều điểm du

Trang 36

lịch rất hạn chế trong việc tìm kiếm mặt bằng, V.D Hạ Long, SaPa) Vùng đồi núi ở phía Bắc và phía Tây của Hà Nội là vùng

đất thấp trung bình, còn bảo tồn được nhiều loài động vật quý hiếm, chúng có thể liên kết với các vùng phụ cận để tổ chức các loại hình du lịch như nghỉ cuối tuần, săn bắn, nghỉ dưỡng chữa bệnh…

2.1.1.2 Khí hậu

Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, có mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít

Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nền nhiệt độ cao Lượng bức xạ trung bình hàng năm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm2, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,5 Do chịu ảnh hưởng của biển nên

Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn Độ ẩm trung bình Hà Nội hàng năm là 81%, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.676

mm

Khí hậu Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân (từ tháng 2 đến tháng 4, trời ấm dần lên sau những ngày Đông giá rét, mưa bụi lất phất bay, cây cối đâm chồi nảy lộc), Hạ (từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt

độ trung bình là 27,5C, xen lẫn giữa những ngày nóng nực là những trận mưa giông), Thu (từ tháng 8 đến tháng 10, nhiệt độ thấp dần và mưa nhiều hơn, đây cũng là thời điểm Hà Nội có thể

có bão), Đông (từ tháng 11 đến tháng 1, đây là thời kỳ hanh khô, trời lạnh kèm theo các đợt gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trung bình tháng 11 là 21,5C, tháng 12 là 18,5C và tháng lạnh nhất

là tháng Giêng - 17,2C) Bốn mùa kế tiếp nhau đổi thay như

vậy đã làm cho Hà Nội thêm phong phú, đa dạng Mùa nào cũng

có cái đẹp, cái hay của nó, nhưng mùa cảnh trí Hà Nội nên thơ nhất, mùa tham quan du lịch tốt nhất phải là mùa Thu, ở Hà Nội

“mùa Thu khô ráo, trời cao xanh ngắt, gió mát, nắng vàng như mật ong và mặt nước hồ trong veo như ánh mắt thiếu nữ”

Nhiệt độ và độ ẩm trung bình ở Hà Nội hàng năm và hàng tháng như sau:

Trang 37

Bảng 2.1: Một số yếu tố khí hậu cơ bản của Hà Nội

Khí hậu Hà Nội khá ôn hoà, thuận lợi với điều kiện sống của

con người (nhiệt độ thích hợp nhất là từ 17C - 23C) và hoạt

động tham quan của khách du lịch Các học giả Ấn Độ đã đưa ra mức chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người như sau:

Bảng 2.2: Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người

(C)

Biên độ năm của nhiệt

độ TB(C)

Lượng mưa năm

(mm)

1 Thích nghi 18-24 24-27 < 6 1.250-1.900

2 Khá thích 24-27 27-29 6-8 1.900-2.550

Trang 38

Vào mùa mưa, khí hậu lại là một trở ngại đối với hoạt động du lịch Tuy nhiên, nếu so sánh với các điểm du lịch quen thuộc khí

hậu Hà Nội vẫn thuận lợi hơn nhiều (lượng mưa trung bình hàng năm ở Hà Nội là 1.676 mm, ít hơn nhiều so với SaPa - 2.769

mm, Trà Cổ - 2.843 mm ) Trung bình, mỗi năm Hà Nội chỉ mất khoảng 70 ngày thời tiết xấu (40 - 50 ngày mưa bão, 10 - 15 ngày có gió Tây nóng bức)

Nhìn chung, Hà Nội vẫn là nơi có khí hậu ôn hoà hơn so với nhiều điểm du lịch khác trong cả nước cũng như trên thế giới

2.1.1.3 Nguồn nước

Hà Nội có nguồn nước khá phong phú, bao gồm nước chảy

trên bề mặt (sông, hồ) và nước ngầm Có thể nói không một thủ

đô nào trên thế giới lại có nhiều những nhánh sông nhỏ và hồ như Hà Nội

Địa phận Hà Nội có khá nhiều sông chảy qua (sông Hồng, sông Đuống, sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu, sông Cà

Lồ, sông Cầu, sông Công, sông Thiếp), trong đó quan trọng nhất

là sông Hồng và sông Đuống

Sông Hồng bắt nguồn từ dãy Nguỵ Sơn ở độ cao 1.776 m

(huyện Nhị Sơn, Vân Nam, Trung Quốc), chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam vào Việt Nam từ Hà Khẩu (Lao Cai) và đổ ra biển ở cửa Ba Lạt (Nam Định) Dòng chính của sông Hồng dài

