Như vậy những cơ sở đầutiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow, nhưng phải đếnSchabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại tiếp đó là Edward vàMagee với
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay thị trường chứng khoán không còn là một đề tài mới mẻ
ở Việt Nam Sau sự ra đời của Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ ChíMinh và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, thì đề tài chứng khoán đãthực sự bùng nổ, các công ty chứng khoán, tổ chức bảo lãnh phát hành,…vớihàng loạt các dịch vụ liên quan đến chứng khoán xuất hiện Chỉ trong một thờigian ngắn thị trường chứng khoán đã thực sự phát triển và hầu như ở đâu người tacũng nói đến chứng khoán
Tuy nhiên, đầu tư chứng khoán không phải là một lĩnh vực dễ dàng và nó chứađựng nhiều rủi ro Để thành công các nhà đầu tư cần có những kiến thức nhấtđịnh về chứng khoán và dự báo được những diễn biến giá trong tương lai Hiệnnay có hai trường phái chính trong phân tích chứng khoán là phân tích cơ bản vàphân tích kĩ thuật Phân tích cơ bản dựa trên việc phân tích hoạt động của tổ chứcphát hành chứng khoán trong khi phân tích kĩ thuật dựa trên chuỗi giá cổ phiếutrong quá khứ với một hệ thống các đồ thị và công cụ hỗ trợ Thông thườngngười ta áp dụng cả hai phương pháp này để cho kết quả tốt nhất
Hiện nay các phương pháp phan tích kĩ thuật trên thế giới đã rất phát triển và chonhững kết quả phân tích khá chính xác Hiện nay phương pháp này cũng đã được
áp dụng một cách phổ biến ở các công ty chứng khoán ở Việt Nam Vì vậy, em
đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:
”Phân tích kĩ thuật và ứng dụng một số chỉ báo để tính tóan đối với một số cổphiếu trên thị trường chứng khóan Việt Nam.”
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn TS Hoàng Đình Tuấn cùng các anh chị trong công ty
cổ phần công nghệ thông tin tài chính Thiên Lang (SIRIFIN) đã giúp đỡ em trongquá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề này
Trang 3NỘI DUNG
Chương I: Một số vấn đề lý thuyết trong phân tích kĩ thuật
1 Giới thiệu tổng quan về thị trường chứng khoán và phân tích kĩ thuật Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm rấtlớn của mọi đối tượng trong xã hội Cùng với sự quan tâm đó, giới tham gia thịtrường chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến những kĩ thuật ứng dụng trongphân tích và đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp Hai hệ thống kĩ thuậtphân tích được nói đến nhiều nhất là phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật.Trong khi đa số chúng ta đều ít nhiều có những kiến thức nhất định về phân tích
cơ bản thì số lượng người hiểu và nắm về phân tích kĩ thuật còn hạn chế, hơn thếnữa khả năng ứng dụng và tính chính xác của nó còn là một vấn đề đang bàn cãihàng trăm năm nay
a Lịch sử hình thành
Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm, từ một ngườitên là Charles H Dow Ông là người đã sáng lập lên tạp chí phố Wall (The WallStreet Journal) Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 1884 ông đưa ra chỉ số bìnhquân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mĩ thời gian
đó William Peter Hamilton là người thực sự mang lại sức sống cho nhữngnghiên cứu của Dow bằng việc tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “TheStock Market Barometer” (Phong vũ biểu thị trường chứng khoán) vào năm
1922 Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W Schabacker là người đã đã đisâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker là người đã đưa rakhái niệm đầu tiên về Phân tích kỹ thuật Schabacker từng là chủ biên của tạp chíForbes nổi tiếng Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra được
Trang 4với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọng khi ápdụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ Điều này đã được ông thể hiện vàchứng minh trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory and Practice,Technical Market Analysis and Stock Market Profit” Như vậy những cơ sở đầutiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow, nhưng phải đếnSchabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại tiếp đó là Edward vàMagee với “Technical Analysis of Stock Trend” (cuốn sách đã được tái bản 8lần) và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring, … thì mới thực
sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổng kết thành một hệthống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nóiriêng và thị trường tài chính nói chung
b Các quan điểm về phân tích kĩ thuật
Nguyên lý thành công trong đầu tư chứng khoán là dựa trên giả định “trongtương lai người ta sẽ tiếp tục lặp lại những sai lầm mà họ mắc phải trong quákhứ” (Edwin Lefevre, Reminiscenses of a Stock Operator)
Thị trường chứng khoán hay bất kì thị trường nào đều không bao giờ phản ánhđúng giá trị thực của một hàng hóa được trao đổi bên trong đó mà nó phản ánhgiá trị mà nhà đầu tư nhận thức được và cho rằng nó đáng giá như thế Giá củabất kì một chứng khoán đã cho nào đều không chỉ ra mối quan hệ thực tế giữacung và cầu mà là phản ánh kỳ vọng tương lai của cung và cầu
Vậy “Phân tích kĩ thuật” là gì? Bản thân trong những người sử dụng phân tích kỹthuật cũng không có một sự thống nhất về quan điểm về bản chất của phân tích
