1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

noi dung de tai dinh kien gioi o nguoi co tu

46 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 169,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Quảng Nam là địa bàn tụ cư của nhiều dân tộc thiểu số Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế cùng với[.]

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quảng Nam là địa bàn tụ cư của nhiều dân tộc thiểu số Khi đất nướcchuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự chuyểnđổi cơ cấu kinh tế cùng với hội nhập kinh tế thế giới đã tạo cho tỉnh Quảng Nammột bước khởi sắc mới, đời sống của người dân từng bước được cải thiện Mặc

dù vậy, đây vẫn là một trong những vùng mà kinh tế - xã hội phát triển chậm sovới các vùng khác trong cả nước Đại bộ phận các gia đình dân tộc thiểu số đangsống ở mức nghèo đói, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, miền núi Trong bộ phậndân cư ấy, phụ nữ là nhóm đối tượng xã hội gánh chịu nhiều cực khổ nhất, nhiềuthiệt thòi nhất Họ vừa phải tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội, cộng đồngvừa trực tiếp chăm lo công việc gia đình với cường độ lao động và thời gian laođộng quá tải Trong khi đó, với sức lao động như vậy, mức thu nhập lại quá thấpcho nên ít được cộng đồng, xã hội ghi nhận và đánh giá một cách khách quan,đầy đủ và công bằng về vai trò, vị trí của họ Hạn chế này xuất phát từ nhiềunguyên nhân, trong đó định kiến giới nặng nề là nguyên nhân khá nổi bật

Có thể thấy, hiện nay, ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, những kiến thức

về thực hiện bình đẳng nam và nữ vẫn chưa có ảnh hưởng sâu rộng vào đời sốngvăn hóa xã hội của đồng bào nơi đây Người phụ nữ vẫn chưa thực sự đượctrang bị những kỹ năng để nhận biết vấn đề bất bình giới Họ không nghĩ đến vàkhông dám đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của người phụ nữ trên mọi lĩnhvực Đặc biệt, những người phụ nữ dân tộc thiểu số là đối tượng chịu nhiều thiệtthòi bởi ảnh hưởng của định kiến giới

Trong đó, đặc biệt việc đảm bảo bình đẳng giới trong phân công lao độngvẫn là vấn đề nan giải nhất trong gia đình người dân tộc thiểu số Người phụ nữphải làm việc cực nhọc, lo toan nhiều công việc trong gia đình Trong khi đó,lao động là hoạt động làm ra của cải vật chất để nuôi sống con người cho nênkhông chỉ người phụ nữ mà tất cả mọi thành viên trong gia đình đều phát huy tối

đa khả năng của mình để tạo ra vật chất để xây dựng gia đình và xã hội Do đó,công việc lao động không thể chỉ đè lên vai của người phụ nữ mà cần phải có sự

Trang 2

chia sẻ, chung tay góp sức của người đàn ông Một xã hội phát triển, tiến bộ làmột xã hội đòi hỏi phải có sự bình đẳng nói chung trong mọi lĩnh vực và trongphân công lao động nói riêng.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Định kiến giới trong phân công lao động của gia đình người Cơ Tu trên đại bàn xã Chà Vàl, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam” với mong muốn

đóng góp một phần nhỏ vào sự nghiệp thúc đẩy bình đẳng giới tại địa phương,góp phần xây dựng một xã hội không còn bất bình đẳng giới trong việc phâncông lao động nói riêng và trong các lĩnh vực khác nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đấu tranh cho mục tiêu bình đẳng giới bao gồm các hoạt động nghiên cứukhoa học và thực tiễn mang tính toàn cầu Tuy vậy, nghiên cứu khoa học về giới

và bình đẳng giới được “phổ biến ” vào Việt Nam và chính thức trở thành mộtchuyên ngành khoa học độc lập chỉ trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây (nhiềunhà khoa học coi sự kiện thành lập trung tâm nghiên cứu phụ nữ, nay là việnNghiên cứu Gia đình và Giới, thuộc viện Khoa học xã hội Việt Nam vào năm

1987 như là cột mốc của sự ra đời và phát triển của khoa học này)

Các công trình nghiên cứu của cá nhân hoặc tổ chức đã góp phần luận giảinhiều vấn đề thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong giađình và xã hội, thực hiện bình đẳng giới trong gia đình

Công trình “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam”, của tácgiả Lê Thi (1998), NXB Phụ nữ chính là kết quả bước đầu của sự vận dụng quanđiểm của Đảng và Nhà nước, cũng như quan điểm tiếp cận giới vào việc xem xétcác vấn đề có liên quan đến bình đẳng giới, kết hợp với các hình thức thu thậpthông tin qua các cuộc khảo sát đời sống phụ nữ công nhân, nông dân, trí thứctrong quá trình đổi mới đất nước Từ đó, công trình này đã nêu lên những vấn đềđáng quan tâm về bình đẳng giới và đề xuất ý kiến về một số chính sách xã hộicần thiết, nhằm xây dựng sự bình đẳng giới trong tình hình mới

Trang 3

Về vấn đề nghiên cứu gia đình dân tộc thiểu số và vai trò của người phụ

nữ dân tộc thiểu số trong gia đình và xã hội, chúng ta có thể kể đến một số côngtrình sau:

Công trình đầu tiên là của tác giả Đỗ Thị Bình (2001), “Mấy vấn đề về vaitrò giới trong gia đình nông thôn hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp các xã miềnnúi phía Bắc), Khoa học về phụ nữ, số 3, tr 20-33 Từ phân tích vai trò giớitrong gia đình dân tộc Thái, Mông, Dao, tác giả đã chỉ ra sự biến đổi vai trò giớitrong gia đình ở đây theo cả hai xu hướng tích cực và tiêu cực

