Điều 6 của Sắc luật chỉ quy định “Sản xuất hàng giả cố ý lừu gạt người tiêu thụ” mà không quy định hành vi buôn bán hàng giả cũng là tội phạm, không đưa ra những đối tượng hànggiả cụ thể
Trang 1MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG MỘT: LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH
VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1.Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985
1.2.Giai đoạn từ khi BLHS năm 1985 ra đời đến khi ban hành BLHS năm 1999
1.2.1.BLHS năm 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả.1.2.2.BLHS năm 1999 và những tiến bộ của nó về tội sản xuất, buôn bánhàng giả so với BLHS năm 1985
CHƯƠNG HAI: TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ QUY ĐỊNH TẠIĐIỀU 156 BLHS
2.1.Dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
2.1.1.Khách thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
2.1.2.Mặt khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
2.1.3.Chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
2.1.4.Mặt chủ quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả
2.2.Hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Trang 22.3.3.Phân biệt tội sản xuất, buôn bán hàng giả với một số tội làm giả kháctại các Điều 164, 180, 181 BLHS.
CHƯƠNG BA : THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁNHÀNG GIẢ TRONG NĂM NĂM GẦN ĐÂY(2003-2007)
3.1 Thực tiễn xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả từ năm 2003 đến năm 20073.2.Những hạn chế của hoạt động xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả và nhữngnguyên nhân của những hạn chế đó
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử tội sản xuất,buôn bán hàng giả
KẾT LUẬN.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện đường nối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã được đề ra từ Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ sáu năm 1986 trong hơn 20 năm qua nước ta đã đạtđược những thành tựu to lớn như: chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng cao, trật tự
an ninh xã hội được giữ vững, tỷ lệ xóa mù chữ là cao nhất thế giới….mặc dùbước đầu đã gặp không ít chông gai Hiện nay trong mắt bạn bè thế giới Việt Nam
đã trở thành đối tác đáng tin cậy Để đưa đất nước tiến lên CNXH thì vấn đề pháttriển kinh tế có ý nghĩa then chốt, quyết định Với mục tiêu xây dựng nền kinh tếthị trường định hướng XHCN trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, chúng ta đangphải đương đầu với rất nhiều những khó khăn thử thách rất lớn Tình hình tộiphạm kinh tế trong giai đoạn hiện nay đang ngày càng gia tăng, tinh vi và phứctạp, trong đó tội sản xuất, buôn bán hàng giả đang có chiều hướng gia tăng và diễnbiến phức tạp
Theo đánh giá của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) tổng giá trịhàng giả được mua bán hàng năm trên thế giới khoảng 500 tỷ Euro gấp đôi ngânsách nước Đức Hiện nay hàng giả chiếm lĩnh 1/10 thương mại thế giới, trong đócác loại hàng được làm giả nhiều nhất có: cứ 3 chiếc đĩa CD thì có 1 chiếc đượcsao chép trái phép; các mặt hàng như: quần áo, phụ kiện may mặc, mỹ phẩm vànước hoa chiếm khoảng 1/3 tổng số hàng giả thế giới, phần mềm máy tính là 35%,video, DVD và CD là 25% Đồng hồ Thụy Sỹ giả mạo được bán nhiều hơn hàngthật: 40 triệu chiếc giả so với 26 triệu chiếc đồng hồ thật Ta có thể thấy hàng giảđang lan tran khắp mọi nơi và trở thành vấn nạn của các quốc gia, Việt Namchúng ta cũng phải đối mặt với vấn nạn này Nạn hàng giả này không chỉ gây ranhững thiêt hại to lớn về kinh tế, làm tổn hại về vật chất, mất uy tín quốc gia, nhàsản xuất, người tiêu dùng mà tai hại hơn nó còn có thể gây ra những thiêt hại về
Trang 5sức khỏe, tính mạng của con người Từ thực tế này đòi hỏi phải có những biệmpháp để ngăn chăn đẩy lùi nạn hàng giả, trong đó pháp luật hình sự là một biệnpháp hữu hiệu Do đó vấn đề nghiên cứu khoa học, phân tích, đưa ra quan điểm,giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự cũng như nâng cao hiệuquả của hoạt động xét xử đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong giai đoạn
hiện nay Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài : “ Tội sản xuất, buôn bán hàng giả
theo Điều 156 Bộ luật hình sự lý luân và thực tiễn” để làm khóa luận tốt nghiệp.
Mục đích của khóa luân là nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định vềtội sản xuất, buôn bán hàng giả theo BLHS năm 1999, từ đó đối chiếu quy địnhpháp luật với thực tiễn xét xử để tìm ra những bất cập, vướng mắc, qua đó đề xuấtmột số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử tội sản xuất, buônbán hàng giả
Nhiệm vụ của đề tài là khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về tộisản xuất, buôn bán hàng giả; nghiên cứu quy định của Điều 156 BLHS năm 1999
để thấy những tiến bộ, hạn chế cần khắc phục, sửa chữa; tìm hiểu thực tiễn xét xử,đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động này đối với tội sản xuất, buônbán hàng giả
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định của Điều156 BLHS năm 1999 vềtội sản xuất, buôn bán hàng giả, thực tiễn xét xử tội phạm này trong những nămgần đây(2003-2007)
Phạm vi của đề tài là tội sản xuất, buôn bán hàng giả dưới góc độ luật hình sựtrong khoảng thời gian từ 2003 đến nay
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận bao gồm: phươngpháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, thống kê….dựa trên nền tảng Chủ nghĩaMác-Lênin
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, thì khóa luận này có kết cấu như sau:
Trang 6Chương một: Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng
giả
Chương hai : Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo BLHS năm 1999.
Chương ba : Thực tiễn xét xử tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong những năm
gần đây(2003-2007).
CHƯƠNG MỘT LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ
TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
Bước vào những năm đầu của thế kỷ 21, nước ta đang tiến sâu hơn vào quátrình hội nhập toàn diện với quốc tế và khu vực Trước những tác động và yêu cầucủa quá trình hội nhập đất nước ta đã có những thay đổi lớn về mọi mặt, trong đó
sự thay đổi trong kinh tế là lớn nhất và quan trọng nhất Để quản lý tốt “nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” theo đúng chủ trương đường nối của
Đảng và Nhà nước Bên cạnh những chính sách về phát triển kinh tế thì chính sáchhình sự về các tội phạm xâm hại tới trật tự quản lý kinh tế cũng phải ra đời và phù
hợp, linh hoạt, chặt chẽ hơn Chương XVI- BLHS năm 1999 quy định “Các tội
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế” đã đáp ứng phần nào đòi hỏi này Trong 29 điều
luật (từ Điều 153 đến Điều 181) thì “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” được quy
định tại Điều 156 nhằm đấu tranh chống nạn hàng giả, buôn bán hàng giả nóiriêng và các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung Lịch sử lập
pháp hình sự nước ta về “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả”cũng đã được quy định
và có sự trừng trị rất nghiêm khắc đối với các hành vi phạm tội này Có thể kháiquát như sau:
1.1.Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985.