kỹ thuật vì phân tích kỹ thuật có thể dược hiểu thuần túy là một khoa học màcũng có thể được hiểu là một nghệ thuật
Trang 5Hiểu một cách rộng nhất thì phân tích kỹ thuật luôn cố gắng nghiên cứu tìnhtrạng “sức khỏe hiện tại của toàn thị trường hay của mỗi chứng khoán với mụcđích là nhằm dự báo biến động tương lai của giá bằng cách dựa trên những kinhnghiệm có được với các hình mẫu kĩ thuật (hay mô hình kĩ thuật) thị trường đãxuất hiện trong quá khứ và áp dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện Giảthuyết căn bản trong phân tích kỹ thuật là những kiến thức đã có về giá và hìnhmẫu đồ thị trong quá khứ sẽ được sử dụng “tham khảo” nhằm xác định giá có xuthế như thế nào trong tương lai đối với mỗi thị trường cụ thể
Nick và Barbara Apostolous định nghĩa về phân tích kĩ thuật là quá trình dự báobiến động giá chứng khoán trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích những biếnđộng trong quá khứ của giá và các áp lực cung cầu có ảnh hưởng đến giá” Tuynhiên định nghĩa này làm cho Phân tích kỹ thuật dường như trở lên gần tươngđương với phân tích cơ bản - là quá trình ước lượng giá trị chứng khoán hay hànghóa bằng cách phân tích các điều kiện kinh tế tài chính cơ bản mỗi công ty, mỗingành,…
Trong cuốn “Stock Market Logic”, Norman Fosback định nghĩa “Nếu như bảnchất của phân tích cơ bản là việc xác định giá trị và xác định mua hay bán cổphiếu khi giá trên thị trường sai lệch khỏi giá trị thực, thì Phân tích kỹ thuật lạidựa trên 2 giả thuyết cơ bản khác hoàn toàn: Thứ nhất, những ước lượng mangtính chủ quan là quá mơ hồ và không thích hợp và thứ hai là dao động giá trongtương lai có thể dự đoán được qua việc phân tích biến động giá trong quá khứ,phân tích mối quan hệ cung - cầu và một số yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếpđến giá cả thị trường “
Clifford Pistolese đã đưa ra định nghĩa khá đầy đủ như sau: “Phân tích kỹ thuật làviệc sử dụng biểu đồ giá và khối lượng giao dịch làm cơ sở cho các quyết định
Trang 6đầu tư Cơ sở căn bản cho hướng tiếp cận này là ở chỗ các thông tin về giá vàkhối lượng trên biểu đồ phản ánh tất cả những gì diễn ra về việc mua hay bán mộtloại cổ phiếu Vì biểu đồ cổ phiếu tóm tắt và phản ánh kết quả thực của các giaodịch đã thực hiện nên Phân tích kỹ thuật là cơ sở duy nhất cho việc ra các quyếtđịnh đầu tư”
R W Schabacker, người cha đẻ của Phân tích kỹ thuật hiện đại đã mô tả Phântích kỹ thuật như “một môn khoa học mới” Theo ông “Việc Phân tích kỹ thuậtcác biến động thị trường là một khía cạnh của phân tích, dựa trên cơ sở nhữnghiện tượng phát sinh từ chính thị trường, bỏ qua những tác động của các yếu tốtrong phân tích cơ bản và các yếu tố khác
Trên thực tế Phân tích kỹ thuật có thể được giải thích đơn giản chỉ là phát biểumột cách đối lập lại với việc xem xét theo trường phái phân tích cơ bản Khíacạnh cơ bản của phân tích thị trường nhắm mối quan tâm đặc biệt vào những yếu
tố như doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, việc kinh doanh của doanh nghiệp, tiềmnăng, họat động trong quá khứ, thu nhập hiện tại và tương lai, bảng cân đối kếtoán, sức mạnh tài chính, chất lượng của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, …Cácyếu tố kĩ thuật là những gì có thể được coi là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đếnkhả năng biến động về giá cổ phiếu sau khi đã bỏ qua các yếu tố thuộc phân tích
cơ bản và những yếu tố không thực sự có ảnh hưởng ”
Còn theo Edward và Magee tác giả cuốn sách “Technical Analysis of StockTrend” thì: “Phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự ghi nhận lại, thường làdưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quá khứ gây lên nhữngthay đổi về giá, khối lượng giao dịch, … của một chứng khoán bất kì hay vớichung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suyluận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”
Trang 7Cuối cùng Steven B Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis from A
to Z”đã định nghĩa một cách ngắn gọn như sau: “Phân tích kỹ thuật là việcnghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạtđộng đầu tư…”
c Những giả định cơ sở
Phân tích kỹ thuật là sự nghiên cứu biến động của thị trường, chủ yếu thông quaviệc sử dụng các đồ thị nhằm mục đích dự đoán các xu thế biến động của giátrong tương lai
Thuật ngữ “biến động của thị trường” ám chỉ ba yếu tố biến động chính cung cấpthông tin cho quá trình Phân tích kỹ thuật là giá, khối lượng giao dịch và sốlượng hợp đồng chưa tất toán ( open interest)
Có 3 giả định làm cơ sở cho việc tiếp cận Phân tích kĩ thuật:
-Biến động giá thị trường phản ánh tất cả
-Giá thị trường dịch chuyển theo xu thế
- Lịch sử sẽ tự lặp lại
1.3.1 Biến động thị trường phản ánh tất cả
Đây có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật Mọi lý thuyết, phân tích khácmuốn được chấp nhận thì trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này Các nhàPhân tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá nhưtâm lý, chính trị hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức đều đượcphản ánh rõ trong giá thị trường Do đó có người cho rằng việc nghiên cứu biến
Trang 8động của giá là tất cả những gì ta cần và thực sự không thể phản đối lại ý kiếnnày.