Thứ hai là công trình của Nguyễn Linh Khiếu (2002), “Khía cạnh quan hệgiới trong gia đình nông thôn miền núi” (Nghiên cứu trường hợp xã Cát Thịnh,Văn Chấn, Yên Bái), Khoa học về phụ nữ, số 1, trang 25- 29 Trong khuôn khổmột cuộc khảo sát tiền dự án tại một xã nghèo miền núi phía Bắc, tác giả đã chỉ

ra những thành tựu đã đạt được, những hạn chế cần phải khắc phục, cũng nhưnhững xu hướng vận động và phát triển trong tương lai của nông thôn miền núiphía Bắc Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay

Thứ ba là công trình của Đặng Thị Ánh Tuyết (2005) “Thực hiện bìnhđẳng giới các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Xã hộihọc Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện bình đẳng giới trên các lĩnh vựccủa đời sống xã hội và gia đình (qua khảo sát ở Yên Bái và Hà Giang), tác giả đã

đề xuất phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳnggiới ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

Những công trình trên bước đầu đặt cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phụ

nữ - gia đình theo phương pháp tiếp cận giới - một phương pháp nghiên cứu mớinhưng rất hiệu quả Hầu hết những công trình đó đã phác họa bức tranh đa dạng,nhiều vẻ về địa vị người phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.Qua đó tác động đến suy nghĩ, quan niệm, thái độ và hành vi của mọi người đốivới gia đình và bình đẳng giới ở Việt Nam thời gian qua Do vậy đây là những

tư liệu hết sức quý giá cho việc triển khai đi sâu nghiên cứu của tác giả

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đi vào tìm hiểu thực trạng về định kiến giới trong phâncông lao động của gia đình người Cơ Tu, phân tích nguyên nhân tác động đếnđịnh kiến giới trong phân công lao động ở đây Trên cơ sở đó, đề xuất một sốbiện pháp khắc phục sự bất bình đẳng giới trong phân công lao động, nâng caovai trò và vị trí của phụ nữ trong gia đình người Cơ Tu, góp phần phát triển kinh

tế - xã hội tại địa bàn này

3 Nhiệm vụ nghiện cứu

Đề tài hướng vào thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm rõ thực trạng về định kiến giới trong phân công lao động của giađình người Cơ Tu (tập trung vào 3 loại vai trò giới: vai trò sản xuất, vai trò táisản xuất, vai trò cộng đồng)

- Phân tích những nguyên nhân tác động đến định kiến giới trong phâncông lao động ở gia đình người Cơ Tu

- Đề xuất những biện pháp cơ bản nhằm khắc phục sự bất bình đẳng giớitrong phân công lao động ở gia đình người Cơ Tu

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Định kiến giới trong phân công lao động của

gia đình người Cơ Tu

4.2 Khách thể nghiên cứu: Phụ nữ và nam giới trên địa bàn, đại diện

chính quyền địa phương tại khu vực địa bàn nghiên cứu

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Nghiên cứu tại địa bàn thôn La Bơ A, La Bơ B và Cần Đôlthuộc xã Chà Vàl

Thời gian: Từ ngày 18 – 23/08/2014

Số lượng hộ gia đình: 45 hộ Số người tham gia: 45 người

Trang 5

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Các phương pháp thu thâp thông tin

5.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Lựa chọn, phân tích, thu thập các số liệu, thông tin cơ bản từ địa phương,

từ các dự án đã triển khai, các văn bản chính sách liên quan, báo cáo tình hìnhhằng năm của địa phương về vai trò nhiệm vụ của phụ nữ, tình hình bình đẳnggiới, chống bạo lực gia đình

5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Tiến hành điều tra khảo sát, thu thập thông tin thực tế về cá nhân, hộ giađình, cộng đồng, chính quyền địa phương liên quan đến vấn đề bình đẳng giớithông qua các phương pháp sau:

- Phỏng vấn bảng hỏi: Nhóm nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 45 hộ của 3thôn: La Bơ A, La Bơ B và Cần Đôl

- Phỏng vấn sâu cá nhân: Tiến hành phỏng vấn sâu 10 người, trong đó có

6 người dân (4 nam, 2 nữ ), 3 trưởng thôn và 1người đại diện cho chính quyềnđịa phương

- Phương pháp quan sát: Trong 6 ngày thực tế ở Xã Chà Vàl, sống vớingười dân nơi đây, nhóm chúng tôi có cơ hội quan sát những hoạt động trongcuộc sống sinh hoạt của người trong gia đình, trong lao động sản xuất và một sốhoạt động cộng đồng của người dân địa phương

5.2 Phương pháp xử lý dữ liệu

- Phân tích thông tin tài liệu: Đọc và phân tích những tài liệu về chínhsách, chủ trương phát triển giới, thực hiện bình đẳng giới; những báo cáo liênquan đến sự phát triển của nữ giới và cả vấn đề bình đẳng giới ở địa phương;một số bài tạp chí liên quan đến vấn đề bình đẳng giới

- Kiểm tra thông tin bằng phương pháp đối chất thông tin giữa các nguồn

tư liệu

- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 11.5 với hai loại câu hỏi mở và câuhỏi đóng thể hiện qua hai dạng bảng chủ yếu là mô tả và bảng kết hợp

- Tổng hợp đánh giá các dữ liệu

Trang 6

6 Ý nghĩa của đề tài

- Đối với chính quyền địa phương: Những kết quả từ đề án có thể giúpcán bộ tại xã và các ban ngành chuyên môn đánh giá, nhìn nhận lại thực trạngbình đẳng giới trong gia đình tại địa phương Những thông tin thu thập được quaquá trình nghiên cứu sẽ tạo cơ sở cho chính quyền địa phương có những bổsung, điều chỉnh về chính sách, chủ trương nhằm thực hiện bình đẳng giới cóhiệu quả, tạo động lực cho sự phát triển chung của địa phương

- Đối với người dân: Giúp người dân có cơ hội nhìn nhận đúng hơn vai tròcủa người phụ nữ và thực trạng bình đẳng giới trong gia đình ở địa phươngmình Từ đó giúp người dân thay đổi quan niệm, góp phần thực hiện có hiệu quảbình đẳng giới trong gia đình nói riêng và bình đẳng nam nữ nói chung