Trang 7Ngày 2/9/1945 Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - “Nhà nước công
nông đầu tiên của Đông nam á” Nhà nước và bộ máy của nó vừa mới được thành
lập đã phải đương đầu với bao khó khăn và thử thách: “giặc đói, giặc dốt, giặc
ngoại xâm,…” Để bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng tháng tám năm 1945, bảo
vệ quyền và lợi ích của giai cấp mình, nhiệm vụ quan trọng và hàng đầu của nhànước ta là giữ vững an ninh quốc gia, ổn định kinh tế đảm bảo đời sống cho nhândân Nhiều chính sách luật được ra đời (Sắc luật) nhưng chưa thể cho ra đời mộtchính sách Luật hình sự được pháp điển hóa do hoàn cảnh lịch sử chưa cho phép.Trong khoảng tời gian từ năm 1945 đến năm 1975, đất nước ta liên tục có chiếntranh, cả nước tập trung toàn bộ sinh lực vào cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước, cácvăn bản pháp luật mang tính hình sự ra đời cũng chỉ tập chung vào quy định cáctội có liên quan đến cuộc chiến như: tội phản cách mạng; tội xâm phạm tài sản xãhội chủ nghĩa; các tội về kinh tế thì là: tội đầu cơ, buôn bán hàng cấm…có ảnh
hưởng nhiều tới cuộc chiến tranh “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” trong giai
đoạn này không hề được quy định trong bất kỳ một văn bản pháp luật mang tínhhình sự nào Do tại thời điểm này, nền kinh tế nước ta còn bao cấp mà tất cả sinhlực của đất nước đều tập chung cho cuộc chiến tranh, hành hóa lưu thông trên thịtrường đều do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất hoặc do các nước viên trợ,chính vì vậy mà hàng giả gần như là không có cơ hội phát triển
Năm 1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, nền kinh tế đất nước sau chiếntranh hết sức nghèo nàn và lạc hậu, bọn tư sản mại bản được sự tiếp tay của tư sảnnước ngoài không ngừng gây rối loạn thị trường, trong đó nạn hàng giả cũng làmột trong những nguyên nhân gây rối loạn Nhằm ổn định thị trường, thắt chặt sựquản lý nhà nước đối với nền kinh tế, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòamiền nam Việt Nam ban hành Sắc luật số: 03.SL ngày 15/3/1976 quy định về tội
phạm và hình phạt “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” cũng được quy định tại
Sắc luật này trong các tội kinh tế:
Trang 8“Điều 6 Tội kinh tế.
Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về tài chính cho Nhà nước, cho Hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sãn xuất, cho việc ổn định đời sống nhân dân, gồm các tội:
-Sản xuất hàng giả cố ý lừu gạt người tiêu thụ;
-Kinh doanh trái phép, cố ý trốn tránh quy định của Nhà nước;
- Làm bạc giả, hoặc tiêu thụ bạc giả;
…
Phạm một trong các tội trên đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và phạt tiền đến năm mươi nghìn đồng Ngân hàng hoặc một trong hai hình phạt đó Trong trừong hợp nghiêm trọng, thì phạt tù đến hai mươi9 năm, tù chung thân hoặc xử tử hình và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Việc quy định tội sản xuất hàng giả trong Sắc luật số: 03.SL đã đáp ứng phầnnào yêu cầu đấu tranh chống tội phạm về hàng giả trong tội phạm về kinh tế Qua
đó thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội sản xuất hàng giả và thái
độ của Nhà nước đối với tội phạm này là rất nghiêm khắc Nhưng Sắc luật số:03.SL bên cạnh những ý nghĩa tích cực còn bộc lộ những hạn chế nhất định vàquy định tội sản xuất hàng giả cũng vậy Sắc luật chưa có sự phân hóa các tộiphạm về kinh tế nói chung và tội sản xuất hàng giả nói riêng Điều 6 của Sắc luật
chỉ quy định “Sản xuất hàng giả cố ý lừu gạt người tiêu thụ” mà không quy định
hành vi buôn bán hàng giả cũng là tội phạm, không đưa ra những đối tượng hànggiả cụ thể như: hàng giả; hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, …
mà chỉ quy định hàng giả chung chung, thậm chí còn không có một văn bản phápluật nào hướng dẫn hàng giả là loại hàng hóa như thế nào? Việc quy định như vậy
là không cụ thể và đầy đủ Về hình phạt, điều luật quy định hình phạt áp dụngchung cho các tội phạm, việc quy định như vậy chưa cho thấy rõ mức độ nguyhiểm cho xã hội của từng loại tội phạm, cũng như chế tài áp dụng đối với tội phạm
Trang 9đó Là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về các tội phạm thuộc lĩnh vực kinh tếnhư thế này thì Sắc luật còn quá nhiều những hạn chế cả về kỹ thuật lập pháp cũngnhư khả năng áp dụng trong thực tiễn của pháp luật, gây ra không ít những khókhăn trong việc giải quyết các vụ án trong thực tiễn xét xử của tòa án Nhưng dohoàn cảnh lịch sử mà Sắc luật này vẫn được áp dụng trong cả nước từ năm 1978cho đến năm 1982.
Để khắc phục những hạn chế, thiếu xót của Sắc luật số: 03.SL và phù hợp hơnvới tình hình mới của nền kinh tế, trên cơ sở của Hiến pháp năm 1980, Pháp lệnhsố: 07-LCT/HĐNN7 ban hành ngày 10/7/1982 pháp lênh trừng trị các tội đầu cơ,buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép Đây là văn bản pháp luật đầu tiên
quy định về các tội này cho đến trước khi có BLHS năm 1985 “Tội làm hàng giả
hoặc buôn bán hàng giả” quy định tại Điều 5 Pháp lệnh, trong đó:
“Điều 5 Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả.