Trên cơ sở nhận thức chung về việc giá phản ánh những biến động trong cung,cầu Các nhà Phân tích kỹ thuật chỉ ra rằng khi giá tăng dù vì bất kì lý do gì thìcầu phải vượt cung và thị trường tăng giá Chúng ta cũng đều biết và đồng ý rằngđộng lực chính của cung và cầu là những yếu tố kinh tế căn bản, chúng làm hìnhthành lên Bull Market hay Bear Market, còn đồ thị thì không tự nó làm cho thịtrường dịch chuyển lên hay xuống Đồ thị chỉ có thể phản ánh tình hình thịtrường mà thôi
1.3.2 Giá dịch chuyển theo xu thế chung
Khái niệm về xu thế là khái niệm vô cùng quan trọng trong Phân tích kỹ thuật do
đó cần hiểu kĩ về giả định này trước khi muốn tìm hiểu sâu thêm về nó Mục đíchcủa việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường là nhằm xácđịnh được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ sở những xuthế này Trên thực tế những kĩ thuật ở đây đều mang tính lặp lại những xu thế giá
có từ trước tức là mục đích của Phân tích kỹ thuật là nhằm xác định sự lặp lại củanhững dạng biến động của giá đã xuất hiện trong quá khứ để có thể tận dụng kinhnghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp
Từ giả định này chúng ta còn có một hệ quả là “một xu thế giá đang vận động sẽtiếp tục theo xu thế của nó và ít khi có đảo chiều” Hệ quả này rút ra từ định luật
1 về sự vận động của Newton, do đó nó cách phát biểu khác như sau: "một xu thếđang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảo chiều” Nhìnchung tất cả những nghiên cứu nhằm tiếp cận theo các xu thế đều nhằm để đitheo những xu thế giá hiện tại cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều
Trang 91.3.3 Lịch sử sẽ tự lặp lại
Phần lớn nội dung của Phân tích kỹ thuật và việc nghiên cứu biến động thị trườngđều phải nhằm vào nghiên cứu tâm lý con người Chẳng hạn như những mô hìnhgiá, những mô hình này đã được xác định và chứng minh từ hơn 100 năm nay,chúng giống như những bức tranh về đồ thị biến động giá Những bức tranh nàychỉ ra tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá Việc áp dụng những
mô hình này đã phát huy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng sẽ vẫntiếp tục có hiệu quả trong tương lai bởi chúng dựa trên phân tích nghiên cứu tâm
lý con người mà tâm lý con người thì thường không thay đổi Như thế giả địnhnày có thể được phát biểu là : “Chìa khóa để nắm bắt tương lai nằm trong việcnghiên cứu quá khứ” hay “tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ”
1.4 Các loại biểu đồ
Hiện nay trên Thị trường chứng khoán các chuyên viên phân tích dùng rất nhiềucác loại biểu đồ khác nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ được dùngmột cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường (Line chart), biểu đồ dạng thenchắn (Bar chart), biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)
1.4.1 Biểu đồ dạng đường (line chart)
Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên Thị trường chứngkhoán, và cũng là loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất trong các ngànhkhoa học khác dùng để mô phỏng các hiện tượng kinh tế và xã hội…và nó cũng
là loại biểu đồ được con người dùng trong thời gian lâu dài nhất Nhưng hiện naytrên thị trường chứng khoán do khoa học kỹ thuật phát triển, diễn biến của thịtrường chứng khoán ngày càng phức tạp, mức độ dao động trong thời gian ngắnvới độ lệch khá cao, nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại
Trang 10hiệu quả thấp trong phân tích cho nên loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụngnhất là trên các thị trường chứng khoán hiện đại Hiện nay nó chủ yếu được sửdụng trên các thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn,khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳ theo từng phiên hoặc nhiều lầntrong một phiên nhưng mức độ giao dịch chưa thể đạt được như thị trường chứngkhoán dùng phương pháp khớp lệnh liên tục.Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ
sử dụng, lý do chính là vì nó được sử dụng trên tất cả các thị trường chứng khoántrên khắp thế giới từ trước tới nay
Đồ thị biến động VNIndex(tính đến ngày 18/01/2007 - bsc.com.vn)
1.4.2 Biểu đồ dạng then chắn (bar chart)
Trang 11Cổ phiếu General ElectricTrên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên thế giới hiện nay các chuyên viênphân tích thường dùng loại biểu đồ này trong phân tích là chủ yếu lý do chính vìtính ưu việt của nó đó là sự phản ánh rõ nét sự biến động của giá chứng khoán Hai kí tự mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là:
Loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các thị trường chứngkhoán hiện đại khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh liên tục, độ dao động của giáchứng khoán trong một phiên giao dịch là tương đối lớn
Trang 121.4.3 Biểu đồ dạng ống (candlestick chart)
Đồ thị biến đông giá của YAHOO, 18/1/2007(nguồn: http://www.stockcharts.com)
Trang 13Đây là dạng biểu đồ cải tiến của biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), nó đượcngười Nhật Bản khám phá và áp dụng trên thị trường chứng khoán của họ đầutiên Giờ đây nó đang dần được phổ biến hầu hết trên các thị trường chứng khoánhiện đại trên toàn thế giới Dạng biểu đồ này phản ánh rõ nét nhất về sự biếnđộng của giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán khớp lệnh theo hình thứckhớp lệnh định kỳ.