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐỊNH KIẾN GIỚI TRONG

PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG Ở GIA ĐÌNH NGƯỜI CƠ TU

1.1 Khái quát cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

1.1.1 Giới

1.1.1.1 Định nghĩa

Giới là một thuật ngữ xã hội học xuất phát từ môn Nhân loại học, nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích

Có thể định nghĩa ngắn gọn: Giới là thuật ngữ chỉ vai trò trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ

Những tính chất của quan hệ giới được tạo dựng qua quá trình lịch sử, có tính xã hội, không cố định mà có thể thay đổi qua thời gian, có thể khác nhau trong những bối cảnh văn hóa, xã hội khác nhau

1.1.1.2 Các biểu hiện của giới

Giới biểu hiện bởi tính lịch sử và tính xã hội Chúng ta có thể nhận diện được giới ở một số mặt sau:

a Biểu hiện bằng tính cách và phẩm chất

Tính cách và phẩm chất của nam và nữ là do xã hội thừa nhận hay cảm nghĩ Chẳng hạn: Nam tính: Gia trưởng, mạnh mẽ, quyết đoán, dũng cảm; Nữ tính: dịu dàng, vị tha, nhẫn nại, cần cù, khiêm nhường

Các phẩm chất, tính cách này được hình thành do quá trình giáo dục của gia đình và những tác động khách quan của thực tế xã hội

b Biểu hiện bằng tư tưởng

Sự phát triển cao hơn trong nhận thức về giới được biểu hiện trên các quan điểm, tư tưởng và trở thành các chuẩn mực và giá trị xã hội

Chẳng hạn: trong xã hội mẫu hệ, do vị trí và vai trò khách quan của mình, người phụ nữ được đề cao Tất nhiên điều này là hoàn toàn theo khía cạnh bản năng Trong xã hội phụ quyền, tư tưởng thống trị trong xã hội là tư tưởng đề cao

Trang 8

nam giới (hệ tư tưởng Nho giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Phật giáo) và đi cùng là chuẩn mực và giá trị văn hóa nghiêng về lợi ích của người đàn ông.

c Biểu hiện bằng phân công lao động

Mô hình phân công lao động truyền thống “Nam ngoại, nữ nội” tức là nam giới lo việc ngoài xã hội, còn phụ nữ lo việc gia đình

1.1.2 Định kiến giới

1.1.2.1 Khái niệm

Theo Luật Bình đẳng giới (năm 2006): Định kiến giới là nhận thức, thái

độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm,vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ

1.1.2.2 Đặc điểm

Định kiến giới thể hiện hệ thống hóa thái độ đối với nam giới và nữ giới

về vị thế, vai trò, năng lực, đặc điểm, tính chất của nam và nữ, gắn liền với sự khác biệt

Định kiến giới được hình thành một cách lâu dài từ đời này qua đời khác,

có tính chất cố hữu bảo thủ, ăn sâu, bám rễ trong đời sống xã hội do đó việc xóa

bỏ định kiến giới là rất khó khăn Nó đã được hình từ rất lâu và để lại dấu ấn kháđậm nét trong ca dao tục ngữ (ví dụ: nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô) và đến tận bây giờ vẫn còn tồn tại, định kiến giới có ở mọi lĩnh vực của đời sống xãhội như trong gia đình, trong lao động, trong học tập…

Định kiến giới dẫn tới sự đánh giá một cách tiêu cực, thiên lệch về vị trí, vai trò, năng lực của nam và nữ, do đó đã cản trở việc thực hiện các quyền của nam và nữ dẫn tới sự bất lợi đối với nam và nữ dẫn tới việc cản trở mục tiêu bình đẳng giới Ví dụ, người ta hay cho rằng: Phụ nữ không đủ mạnh để làm lãnh đạo, hay nam giới không có khả năng chăm sóc con cái Các quan niệm này thường sai lệch, trong thực tế, những đặc điểm tính cách trên không chỉ của riêng nam giới hay phụ nữ, mà cả nam giới và phụ nữ đều có thể có Tuy nhiên, những đặc tính đó lại thường bị gán cho nam hay nữ dưới góc độ phê phán và làm cho họ bị thiệt thòi xét theo một khía cạnh nào đó Chính định kiến đó đã

Trang 9

hạn chế phụ nữ hoặc nam giới tham gia vào những công việc mà họ có khả nănghoàn thành một cách dễ dàng.

1.1.3 Bình đẳng giới

1.1.3.1 Khái niệm

Theo Luật Bình đẳng giới (năm 2006), bình đẳng giới là việc nam, nữ có

vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó

1.1.3.2 Nội dung của bình đẳng giới

Theo tinh thần của công ước CEDAW, nội dung bình đẳng giới bao gồm các lĩnh vực:

+ Bình đẳng về chính trị

+ Bình đẳng trong kinh tế, việc làm

+ Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục

+ Bình đẳng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe

+ Bình đẳng trong vấn đề hôn nhân và gia đình

Theo Luật Bình đẳng giới (2007) của nước ta, nội dung của bình đẳnggiới gồm có:

+ Bình đẳng về chính trị

+ Bình đẳng về kinh tế, việc làm

+ Bình đẳng trong lĩnh vực lao động

+ Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

+ Bình đẳng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

+ Bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao

+ Bình đẳng trong lĩnh vực y tế

+ Bình đẳng trong gia đình

Như vậy, bình đẳng giới trong gia đình là một trong tám lĩnh vực thựchiện bình đẳng giới được luật hóa ở nước ta hiện nay

Trang 10

1.1.4 Phân công lao động trong gia đình

1.1.4.1 Gia đình

Khái niệm gia đình có nội dung gần với khái niệm hộ gia đình Tức là giađình bao gồm những người có quan hệ hôn nhân hay ruột thịt hoặc nuôi dưỡng

Về mặt pháp lý, mỗi gia đình hay hộ gia đình đều có đăng ký hộ khẩu ghi

rõ số nhân khẩu và họ tên chủ hộ cùng từng thành viên và quan hệ với chủ hộ.Một gia đình có thể có nhiều hộ và ngược lại