1.Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả nhằm thu lợi bất chính, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm và bị phạt tiền từ năm nghìn đồng đến năm vạn đồng;
2 Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm,
thuốc chữa bệnh hoặc phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng quy định tại Khoản 1 Điều 9 pháp lệnh này thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm, bị phạt tiền đến năm trăm nghìn đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản;
3 Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả có chất độc hại hoặc các chất khác có thể nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng, hoặc phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Khoản2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền đến một triệu đồng, và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
“Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả” được quy định trong Pháp lệnh
đã thể hiện một sự thay đổi căn bản về trình độ lập pháp so với Sắc luật số:03/SL
Trang 10Không còn quy định đơn giản chỉ một câu mà tội phạm này đã được quy địnhtrong một điều luật riêng, trong đó hành vi buôn bán hàng giả đã được coi là tộiphạm và có tính nguy hiểm cho xã hôi tương đương với hành vi làm hàng giả;hàng giả đã được phân định thành nhiều loại hàng giả với mức độ nguy hiểm khácnhau và chế tài áp dụng với từng loại hàng giả khác nhau Tuy nhiên, Pháp lệnh
cũng có những hạn chế nhất định Các tình tiết như: “ phạm tội trong trường hợp
đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh này thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân” mà theo quy định tai Điều 8 của
Pháp lệnh thì trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì hình phạt cao nhất là “tử
hình” Những quy định này thể hiện tính không nhất quán của pháp luật đối với
hành vi phạm tội Pháp lệnh cũng chưa phân định được tội phạm và vi phạm phápluật khác mà phải áp dụng Nghị định 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định về việc
xử lý bằng biện pháp hành chính các hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinhdoanh trái phép, Nghị định này đưa ra một số các dấu hiệu định lượng và định tính
để xác định tội phạm và vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính, cụ thểlà:
“Mọi hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép thuộc loại
vi phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đêù bị xử lý bằng các biện pháp hành chính theo quy định của Nghị định này
Vi phạm nhỏ là vi phạm trong trường hợp giá trị hàng phạm pháp dưới hai vạn đồng, tính chất việc vi phạm không nghiêm trọng, tác hại gây ra cho sản xuất, đời sống nhân dân, trật tự và an toàn xã hội là không nhiều, người vi phạm không
có tiền án, tiền sự, khi bị phát hiện không có hành vi chống lại cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ”, nhưng Nghị định cũng nêu “…hàng giả thuộc loại lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh thì bất cứ trường hợp nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự” do loại hàng giả này có mức độ nguy hiểm cao hơn so với các loại
hàng giả khác Trên thực tế khi áp dụng pháp luật để xử lý một hành vi làm hoặc
Trang 11buôn bán hàng giả các cơ quan chức năng phải căn cứ vào cả hai văn bản phápluật này để xác định truy cứu TNHS hay xử lý bằng các biện pháp hành chính,phần nào đã gây ra những trở ngại nhất định, không thuận tiện việc cho ra đờimột BLHS là vấn đề cần thiết để quy định cụ thể và khoa học về tội làm hàng giả,buôn bán hàng giả nói riêng và các tội phạm hình sự nói chung.
1.2 Giai đoạn từ khi BLHS năm 1985 ra đời đến khi ban hành BLHS năm 1999.
1.2.1 BLHS năm 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả.
Năm 1985, BLHS Việt Nam đầu tiên và cũng là bộ luật đầu tiên của nước tađược ban hành Đây được coi là một mốc son trong lịch sử lập pháp của nước ta
Từ đây các tội phạm không còn được quy định riêng lẻ trong các văn bản phápluật dưới luật nữa mà được tập hợp trong một BLHS Mỗi một tội phạm và hìnhphạt đối với tội phạm đó được quy định trong một điều luật riêng và được sắp xếp
vào từng nhóm tội khác nhau Cũng như vậy, “Tội làm hàng giả, tội buôn bán
hàng giả” thuộc nhóm “Các tội kinh tế” quy định tại Điều 167 của Bộ luật.
“Điều 167 Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả.
1.Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.
a.Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh;
b.Có tổ chức;
c.Lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc danh nghĩa Nhà nước, tổ chức xã hội; d.Hàng giả có số lương lớn thu lợi bất chính lớn;
đ.Tái phạm nguy hiểm.
3.Phạm tội trong những truờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.”
Trang 12Quy định trên cho thấy Điều 167 BLHS năm 1985 đã có tính kế thừa Pháplệnh số: 07-LCT/HĐNN7 nhưng cũng có những thay đổi có tính tiến bộ hơn:Khoản 1 không đổi so với Pháp lệnh mà chỉ thay đổi về hình phạt; ở Khoản 2
không đưa ra thuật ngữ “ phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng” mà thay vào
đó là các trường hợp cụ thể; về hình phạt, Điều 167 chỉ quy định một loại hìnhphạt là tước tự do (tù) khác so với tại Pháp lệnh 07 quy định hai loại hình phạt làhình phạt tù và hình phạt tiền Việc quy định như vậy theo chúng tôi thì chưa thực
sự khoa học
Để giải thích thế nào là hàng giả thì tại Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991của Hội đồng bộ trưởng về kiểm tra xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả vàThông tư liên bộ số: 1254-TTLB ngày 8/11/1991 của Ủy ban khoa học Nhà nước,
Bộ thương mại và du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị định 140/HĐBT đã đưa rađịnh nghĩa hàng giả, các dấu hiệu nhận biết hàng giả và phân biệt hàng giả với
hàng kém chất lượng Trong đó: “ Hàng giả theo Nghị định này là những sản
phẩm, hàng hóa được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hóa được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường, hoặc những sản phẩm, hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên tên gọi công dụng của nó.” (Điều 3- Nghị định
Trang 13nghiệp (Cục sáng chế) hoặc đã được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia;
3.Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng;
4.Sản phẩm, hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Viêt Nam;
5.Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng tối thiểu cho phép;
6.Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất
tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.”
Từ đây, ta có thể thấy hàng giả được chia làm hai loại: hàng giả về hình thức(sản xuất và sử dụng nhãn giả và bao bì mang nhãn giả hoặc sử dụng nhãn củangười khác, của cơ sở sản xuất khác mà không được phép của chủ nhãn (bao gồmnhãn sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa và dấu hiệu phù hợp tiêu chuẩn chất lượngViệt Nam)); hàng giả về nội dung (hàng không có giá trị sử dụng, không đúng vớinguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó; hoặc có mức chấtlượng dưới mức tối thiểu do Nhà nước quy định, nhằm đánh lừa gây thiệt hại chongười tiêu dùng để thu lợi bất chính) Hàng giả là hàng có mức chất lượng thấphơn mức chất lượng tối thiểu, còn hàng kém chất lượng là hàng có mức chất lượngthấp hơn mức chất lượng ghi trên nhãn đăng ký song chưa vi phạm mức chấtlượng tối thiểu
Qua những quy định trên đây, hàng giả đã được phần nào làm rõ hơn vớinhững dấu hiệu cụ thể của nó mà trước đây chưa hề có một văn bản pháp luật nàocủa Nhà nước đưa ra khái niệm hàng giả Nó có một ý nghĩa lớn trong việc ápdụng để phân định hàng giả, hàng thật và hàng kém chất lượng Tuy nhiên thì địnhnghĩa và dấu hiệu này vẫn chưa phản ánh đúng bản chất của hàng giả Hàng giả
Trang 14được chia thành hai loại trong đó có hàng giả về hình thức, nhưng từ định nghĩađến dấu hiệu của loại hàng này cho thấy đây đây không phải là hàng giả mà là
hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Việc đưa ra quy định “mức chất
lượng tối thiểu” để phân định hàng giả và hàng kém chất lượng, nhưng thưc tế
không phải bất cứ loại hàng hóa nào cũng có được quy định mức chất lương tốithiếu mà đa phần là không có Do vậy việc áp dụng thực tế của các quy định này
là rất khó khăn
BLHS năm 1985 với những hạn chế lịch sử của nó là: được xây dựng trên cơ
sở kinh tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và trên thực tiễn của tình hình tội phạmcủa thời kỳ đó Do vậy trong khoảng thời gian 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985được sửa đổi, bổ sung 4 lần Trong đó Điều 167 được sửa đổi, bổ sung 2 lần, ở lầnsửa đổi, bổ sung thứ hai (năm 1992) Điều 167 được sử đổi, bổ sung theo hướng
tăng hình phạt nên mức cao hơn và bổ sung thêm đối tượng hàng giả mới là: “Vật
liệu xây dựng, phân bón thuốc trừ sâu” Với sự sửa đổi, bổ sung mới này ta thấy
được cá loại hàng giả ngày càng đa dạng hơn và việc tăng hình phạt nên mức caohơn thể hiện thái độ của Nhà nước là nghiêm khắc hơn đối với loại tội phạm này.Mặc dù đã sửa đổi, bổ sung nhưng Điều 167 vẫn có những hạn chế về cả nội dung
và kỹ thuật lập pháp, nó đã tạo ra những khó khăn nhất định trong việc áp dụngpháp luật như: việc không đưa ra các tiêu chuẩn để định lượng cũng như định tính
để xác định một hành vi làm, buôn bán hàng giả là tội phạm hay vi phạm pháp luậtkhác do vậy một người có hành vi làm, buôn bán hàng giả sẽ có 3 khả năng có thểxảy ra: người đó có thể bị truy cứu TNHS theo Điều 167 BLHS; có thể bị xử phạthành chính theo Nghị định 57/CP ngày 31/5/1997 quy định về việc xử phạt viphạm hành chính trong lĩnh vực đo lường chất lượng hàng hóa; hoặc có thể bị xử
lý bằng các biện pháp khác như: cảnh cáo, bị tịch thu tài sản… Cả ba khả năngtrên cùng tồn tại cho thấy Điều 167 còn không kế thừa được cả điểm tích cực này
Trang 15của văn bản pháp luật trước đó là Pháp lệnh số: 07.LCT/HĐNN7 và Nghị định46/HĐBT ngày 10/5/1983.
Để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triểncủa tội phạm đòi hỏi phải có pháp luật hình sự phù hợp và tiến bộ hơn BLHS năm
1999 ra đời là cần thiết đối với pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng
1.2.2.BLHS năm 1999 và những tiến bộ của nó về tội sản xuất, buôn bán hàng giả so với BLHS năm 1985.
Trước yêu cầu thực tế, BLHS năm 1999 được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổsung một cách tương đối toàn diện BLHS năm 1985 nhưng có sự kế thừa nhữngnội dung tích cực của BLHS sau 4 lần sửa đổi, bổ sung Cũng theo hướng chung
của BLHS thì “Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả” được sửa đổi một cách khá toàn diện thể hiện tại: Điều 156 “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” Điều 167
BLHS năm 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả trong đó baogồm các loại hàng giả là: hàng giả nói chung; hàng giả là lương thực, thực phẩm,thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; hàng giả là vật liệu xây dựng, phân bón và vềbản chất thì hàng giả được chia làm hai loại là: hàng giả về hình thức, hàng giả vềnội dung Thì nay BLHS năm 1999 đã tách các loại hàng giả trên thành các loạihàng giả là đối tương tác động của các điều luật riêng như: Điều 156.Tội sản xuất,buôn bán hàng giả; Điều 157.Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thựcphẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 158.Tội sản xuất, buôn bán hànggiả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật,giống cây trồng vật nuôi và Điều 171 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.Việc tách ra như vậy là hoàn toàn phù hợp vì mỗi loại hàng giả khác nhau cónhững tác động và tác hại đến các đối tượng khác nhau, từ đó TNHS được áp dụng
đối với mỗi loại tội phạm được đúng đắn hơn Điều 156 quy định “Tội sản xuât,
buôn bán hàng giả” về mặt nội dung có sự thay đổi so với Điều 167, phạm vi của
đối tương tác động là hàng giả ở đây đã được thu hẹp lại không còn các loại hàng
Trang 16giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, phân bón,…nay đã là đối tượng tác động của Điều 157,158; về kỹ thuật lập pháp các thuật
“phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” đã được cụ thể hóa bằng các
dấu hiệu và được các văn bản dưới luật quy định cụ thể, “hàng giả có số lượng
lớn” đã được định lượng rõ ràng; về hình phạt, hình phạt đã được giảm nhẹ hơn so
với Điều 167 với mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tù đến mười lăm năm,việc tách tội phạm quy định tại Điều 167 ra thành các điều luật khác nhau đã gópphần giảm nhẹ hình phạt, hình phạt bổ sung được quy định tại Khoản 4 Điều 156khác so với BLHS năm 1985 hình phạt bổ sung quy định tại một điều luật riêng và
áp dụng chung cho các tội phạm thuộc nhóm tội (Điều 185 BLHS năm 1985)
Ngay cả tên của điều luật cũng có sự thay đổi Điều 167 “Tội làm hàng giả,
tội buôn bán hàng giả” quy định hai tội danh mỗi tội có một hành vi khách quan
riêng trong một điều luật, còn Điều 156 “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” quy
định một tôi danh những có hai hành vi khách quan Về bản chất thì việc quy địnhnhư vậy không có gì khác nhau, nhưng việc để tên gọi của điều luật như Điều 156
là hợp lý hơn, thể hiện được tính phân hóa tội phạm cao hơn Theo Điều 156 thìnhững người có hành vi sản xuất hàng giả thì vẫn bị tòa án xét xử về tội sản xuấthàng giả, người có hành vi buôn bán hàng giả thì bị xét xử về tội buôn bán hànggiả
Với những điểm mới này của Điều 156 so với các văn bản pháp luật trước đâyquy định về tội phạm này thì Điều 156 thể hiện được một sự tương đối hoàn thiện
và đầy đủ hơn mặc dù điều luật chưa khái quát được thế nào là sản xuất hàng giả,buôn bán hàng giả mà chỉ quy định tính chất, mức độ, hậu quả nguy hiểm cho xãhội của hành vi
Trang 17
CHƯƠNG HAI TỘI SẢN XUÂT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO QUY ĐỊNH TẠI
ĐIỀU 156 BỘ LUẬT HÌNH SỰ.