Hai kí tự mà loại biểu đồ này sử dụng là:
2 Một số chỉ báo phổ biến trong phân tích kĩ thuật
2.1 Moving Average Convergence Divergence (MACD)
Được phát triển bởi Gerald Appel, MACD là 1 trong những chỉ báo đơn giản có
độ tin cậy cao nhất MACD sử dụng các trung bình trượt bằng cách lấy trungbình trượt ngắn hạn trừ đi trung bình trượt dài hạn Các biểu đồ kết quả dạngđường dao động bên trên hoặc bên dưới đường zero, không có bất cứ giới hạntrên hay dưới nào MACD là một chỉ báo xung lượng cho biết mức độ dao độngcủa giá cổ phiếu
Trang 142.1.1 Biểu thức MACD
MACD chuẩn là chênh lệch giữa trung bình trượt mũ (EMA) 12 ngày và 26 ngàycủa chứng khoán Đây là biếu thức được sử dụng trong rất nhiều chương trìnhphân tích kĩ thuật, xuất hiện trong rất nhiều các cuốn sách phân tích kĩ thuật Sửdụng các trung bình trượt ngắn hạn sẽ tạo ra các chỉ báo nhanh hơn và nhạy cảmhơn, trong khi các trung bình trượt dài hạn sẽ tạo ra các chỉ báo chậm hơn Đếthực hiện các mục tiêu của bài viết này, chúng ta sẽ sử dụng đường MACDtruyền thống để giải thích
Trong 2 đường MA tạo nên MACD, thì đường EMA12 ngày là đường nhanh hơncòn EMA 26 ngày là đường chậm hơn Giá đóng cửa được sử dụng để tính các
MA Thông thường, đồ thị EMA 9 ngày của đường MACD được sử dụng nhưmột đường tín hiệu Điểm giao cắt tăng giá xuất hiện khi MACD di chuyển bêntrên đường EMA 9 ngày của nó, và điểm giao cát giảm giá xuất hiện khi MACD
di chuyển bên dưới đường EMA 9 ngày của nó
Trang 152.1.2 Cách sử dụng
MACD đo lường chênh lệch giữa 2 đường EMA MACD dương chỉ ra rằng EMA
12 ngày ở trên EMA 26 ngày Nếu MACD dưong và đang tăng, thì khoảng cáchgiữa 2 đường EMA ngày càng mở rộng Điều này chỉ ra tỉ lệ thay đổi của MAnhanh cao hơn của MA chậm Momentum dương đang tăng thể hiện một chu kìtăng giá Nếu MACD âm và đang đi xuống, thì khoảng cách giữa MA nhanh và
MA chậm dang mở rộng Đường momentum âm đang ngày càng giảm thì báohiệu một chu kì giảm giá.Các điểm giao cắt giữa MACD và đường zero xuất hiệnkhi đường MA chậm cắt đường MA nhanh
2.1.3 Lợi ích của MACD
Một trong những lợi ích cơ bản của MACD là nó kết hợp các khía cạnh củamomentum và đường xu thế vào trong một chỉ báo Giống như một chỉ báo xuthế, nó đúng cho cả trong thời gian dài Việc sử dụng các MA đảm bảo rằng cácchỉ báo cuối cùng sẽ tuân theo sự dịch chuyển của tài sản cơ sở Không giống vớitrung bình trượt giản đơn(SMA), bằng cách sử dụng các trung bình trượt mũ(EMA), một số yếu tố trễ sẽ không được tính đến
Giống như chỉ báo mometum, MACD có khả năng để dự báo các biến động củatài sản cơ sở Sự phân kì của MACD có thể là nhân tố quan trọng cho việc dự báo
sự thay đổi của xu thế Dấu hiệu phân kì âm báo hiệu momentum tănggiá(bullish), và có thể có khả năng xu thế thay đổi từ tăng giá thành giảm giá.Dấu hiệu này có thể cung cấp một công cụ cảnh báo cho nhà đầu tư để kiếm lợinhuận ở vị thế mua, hoặc cho những nhà đầu tư mạo hiểm xem xét việc bắt đầumột vị thế bán
Trang 16MACD có thể được ứng dụng để vẽ các đồ thị theo ngày , tuần hoặc tháng.MACD biẻu diễn sự hội tụ và phân kì của 2 trung bình trượt MACD chuẩn đượctính bằng chênh lệch giữa EMA 12 và 26 ngày Tuy nhiên, chúng ta có thể sửdụng bất cứ sự kết hợp nào giữa các đường MA Tập hợp các đường MA được sửdụng trong MACD có thể phù hợp cho từng chứng khoán riêng lẻ Đối với đồ thịtừng tuần, tập hợp các MA nhanh hơn có thể là fù hợp Đối với các cổ phiếukhông ổn định, những đường MA chậm hơn có thể giúp ích cho việc làm trơn sốliệu Lưu ý rằng mỗi cá nhân cần hiệu chỉnh MACD cho phù hợp với cách kinhdoanh , mục tiêu và khả năng chịu rủi ro của mình.
2.1.4 Hạn chế cuả MACD
Một trong những ưu điểm và cũng là mặt hạn chế của MACD đó là các MA hoặc
là giản đơn, hoặc hàm mũ hoặc có trọng số đều là các chỉ báo có độ trễ Mặc dùMACD thể hiện sự chênh lệch giữa 2 MA, có thể còn có một số yếu tố trễ trongchính chỉ báo đó Điều này thường đúng với các đồ thị theo tuần hơn đồ thị theongày.Một cách giải quyết vấn đề này là sử dụng biểu đồ MACD
MACD không fải là một chỉ báo đặc biệt tốt để phân biệt giữa bán siêu (oversold)
và mua siêu (overbought) Mặc dù nó có thể nhận biết những mức độ nào thểhiện sự bán siêu và mua siêu, MACD không có bất cứ giới hạn trên hay dưói nàoràng buộc sự biến động của nó MACD có thể tiếp tục mở rộng vượt quá cựcđiểm trong quá khứ
MACD tính toán sai lệch tuyệt đối giữa 2 trung bình trượt và không thể hiện sailệch tương đối MACD được tính toán bằng cách lấy một trung bình trượt trừ đicái còn lại Khi một chứng khoán tăng giá, chênh lệch (cả âm và dương) giữa 2trung bình trượt được dự tính sẽ tăng Điều này gây khó khăn cho việc so sánh
Trang 17các MACD trong những chu kì thời gian dài, đặc biệt là các chứng khoán biếnđộng theo hàm mũ.