Hình thức khá phổ biến của gia đình Việt Nam hiện nay là gia đình hạtnhân và gia đình quy mô nhỏ khoảng 4-6 người

Dù ở trong gia đình truyền thống với nhiều thế hệ hay gia đình hạt nhânthì người đàn ông vẫn đóng vai trò là người chủ Tuy nhiên, trong gia đình ViệtNam phụ nữ vẫn có tiếng nói riêng của mình Họ quản lý, điều hành và thựchiện các loại công việc trong gia đình từ sinh đẻ, nuôi dạy con cái, đến hoạtđộng tài chính Điều này, ít nhiều được phản ánh trong quan niệm dân gian

“lệnh ông không bằng cồng bà”

Cần bổ sung rằng ở Việt Nam quan niệm truyền thống về gia đình luônnhấn mạnh tới yếu tố đoàn kết theo kiểu “thuận vợ thuận chồng” Điều này khácvới tư tưởng phong kiến luôn khép người phụ nữ phải tuân theo đạo tam tòngtức là phục vụ đàn ông Tuy vậy, địa vị chung của người phụ nữ trong hộ giađình lại không hoàn toàn bình đẳng với nam giới Cùng với những công việc nộitrợ đã bị phân công theo cách truyền thống, phụ nữ cũng phải gánh trách nhiệmsản xuất ra của cải vật chất đảm bảo cho gia đình tồn tại và phát triển

1.1.4.2 Phân công lao động trong gia đình

Phân công lao động giữa vợ và chồng là hình thức biểu hiện rõ nhất vị trí

và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội Có thể chia lao động giađình thành 2 loại hình cơ bản sau: sản xuất và tái sản xuất

a Lao động sản xuất: Bao gồm những việc làm ra hàng hóa, dịch vụ đểtrao đổi hoặc tiêu thụ

Trang 11

Cả nam và nữ cùng tham gia song hình thức công việc và tiền công khácnhau Nam giới do có sức khỏe, trí tuệ, có nhiều thời gian rỗi hơn phụ nữ (vìkhông phải đảm nhận việc nhà) nên thường nhận được các công việc tốt hơn

Phụ nữ yếu hơn, phải mang thai, sinh đẻ và chăm sóc con cái, gia đìnhnên thường phải nhận các công việc nặng nhọc, đơn giản, tiền công thấp

b Lao động tái sản xuất

- Tái sản xuất về sinh học: Trong khi nam giới sản xuất tinh trùng cho quá

trình thụ thai thì phụ nữ mang thai, sinh con, cho con bú bằng sữa mẹ Công việccủa phụ nữ rất nặng nhọc và nguy hiểm nhưng không được trả công

- Tái sản xuất ra sức lao động: Là những công việc hỗ trợ cho người sản

xuất cả khi họ đang làm việc và khi không làm việc, tạo điều kiện để họ nghỉngơi, bồi dưỡng để có thể tiếp tục làm việc ngày hôm sau tốt hơn Những việcnày gồm nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, trông nom nhà cửa, chăm sóc người ốm,người già, trẻ em Công việc này do phần lớn phụ nữ đảm trách và không đượctrả công Nhiều người cho đây là công việc của riêng phụ nữ, là “thiên chức”nhưng thực tế công việc này do xã hội phụ quyền đã trao cho phụ nữ

Lao động sản xuất và lao động tái sản xuất đã kết hợp chặt chẽ với nhau

Cả nam và nữ đều tham gia xen kẽ trong thời gian một ngày nhưng thời gian laođộng của phụ nữ nhiều hơn và vất vả hơn so với nam giới

- Tái sản xuất cơ cấu hoặc vai trò chính trị trong cộng đồng: Công việc

này chủ yếu là nam giới tham gia được trả công cao thông qua quyền lực và uytín xã hội Phụ nữ thường tham gia ở vai trò thừa hanh và ít quyền ra quyết định.Tóm lại: Quan niệm coi công việc nội trợ là của phụ nữ còn khá nặng nề trongcác nhóm gia đình Việt Nam Thêm vào đó, trong khi cơ hội phát triển và việclàm của phụ nữ nhìn chung thấp hơn nam giới thì việc họ đầu tư nhiều thời gianhơn cho công việc nội trợ là một trở ngại lớn trên con đường tiến tới bình đẳngnam và nữ trong gia đình và xã hội

1.1.5 Bình đẳng giới trong phân công lao động gia đình

Chúng ta không nên hiểu vợ chồng bình đẳng trong phân công lao độnggia đình là chia sẻ đều công việc hay cả hai cùng làm hay chồng giúp vợ làm

Trang 12

Vấn đề là sự phân công rõ ràng, hợp lý để mỗi người vừa có trách nhiệm thựchiên, vừa phát huy được khả năng của mình, lại vừa có điều kiện để phát triểntoàn diện trong gia đình và ngoài xã hội.

Bất bình đẳng trong gia đình không chỉ biểu hiện ở chỗ phụ nữ trên thực

tế phải bỏ nhiều thời gian và công sức gánh vác công việc gia đình hơn nam giới

mà còn bộc lộ ở quyền ra quyết định trong gia đình Theo nhiều nghiên cứu,người chồng đóng vai trò chính ở quyền ra quyết định trong gia đình Rõ ràngviệc chồng tạo ra nhiều thu nhập hơn vợ chứ không phải số lượng công việcđược thực hiện là nguồn gốc của quyền lực này

1.1.6 Ảnh hưởng của định kiến giới đến việc thực hiện bình đẳng giới trong phân công lao động ở gia đình

Xuất phát từ nền tảng định kiến giới là phụ nữ có thiên hướng về gia đình,nam giới có thiên hướng về công việc và sự nghiệp, vì vậy có sự chênh lệch lớn

về thời gian làm việc và nghỉ ngơi của nam giới và phụ nữ trong gia đình.Chúng ta dễ dàng nhận thấy, phụ nữ và nam giới cùng dành thời gian lao độngsản xuất như nhau trong cả công việc ngoài thị trường hoặc phi thị trường Tuynhiên, phụ nữ lại sử dụng phần lớn thời gian mà nam giới dùng để nghỉ ngơi,giải trí để làm việc gia đình Các công việc gia đình cũng xé lẻ thời gian củangười phụ nữ, tiêu tốn nhiều thời gian của họ trong khi nam giới làm việc đượctập trung hơn và có nhiều thời gian để nghỉ ngơi Gánh nặng này ảnh hưởng tớisức khỏe, thể chất của phụ nữ Đây là một chỉ báo quan trọng có nguồn gốc từđịnh kiến giới Ở một khía cạnh khác, việc người phụ nữ phải đảm nhận hầu hếtcác công việc trong gia đình sẽ hạn chế trong thời gian họ tham gia các côngviệc xã hội Do đó, phụ nữ bị hạn chế về mặt nhận thức xã hội, khía cạnh nàyphản ảnh chỉ bảo phát triển tinh thần ở phụ nữ bị hạn chế so với nam giới

Để lý giải hiện tượng trên, có thể chỉ ra tối thiểu ba lí do cản trở việc namgiới tham gia làm các công việc trong gia đình

Thứ nhất, áp lực từ định kiến xã hội cho rằng “không phải việc của

đàn ông” hoặc quan niệm một người đàn ông làm các công việc nội trợ sẽ bị

“mất đi khí chất nam nhi”.

Trang 13

Thứ hai, bản thân nhiều người phụ nữ cũng coi đó là “việc của nữ giới”

và không yêu cầu, thậm chí không đánh giá cao sự tham gia của nam giới

Thứ ba, nhiều trường hợp vượt qua được áp lực từ phía xã hội hoặc phíangười vợ thì nam giới không còn kĩ năng làm các công việc trong gia đình do họkhông được dạy và tập luyện từ nhỏ

Trước những lí do này, bản thân người nam giới thường bị đẩy xa khỏicông việc gia đình, khiến họ dần dần đi đến chỗ thực sự tin rằng công việc nộitrợ đúng là việc của phụ nữ

1.2 Vài nét về người dân tộc Cơ Tu

Tên tự gọi: Cơ Tu

Tên gọi khác: Ca Tu, Ka Tu

Dân số: 61.588 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổngcục thống kê)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ Môn – Khơ Me (ngữ hệ Nam Á),gần gũi với tiếng Tà Ôi, Bru – Vân Kiều Chữ viết ra đời từ thời kỳ trước năm

1975, trên cơ sở dùng chữ La – tinh để phiên âm, nhưng ít khi sử dụng

Lịch sử: Người Cơ Tu cư trú lâu đời ở miền núi tây bắc tỉnh Quảng Nam,tây nam tỉnh Thừa Thiên Huế, liền khoảnh với địa bàn phân bố tộc Cơ Tu bênLào Họ thuộc số cư dân cư trú lâu đời ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên

Hoạt động sản xuất:

- Làm rẫy là chính, canh tác theo lối phát cây bằng rìu và doa quắm, rồiđốt, sau đó dùng gậy chọc lỗ để tra hạt giống; làm cỏ bằng cái nạo có lưỡi sắtuốn cong, tuốt lúa bằng tay

- Rẫy đa canh, xen canh và cứ sau vào vụ lại bỏ hóa một thời gian dàitruocs khi canh tác tiếp Mỗi năm chỉ gieo trồng một vụ

- Vật nuôi chủ yếu là trâu, lợn, chó, gà Song nguồn thực phẩm hàng ngàychủ yếu do hái lượm, săn bắt và đánh cá mang lại Nghề thủ công chỉ có dệt vải

và làm đồ gốm (đồ đất nung) ở một số nơi tiếp giáp biên giới Việt – Lào; riêngnghề đan lát phát triển rộng khắp Kinh tế hàng hóa hạn hẹp, hình thức trao đổivạt đến nay vẫn thông dụng

Trang 14

Phương tiện vận chuyển: Gùi đeo sau lưng nhờ đôi quai quàng vào haivai Có loại gùi đan dày, gùi đan thưa, với các cỡ thích hợp với người dùng Ðànông có riêng loại gùi ba ngăn (gùi cánh dơi).

Ăn uống: Người Cơ Tu thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ hội có thêm cơmnếp Ăn bốc là tập quán cổ truyền Họ thích các món nướng, ướp và ủ trong ốngtre, uống nước lã (nay nhiều người đã dùng nước chín), rượu mía, rượu tà- vạk(chế từ một loại cây rừng, họ dừa) và rượu làm từ gạo, sắn v.v Họ hút thuốc lábằng tẩu

Trang phục: Người Cơ Tu ưa chuộng nhất bộ y phục bằng vải dệt nền đen

có hoa văn bằng chì, thứ đến hoa văn bằng cườm trắng Ðàn ông quấn khố,thường ở trần Ðàn bà mặc váy ống Nếu váy dài thì che từ ngực trở xuống, nếuváy ngắn thì thân trên mặc áo không ống tay; ngày lễ hội có thêm thắt lưng nềntrắng mộc Loại vải tấm lớn dùng để choàng, quấn và đắp

Ở: Người Cơ Tu sống tập trung ở các huyện Hiên, Giằng (tỉnh QuảngNam) và các huyện Phú Lộc, A Lưới (Thừa Thiên Huế) Họ ở nhà sàn, mái uốnkhum ở hai hồi tựa dáng mai rùa Ðầu đốc nhà thường nhô lên một đoạn khaucút đơn giản Trước kia trong nhà có nhiều cặp vợ chồng và con gái cùng sinhsống, thường là các gia đình của những anh em trai với nhau Toàn bộ nhà ởtrong làng dựng thành một vòng, quây quanh khoảng trống ở giữa Mỗi làng cóngôi nhà chung gọi là Gươl, cao lớn và đẹp nhất Ðó là nơi hội họp và sinh hoạtcông cộng

Quan hệ xã hội: Quan hệ cộng đồng dân làng khá chặt chẽ Làng là mộtđơn vị dân cư trên một địa vực nhất định và riêng biệt, tự quản dựa vào tập tục,đứng đầu là ông "già làng" được nể trọng Sự phân hoá xã hội chưa sâu sắc Giatài được xác định bằng chiêng ché, trâu, đồ đeo trang sức, vải

Cưới xin: Nhà trai phải tốn của cải nộp cho nhà gái và tổ chức cưới Việclấy vợ phải trải qua các bước nghi thức: hỏi, đính hôn, lễ cưới và sau này, khi đãkhá giả thường tổ chức thêm lễ cưới lần nữa Phổ biến hình thức con trai cô lấycon gái cậu, vợ goá lấy anh hoặc em chồng quá cố Quan hệ hôn nhân một

Trang 15

chiều: Nếu nhà A đã gả con gái cho nhà B thì nhà B không được gả con gái chonhà A Trước kia những người giàu thích tổ chức "cướp vợ".

Sinh đẻ: Người phụ nữ đẻ trong chòi dựng sau nhà hoặc đẻ ngay cạnh bếplửa trong nhà, có vài phụ nữ giúp Cái nhau bỏ vào vỏ bầu hoặc gói bằng vải, láchuối chôn ở phía sau nhà Sau 3 - 4 ngày hoặc một tuần sản phụ có thể đi làm.Qua vài ba tháng mới đặt tên cho đứa bé

Ma chay: Quan tài độc mộc bằng loại gỗ tốt được chôn kín hoặc khônglấp đất Nhà khá giả thì quàn tử thi dài ngày hơn, đám ma có mổ trâu, nhà mồlàm bằng gỗ đẹp, cầu kỳ, có nhiều hình trang trí đẽo tạc và vẽ Người Cờ Tu cótục "dồn mồ" Sau ít năm mai táng, khi tang gia đã chuẩn bị đủ điều kiện kinh tế,phải tập trung hài cốt của tang gia trong làng cùng tiến hành một ngày

Thờ cúng: Trong đời sống cá nhân, gia đình và của làng, có rất nhiều lễcúng gắn với sản xuất, sức khoẻ Lễ cúng nhỏ chỉ cần tế bằng gà, thậm chídùng trứng gà; lớn hơn thì dùng lợn; cao hơn nữa là dùng trâu; xưa kia cao nhấtdùng máu người Theo người Cờ Tu, đối với các siêu nhiên, máu con vật hiếnsinh quan trọng đặc biệt Làng có thể có vật "thiêng" (thường là hòn đá) đượccất giữ ở ngôi nhà chung, như một thứ bùa Một số cá nhân cũng có loại bùanày

Lễ tết: Lớn hơn cả là lễ đâm trâu (của làng cũng như của từng nhà), lễ

"dồn mồ", ăn tết theo làng, vào khoảng tháng giêng, tháng hai dương lịch, saumùa tuốt lúa, trước hết có các nghi lễ cúng quải tại nhà và nhà công cộng Tếtcũng là dịp ăn uống và đón tiếp khách vui vẻ Nay nhiều nơi tổ chức Tết vào dịptết Nguyên đán

Lịch: Người Cơ Tu tính ngày trong tháng theo chu kỳ thay đổi hình dạngcủa mặt trăng Căn cứ vào đó để họ đặt tên cho từng ngày Cho nên, có nhữngngày cùng một tên gọi Theo kinh nghiệm và quan niệm dân gian, có ngày trồngsắn, khoai sẽ nhiều củ; có ngày trồng cà, ớt sẽ sai quả; có ngày nên dựng nhà,cưới hỏi

Văn nghệ: Người Cơ Tu có nhiều truyện cổ kể về sự tích, về xã hội conngười, về sự phát sinh các dòng họ Trong lễ hội thường trình diễn múa tập thể:

Trang 16

nữ múa Dạ dạ, nam múa Ting tung Nhạc cụ thường thấy là bộ chiêng 3 chiếc,cồng 1 chiếc, trống, sáo, đàn, nhị Phụ nữ tài nghệ trong việc dệt các đồ án hoavăn bằng sợi màu trang trí với các hoạ tiết hình học phân bố và kết hợp khéo léo,chì và cườm trên vải Nam giỏi trong điêu khắc trang trí ở nhà mồ, nhà côngcộng, với những hình đầu trâu, chim, rắn, thú rừng, gà cũng như trong việc vẽhoa văn trang trí trên cây cột buộc con trâu tế

1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Vài nét về huyện Nam Giang

Huyện Nam Giang là một trong những huyện miền núi của tỉnh QuảngNam, trước ngày 16 tháng 8 năm 1999 được gọi là huyện Giằng Nơ đây vẫncòn lưu giữ những nét văn hóa cổ truyền độc đáo của nhiều dân tộc như Ve, Cơ

Tu, Tà Riềng Bên cạnh đó, nơi đây vẫn còn lưu giữ những phong tục xa xưaảnh hưởng rất lớn đến vai trò, vị trí của người phụ nữ, cụ thể hơn là những địnhkiến giới trong phân công gia đình đã kìm hãm sự phát triển của người phụ nữ

Vị trí địa lý: Huyện nằm ở phía tây tỉnh Quảng Nam, phía bắc giáphuyện Hiên (một huyện cũ của tỉnh Quảng Nam, nay là hai huyện ĐôngGiang và Tây Giang), phía tây là Lào, phía nam là huyện Phước Sơn, phía đông

là huyện Đại Lộc và Quế Sơn

Diện tích, dân cư, giao thông: Huyện có diện tích 1.836 km2 và dân số là19.000 người Huyện lỵ là thị trấn Thạnh Mỹ nằm trên đường Hồ Chí Minh,cách thành phố Đà Nẵng 60 km về hướng tây Là nơi sinh sống của các dân tộc

Ve, Cơ Tu, Tà Riềng

1.3.2 Xã Chà Vàl

Chúng tôi chọn xã Chà Val – một trong những xã thuộc huyện NamGiang và cũng là xã có nhiều người Cơ Tu - đây là dân tộc tập trung sinh sốngnhiều nhất ở tỉnh Quảng Nam

Xã Chà Val là một xã thuộc huyện Nam Giang, có diện tích130,32 km², mật độ dân số đạt 14 người/km²

Xã Chà Vàl có 6 thôn, được chia thành 3 khu vực:

Trang 17

+ Thôn A Bát: Có dân số chiếm khoảng 35% dân số của xã, trong đókhoảng 80% là người dân tộc Cơ Tu, 20% là người Kinh, tổng số hộ dân củathôn này là 206 hộ.