BLHS năm 1999 được đánh giá là một sự phát triển mới của luật hình sự ViệtNam Bộ luật được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách tương đối toàndiện BLHS năm 1985 nhưng có kế thừa những nội dung tích cực, hợp lý của
BLHS này qua các lần sửa đổi, bổ sung Điều 156 quy định “Tội sản xuất, buôn
bán hàng giả” nằm trong Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là một
điều luật có đổi mới Với mục đích của khóa luận là nghiên cứu quy định của pháp
luật về “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” theo BLHS năm 1999, chúng ta cần tìm
hiểu một cách có hệ thống các dấu hiệu pháp lý, hình phạt và phân biệt tội phạmnày với một số tội phạm khác được quy định trong bộ luật
Nhưng trước khi đi tìm hiểu những vấn đề trên thì ta phải định nghĩa thế nào
là “tội sản xuất, buôn bán hàng giả” Điều 156 không đưa ra định nghĩa này,
nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta có thể xây dựng lên một định nghĩa
về tội phạm này trên cơ sở của định nghĩa tội phạm tại Khoản 2 Điều 8, Do đó:
“Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi làm ra, mua đi bán lại hàng giả,
do người có năng lực trách nhiêm hình sự thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm đến trật tự của nền sản xuất hàng hóa, làm mất ổn định thị trường, xâm hại lợi ích người tiêu dùng”
2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả:
Tội phạm được cấu thành bởi bốn yếu tố: khách thể của tội phạm, mặt kháchquan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm Đối với tộisản xuất, buôn bán hàng giả thì bốn yếu tố này được thể hiện như sau:
2.1.1 Khách thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả :
Trang 18Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại Khách thể của từng tội phạm cụ thể (khách thể trực tiếp củatội phạm) là nhưng quan hệ xã hội cụ thể được quy phạm pháp luật hình sự bảo vệkhỏi sự xâm hại trực tiếp của một tội phạm cụ thể
Khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là những quan hệ xãhội trong lĩnh vực quản lý chất lượng hàng hóa, lưu thông, phân phối hàng hóatrên thị trường và đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng
Đối tượng của tội sản xuất và buôn bán hàng giả là các loại hàng giả Vậyhàng giả là gì? Và tại sao sản xuất buôn bán hàng giả lại xâm hại đến mối quan hệ
xã hội nêu trên? Theo quan niệm chung thì hàng giả là những sản phẩm hàng hóađược sản xuất trái pháp luật có như những sản phẩm, hàng hóa được nhà nước chophép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường hoặc những sản phẩm, hànghóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi, côngdụng của nó
Theo quy định của pháp luật trước khi BLHS năm 1999 ra đời, thì tại NghịĐịnh 140/HĐBT ngày 25/4/1991cũng đưa ra định nghĩa về hàng giả và 6 dấu hiệu
để hàng hóa bị coi là hàng giả, trong Thông tư liên bộ 1254/TTLB ngày 8/11/1991cũng phân loại hàng giả và phân biệt hàng giả và hàng kém chất lượng Như đãphân tích ở mục 1.2.1 Chương một khóa luận này thì những định nghĩa, dấu hiệu
và sự phân biệt này chưa chính xác và đầy đủ để nhận biết hàng giả Do vậy đểgiải thích đầy đủ và chính xác hơn thế nào là hàng giả, tại Thông tư liên tịch số:10/2001/TTLT ngày 27/4/2000 của Bộ thương mại, Bộ tài chính, Bộ công an, Bộkhoa học công nghệ và hướng dẫn Chỉ thị số 31/1999/CT-TTG của Thủ tướngChính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả thì:
“ Hàng hóa có một trong những dấu hiệu sau đây được coi là hàng giả
1 Hàng giả chất lượng hoặc công dụng:
Trang 191.1 Hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sứ dụng không đúng như ban chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.
1.2 Hàng hóa đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử dụng làm thay đổi chất lượng, không có hoặc có ít dược chất khác với tên dược chất được ghi trên nhãn hoặc bao bì, không có hoặc không đủ hoạt chất, chất hữu hiệu khác với tên hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì.
1.3 Hàng hóa không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằng những nguyên liệu phụ tùng khác không bảm bảo chất lượng so với tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường.
1.4 Hàng hóa thuộc danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà không thực hiện gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật và môi sinh, môi trường.
1.5 Hàng hóa chưa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà áp dụng giấy chứng nhận hoặc dấu phù hợp tiêu chuẩn (đối với danh mục hàng hóa bắt buộc).
2 Giả về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng
2.3 Hàng hóa, bộ phận của hàng hóa có hình dáng bên ngoài trùng với kiểu dáng công nghiệp đang được bảo hộ mà không được phép của chủ kiểu dáng công nghiệp
Trang 202.4 Hàng hóa có dấu hiệu giả mạo về chỉ dẫn nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa gây hiểu sai lệch về nguồn gốc, nơi sản xuất, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hóa.
4.2 Các loại hóa đơn, chứng từ, chứng chỉ, tem,vé, tiền, ấn phẩm có giá trị như tiền, ấn phẩm và sản phẩm văn hóa giả mạo khác.”
Từ những quy định trên thì hàng giả được chia làm ba loại:
- Hàng giả về nội dung: là hàng giả về chất lượng hoặc công dụng Đây là loạihàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc có giá trị sử dụng không đúng bản chất tựnhiên tên gọi và công dụng của loại hàng hóa đó
Ví dụ: Dùng bột mỳ để làm thuốc B1, dùng nước tinh khiết hòa với muối đểlàm thuốc nhỏ mắt…
- Hàng giả về hình thức: là hàng giả về nhãn hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp,nguồn gốc xuất xứ … Đây là loại hàng hóa mang nhãn hiệu, kiểu dáng… của cơ
sở sản xuất khác nhưng có giá trị sử dụng
Ví dụ: Những chiếc đồng hồ mang nhãn hiệu nổi tiếng của Thụy Sỹ nhưngthực ra là đồng hồ do Trung Quốc được làm với kiểu dáng và hình thức giống hệt
Trang 21đồng hồ Thụy Sỹ Hay những chiếc túi sách của hãng thời trang nổi tiếng LouisVutton của Pháp được làm giả kiểu dáng giống hệt và chất liệu kém hơn…
- Hàng giả về nội dung và hình thức: Đây là loại hàng hóa mang nhãn hiệu kiểudáng… của cơ sở sản xuất khác vừa không có giá trị sử dụng mà nó mang tên
Ví dụ: Những chiếc tivi mang nhãn mác và kiểu dáng của hãng Sony nhưngthực tế bên trong là những linh kiện cũ và bóng hình được thay thế bằng bónghình của màn hình máy tính cũ và chỉ dùng một thời gian là bị hỏng
Hàng giả được phân ra là các loại như vậy là tương đối hợp lý và cũng tạođiều kiện cho việc nhận biết hàng giả Tuy nhiên trong thực tiễn đấu tranh chốnglại các tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả đều thống nhất coi hai loại hàng giả
về nội dung và hàng giả cả về nội dung và hình thức là hàng giả Là đối tượng củatội phạm quy định tại Điều 156 của BLHS năm 1999 Còn đối với loại hàng giả vềhình thức thì có hai quan điểm khác nhau:
Có quan điểm cho rằng đây là hàng giả dù có hay không có giá trị sử dụng,thì hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả này thỏa mãn các cấu thành tội phạm quyđịnh tại Điều 156 BLHS thì đều bị phải định tội theo điều này
Có quan điểm khác lại coi loại hàng giả này là hàng hóa vi phạm quyền sởhữu công nghiệp là đối tượng của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp quyđịnh tại Điều 171 BLHS vì hành vi sản xuất , mua bán hàng giả này là sử dụng tráiphép kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa của cơ sở khác
Vậy loại hàng giả về hình thức là đối tượng của Điều 156 là loại hàng giảnhư thế nào? Theo quy định của pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ(Luật sở hữutrí tuệ 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật sở hữu trí tuệ), cũng như quyđịnh của các ĐƯQT về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia(Côngước Berne, Công ước Paris, Hiệp định Trips…), thì nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dángcông nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ, chỉ dẫn địa lý là đối tượng của quyền sở hữucông nghiệp Và việc bảo hộ của Nhà Nước đối với quyền của sở hữu công nghiệp
Trang 22là thông qua văn bằng bảo hộ và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền Quy địnhnày có nghĩa là muốn được nhà nước bảo hộ quyền của mình đối với sáng chế,giải pháp hữu ích nhãn hiệu hàng hóa, kiều dáng công nghiệp… thì phải đăng ký
cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp và được cấp văn băng bảo hộ.Theo luật Tư pháp quốc tế thì quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực trên phạm
vi lãnh thổ mà nó đăng ký bảo hộ và được cấp văn bằng bảo hộ Căn cứ theo quyđịnh trên của pháp luật thì hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là loạihàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất sứcủa cơ sở sản xuất khác đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc có vănbản bảo hộ những loại hàng hóa này là đối tượng của Điều 171 BLHS Còn loạihàng giả về hình thức là đối tượng của Điều 156 BLHS là loại hàng hóa về nhãnhiệu, kiểu dáng công nghiệp , nguồn gốc, xuất xứ… của cơ sơ sản xuất khác chưađăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc không có văn bằng bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp Do vậy hai quan điểm trên đều chưa chính xác
Cũng tại Thông tư liên tịch số: 10/2000/TTLT ngày 27/4/2000 tại mục IV cóđưa ra một số tiêu chí về hàng kém chất lượng Theo đây:
“ Hàng hóa có một trong các dấu hiệu sau đây được coi là hàng kém chất lượng:
1.Hàng hóa có giá trị sử dụng , công dụng nhưng các chỉ tiêu, thành phần cấu tạo về chất lượng chưa đầy đủ như công bố trên nhãn hang hóa hoặc quảng cáo, tiếp thị nhưng không gây hại đến sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường.
2.Hàng hóa có một trong các chỉ tiêu chất lượng thuộc danh mục bắt buộc áp dụng thấp hơn mức chất lượng tối thiểu đã công bố, nhưng không gây hại đến sản xuất, sức khỏe người , động vật, thực vật, môi sinh, môi trường.
3.Hàng hóa có chất lượng thực tế thấp hơn mức ghi trên nhãn hàng hóa hoặc quảng cáo công bố nhưng không gây hại đến sức khỏe người, động vật, thực vật.
Trang 234.Hàng hóa cũ tân trang, sửa chữa lại rồi mạo hàng mới để lừa dối khách hàng, bán theo đơn giá của hàng mới.
5.Hàng hóa đã bị đưa thêm tạp chất hoặc các nguyên liệu khác nhau làm thay đổi định lượng hàng hóa,nhưng không gây hại đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật , thực vật hoặc môi sinh, môi trường”.
Qua quy định cho thấy, hàng kém chất lượng không còn được quy định mộtcách chung chung như Thông tư liên bộ 1254/TTLB ngày 8/11/1999 là những
“sản phẩm có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng đã đăng ký và ghi nhãn sản phẩm, song chưa vi phạm chất lượng tối thiểu” thì dấu hiệu đưa ra ở Thông tư
số: 10/2000/TTLT đã được cụ thể và rõ ràng hơn Qua đây thì hàng giả và hàngkém chất lượng giống nhau ở chỗ là không đạt chất lượng như đã đăng ký hay ghitrên bao bì nhãn mác nhưng hàng giả khác với hàng kém chất lượng ở chỗ: hàng
giả không có giá trị sử dụng hoặc có giá trị sử dụng nhưng thấp hơn “mức chất
lượng tối thiểu” còn hàng kém chất lượng là có giá trị sử dụng nhưng giá trị sử
dụng của hàng hóa này là trên “mức chất lượng tối thiểu” đã công bố Theo quy
định này, thì mức chất lượng tổi thiểu của hàng hóa đươc quy định tại các danhmục các loại hàng hóa phải đạt chất lượng bắt buộc do cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành và mức chất lượng tổi thiều do cơ sở sản xuất công bố đối với sảnphẩm của mình Hàng giả còn khác hàng kém chất lượng ở chỗ, việc sử dụng hànggiả có thể dẫn đến những tổn hại về sức khỏe, tính mạng sức khỏe con người,động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường Còn hàng kém chất lượng thì khônggây hại đến sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường
Hiện nay, trên thị trường hàng hóa rất đa dạng với rất nhiều chủng loại Hànggiả cũng như vậy, nó rất đa dạng từ hàng giả là đồ sản xuất trong nước đến nhữnghàng hóa nhập khẩu, từ những đồ dùng vật dụng thông thường đến những hànghóa cao cấp như chai nước khoáng, đồ điện tử, đồng hồ đeo tay, nước hoa…
Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể khái quát như sau:
Trang 24“ Hàng giả là tất cả những loại hàng hóa từ thông thường đến cao cấp được
sản xuất trái pháp luật, có hình dáng bên ngoài giống như những sản phẩm, hàng hóa được nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu, tiêu thụ trên thị trường không
đủ tiêu chuẩn chất lượng của nhà nươc; hoặc những sản phẩm, hàng hóa không
có giá trị sử dụng đúng nguồn gốc bản chất tự nhiên tên gọi và công dụng của nó nhằm lừa dối người tiêu dùng với mục đích cạnh tranh không lành mạnh và thu lợi bất chính”.
Vậy hàng giả là đối tương tác động của tội phạm quy định tại Điều 156 là cácloại hàng giả nói chung trừ nhưng loại hàng giả là đối tượng tác động của các tội
phạm khác quy định trong các điều luật khác
Hiên nay, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, cho nên nền sản xuất hàng hóa có một ý nghĩa quyếtđịnh đến sự phát triển này Chúng ta không chỉ cần sản xuất ra nhiều hàng hóa màchất lượng của những loại hàng đó còn phải đáp ứng được yêu cầu của con ngườiđang ngày một tăng lên Hàng giả xuất hiện trên thị trường với nhiều hình thứctinh vi, bề ngoài giống như hàng thật lưu thông, phân phối trên thị trường hoặcđược trộn lẫn với hàng thật để dễ bán Từ đó gây ra những tác động xấu về mặtkinh tế, xã hội, giảm lòng tin của người tiêu dùng với nhà sản xuất nhằm cạnhtranh không lành mạnh và còn có thể gây thiệt hại tính mạng sức khỏe con người.Đối với nền kinh tế, hàng giả và buôn bán hàng giả có ảnh hưởng trực tiếp đến nềnkinh tế quốc dân, đến việc thực hiện chính sách kinh tế gây khó khăn cho việcquản lý thị trường của cơ quan chức năng, nhà nước sẽ mất đi một khoản thu chongân sách, gặp nhiều khó khăn trong lĩnh vực quản lý các lĩnh vực sản xuất, điềuphối, lưu thông hàng hóa Là nguyên nhân gây mất ổn định thị trường, ảnh hưởngtới hợp tác kinh tế quốc tế Đối với nhà sản xuất thì hàng giả không chỉ gây ranhững thiệt hại về tài chính mà nó còn giảm uy tín, lòng tin của người tiêu dùngđối với nhà sản xuất, đây là một thủ đoạn canh tranh không lành mạnh Đối với
Trang 25người tiêu dùng thì ngoài những thiệt hại về tiền bạc, nhu cầu sử dụng không đượcđáp ứng thì hàng giả không có giá trị sử dụng hoặc có giá trị sử dụng nhưng khôngđạt tiêu chuẩn cho phép có thể gây ra những tổn hai sức khỏe và tính mạng đối vớingười tiêu dùng.