Có một lựa chọn đó là sử dụng dao động giá, thể hiện chênh lệch tương đối giữa
2 trung bình trượt:
(EMA 12 ngày –EMA 26 ngày )/EMA 26 ngàyKết quả chênh lệch tương đối có thể được so sánh trong chuỗi thời gian dài hơn.Đối với các thời kì ngắn hạn, MACD và phương pháp dao động giá về cơ bản làtương tự nhau Hình dáng đường,sự fân kì các điểm cắt giữa các đường trungbình trượt và các điểm cắt đường hướng tâm đối với MACD và phương pháp daođộng giá là hoàn toàn đồng nhất
2.1.5 Những ý kiến tán thành và phê phán MACD
Khi Appel phát triển mô hình MACD, có hàng trăm chỉ báo phân tích kĩ thuậtmới được giới thiệu Trong khi rất nhiều chỉ báo kĩ thuật ra đời và bị loại bỏ,MACD vẫn tồn tại với thời gian Các tư tưởng cơ bản phía sau cách sử dụng của
nó rất rõ ràng, và cách xây dựng của nó rất đơn giản, nó vẫn là một trong nhữngchỉ báo đáng tin cậy Tính hiệu quả của MACD sẽ rất khác nhau với rất nhiềuchứng khoán và thị trường khác nhau Tuỳ theo từng chứng khoán và thị trườngkhác nhau cần lựa chọn độ trễ của MA cho thích hợp Như đối với tất cả các chỉbáo, MACD không phải là không thể sai được và nên được sử dụng cùng với cáccông cụ phân tích kĩ thuật khác
2.1.6 MACD- biêủ đồ (MACD-Histogram)
Năm 1986, Thomas Aspray đã phát triển MACD-biểu đồ (MACD-H) Aspraylưu ý rằng trễ của MACD đôi khi bỏ lỡ những biến động của chứng khoán, đặc
Trang 18biệt là được ứng dụng trong đồ thị theo tuần Ông bắt đầu thử nghiệm bằng cáchthay đổi các trung bình trượt và nhận thấy các trung bình trượt ngắn hạn có thểđưa ra các tín hiệu nhanh hơn.Tuy nhiên ông đang tìm kiếm các công cụ để dựđoán các điểm giao cắt của MACD Một trong những đáp án mà ông đã tìm ra đó
Nếu giá trị của MACD lớn hơn giá trị của EMA 9 ngày, thì giá trị của MACD-H
sẽ dương Ngược lại, nếu giá trị của MACD nhỏ hơn EMA 9 ngày, thì giá trị củaMACD-H sẽ âm Ngoài ra, sự gia tăng hoặc giảm đi trong khoảng cách giữa
Trang 19MACD và đường tín hiệu của nó sẽ được thể hiện trong MACD-H Độ nhọn củaMACD-H tăng chỉ ra rằng MACD tăng nhanh hơn EMA 9 ngày của nó EMA vàmomentum tăng giá(bullish) ngày càng nhanh Độ nhọn của MACD-H chỉ rarằng MACD giảm nhanh hơn EMA 9 ngày của nó và sự giảm của momentumđang tăng.
Trong đồ thị trên đây, chúng ta có thể thấy biến động MACD-H độc lập vớiMACD thực tế Đôi khi, MACD tăng trong khi MACD-H giảm Ở thời điểmkhác MACD giảm trong khi MACD-H tăng MACD-H không đề cập đến giá trịtuyệt đối của MACD nhưng nó thể hiện mối quan hệ giữa đường MACD vàEMA 9 ngày của nó Thông thường, nhưng không phải luôn luôn , biến động củaMACD xuất hiện trước sự phân kì tương đương trong biểu đồ MACD
Điểm đầu tiên biểu diễn độ nhọn của phân kì dương trong MACD-H xuất hiện cótrước điểm giao cắt trung bình trượt tăng giá (bullish)
Trên điểm thứ 2, đường MACD tiếp tục đạt các đỉnh mới nhưng MACD-H thểhiện 2 đỉnh bằng nhau Mặc dù không fải là một trường hợp lý thuyết của phân kì
Trang 20dương, điểm đáy bằng nhau chứng tỏ thất bại trong khả năng dự báo của đườngMACD.
Phân kì dương được hình thành khi MACD-H thể hiện một điểm đáy cao hơn vàMACD tiếp tục thấp hơn nữa
Phân kì âm được hình thành khi MACD-H biểu diễn một đỉnh thấp hơn vàMACD tiếp tục tăng lên
1 6 2 Cách sử dụng
T Aspray tạo ra MACD-H như một công cụ để dự đoán các điểm giao cắt giữacác MA trong mô hình MACD Sự phân kì giữa MACD và MACD-H là công cụchính được sử dụng để dự đoán các điểm giao cắt giữa các MA Phân kì dươngtrên MACD-H chỉ ra rằng MACD đang gia tăng và có thể gần tới điểm giao cắttrung bình trượt tăng giá Phân kì âm trong biểu đồ MACD-H chỉ ra rằng MACDđang suy yếu, và nó báo trước một điểm cắt trung bình trượt giảm giá trênMACD
Trong cuốn sách Technical analysis of financial markets, J.Murphy đã khẳngđịnh lợi ích lớn nhất của MACD-H đó là nhận biết được trong những thời kì nàokhoảng cách giữa MACD và EMA 9 ngày hoặc mở rộng hoặc thu hẹp Nói rộng
ra, khoảng cách được mở rộng chỉ ra rằng momentum tăng và khoảng cách thuhẹp chỉ ra rằng momentum giảm Thường thì một sự thay đổi trên MACD-H sẽxuất hiện trước bất cứ sự thay đổi nào trong đường MACD
2.1 6 3 Các dấu hiệu
Dấu hiệu chính được khái quát bởi biểu đồ MACD là sự phân kì xuất hiện trướcđiểm giao cắt giữa các đường MA Một dấu hiệu tăng giá được dự báo khi xuất
Trang 21hiện 1 phân kì dương và khi có 1 điểm cắt đường trung tâm bullish (làm tănggiá) Một dấu hiệu giảm giá được dự báo khi có một phân kì âm và điểm cắtđường trung tâm bearish(làm giảm giá) Cần nhớ rằng một điểm cắt đường trungtâm của MACD-H tương đương một điểm cắt giữa các đường MA trên MACD.