+ Thôn Cần Đôn, thôn Tà Un: Khoảng 98% dân số của 2 thôn này làngười dân tộc Cơ Tu, 2% là người Kinh, tổng số hộ dân của 2 thôn này là 141hộ

+ Thôn A Dinh, thôn La Bơ A, thôn La Bơ B: Khoảng 99% dân số của 3thôn này là người dân tộc Cơ Tu, 1% là người Kinh, tổng số hộ dân của 3 thônnày là 274 hộ

Đây là địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội chưa phát triển nhưthiếu điện, thiếu nước, giao thông khó khăn …

Trang 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỊNH KIẾN GIỚI TRONG PHÂN CÔNG LAO

ĐỘNG Ở GIA ĐÌNH NGƯỜI CƠ TU (XÃ CHÀ VAL – HUYỆN NAM GIANG – TỈNH QUẢNG NAM) 2.1 Vài nét về mẫu nghiên cứu

2.1.1 Về giới tính

Trong 45 người được khảo sát thì có 53,3% nam giới và 46,7% nữ giớiđược phân bố điều cho cả 3 xã Như vậy, con số này có thể đảm bảo được yếu tốkhách quan cho việc tìm hiểu về định kiến giới trong phân công lao động ở giađình người Cơ Tu

2.1.2 Về độ tuổi

Đa số người Cơ Tu được khảo sát đều nằm ở độ tuổi từ 30 – 60 tuổichiếm 80%, trong đó nữ giới tập trung ở độ tuổi từ 30 – 45 (chiếm 40%), cònnam giới đa số ở độ tuổi từ 45 – 60 tuổi chiếm 40% Những người này đượcxem có hiểu biết chín chắn về cuộc sống gia đình nên có thể cung cấp nhữngquan niệm, ý kiến chính xác hơn về vị trí, vai trò của người nam giới và phụ nữtrong gia đình người Cơ Tu hiện nay Ngoài ra, độ tuổi trên 60 chiếm 13,3% cóthể cho chúng ta thấy rõ hơn về những định kiến giới trong gia đình người Cơ

Tu được lưu truyền cho đến ngày nay

Biểu đồ 1: Độ tuổi của người Cơ Tu (%)

Trang 19

2.1.3 Về trình độ học vấn

Trình độ học vấn của người Cơ Tu cũng là yếu tố quan trọng để khẳngđịnh rõ hơn về thực trạng định kiến giới cũng như khả năng thay đổi định kiếngiới trong phân công lao động ở gia đình người Cơ Tu hiện nay

Bảng 1: Bảng tương quan về trình độ học vấn và giới tính của người Cơ

Tu Trình độ học vấn

2.2 Thực trạng định kiến giới trong phân công lao động sản xuất ở gia đình Cơ Tu

Có thể nói, ngay từ buổi bình mình của lịch sử loài người, sự phân cônglao động theo giới đã được hình thành Khi ấy, nam giới do khỏe mạnh hơn thìvào rừng, xuống sông để săn bắt, hái lượm, tìm kiếm thức ăn; còn phụ nữ yếuhơn, phần nữa phải bận bịu với công việc nuôi con nên ở nhà trông con cái vànấu nướng Và mô hình phân công lao động truyền thống ấy vẫn còn được duytrì cho tới tận ngày nay, nó thể hiện rất rõ nét trong hoạt động sản xuất củangười dân tại địa bàn nghiên cứu xã Chà Vàl, huyện Nam Giang

2.2.1 Về thu nhập trong gia đình

Qua khảo sát ở 3 thôn của xã Chà Vàl, phân công lao động giữa nam và

nữ trong gia đình người Cơ Tu, cụ thể là giữa người chồng và người vợ chịu áp

Trang 20

lực rất lớn của phong tục truyền thống Với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội ởmức độ thấp, nền tiểu nông nghiệp tự cung tự cấp, có vùng đồng bào Cơ Tuthường lấy nguồn thu từ tài nguyên của thiên nhiên để bù đắp cho thu nhập giađình Vì vậy, việc ai đóng góp nhiều hơn về kinh tế sẽ được xã hội thừa nhận,đánh giá cao.

Biểu đồ 2: Người đem lại thu nhập chính

Tu, vai trò của người đàn ông rất quan trọng trong gia đình (chiếm 65,8%) bởi

họ có thể đảm đương các công việc đòi hỏi sức khỏe mà người phụ nữ không thể

có như phát rẫy, chặt củi/ đốn gỗ, trồng rừng, săn bắn… - đây cũng chính lànguồn thu nhập chủ yếu ở các gia đình người Cơ Tu Vì thế, vai trò người namgiới được nhìn nhận quan trọng hơn nữ giới

Mặc dù, người phụ nữ Cơ Tu cũng phải cùng tham gia lao động sản xuấtvới nam giới và họ còn phải tốn nhiều công sức lẫn thời gian cho công việcchăm sóc gia đình, nội trợ nhưng vẫn không được cho là lao động chính trongnhà Vì thế thu nhập của người phụ nữ đóng góp cho gia đình chỉ chiếm 29,3%