1.660 km, phần chảy qua Việt Nam khoảng 556 km Sông Hồng

đổ vào Hà Nội từ xã Thượng Cát, Từ Liêm đến xã Vạn Phúc,

Trang 39

Thanh Trì, dài khoảng 30 km Lưu lượng nước bình quân hàng năm rất lớn, tới 2.640 m3/s với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 triệu m3 Lượng phù sa rất phong phú, trung bình 100 triệu tấn/năm

Sông Đuống là phân lưu của sông Hồng, dài 65 km, nối liền hai con sông lớn của miền Bắc là sông Hồng và sông Thái Bình

Sông Đuống tách ra từ sông Hồng ở thôn Thượng Cát (Ngọc Thuỵ, Gia Lâm) và đổ vào sông Thái Bình ở Đại Than, gần Phả

Lại, đoạn chảy qua Hà Nội dài 17,5 km Lưu lượng nước bình quân hàng năm 851 m3/s với tổng lượng nước chảy qua tới 27,3 triệu m3

Các sông ở Hà Nội có thuỷ chế theo hai mùa rõ rệt Mùa lũ kéo dài 5 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, cao nhất vào tháng 8, mùa cạn kéo dài hơn, tới 7 tháng từ tháng 11 đến tháng 5, thấp nhất vào tháng 3

Do một phần lớn diện tích Hà Nội nằm trên dòng sông Hồng

cổ cách đây hàng ngàn năm đã đổi dòng nên Hà Nội có rất nhiều

hồ, ao, đầm tự nhiên Hà Nội là một trong những thủ đô có số lượng hồ ao lớn trên thế giới với tổng diện tích lên tới 3.600 ha mặt nước với 27 hồ đầm lớn như hồ Tây, hồ Bảy Mẫu, hồ Đồng

Quan (Sóc Sơn), hồ Yên Sở (Thanh Trì), hồ Vân Trì (Đông Anh)… Hồ Tây với diện tích lên tới trên 500 ha có ý nghĩa trên

nhiều mặt, giúp thủ đô điều hoà khí hậu, đặc biệt là có khả năng

tổ chức thành một trung tâm du lịch với định hướng trở thành khu vui chơi giải trí và tổ chức các hội nghị hội thảo quốc tế Hồ Gươm nằm ở trung tâm thủ đô, gắn liền với truyền thuyết thiêng liêng về thần Kim Quy và vua Lê Lợi như là một điểm nhấn cảnh quan, như là một lẵng hoa điểm tô sự duyên dáng cho thủ

đô, nơi đây cũng là một điểm du lịch văn hoá đặc sắc với quần thể các di tích đảo Ngọc, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Tháp Bút, Đài Nghiên

Có thể nói rằng không đâu mặt hồ lại có thể đem lại vẻ đẹp yên bình, lãng mạn như Hà Nội, hồ đã làm giàu chất thơ cho Thủ

Trang 40

đô Hà Nội Hà Nội được mệnh danh là thành phố “xanh”, thành

phố cảnh quan nổi tiếng, thành phố của hệ sinh thái hồ, sông

Hà Nội có nguồn nước ngầm khá dồi dào, hiện đang được khai thác để phục vụ sinh hoạt và sản xuất

Với hoạt động du lịch, hệ thống sông hồ, nước ngầm phong phú là nguồn nước quan trọng, cung cấp nước sinh hoạt phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của du khách Đây cũng là nguồn cung cấp dồi dào thuỷ sản phục vụ nhu cầu ăn uống, và cũng là nơi có khả năng triển khai các loại hình dịch vụ thể thao nước như câu

cá, đua thuyền, bơi…

2.1.1.4 Động, thực vật

Thực vật tự nhiên ở Hà Nội chỉ còn ở dạng thứ sinh, tập trung

ở rừng trên địa bàn huyện Sóc Sơn với hơn 6.700 ha đất lâm nghiệp

Một bộ phận lớn thực vật là hệ thống cây xanh được trồng trên

khắp đường phố (đường phố Hà Nội có trên 250.000 cây, bao gồm trên 50 loại cây khác nhau) và các vườn hoa, công viên (Hà Nội có trên 30 vườn hoa, công viên với hơn 377 ha thảm cây xanh) Cây xanh Hà Nội còn có một mảng rất đặc sắc - hoa cây

cảnh Các làng hoa Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm… đã tạo nên một hồ Tây với không gian văn hoá tràn đầy hương sắc Không như các thành phố lớn khác ở châu Âu, cây ở Hà Nội cho màu xanh bất tận suốt cả bốn mùa và điểm tô thêm vẻ duyên dáng, kiều diễm của Thủ đô Cây xanh đã tạo cho

thành phố một sắc thái độc đáo, Hà Nội là “thành phố xanh”

trong con mắt của bạn bè quốc tế và du khách

Động vật gần đây đã xuất hiện trở lại cùng với việc trồng rừng

nhiều loại chim ăn ngũ cốc, các loài gặm nhấm và thú rừng (lợn rừng, chồn, sóc, trăn, rắn…) Giới động vật còn tương đối phong

phú là động vật dưới nước như cá, tôm, cua, ốc… Có giá trị nhất

về mặt khoa học là sự có mặt của hệ thống tảo và loài rùa thiêng tại Hồ Hoàn Kiếm

Với truyền thống nông nghiệp từ lâu đời, Hà Nội là nơi cung cấp nhiều giống cây trồng, vật nuôi quý cho cả nước, là nơi cung

Ngày đăng: 11/07/2016, 08:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban thường vụ Thành uỷ Hà Nội (1998), Nghị quyết số 11 về đổi mới phát triển du lịch Thủ đô đến năm 2010, Sở Du lịch Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11 về đổi mới phát triển du lịch Thủ đô đến năm 2010
Tác giả: Ban thường vụ Thành uỷ Hà Nội
Năm: 1998
2. Lê Trung Dũng (1997), Lịch lễ hội, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch lễ hội
Tác giả: Lê Trung Dũng
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 1997
3. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
4. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Nghị quyết Hội nghị lần thứ III BCH TW Đảng khoá IX (về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ III BCH TW Đảng khoá IX (về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Sự phát triển của du lịch quốc tế giai đoạn 1950 - - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 1.1 Sự phát triển của du lịch quốc tế giai đoạn 1950 - (Trang 14)
Bảng  2.1: Một số yếu tố khí hậu cơ bản của Hà Nội. - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
ng 2.1: Một số yếu tố khí hậu cơ bản của Hà Nội (Trang 37)
Bảng 2.2: Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người. - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người (Trang 37)
Bảng 2.3: Tương quan về số lượng di tích đã được xếp hạng. - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 2.3 Tương quan về số lượng di tích đã được xếp hạng (Trang 42)
Bảng 2.8: Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và Hà Nội - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 2.8 Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và Hà Nội (Trang 76)
Bảng 2.11: Lượng khách du lịch nội địa đến Hà Nội giai đoạn - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 2.11 Lượng khách du lịch nội địa đến Hà Nội giai đoạn (Trang 79)
Bảng  2.12:  Lượng  khách  Hà  Nội  đi  du  lịch  trong  nước  giai  đoạn 1990 - 2004 - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
ng 2.12: Lượng khách Hà Nội đi du lịch trong nước giai đoạn 1990 - 2004 (Trang 80)
SƠ ĐỒ 1. BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ DU LỊCH VIỆT  NAM. - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
SƠ ĐỒ 1. BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ DU LỊCH VIỆT NAM (Trang 83)
SƠ ĐỒ 2. CƠ CẤUTỔ CHỨC SỞ DU LỊCH HÀ NỘI. - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
SƠ ĐỒ 2. CƠ CẤUTỔ CHỨC SỞ DU LỊCH HÀ NỘI (Trang 85)
Bảng 2.13: Số lượng và trình độ cán bộ quản lý Sở du lịch Hà - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 2.13 Số lượng và trình độ cán bộ quản lý Sở du lịch Hà (Trang 86)
Bảng 2.14: Doanh thu của ngành du lịch Hà Nội giai đoạn - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 2.14 Doanh thu của ngành du lịch Hà Nội giai đoạn (Trang 92)
Bảng 2.15: Nộp ngân sách của ngành du lịch Hà Nội giai - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 2.15 Nộp ngân sách của ngành du lịch Hà Nội giai (Trang 93)
Bảng  3.1:  Tốc  độ  tăng  trưởng  lượng  khách  trung  bình  hàng năm tính theo khu vực thời kỳ 1990 - 2000 - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
ng 3.1: Tốc độ tăng trưởng lượng khách trung bình hàng năm tính theo khu vực thời kỳ 1990 - 2000 (Trang 103)
Bảng 3.2: Sự phát triển du lịch khu vực Đông Á - Thái Bình - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 3.2 Sự phát triển du lịch khu vực Đông Á - Thái Bình (Trang 104)
Bảng 3.4: Dự báo lượng khách du lịch trên địa bàn Hà Nội - Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới (1990   2004)   thực trạng và giải pháp
Bảng 3.4 Dự báo lượng khách du lịch trên địa bàn Hà Nội (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w