Sự phân kì có thể có nhiều dạng và nhiều góc độ khác nhau Khái quát lại 2 dạngphân kì có thể nhận biết được đó là : đường phân kì xiên (slant divergence) vàđường phân kì lồi lõm (peak-trough divergence)
Slant divergence- Phân kì xiên
Một đường phân kì xiên xuất hiện khi có một sự biến động trơn tương đối và liêntục theo 1 hướng (lên hoặc xuống) tạo thành sự phân kì Đường phân kì xiên baohàm những khoảng thời gian ngắn hơn là các phân kì được hình thành từ 2 đỉnhhoặc 2 đáy Những đường phân kì xiên có thể chứa một số biến động nhỏ bất
Trang 22thường (lồi hoặc lõm) dọc theo đường đó Môi trường của phân tích kĩ thuật làkhông hoàn hảo và có những trường hợp ngoại lệ đối với hầu hết các quy tắc và
có sự phối hợp giữa rất nhiều dấu hiệu
Peak trough divergence- phân kì lồi lõm
Đường phân kì lồi lõm xuất hiện khi ít nhất 2 đỉnh hoặc 2 đáy xuất hiện theocùng 1 hướng tạo ra sự phân kì Một chuỗi của 2 hoặc nhiều đáy tăng lên (điểmđáy cao hơn) có thể tạo ra một phân kì dương và một chuỗi 2 hoặc nhiều đỉnhgiảm xuống (điểm đỉnh thấp hơn) có thể tạo ra một phân kì âm Đường phân kìlồi lõm thường bao hàm cả một cấu trúc thời gian khoảng 2 tuần hoặc lâu hơn làvài tháng
Thông thường, đường phân kì càng dài và nhọn, thì các dấu hiệu dự báo càng tốt.Những đường phân kì ngắn và hời hợt có thể dẫn đến các dấu hiệu sai Ngoài ra,
Trang 23nó cũng cho thấy đường phân kì lồi lõm đáng tin hơn đường phân kì xiên Đườngphân kì lồi lõm có xu hướng nhọn hơn và bao hàm cấu trúc thời gian dài hơnđường phân kì xiên
2.1 6 4 Lợi ích của MACD-Histogram
Ưu điểm chính của MACD-H là khả năng dự báo các dấu hiệu MACD Cácđường phân kì thường xuất hiện trong MACD-H trước các điểm giao cắt giữa cácđường MA Với những kiến thức này, các nhà kinh doanh và nhà đầu tư có thểchuẩn bị tốt hơn trước những thay đổi có tính chất xu thế có thể xảy ra trongtương lai
MACD-H có thể được ứng dụng trong các đồ thị theo ngày, tuần, tháng.(Chú ý:Việc này có thể đòi hỏi việc kết hợp một số thời kì để xây dựng đường MACDgốc: các đường MA ngắn hơn và nhanh hơn có thể là cần thiết đối với các đồ thịtheo tuần hoặc theo tháng) Sử dụng đồ thị theo tuần có thể xác định đường xuthế cơ bản một cách rõ ràng Khi đường xu thế đã được xác định rõ ràng thì cóthể sử dụng đồ thị theo ngày để xác định thời điểm chiến lược để gia nhập hoặcrút lui khỏi thị trường
Trong cuốn Technical Analysis of the financial markets, J.Murphy tán thànhphương pháp đầu tư 2 bước này để loại trừ những hoạt động kinh doanh đi ngượclại xu thế chính Biểu đồ MACD theo tuần có thể được sử dụng để khái quát dấuhiệu theo chu kì dài để thiết lập xu hướng kinh doanh Sau đó chúng ta sẽ chỉxem xét những dấu hiệu ngắn hạn phù hợp với xu thế chính Nếu xu thế dài hạn
là bullish, thì chỉ những phân kì âm cắt đường trung tâm bearish là có ý nghĩa vớiMACD-H Nếu xu thế dài hạn là bearish, chỉ những phân kì dương cắt đườngtrung tâm bullish được xem xét là có giá trị
Trang 242.1.6.6 Hạn chế của MACD histogram
MACD-H là một chỉ báo của một chỉ báo hoặc một phái sinh của một phái sinh.MACD là phái sinh bậc một của giá chứng khoán, và biểu đồ MACD là phái sinhbậc 2 của giá chứng khoán Là phái sinh bậc 2, MACD-H khác biệt nhiều hơn sovới đường giá thực của chứng khoán Chỉ báo sai khác càng lớn so với giá chứngkhoán thực, các dấu hiệu sai lệch càng lớn.Cần nhớ rằng đây là một chỉ báo củamột chỉ báo MACD-H không nên so sánh trực tiếp với giá thực của chứngkhoán
Do MACD-H được xây dựng để dự đoán trước các dấu hiệu của MACD, sẽ dẫnđến việc bắt đầu trước khi sự việc xuất hiện MACD-H nên được sử dụng cùngvới những công cụ khác trong phân tích kĩ thuật Việc này giúp cho việc phảnứng kịp thời trước những yếu tó môi trường để gia nhập sớm vào thị trường.Những công cụ khác để ngăn cản sự gia nhập sớm là kết hợp các dấu hiệu theongày và theo tuần Tất nhiên là sẽ có dấu hiệu theo tuần nhiều hơn là theo ngày.Tuy nhiên, bằng cách chỉ sử dụng các dấu hiệu theo ngày tương thích với các dấuhiệu theo tuần, chúng ta sẽ chỉ còn phải làm việc với ít dấu hiệu theo ngày hơn.Bằng cách đó, đồng thời bạn cũng có thể được bảo vệ bằng cách kinh doanh với
xu thế dài hạn hơn và không đi ngược lại với nó
Cần cẩn thận với các đường phân kì nhỏ và nông Trong khi những đường nàyđôi khi đưa ra những dấu hiệu tốt, chúng cũng dễ tạo ra những dấu hiệu sai lầmhơn Một phương pháp để loại trừ những đường phân kì nhỏ là tìm kiếm nhữngđường phân kì lớn hơn với 2 hoặc nhiều hơn những đỉnh và đáy rõ ràng So sánh
Trang 25những đỉnh và đáy từ những dấu hiệu trong quá khứ Chỉ những đỉnh và đáy làcác dấu hiệu mới đáng quan tâm.