Gần như mỗi gia đình là mỗi tình cảnh khác nhau trong vấn đề ai nắm giữthu nhập trong gia đình cho nên khi khảo sát 45 người Cơ Tu thì mỗi người lạiđưa ra ý kiến khác nhau Nhìn chung, với quan niệm tồn tại lâu nay trong xã hội

Trang 21

cho rằng phụ nữ là “tay hòm chìa khóa” nên có 56,3% nam giới chia sẻ thu nhậptạo ra từ sản xuất sẽ do nữ nắm giữ chiếm 35,5% Bên cạnh đó, hiện nay cònxuất hiện quan niệm cho rằng ai làm ra sẽ trực tiếp giữ tiền chiếm 44,4% Điềunày xuất phát từ việc nam giới làm ra các sản phẩm có giá trị cao hơn sản phẩmcủa phụ nữ khi mua bán, trao đổi Ngoài ra người Cơ Tu cho rằng phụ nữ khôngbiết vun vén trong gia đình, trình độ nhận thức hạn chế và lý do nữa là cả haibên đều thiếu tin tưởng lẫn nhau nên nam giới không trao quyền giữ tiến cho nữgiới.

Bảng 2: Bảng tương quan giữa giới tính và người nắm giữ nguồn thu nhập

2.2.2 Về quyền quyết định trong công việc sản xuất

Và cũng chính vì nam giới được xem là trụ cột, là người đem lại thu nhậpchính trong gia đình nên họ có quyền quyết định mọi việc quan trọng trong giađình, cụ thể nhất là việc sản xuất, chiếm 51,1%

Trang 22

Biểu đồ 3: Quyền quyết định trong công việc sản xuất (%)

Quyết định trong sản xuất

Nam giới Nữ giới Cả hai

Cô A Lăng Đại (45 tuổi) cho biết: “Từ nhỏ đến giờ, số lần tôi ra khỏi xã

chỉ đếm được trên đầu ngón tay, trừ những lúc ốm nặng phải đi đến trung tâm y

tế huyện còn lại chỉ quanh quẩn bên cái bếp, cái nương thì làm sao biết được nhiều bằng đàn ông Thôi cứ để họ quyết định, mình làm theo là được rồi”.

Bên cạnh đó, vẫn cũng có những vấn đề mà nam và nữ cùng nhau bàn bạcđưa ra quyết định (chiếm 35,6%) Tuy nhiên đối với đàn ông Cơ Tu, họ có thểchấp nhận cùng bàn bạc với phụ nữ hoặc họ cùng làm với phụ nữ những côngviệc nhỏ nhưng việc quyết định các công việc lớn lại là một vấn đề khác Với họkhi phụ nữ cùng bàn bạc sẽ làm cho họ mất đi quyền uy, mất đi sự độc tôn và họxem đó như là việc làm thiếu tôn trọng

2.2.3 Quan niệm của xã hội về phân công lao động sản xuất

Áp lực của phong tục tập quán lạc hậu của người Cơ Tu còn đè nặng lênvai người phụ nữ khi họ không làm tốt các công việc sản xuất trong gia đình

Bởi cộng đồng nơi đây quan niệm: “Phụ nữ chưa có chồng phải siêng năng làm

việc để giúp gia đình mình, có vậy mới tìm một tấm chồng thật tốt Còn người phụ nữ có chồng rồi thì họ phải lao động để giúp gia đình chồng trả nợ tiền thách cưới và để được công nhận là một cô dâu tốt” Vì vậy mà, dù thời gian

làm việc nhiều, từ mờ sang tới khuya nhưng phụ nữ Cơ Tu vẫn chấp nhận, cố

Trang 23

sức làm càng nhiều việc, đặc biệt là việc nặng để được cho là vợ tốt, cha mẹchồng khen là con dâu hiếu thảo, cả gia đình tôn trọng

Bởi vậy, nếu họ không làm tốt vai trò xã hội mong đợi đó thì họ coithường (chiếm 24,4%) và bị chê cười là lười biếng (44,4%)…

Biểu đồ 4: Thái độ của xã hội khi người phụ nữ không làm tốt các công việc

Hắt hủi Quý 2 Lười biếng Ý kiến khác

Trong khi đó, người Cơ Tu lại quan niệm, nam giới chỉ việc lên rừng sănbắn và uống rượu Với hơn 50% số người được hỏi cho rằng việc người đàn ônguống rượu là việc đương nhiên, còn nương rẫy là việc của đàn bà, vì họ phải làmviệc để trả nợ của hồi môn

Khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu, ông Hiên Gir – 47 tuổi khẳng

định: “Đàn ông nơi đây ai cũng uống rượu, vui cũng uống, buồn cũng uống nên

quen rồi Đàn ông đi rừng về mệt mỏi nên ăn nhậu cho bù lại cái công mình đi ngủ rừng Còn nương rẫy thì đã có đàn bà lo rồi”.

Với suy nghĩ tiêu cực như vậy, người đàn ông Cơ Tu thường làm việc rất

ít Hằng ngày, họ thường rủ nhau lên rừng săn bắn các loại chim thú, đặt bẫy đểbắt heo, mang, nai hoặc chiết rượu từ cây T'đin về uống Mọi công việc nươngrẫy, từ việc gieo trồng, làm cỏ, chăm sóc cho đến thu hoạch đều đổ lên đôi vaingười vợ, người mẹ

Tóm lại, phân công lao động sản xuất trong gia đình người Cơ Tu vẫn cònmang đậm những định kiến giới như người phụ nữ phải lao động sản xuất nhiều,

Ngày đăng: 10/07/2016, 21:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng tương quan về trình độ học vấn và giới tính của người Cơ - noi dung de tai dinh kien gioi o nguoi co tu
Bảng 1 Bảng tương quan về trình độ học vấn và giới tính của người Cơ (Trang 19)
Bảng 2: Bảng tương quan giữa giới tính và người nắm giữ nguồn thu nhập - noi dung de tai dinh kien gioi o nguoi co tu
Bảng 2 Bảng tương quan giữa giới tính và người nắm giữ nguồn thu nhập (Trang 21)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w