Ví dụ : Đầu năm 2008, dư luận trong nước đang xôn xao vì vụ mỹ phẩm giảgây chết người, đó là trường hợp của nạn nhân Nguyễn Ngọc Bích ở Châu Thành–Đồng Tháp chết vì sử dụng kem tắm trắng giả…
Do vậy, hàng giả và buôn bán hàng giả cần phải được ngăn chặn và xử lýnghiêm minh để bảo vệ những quan hệ xã hội nêu trên
2.1.2 Mặt khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Bất kỳ một tội phạm nào khi xảy ta cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặctồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được nó như: hành vi,hậu quả cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoàikhi thực hiện hành vi Tổng hợp những điều kiện trên tạo thành mặt khách quancủa tội pham Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm baogồm những biểu hiện của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn rahoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Mặt khách quan của tội phạm là mộttrong bốn yếu tố cấu thành tội phạm không có mặt khách quan thì cũng không cócác yếu tố khác của tội phạm và cũng không có tội phạm
“ Trong mặt khách quan của tội phạm thì hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản, những biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan” Điều 156 “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” thọat nhìn ban đầu thì
có thể cho đây là điều luật quy định một hành vi khách quan là hành vi sản xuấtbuôn bán hàng giả nhưng khi xem xét ta thấy đây là một điều luật nhưng quy địnhhai hành vi khách quan đó là: hành vi sản xuất hàng giả và hành vi buôn bán hànggiả
Trang 26Hành vi sản xuất hàng giả là hành vi làm ra (tạo ra) các loại hàng giả (như đãnêu ở 2.1.1) Làm ra hàng giả là làm với hoàn toàn hoặc lắp ráp từ những bộ phậngiả của hàng hóa Người phạm tội có thể tham gia vào cả quá trình làm ra hàng giả
từ đầu đến cuối hoặc chỉ có thể tham gia vào một công đoạn của quá trình làm rahàng giả như: lắp ráp, chế biến, đóng gói, dán nhãn hiệu để tạo ra hàng giả Hànggiả được sản xuất ra chủ yếu bằng phương pháp công nghiệp theo một quy trình từnguyên liệu đến sản phẩm Điều 156 BLHS năm 1999 không sử dụng thuật ngữ
“làm” hàng giả như Điều 167 BLHS năm 1985 mà sử dụng thuật ngữ “sản xuất”
hàng giả, sự khác biệt này có những ý nghĩa nhất định Sản xuất hàng hóa là kiểu
tổ chức sản xuất mà trong đó có sự phân công lao động và sản phẩm được làm raphải trải qua nhiều khâu khác nhau của một quá trình sản xuất, được thực hiệntheo một quy trình từ nguyên liệu đến sản phẩm Sản xuất hàng giả như vậy, việcsản xuất hàng giả là việc tạo ra hàng giả trong đó cũng có sự phân công lao động
ra các khâu của quá trình sản xuất, hàng giả làm ra phải trải qua các khâu đó Dovậy để sản xuất phải có từ hai người trở lên hoặc phải có máy móc và trang thiết bị
kỹ thuật số lượng hàng giả làm ra là tương đối nhiều Còn việc “làm” hàng giả là
tạo ra sản phẩm giả trên cơ sở bắt chước kiểu dáng, tính năng của một loại hànghóa nào đó, người làm hàng giả làm ra nó theo phương pháp thủ công, không cóquy trình kỹ thuật nhất định nào, số lượng hàng giả làm ra là không nhiều ViệcĐiều 156 quy định như vậy có tính hợp lý hơn rất nhiều, do mục đích của tộiphạm là hàng giả làm ra để lừa dối khách hàng nhằm thu lợi bất chính Với mục
đích như vậy mà sử dụng thuật ngữ “làm” để chỉ hành vi khách quan của tội phạm
này có thể dẫn đến nhầm lẫn với hành vi khách quan của tội phạm khác và cũng
có thể là hành vi khác mà không phải tội phạm Cụ thể là: nếu một người làm tamột sản phẩm được coi là hàng giả, người này đem bán cho người khác nói dối về
chất lượng của sản phẩm hay tên gọi của sản phẩm đó để thu tiền “từ 500 nghìn
đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 500 nghìn đồng nhưng gây hậu quả
Trang 27nghiêm trọng” thì người đó phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại
Điều 139 BLHS Nhưng nếu người đó chỉ làm ra sản phẩm giả đó để sử dụng chonhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình mình thì người đó không được coi làhành vi làm hàng giả và không vi pham pháp luật Do vậy việc sử dụng thuật ngữ
“sản xuất” để thực hiện hành vi khách quan của tội sản xuất hàng giả là chính xác
và không gây nhầm lẫn
Đối với hành vi buôn bán hàng giả thì hành vi buôn bán hàng giả là hành vidùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để mua đi, bán lại những hàng hóa mà biết làhàng giả để thu lợi bất chính
Có thể thấy hành vi khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả đều đượcthể hiện dưới dạng hành động Người phạm tội phải tiến hành một hoạt động cụthể tác động một cách trực tiếp vào quan hệ xã hội cụ thể
Đối với hành vi sản xuất hàng giả người phạm tội phải tiến hành một loạtcác hành động như: lắp ráp, dán nhãn… ngoài ra người phạm tội phải chuẩn bịtrước mọi thứ như nguyên liệu, máy móc, nhà xưởng, dự trù loại hàng hóa sảnxuất, móc nối để tiêu thụ do vậy họ bắt buộc phải thể hiện bằng hành động
Đối với hành vi buôn bán hàng giả: là hành vi mua đi bán lại hàng hóa giả.Người phạm tội phải tìm mối mua hàng giả sau đó bán lại hàng giả đó cho ngườikhác để thu lợi bất chính
Về thời gian thực hiện tội phạm, thì hành vi sản xuất hàng giả phải xảy ratrong một thời gian dài có tính liên tục còn hành vi buôn bán hàng giả thì khác nóvừa có thể xảy ra trong một thời gian dài liên tục, có thể xảy ra trong thời gianngắn và không liên tục
Hành vi sản xuất hàng giả và hành vi buôn bán hàng giả có mối quan hệkhăng khít với nhau Người phạm tội có thể thực hiện một trong hai hành vi hoặc
là sản xuất hàng giả hoặc là buôn bán hàng giả; hoặc thực hiện cả hai hành vi vừasản xuất vừa buôn bán hàng giả Có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thì hàng
Trang 28giả mới đến tay người tiêu dùng và gây hậu quả Có hành vi buôn bán hàng giả thìmới tạo ra nhu cầu, và cần có sản xuất để đáp ứng cho nhu cầu này.
Ví dụ: Ngày 10/9/2007 Viện kiểm soát nhân dân tối cao đã hoàn thành bản
cáo trạng vụ án “cố ý làm trái, buôn bán hàng giả, trốn thuế” xảy ra tại Công ty
điện lực thành phố Hồ Chí Minh Tại bản cáo trạng số: 11/ VKSNDTC – V1B củaViện kiểm sóat nhân dân tối cao thì nhóm bị can nguyên là lãnh đạo nhân viênCông ty Linkton Vina gồm:
Trần Thị Liên (Phó chủ tịch hội đồng quản trị); Trần Công Điền (Phó Tổnggiám đốc); Phạm Huy Quang (Quản đốc phân xưởng); Nguyễn Trọng Hiển(Trưởng phòng kinh doanh); Đặng Thị Kim Liên (Kế toán trưởng) bị truy tố về tộisản xuất, buôn bán hàng giả theo Khoản 3 Điều 156 BLHS Những bị can này đã
có vi phạm sản xuất ra 312.000 chiếc điện kế điện tử mang nhãn hiệu LinktonXingapo nhưng thực chất là dùng những linh kiện mua ở trong nước cũ hỏng lắpvào vỏ điện kế điện tử Linkton Xingapo 312.000 chiếc điện kế điện tử này là hànggiả về nguồn gốc xuất xứ, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp.Những đối tượng này đã móc nối với nhiều người có chức năng tại công ty điệnlực thành phố Hồ Chí Minh để tiêu thụ những chiếc điện kế điện tử giả này với giá580.000đ/ cái Tổng giá trị hàng giả tương đương với giá trị hàng thật là 181 tỷđồng
Hành vi của các đối tượng trên là vừa sản xuất vừa có hành vi buôn bán hànggiả
Hành vi nguy hiểm cho xã hội tác động lên các bộ phận cấu thành quan hệ xãhội được luật hình sự bảo vệ không phải theo hướng có lợi mà gây thiệt hại choquan hệ đó
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xãhội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Thiệt hại gây ra cho khách thể được thểhiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ xã
Trang 29hội là khách thể của tội phạm Tính chất, mức độ của thiệt hại được xác định bởitính chất; mức độ biến đổi của các đối tượng tác động của tội phạm.
Hậu quả của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là từ sự biến đổi về chất củahàng hóa dẫn đến những thiệt hại cho khách thể của tội sản xuất, buôn bán hànggiả đó là những thiết hại vật chất và phi vật chất cho xã hội như: tính mạng, nhânphẩm, danh dự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệthại về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Theo quy định của Điều 156 BLHS thìyếu tố hậu quả của tội phạm không phải lúc nào cũng là dấu hiệu bắt buộc đối vớimặt khách quan của tội phạm Nó chỉ có ý nghĩa là dấu hiệu bắt buộc trong trường
hợp “…hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị…dưới 30
triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng…”
Có ý kiến cho rằng tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tội có cấu thành vậtchất có nghĩa là phải có các dấu hiệu của mặt khách quan của tội phạm là hành vi,hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi hậu quả, thì mới được coi là tội phạm.Nhưng khi nghiên cứu thực tế tội phạm này, chúng tôi thấy rằng tội sản xuất,
buôn bán hàng giả có cấu thành hình thức nghĩa là chỉ cần có hành vi “sản xuất,
buôn bán hàng giả tương đương số lượng hàng thật có giá trị 30 triệu đồng” đã
cấu thành tội phạm mà không cần xem xét dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Ví dụ: Khoảng 7h sáng ngày 14/9/2007 công an Thành phố Hà Nội phát hiệnmột xe ô tô chở 79 cuộn dây điện mang nhãn hiệu SANGJIN – MADE INKOREA nghi là hàng giả
Sau quá trình điều tra làm rõ thì toàn bộ 79 cuộn dây điện trên là hàng giả vàkhám xét kho hàng và nơi sản xuất hàng giả của bọn chúng thu được khối lượnghàng giả và nguyên liệu với giá trị tương đương giá trị hàng thật khoảng255.066.000 đồng và chủ của những cuộn dây điện giả là Phạm Ngọc Anh sinhnăm 1981 và Trần Quốc Tuấn sinh năm 1975 Thủ đoạn của bọn chúng là vàokhoảng giữa năm 2007 nhận thấy nhãn dây điện SANGJIN bán chạy nên chúng sử
Trang 30dụng dây điện gia công không đảm bảo chất lượng in nhãn hiêu SANGJIN –MADE IN KOREA để bán kiếm lời Đang trên đường đi tiêu thụ thì bị phát hiện.Theo bản án ngày 14/3/2008 tòa án nhân dân thành phố Hà Nội căn cứ vàoĐiểm e Khoản 2 Điều 156, Khoản 1 Điều 46, Khoản 1 Điều 60 quyết định:
Phạm Ngọc Anh – 1981: 36 tháng tù cho hưởng án treo, phạt tiền 5 triệuđồng;
Trần Quốc Tuấn – 1975: 24 tháng tù cho hưởng án treo, phạt tiền 5 triệuđồng
Hành vi của Phạm Ngọc Anh và Trần Quốc Tuấn đã đủ cấu thành tội phạm
và thể hiện được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà không cần gây ra hậuquả
Thủ đoạn của bọn tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả rất đa dạng từ đơngiản đến tinh vi rất khó phát hiện, với cách thức quy mô nhỏ lẻ, phân tán đến sảnxuất hàng loạt, có tổ chức, có tính chuyên nghiệp…
Đối với hàng giả sản xuất trong nước thì thường làm giả về nhãn hiệu, kiểudáng tương tự giống hàng thật hoặc sản xuất hàng giả dùng nhãn nhác hàng thật có
cả chỉ dẫn địa lý hẳn hoi khiến người tiêu dùng khó phân biệt
Đối với hàng giả sản xuất tại nước ngoài, phần lớn đây là những hàng giảtrong nước không sản xuất được hoặc sản xuất phải chi phi cao như: hàng điện tử,điện lạnh, phụ tùng ôtô, thiết bị viễn thông… các hàng giả này thường được gắnnhãn hiệu của các nhà sản xuất lớn có uy tín trong nước và trên thế giới Có
trường hợp chúng “đội lốt” rất tinh vi đặt sản xuất một số bộ phạn của hàng thật
như: nhãn tem nhập khẩu, tem chống hàng giả, sau đó nhập lậu vào trong nước đểbán
Thủ đoạn thường là buôn bán nhỏ lẻ, phân tán nhiều nơi, khi nào hết sảnphẩm mới sản xuất tiếp nhằm trốn tránh việc phát hiện của các cơ quan chức năng