2.2 Relative Strength Index (RSI)
Được phát triển bởi J.Wilder và được giới thiệu trong cuốn sách NewConcepts in Technical Trading Systems của ông năm 1978, , RSI là 1 chỉ báomomentum đặc biệt hữu ích và thông dụng RSI so sánh các mức lãi với các mức
lỗ gần đây của cổ phiếu và chuyển các thông tin đó thành các số từ 0 đến 100 Sửdụng chu kì thời gian là tham số để tính toán Trong cuốn sách này, J.W đề xuấtviệc sử dụng 14 thời kì
Cách gọi đầy đủ của RSI không may là dễ gây nhầm lẫn với các dạng phân tíchmức độ tương quan khác như đồ thị RS của J.M và dãy RS của IBD Hầu hết cácloại RS khác sử dụng nhiều hơn 1 cổ phiếu trong việc tính toán Như hầu hết cácchỉ báo chính xác, để tính toán RSI chỉ cần 1 cổ phiếu Thêm vào đó để tránh sựrắc rối, nhiều người không sử dụng cách gọi đầy đủ của RSI mà chỉ gọi là RSI.2.2.1 Công thức tính:
Trang 26
Để đơn giản công thức, RSI đ ược phân tích thành các thành phần cơ sở của nó
là mức lãi trung bình_AG , mức lỗ trung bình_AL, RS gốc, và tiếp theo là RShiệu chỉnh
Cho một RSI 14 thời kì, AG = tổng lãi chia cho 14 Ngay cả khi chỉ có 5 khoảnlãi (hoặc lỗ) nhưng tổng của chúng vẫn được chia cho tổng số thời kì của RSI( trong trường hợp này là 14) Cách thức tính AL cũng tương tự
Cách tính RS gốc rất dễ hiểu: chia AG cho AL Để tính các RS tiếp theo, sửdụng AG và AL của thời kì trước để làm trơn
Chú ý : cần nhớ là AG và AL không phải là giá trị trung bình chính xác Thay vìchia cho số thời kì lãi (lỗ) thì tổng lãi ( hoặc lỗ) luôn được chia cho số chu kì thờigian, ở đây là 14
Khi AG >AL, RSI tăng, vì RS>1 Ngược lại, khi AL> AG thì RSI giảm, vì RS<1.Phần trước của công thức đảm bảo rằng các chỉ báo sẽ nằm giữa 0 và 100 Chú ý:nếu AL tiến đến 0 thì theo định nghĩa, RSI sẽ tiến đến 100
Chú ý quan trọng: càng nhiều dữ liệu được sử dụng để tính toán RSI thì kết quảcàng chính xác.Theo lý thuyết yếu tố làm trơn là tính toán liên tụcbằng cách đưacác giá trị xung quanh vào tập hợp dữ liệu Nếu bạn bắt đầu tính RSI tại điểmgiữa của tập hợp dữ liệu hiện thời , giá trị của bạn sẽ chỉ xấp xỉ giá trị RSI thực
Đồ thị Sharp sử dụng ít nhất 250 điểm dữ liệu trước thời điểm bắt đầu của bất kì
đồ thị nào (giả sử rằng có rất nhiều dữ liệu) khi tính toán giá trị RSI của nó.Đểtính được RSI như vậy, bạn cũng phải sử dụng ít nhất bằng ấy số liệu
2.2.2 Ứng dụng
2.2.2.1 Mua siêu và bán siêu
Trang 27J.W đề cập đến việc sử dụng các mức 70 ,30 và mua siêu, bán siêu.Nhìnchung, nếu RSI tăng lên trên 30 thì được xem là bullish đối với tài sản cơ bản.Ngược lại, nếu RSI xuống dưới 70, là tín hiệu bearish Một số nhà giao dịch xácđịnh xu thế dài hạn, sau đó sử dụng cách đọc các điểm cực để xác định thời điểmgia nhập thị trường Nếu xu thế dài hạn là bullish thì bán siêu có thể báo hiệu 1thời điểm có thể ra nhập.
2.2.2.2 Phân kì
Các tín hiệu mua và bán cũng có thể được xác định bằng cách tìm các đườngphân kì âm và dương nằm giữa RSI và tài sản cơ bản Ví dụ, xem xét 1 cổ phiếuxuống giá có RSI tăng,từ điểm low, chẳng hạn là 15 lên 55 Theo cách mà RSIđược xây dựng , đường tài sản cơ bản thường đảo hướng của nó sau đường phânkì.Như trong ví dụ này thì đường phân kì xuất hiện sau điểm mua siêu, bán siêu,thường cung cấp các tín hiệu đáng tin cậy
2.2.2.3 Điểm cắt đường trung tâm
Đường trung tâm của RSI là 50 RSI bên trên hoặc bên dưới có thể là các chỉbáo bullish hoặc bearish Một cách tổng quát, RSI ở trên 50 chỉ ra rằng AG caohơn AL và RSI dưới 50 chỉ ra rằng lỗ đang chiếm ưu thế Một số nhà gíao dịchtìm kiếm một sự dịch chuyển lên trên 50 để thông báo dấu hiệu bullish hoặc một
sự dịch chuyển xuống dứới 50 chỉ ra dấu hiệu bearish
2.3 Bollingerband (BB)
Được phát triển bởi J.Bollinger, bollingerbands là một chỉ báo cho phép người sửdụng so sánh độ biến động và các mức giá tương đối qua các chu kì thời gian.Chỉ báo này gồm 3 đường viền bao quanh hầu hết khoảng biến đông giá chứngkhoán
Trang 28Dải nằm giữa là đường SMA
Dải bên trên ( SMA cộng 2 lần độ lệch chuẩn )
Dải bên dưới ( SMA trừ 2 lần độ lệch chuẩn)
Độ lệch chuẩn là một thước đo thống kê tốt để đánh giá sự biến động của đồ thịgiá Sử dụng độ lệch chuẩn đảm bảo rằng các đường biên sẽ phản ứng nhanhchóng với những sự dịch chuyển giá và phản ánh các thời kì biến động cao haythấp Những sự tăng giá hay giảm giá mạnh có thể dẫn đến sự biến động làm mởrộng các đường biên
2.3.1 Công thức tính
Đường trung tâm là đường SMA 20 ngày
Đường biên trên là đường SMA 20 ngày cộng 2 lần độ lệch chuẩn
Đường biên dưới là SMA 20 ngày trừ 2 lần độ lệch chuẩn
2.3.2 Cách xây dựng
Giá đóng cửa thường được sử dụng để tính toán BB Các biến khác như các mứcgiá điển hình ( typical price) và giá có trọng số (weighted price) cũng được sửdụng
Typical Price = (high + low + close)/3
Weighted Price = (high + low + close + close)/4
Bollinger đề xuất việc sử dụng SMA 20 ngày làm đường trung tâm và 2 lần độlệch chuẩn để xây dựng các đường viền bên ngoài Độ dài của trung bình trượt và
Trang 29số độ lệch chuẩn có thể được hiệu chỉnh cho phù hợp hơn với sở thích của cánhân hoặc đặc điểm riêng của từng chứng khoán
Thử nghiệm và mắc lỗi là một phương pháp để xác định độ dài trung bình trượtphù hợp Việc đánh giá trực quan giản đơn có thể được sử dụng để quyết định sốchu kì thích hợp BB nên bao quanh hầu hết khoảng biến động giá nhưng khôngnên là tất cả
Sau những biến đông mạnh, xuất hiện sự xuyên phá các đường biên là bìnhthường Nếu các mức giá xuất hiện xa ngoài đường biên quá thường xuyên thìcần có một đường trung bình trượt dài hơn Nếu các mức giá hiếm khi chạm tớicác đường biên ngoài, thì cần rút ngắn độ dài trung bình trượt
Đối với khung thời gian chung, Bollinger đề xuất SMA 10 ngày cho chu kì ngắn,SMA 20 ngày cho chu trung bình và 50 ngày cho chu kì dài
2.3.3 Cách sử dụng
Bên cạnh việc chỉ ra các mức giá tương đối và độ biến động, BB có thể được kếthợp với đường giá và các chỉ báo khác để khái quát các dấu hiệu và báo trước cácbiến động
Double bottom Buy: dấu hiệu double bottom buy xuất hiện khi các mứcgiá xuyên phá đường biên dưới và tiếp tục bên trên đường biên dưới sau các điểmlow sau đó Một điểm low có thể hoặc cao hơn hoặc cao hơn hoặc thấp hơn cácđiểm khác Điều quan trọng là điểm low thứ 2 vẫn tiếp tục ở bên trên đường biêndưới Xu thế bullish có thể được thiết lập khi đường giá dịch chuyển lên trênđường trung tâm hay SMA
Trang 30 Double Top Sell: Một dấu hiệu Double Top Sell xuất hiện khi các đỉnhgiá ở trên đường biên trên và các đỉnh theo sau đó không vượt quá đường biêntrên Xu thế giảm giá có thể được báo trước khi các mức giá giảm xuống dướiđường trung tâm.
Những sự thay đổi gía mạnh xuất hiện ngoài các đường biên hẹp và biến độngthấp Trong trường hợp này, các bollingerbands không cho thấy bất cứ gợi ý nào
về xu thế giá trong tương lai Đường xu thế phải được xác định bằng cách sửdụng các chỉ báo khác và các lĩnh vực khác của phân tích kĩ thuật Nhiều chứngkhoán trải qua những thời kì biến động lớn theo sau những thời kì biến độngthấp Việc sử dụng bollingerbands, các chu kì này có thể dễ dàng chỉ ra bằng cácđánh giá trực quan Các đường biên hẹp cho thấy mức biến động thấp và nhữngđường biên rộng cho thấy biến động cao Các biến động có thể sẽ quan trong hơnđối vố những người chơi quyền chọn vì giá của quyền chọn sẽ rẻ hơn khi biếnđộng thấp
BBT của Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết,
TNA của Công ty cổ phần thương mại xuất nhập khẩu Thiên Nam
Trang 311 Giới thiệu khái quát về các cổ phiếu được lựa chọn để phân tích:
1.1 Công ty cổ phần bông Bạch Tuyết (Bach tuyet cotton coporation)
1.1.1 Thông tin chung
Công ty cổ phần bông Bạch Tuyết có tên viết tắt là COBOVINA Bạch Tuyết pháthành chứng khoán mã BBT Công ty hoạt động trong lĩnh vực đồ dùng cá nhân,
cụ thể là bông, băng y tế; băng vệ sinh phụ nữ, và các sản phẩm khác từ bôngbăng Theo số liệu điều tra từ công ty, các sản phẩm y tế của công ty chiếm tới90% tổng thị phần toàn quốc Các sản phẩm băng vệ sinh của công ty rất nổitiếng và phổ biến trên thị trường phía Nam (thị phần khu vực này tới 50-55%).Tuy nhiên sản phẩm của công ty còn chưa quen thuộc với người tiêu dung củacác tỉnh thành phía Bắc (thị phần ở đây chỉ khoảng 5%) Vì vậy thị phần củacông ty trên toàn quốc chỉ ở mức 30%
Về tình hình tài chính, công ty hiện đang có tổng vốn điều lệ là 90 tỷ đồng Công
ty bắt đầu niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch thành phố Hồ Chí Minh từ ngày
15 tháng 3 năm 2004, với tổng số cổ phiếu niêm yết là 9.000.000 cổ phiếu, vàmệnh giá mỗi cổ phiếu là 10.000 đồng Mức giá giao dịch trong phiên đầu là21.600 đồng
1.1.2 Một số nét khái quát về chuỗi lợi suất của cổ phiếu BBT
Ký hiệu: Pt là giá cổ phiếu tại thời điểm t
Rt là lợi suất của cổ phiếu tại thời điểm t
Với các số liệu về giá cổ phiếu Lợi suất của cổ phiếu được tính theo một tronghai công thức sau: