Từ những kết luận trên có thể đi đến định nghĩa sau: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý
Trang 1CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
I Đại cương về Nhà nước
1 Nguồn gốc và bản chất Nhà nước
1.1 Tổ chức xã hội và quyền lực trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ
Từ thời kỳ cổ đại và trung đại đã có nhiều tư tưởng tiếp cận và đưa ranhững lý giải khác nhau về nguồn gốc nhà nước Các nhà tư tưởng theo thuyếtthần học cho rằng: Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, nhà nước là dothượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung Do vậy nhà nước là lực lượngsiêu nhân, quyền lực nhà nước là vĩnh cửu và sự phục tùng quyền lực là cầnthiết và tất yếu Trong khi đó, những nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng lạicho rằng nhà nước là kết quả phát triển của gia đình, là hình thức tổ chức tựnhiên của cuộc sống con người
Đến khoảng thế kỷ 16 đến 18 đã xuất hiện hàng loạt quan niệm mới vềnguồn gốc nhà nước Nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán của Nhànước phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng cho giai cấp tư sản trong việc tham gianắm giữ quyền lực nhà nước, đa số các học giả tư sản đều tán thành quanđiểm cho rằng sự ra đời của nhà nước là sản phẩm của một khế ước (hợpđồng) được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không
có nhà nước Vì vậy, Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xãhội và mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu nhà nước phục vụ họ, bảo vệ lợiích của họ
Vì thế, thuyết khế ước xã hội đã có vai trò quan trọng là tiền đề chothuyết dân chủ cách mạng và cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản để lật đổách thống trị phong kiến
Tuy nhiên học thuyết này giải thích nguồn gốc nhà nước trên cơ sởphương pháp luận của chủ nghĩa duy tâm, coi nhà nước lập ra do ý muốn,nguyện vọng chủ quan của các bên tham gia khế ước, không giải thích đượccội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của nhà nước
Một số học thuyết khác tuy mức độ phổ biến có hạn chế hơn so vớithuyết khế ước xã hội, nhưng đã xuất hiện và nhiều tập đoàn thống trị đã sửdụng làm cơ sở lý luận để giải thích nguồn gốc và bản chất của nhà nước như:Thuyết bạo lực cho rằng, nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lựccủa thị tộc này đối với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng “nghĩ ra”một hệ thống cơ quan đặc biệt (nhà nước) để nô dịch kẻ chiến bại
Các học giả của thuyết tâm lý lại cho rằng, nhà nước xuất hiện do nhucầu tâm lý của con người nguyên thuỷ luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh,giáo sĩ…Vì vậy, nhà nước là tổ chức của những siêu nhân có sứ mạng lãnhđạo xã hội Do nhiều nguyên nhân khác nhau, những học thuyết và quan điểmtrên chưa giải thích được đúng nguồn gốc của nhà nước
Trang 2Với quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Chủ nghĩa Lênin đã chứng minh một cách khoa học rằng, nhà nước không phải là nhữnghiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loàingười đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Chúng luôn vận động, pháttriển và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại và pháttriển của chúng không còn nữa.
Mác-Chế độ cộng sản nguyên thuỷ là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên tronglịch sử nhân loại Đó là một xã hội không có giai cấp, chưa có nhà nước vàpháp luật Cơ sở kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thuỷ là chế độ sở hữuchung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất thấp kém, công cụ lao động thô sơ, con người chưa cónhận thức đúng đắn về thiên nhiên và về bản thân mình, họ luôn bất lực trướcnhững tai họa của thiên nhiên, năng suất lao động thấp
Trong điều kiện đó, con người không thể sống riêng biệt mà phải dựa vàonhau, cùng chung sống, cùng lao động và hưởng thụ những thành quả laođộng chung Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, không ai
có tài sản riêng, không có người giàu, kẻ nghèo, không có tình trạng ngườinày chiếm đoạt tài sản của người kia Lúc này xã hội chưa phân thành giai cấp
và không có đấu tranh giai cấp
Do những điều kiện kinh tế đó đã quyết định đời sống xã hội của chế độcộng sản nguyên thủy Tế bào cơ sở của xã hội không phải gia đình mà là thịtộc Sự xuất hiện của tổ chức thị tộc đã đặt nền móng cho việc hình thành hình
thái kinh tế - xã hội đầu tiên trong lịch sử - hình thái kinh tế - xã hội: cộng sản
nguyên thuỷ Cơ sở kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thuỷ tạo ra hình thức
tổ chức xã hội là thị tộc (tổ chức cơ cấu đầu tiên của loài người) Thị tộc làmột tổ chức lao động, sản xuất, một bộ máy kinh tế xã hội Sự phát triển của
xã hội cộng với các yếu tố tác động khác đòi hỏi thị tộc phải mở rộng quan hệvới các thị tộc khác, dẫn đến sự xuất hiện các bào tộc và bộ lạc bao gồm nhiềubào tộc hợp thành
Để tổ chức và quản lý thị tộc, xã hội đã hình thành hình thức Hội đồng thị
tộc bao gồm tất cả những người lớn tuổi trong thị tộc với quyền hạn rất lớn Tổ
chức quản lý bào tộc là hội đồng bào tộc bao gồm các tù trưởng, thủ lĩnh quân
sự của các thị tộc Hội đồng bộ lạc là hình thức tổ chức quản lý của bộ lạc vớinguyên tắc tổ chức quyền lực của thị tộc nhưng có sự tập trung cao hơn
Như vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã xuất hiện và tồn tạiquyền lực nhưng đó là quyền lực xã hội xuất phát từ xã hội và phục vụ cho lợiích của toàn xã hội Bởi những người đứng đầu thị tộc, bào tộc, bộ lạc hoàntoàn không có đặc quyền, đặc lợi nào, mà họ cùng chung sống, cùng lao động
và hưởng thụ như mọi thành viên khác
Trang 31.2 Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện của nhà nước
Lịch sử đã trải qua 3 lần phân công lao động xã hội lớn (một là, chănnuôi tách khỏi trồng trọt; hai là, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; ba là,buôn bán phát triển và thương nghiệp xuất hiện), mỗi lần lại có những bướctiến mới làm sâu sắc thêm quá trình tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ,chế độ tư hữu xuất hiện đã phân chia xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, hìnhthành hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ Một xã hội mới với sự phân chiagiai cấp và đấu tranh giai cấp, xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức quyền lựcmới đủ sức để dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp đó Tổ chức
đó là nhà nước và nhà nước đã xuất hiện.
Như vậy, nhà nước đã xuất hiện một cách khách quan, nó là sản phẩm
của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Nhà nước“không
phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội” mà là “một lực lượng nảy sinh từ xã hội”, một lực lượng “tựa hồ đứng trên xã hội”, có nhiệm vụ
làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho xung đột đó nằm trong vòng “trật tự”
1.3 Bản chất nhà nước
Xuất phát từ việc nghiên cứu nguồn gốc của nhà nước, chủ nghĩa Mác –
Lênin đi đến kết luận “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu
thuẫn giai cấp không thể điều hoà được” Nghĩa là, nhà nước chỉ sinh ra và
tồn tại trong xã hội có giai cấp và bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp sâusắc Bản chất đó thể hiện trước hết ở chỗ nhà nước là một bộ máy cưỡng chếđặc biệt nằm trong tay của giai cấp cầm quyền, là công cụ sắc bén nhất đểthực hiện sự thống trị giai cấp, thiết lập và duy trì trật tự xã hội
Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấpkhác đều thể hiện dưới ba loại quyền lực là quyền lực chính trị, quyền lựckinh tế và quyền lực tư tưởng Trong đó, quyền lực kinh tế giữ vai trò quyếtđịnh, là cơ sở để đảm bảo cho sự thống trị giai cấp Nhưng bản thân quyền lựckinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột Vì vậy, cần phải có nhànước, một bộ máy cưỡng chế đặc biệt để củng cố quyền lực của giai cấp thốngtrị về kinh tế và để đàn áp sự phản kháng của các giai cấp bị bóc lột Nhờ cónhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị.Nói cách khác, giai cấp thống trị đó trở thành chủ thể của quyền lực kinh tế vàquyền lực chính trị
Quyền lực chính trị “là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp
giai cấp khác” Nhà nước là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức
ra để trấn áp các giai cấp đối địch Do đó, nhà nước chính là một tổ chức đặcbiệt của quyền lực chính trị Giai cấp thống trị sử dụng nhà nước để tổ chức vàthực hiện quyền lực chính trị của giai cấp mình Thông qua nhà nước ý chícủa giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung thống nhất và hợppháp hóa thành ý chí nhà nước Ý chí nhà nước có sức mạnh bắt buộc các giai
Trang 4cấp khác phải tuân theo một “trật tự” do giai cấp thống trị đặt ra, phải phục
vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị
Trong các xã hội bóc lột, nền chuyên chính của các giai cấp bóc lột đều
có đặc điểm chung là duy trì sự thống trị về chính trị, kinh tế và tư tưởng củathiểu số người bóc lột đối với đông đảo nhân dân lao động Các nhà nước bóclột đều có chung bản chất là bộ máy để thực hiện nền chuyên chính của giaicấp bóc lột: Nhà nước chủ nô là công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô,nhà nước phong kiến là công cụ chuyên chính của giai cấp địa chủ phongkiến, nhà nước tư sản là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản Khác vớiđiều đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa với bản chất chuyên chính vô sản, là bộmáy để củng cố địa vị thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân vànhân dân lao động chiếm đa số trong xã hội, để trấn áp những lực lượng thốngtrị cũ đã bị lật đổ và những phần tử chống đối cách mạng
Tuy nhiên để thực hiện sự chuyên chính giai cấp không thể chỉ đơn thuầndựa vào bạo lực và cưỡng chế mà còn cần đến sự tác động về tư tưởng nữa.Giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấpmình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội, bắt các giai cấp khác phải lệthuộc mình về mặt tư tưởng
Như vậy, nhà nước là một tổ chức đặc biệt để bảo đảm sự thống trị vềkinh tế, để thực hiện quyền lực về chính trị và thực hiện sự tác động về tưtưởng đối với quần chúng Ngoài việc thực hiện các chức năng trên, nhà nướccòn phải giải quyết tất cả các vấn đề khác nảy sinh trong xã hội, nghĩa là phảithực hiện chức năng xã hội Tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất củanhà nước Tuy nhiên, bên cạnh đó nhà nước còn thể hiện rõ nét tính xã hội
Dù trong xã hội nào, nhà nước cũng một mặt bảo vệ lợi ích của giai cấp cầmquyền, nhưng đồng thời cũng phải chú ý đến lợi ích chung của toàn xã hội
Từ những kết luận trên có thể đi đến định nghĩa sau: Nhà nước là một tổ
chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.
2 Đặc trưng, kiểu và hình thức nhà nước
2.1 Đặc trưng
So với các tổ chức trong xã hội có giai cấp, nhà nước có một số đặc trưngsau đây:
- Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt không còn hoà nhập
với dân cư nữa; chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị về kinh tế vàchính trị Để thực hiện quyền lực này và để quản lý xã hội, nhà nước có mộtlớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý, họ tham gia vào các cơ quannhà nước và hình thành nên một bộ máy cưỡng chế để duy trì địa vị của giai
Trang 5cấp thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục tùng theo ý chí của giai cấpthống trị.
- Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ thành các đơn vị hành chính,
không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính…Việc phân chia này quyết định phạm vi tác động của nhà nước trên quy môrộng lớn nhất và dẫn đến việc hình thành các cơ quan trung ương và địaphương của bộ máy nhà nước
- Nhà nước có chủ quyền quốc gia Chủ quyền quốc gia thể hiện quyền
độc lập tự quyết của nhà nước về những chính sách đối nội và đối ngoạikhông phụ thuộc các yếu tố bên ngoài Chủ quyền quốc gia là thuộc tínhkhông thể chia cắt của nhà nước
- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với
mọi công dân Với tư cách là người đại diện chính thức của toàn xã hội, nhànước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật Pháp luật do nhà nướcban hành nên có tính bắt buộc chung, mọi người đều phải tôn trọng pháp luật
- Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế Việc thu thuế
nhằm “nuôi dưỡng” bộ máy nhà nước bao gồm một lớp người đặc biệt, tách rakhỏi xã hội để thực hiện chức năng quản lý
Những đặc điểm nói trên nói lên sự khác nhau giữa nhà nước với các tổchức chính trị xã hội khác, đồng thời cũng phản ánh vị trí và vai trò của nhànước trong xã hội có giai cấp
2.2 Kiểu nhà nước
Bản chất của nhà nước trong những thời kỳ lịch sử khác nhau là rất khácnhau Để phân biệt chúng, khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật
đã đưa ra khái niệm kiểu nhà nước: Kiểu nhà nước là tổng thể những đặc điểm
cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định.
Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội:Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Phù hợpvới bốn hình thái kinh tế xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước:
- Kiểu nhà nước chủ nô
- Kiểu nhà nước phong kiến
- Kiểu nhà nước tư sản
- Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa
Các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản mặc dù mỗi kiểu có nhữngđặc điểm riêng nhưng chúng đều là những kiểu nhà nước bóc lột được xâydựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Các nhà nước đó đều làcông cụ để bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, duy trì sự thống trị củagiai cấp bóc lột đối với đông đảo quần chúng nhân dân lao động
Trang 6Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước mới có bản chất khác vớicác kiểu nhà nước bóc lột khác Nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa làthực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,thực hiện công bằng xã hội.
Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng một kiểu nhà nước mới tiến bộ hơn
là một quy luật tất yếu Cách mạng là con đường dẫn đến sự thay thế đó Mộtkiểu nhà nước mới xuất hiện trong quá trình cách mạng khi giai cấp cầmquyền cũ bị lật đổ và giai cấp thống trị mới giành được chính quyền Các cuộccách mạng khác nhau diễn ra trong lịch sử đều tuân theo quy luật đó: Nhànước phong kiến thay thế nhà nước chủ nô, nhà nước tư sản thay thế nhà nướcphong kiến, nhà nước xã hội chủ nghĩa thay thế nhà nước tư sản
Nhà nước XHCN là một kiểu nhà nước tiến bộ nhất nhưng cũng là kiểunhà nước cuối cùng trong lịch sử Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử củamình, nhà nước XHCN sẽ tiêu vong và sau đó sẽ không còn một kiểu nhànước nào khác nữa
2.3 Hình thức nhà nước.
Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước và nhữngphương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước Hình thức nhà nước là mộtkhái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố cụ thể: Hình thức chính thể,hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị
- Hình thức chính thể: Là cách tổ chức và trình tự để lập ra các cơ quan
tối cao của nhà nước và xác lập những mối quan hệ cơ bản của các cơ quan
đó Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể
cộng hoà.
+ Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà
nước tập trung toàn bộ (hay một phần) trong tay người đứng đầu nhà nướctheo nguyên tắc thừa kế, truyền ngôi Vua, Hoàng đế là nguyên thủ quốc giacủa các nhà nước theo chính thể này
Chính thể quân chủ được chia thành chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn chế Quân chủ tuyệt đối là hình thức chính thể quân
chủ, trong đó nguyên thủ quốc gia (Vua, Hoàng đế) có quyền lực vô hạn Trong chính thể quân chủ hạn chế thì quyền lực tối cao của nhà nướcđược trao một phần cho người đứng đầu nhà nước, còn một phần được traocho một cơ quan khác (như Nghị viện trong nhà nước tư sản hay Hội nghị đạidiện đẳng cấp trong nhà nước phong kiến) Chính thể quân chủ hạn chế trongcác nhà nước tư sản gọi là quân chủ lập hiến (quân chủ đại nghị) Trong cácnhà nước tư sản theo chính thể quân chủ đại nghị, quyền lực của nguyên thủquốc gia (Vua, Hoàng đế) bị hạn chế rất nhiều Nguyên thủ quốc gia chỉ mangtính chất tượng trưng, đại diện cho truyền thống, sự thống nhất của quốc gia,
Trang 7không có nhiều quyền hành Chính thể quân chủ lập hiến theo mô hình đạinghị đang tồn tại ở các nước như Nhật Bản, Thụy Điển, Vương quốc Anh…
+ Chính thể cộng hoà là hình thức chính thể, trong đó quyền lực tối cao
của nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định
Chính thể cộng hoà có hai hình thức chính là cộng hoà quý tộc và cộng hoà
dân chủ
Cộng hòa quý tộc là hình thức chính thể, trong đó cơ quan đại diện là do
giới quý tộc bầu ra Chính thể này tồn tại ở kiểu nhà nước chủ nô và nhà nướcphong kiến
Cộng hoà dân chủ là hình thức chính thể, trong đó người đại diện là do
nhân dân bầu ra Chính thể này tồn tại ở tất cả bốn kiểu nhà nước đã có tronglịch sử Tuy nhiên, tính chất và mức độ dân chủ là khác nhau Chính thể cộnghoà dân chủ là hình thức tổ chức chính quyền nhà nước phổ biến nhất hiệnnay ở các nhà nước tư sản Chính thể cộng hòa tư sản có hai biến dạng: Cộnghoà đại nghị và Cộng hoà tổng thống
Trong chính thể cộng hoà đại nghị, thì nghị viện là trung tâm Vai trò
thực thi quyền lực của Nghị viện trong nhà nước là rất lớn Nguyên thủ quốcgia (Tổng thống) do nghị viện bầu ra, chịu trách nhiệm trước nghị viện Chínhphủ do các đảng chính trị chiếm đa số ghế trong nghị viện thành lập và chịutrách nhiệm trước nghị viện, nghị viện có thể bỏ phiếu không tín nhiệm Chínhphủ Do đó, nghị viện có khả năng thực tế kiểm tra các hoạt động của Chínhphủ còn Thủ tướng hầu như không trực tiếp tham gia giải quyết các công việccủa đất nước Hiện nay những nước có chính thể cộng hoà đại nghị như:CHLB Đức, CH Áo, CH Italia…
Trong chính thể Cộng hoà tổng thống, nguyên thủ quốc gia (Tổng thống)
có vị trí rất quan trọng Tổng thống do nhân dân bầu ra Tổng thống vừa lànguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu Chính phủ Chính phủ không phải
do nghị viện thành lập Các thành viên của Chính phủ do Tổng thống bổnhiệm, chịu trách nhiệm trước Tổng thống Tổng thống và các Bộ trưởng cótoàn quyền trong lĩnh vực hành pháp, Nghị viện có quyền lập pháp; Nghị việnkhông có quyền lật đổ chính phủ Tổng thống không có quyền giải tán nghịviện Các nước tổ chức theo chính thể cộng hoà tổng thống như: Hợp chủngquốc Hoa Kỳ, Các nước Mỹ La Tinh…
Ngoài chính thể cộng hoà đại nghị và cộng hoà Tổng thống, hiện nay còn
tồn tại một hình thức cộng hoà “lưỡng tính”, nó vừa mang tính chất cộng hoà
đại nghị vừa mang tính chất cộng hoà tổng thống
Cộng hoà “lưỡng tính” có những đặc điểm sau:
Nghị viện do nhân dân bầu ra;
Tổng thống do nhân bân bầu ra có quyền hạn rất lớn kể cả quyềngiải tán nghị viện, quyền thành lập chính phủ, giải quyết công việc quốc gia.Tổng thống là trung tâm của bộ máy quyền lực;
Trang 8 Chính phủ có Thủ tướng đứng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếpcủa Tổng thống, chịu trách nhiệm trước nghị viện và tổng thống Điển hìnhcho chính thể này là CH Pháp và một số nước Châu Âu.
Chính thể cộng hòa cũng tồn tại ở các nước XHCN với những tên gọikhác nhau (Việt Nam, Trung Quốc…)
- Hình thức cấu trúc nhà nước
Đây là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xáclập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ươngvới địa phương
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là hình thức nhà nước đơn
nhất và hình thức nhà nước liên bang.
Nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan
quyền lực và quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các đơn
vị hành chính bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường) Ví dụ:Việt Nam, Lào, Pháp, Ba Lan …là những nước đơn nhất
Nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp
lại Nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý; một hệthống chung cho toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nước thành viên;
có chủ quyền quốc gia chung của nhà nước liên bang và đồng thời mỗi nướcthành viên cũng có chủ quyền riêng Ví dụ: Mỹ, Đức, Ấn Độ, Malaixia… làcác nước liên bang
tựu chung chúng được phân thành hai loại chính là: Phương pháp dân chủ và
phương pháp phản dân chủ.
Những phương pháp dân chủ cũng có nhiều loại, thể hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau như những phương pháp dân chủ thực sự và dân chủ giảhiệu, dân chủ rộng rãi và dân chủ hạn chế, dân chủ trực tiếp và dân chủ giántiếp…Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bằng việc sử dụng cáchình thức dân chủ thực sự, rộng rãi với chế độ dân chủ tư sản đặc trưng bằngcác phương pháp dân chủ hạn chế và hình thức
Các phương pháp phản dân chủ thể hiện tính chất độc tài cũng có nhiều
loại, đáng chú ý nhất là khi những phương pháp này khi phát triển đến mức độcao trở thành những phương pháp tàn bạo, quân phiệt và phát xít
Trang 9Hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước luôn có liên quan mậtthiết với chế độ chính trị Ba yếu tố này có tác động qua lại lẫn nhau tạo thànhkhái niệm hình thức nhà nước, phản ánh bản chất và nội dung của nhà nước.
3 Chức năng của nhà nước, bộ máy nhà nước
3.1 Chức năng
Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của
nhà nước nhằm để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước Chứcnăng của nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất của nhà nước, do cơ
sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định Ví dụ, các nhà nước bóclột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lộtnhân dân lao động cho nên chúng có những chức năng cơ bản như bảo vệ chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất, đàn áp sự phản kháng và phong trào cách mạngcủa nhân dân lao động, tiến hành chiến tranh xâm lược, nô dịch các dân tộckhác…Nhà nước xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu xã hộichủ nghĩa, là công cụ để bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng lao động, vìvậy chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa khác với chức năng của nhànước bóc lột cả về nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện
Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, các chức năng được chiathành chức năng đối nội và đối ngoại
- Chức năng đối nội: Là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước
trong nội bộ đất nước Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tửchống đối chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế…
- Chức năng đối ngoại: Thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ
với các nhà nước và dân tộc khác Ví dụ: Phòng thủ đất nước, chống sự xâmlược từ bên ngoài, thiết lập các mối quan hệ bang giao với các quốc giakhác…
Để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại, nhà nước sử dụng nhiềuhình thức và phương pháp hoạt động khác nhau, trong đó có 3 hình thức hoạtđộng chính là:
3.2 Bộ máy của nhà nước
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan từ Trung ương đến địaphương, bao gồm nhiều loại cơ quan như cơ quan lập pháp, hành pháp và tư
Trang 10pháp… Toàn bộ hoạt động của bộ máy nhằm thực hiện các chức năng của nhànước, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị.
Bộ máy nhà nước bao gồm nhiều cơ quan, mỗi cơ quan có những chứcnăng, nhiệm vụ riêng phù hợp với phạm vi quyền hạn được giao Mỗi kiểunhà nước có bản chất riêng nên chức năng của các nhà nước thuộc mỗi kiểunhà nước cũng khác nhau và việc tổ chức bộ máy để thực hiện các chức năng
đó cũng có những đặc điểm riêng
II Đại cương về pháp luật
1 Nguồn gốc, khái niệm và bản chất, đặc điểm pháp luật
1.1 Nguồn gốc pháp luật.
Những nguyên nhân làm phát sinh nhà nước cũng là những nguyên nhândẫn đến sự ra đời của pháp luật Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội đã phânchia thành giai cấp thì những xung đột về lợi ích giai cấp diễn ra gay gắt vàcuộc đấu tranh giai cấp là không thể điều hoà được, thì cần thiết phải có một
quy phạm mới để thiết lập cho xã hội một “trật tự”, một loại quy phạm thể
hiện ý chí của giai cấp thống trị, đó là quy phạm pháp luật
Lúc đầu, các quy tắc xử sự của pháp luật chủ yếu được hình thành bằngviệc nhà nước thừa nhận các phong tục tập quán đã có sẵn trong xã hội phùhợp với lợi ích của giai cấp thống trị Sau này, pháp luật được nhà nước trựctiếp đặt ra và ban hành để toàn xã hội thực hiện
Vì vậy, pháp luật là hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành, thểhiện ý chí của giai cấp thống trị Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, pháp luật
là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực nhà nước, duy trì địa vị và bảo vệlợi ích của giai cấp thống trị Nhà nước ban hành ra pháp luật và đảm bảo chopháp luật được thực hiện Cả hai hiện tượng đều là sản phẩm của cuộc đấutranh giai cấp
1.2 Khái niệm và bản chất pháp luật.
1.2.1 Khái niệm
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội
1.2.2 Bản chất
Học thuyết Mác-Lênin chỉ rõ, pháp luật chỉ phát sinh tồn tại và phát triểntrong xã hội có giai cấp Bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của
nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không mang tính giai cấp.
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý
chí nhà nước của giai cấp thống trị Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước,giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình
Trang 11một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hoá thành ý chí nhà nước, ý chí đóđược cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành Nhà nước ban hành và bảo đảm cho pháp luật được thựchiện Vì vậy, pháp luật là những quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối vớimọi người.
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ
xã hội Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa cácgiai cấp, tầng lớp trong xã hội Do đó, pháp luật là nhân tố điều chỉnh về mặtgiai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội pháp triển theo
một “trật tự” phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa
vị của giai cấp thống trị Vì vậy, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sựthống trị giai cấp Bất kỳ kiểu pháp luật nào cũng mang bản chất giai cấp.Pháp luật chủ nô công khai quy định quyền lực vô hạn của chủ nô, tìnhtrạng vô quyền của nô lệ Pháp luật phong kiến công khai quy định đặc quyền,đặc lợi của địa chủ phong kiến, quy định các chế tài hà khắc dã man để đàn ápnhân dân lao động Pháp luật tư sản thể hiện bản chất giai cấp một cách tinh vinhư quy định về mặt pháp lý những quyền tự do, dân chủ… nhưng thực chấtpháp luật tư sản luôn thể hiện ý chí của giai cấp tư sản và mục đích trước hếtnhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản
Pháp luật XHCN thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng, là công cụ để xây dựng xã hội mới, mọi người đều được sống tự do,bình đẳng, công bằng xã hội được bảo đảm
Bên cạnh tính giai cấp pháp luật còn mang tính xã hội Nghĩa là ở mức độ nhiều
hay ít pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội
Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội Hai thuộc tính này có mối liên hệ mật thiết với nhau Do đó,
không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp; ngược lại không cópháp luật chỉ thể hiện tính xã hôi
1.2.3 Đặc điểm pháp luật
Nhìn một cách tổng quát, pháp luật có những đặc điểm cơ bản sau:
- Tính quyền lực (tính nhà nước, tính cưỡng chế): Pháp luật do nhà nước
ban hành và bảo đảm thực hiện Nói một cách khác, pháp luật được hình thành
và phát triển bằng con đường nhà nước chứ không thể bằng bất kỳ con đườngnào khác Với tư cách của mình, nhà nước là một tổ chức hợp pháp, công khai
và có quyền lực bao trùm toàn xã hội
Vì vậy, khi pháp luật được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nó
sẽ có sức mạnh của quyền lực nhà nước và có tác động đến tất cả mọi người
- Tính quy phạm: Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự, đó là những khuôn
mẫu được xác định cụ thể, không trìu tượng, chung chung Điều này nói lêngiới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi người có thể xử sự một cách
Trang 12tự do trong khuôn khổ pháp luật Vượt quá giới hạn đó là trái pháp luật, nhữnggiới hạn đó được xác định như cho phép, cấm đoán, bắt buộc…Vì vậy, nếukhông có quy phạm pháp luật được đặt ra thì cũng không thể quy kết một
hành vi nào là vi phạm, là trái pháp luật “mọi người được làm tất cả mọi việc
trừ những điều mà pháp luật nghiêm cấm”, “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được hình thành là dựa trên cơ sở của đặc trưng về tính quy phạm
của pháp luật
- Tính ý chí: Pháp luật bao giờ cũng là hiện tượng ý chí, không phải là kết
quả của sự tự phát hay cảm tính Về bản chất, ý chí của pháp luật là ý chí củagiai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền Ý chí đó thể hiện rõ ở mục đích xâydựng pháp luật, nội dung pháp luật khi áp dụng vào đời sống xã hội
- Tính xã hội: Bên cạnh tính ý chí thì tính xã hội vẫn là một đặc trưng cơ
bản của pháp luật Bởi vì trong thực tế, bên cạnh các quy tắc xử sự bị chi phốibởi lợi ích của giai cấp thống trị còn có các quy tắc xử sự khác xuất phát từnhu cầu chung của đời sống xã hội Những quy tắc đó điều chỉnh các hành vi,cách xử sự mang tính phổ biến phù hợp với lợi ích của đa số trong cộng đồngphản ánh các nhu cầu, quy luật tồn tại khách quan của xã hội mà bất kỳ xã hộinào cũng phải tuân theo
Những đặc trưng cơ bản trên của pháp luật càng cho thấy bản chất và sựkhác biệt giữa pháp luật với các hiện tượng khác Bốn đặc trưng cơ bản đóđều có ý nghĩa quan trọng và có quan hệ với nhau, không thể chú trọng điểmnày mà coi nhẹ điểm kia
2 Mối quan hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội.
Để giải thích rõ bản chất của pháp luật cần thiết phải phân tích các mốiquan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức và nhà nước
- Quan hệ pháp luật – kinh tế: Pháp luật có tính độc lập tương đối Một
mặt, pháp luật phụ thuộc vào kinh tế; mặt khác, pháp luật có sự tác động trởlại một cách mạnh mẽ đối với kinh tế Sự phụ thuộc của pháp luật vào kinh tếthể hiện ở chỗ nội dung của pháp luật là do các quan hệ kinh tế - xã hội quyếtđịnh, kinh tế là cơ sở của pháp luật Sự thay đổi chế độ kinh tế - xã hội sẽ dẫnđến sự thay đổi của pháp luật Pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển củachế độ kinh tế, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó.Mặt khác, pháp luật có sự tác động trở lại đối với sự phát triển của kinh
tế Sự tác động đó có thể là tích cực cũng có thể là tiêu cực Sẽ là tiến bộ khipháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ trong xã hội,phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế Sẽ là tiêu cực khi pháp luật thểhiện ý chí của giai cấp thống trị đã lỗi thời, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển củakinh tế - xã hội
- Quan hệ pháp luật – chính trị: Pháp luật là một trong những hình thức
biểu hiện cụ thể của chính trị Đường lối, chính sách của giai cấp thống trị
Trang 13luôn giữ vai trò chủ đạo đối với pháp luật Mặt khác, chính trị còn là sự thểhiện mối quan hệ giữa các giai cấp và các lực lượng khác nhau trong xã hộitrên tất cả các lĩnh vực Vì vậy, pháp luật không chỉ phản ánh các chính sáchkinh tế mà còn thể hiện các quan hệ giai cấp, phản ánh đối sánh giai cấp vàmức độ của cuộc đấu tranh giai cấp.
- Quan hệ pháp luật – đạo đức: Pháp luật chịu sự tác động của đạo đức
và các quy phạm xã hội khác nhưng pháp luật có sự tác động mạnh mẽ tới cáchiện tượng đó và thậm chí trong một chừng mực nhất định, nó còn có khảnăng cải tạo các quy phạm đạo đức và các quy phạm xã hội khác
- Quan hệ pháp luật – nhà nước: Nhà nước và pháp luật luôn có mối
quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau Cả nhà nước và pháp luật đều cóchung nguồn gốc, cùng phát sinh và phát triển Nhà nước là một tổ chức đặcbiêt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai vàphát huy có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật Do vậy, nhà nước không thể tồntại và phát huy quyền lực nếu thiếu pháp luật và ngược lại pháp luật chỉ phátsinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước
Vì vậy, không thể nói pháp luật đứng trên nhà nước hay nhà nước đứngtrên pháp luật Đồng thời, khi xem xét các vấn đề nhà nước và pháp luật phảiđặt chúng trong mối quan hệ qua lại với nhau
3 Kiểu và hình thức pháp luật.
3.1 Các kiểu pháp luật
Kiểu pháp luật là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù củapháp luật, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triểncủa pháp luật trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Đặc điểm của mỗi hình thái kinh tế - xã hội trong xã hội có giai cấp sẽquyết định những dấu hiệu cơ bản của pháp luật Phù hợp với điều đó, tronglịch sử đã tồn tại bốn kiểu pháp luật:
Kiểu pháp luật chủ nô;
Kiểu pháp luật phong kiến;
Kiểu pháp luật tư sản;
Kiểu pháp luật XHCN;
Ba kiểu pháp luật chủ nô, phong kiến và tư sản là những kiểu pháp luậtbóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Chúng
có đặc điểm chung là thể hiện ý chí của giai cấp bóc lột trong xã hội, củng cố
và bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, bảo đảm về mặt pháp lý sự áp bứcbóc lột của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động, duy trì tình trạng bấtbình đẳng trong xã hội
Khác với các kiểu pháp luật trên, pháp luật XHCN được xây dựng trên cơ
sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, thể hiện ý chí của giai cấp công
Trang 14nhân và nhân dân lao động, chiếm tuyệt đại đa số trong xã hội Pháp luật XHCNthủ tiêu mọi hình thức áp bức, bóc lột, xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do.
Sự thay thế kiểu pháp luật này bằng một kiểu pháp luật khác tiến bộ hơn
là một quy luật tất yếu Sự thay thế các kiểu pháp luật gắn liền với sự thay thếcủa các hình thái kinh tế xã hội tương ứng Cách mạng là con đường dẫn đến
sự thay thế đó Và kết quả là: Pháp luật phong kiến thay thế pháp luật chủ nô;pháp luật tư sản thay thế pháp luật phong kiến; pháp luật XHCN thay thế phápluật tư sản Trong tương lai Pháp luật XHCN sẽ tiêu vong và không còn kiểupháp luật nào thay thế nữa
Các nhà nước XHCN trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH vẫn còn thừanhận một số tập quán tiến bộ như truyền thống đạo đức dân tộc…tuy nhiên ởmức độ hạn chế Bởi vì tập quán hình thành một cách tự phát, ít biến đổi và cótính cục bộ, không phù hợp với bản chất của pháp luật XHCN
3.2.2 Tiền lệ pháp
Là hình thức nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ quan hành chínhhoặc xét xử giải quyết những vụ việc cụ thể để áp dụng đối với các vụ việctương tự Hình thức này được sử dụng trong các nhà nước phong kiến và hiệnnay vẫn chiếm vị trí quan trọng trong pháp luật tư sản, nhất là ở Anh, Mỹ.Tiền lệ pháp hình thành không phải do hoạt động của cơ quan lập pháp
mà xuất hiện từ hoạt động của các cơ quan hành pháp và tư pháp Vì vậy, hìnhthức này dễ tạo ra sự tùy tiện, không phù hợp với các nguyên tắc pháp chế đòihỏi phải tôn trọng nguyên tắc tối cao của luật và việc phân định rõ chức năng,quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc xây dựng vàthực hiện pháp luật
3.2.3 Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 15Là hình thức pháp luật tiến bộ nhất Văn bản quy phạm pháp luật là vănbản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong đó quy định nhữngquy tắc xử sự chung được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội Có nhiềuloại văn bản văn bản pháp luật Ở mỗi nước, trong những điều kiện cụ thể cónhững quy định riêng về tên gọi và hiệu lực pháp lý của các loại văn bản phápluật Nhưng nhìn chung, các văn pháp luật đều được ban hành theo một trình
tự, thủ tục nhất định và chứa đựng những quy định cụ thể
Trong pháp luật chủ nô và phong kiến, các văn bản pháp luật còn chưahoàn chỉnh và kỹ thuật xây dựng chưa cao Nhiều đạo luật chỉ là sự ghi chéplại một cách có hệ thống các án lệ và các tập quán được thừa nhận Pháp luật
tư sản đã có nhiều hình thức văn bản phong phú và được xây dựng với kỹthuật cao
Pháp luật XHCN có hệ thống các văn bản thống nhất được xây dựng theonguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tôn trọng tính tối cao của hiến pháp vàluật Hệ thống các văn bản pháp luật XHCN ngày càng được xây dựng hoànchỉnh, đồng bộ với kỹ thuật cao phản ánh đúng bản chất của pháp luật XHCN
Ở nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về nguyên tắc thì nhà nướckhông thừa nhận tập quán pháp và tiền lệ pháp mà chỉ có một hình thức duynhất là văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, trong điều kiện mà các vănbản quy phạm pháp luật còn chưa hoàn thiện, chưa điều chỉnh hết các quan hệ
xã hội Và đứng trước yêu cầu cấp bách cần phải giải quyết ngay một số vụviệc cần thiết thì nhà nước sử dụng tiền lệ pháp nhưng với cách làm mới
Chẳng hạn, tổng kết quá trình giải quyết một số vụ việc cụ thể, điển hình để
đề ra đường lối hướng dẫn giải quyết các vụ việc tương tự trong khi hệ thốngpháp luật còn thiếu Và khi hệ thống pháp luật được xây dựng đồng bộ, hoànchỉnh thì hình thức này sẽ thu hẹp dần và tiến tới không còn tồn tại trong nhànước ta
Trang 16CHƯƠNG 2
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I Giới thiệu về Hiến pháp Việt Nam
1 Lược sử
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửaphong kiến với chính thể quân chủ chuyên chế nên không có hiến pháp Vàonhững năm đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tưsản Pháp năm 1789, ảnh hưởng của cách mạng Trung Hoa năm 1911 và chínhsách duy tân và Minh Trị thiên hoàng đã áp dụng tại Nhật Bản, giới trí thứcViệt Nam đã xuất hiện tư tưởng lập hiến
Có hai khuynh hướng chính trị chủ yếu trong thời gian này
- Khuynh hướng thứ 1: Xây dựng nhà nước quân chủ lập hiến trong sự thừa
nhận quyền bảo hộ của chính phủ Pháp
- Khuynh hướng thứ 2: Chủ trương giành độc lập, tự do cho dân tộc, sau đó
xây dựng hiến pháp của nhà nước độc lập
Ngay sau khi nước Việt Nam DCCH ra đời, trong phiên họp đầu tiên củaChính phủ, Hồ Chủ tịch đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ, một
trong những nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng hiến pháp Ngày 9/11/1946
Quốc hội đã thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nước ta
Hiến pháp 1946 bao gồm lời nói đầu, 7 chương và 70 điều Lời nói đầuxác định nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ,giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ
Hiến pháp năm 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, là bản hiếnpháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kì một bản hiến pháp nào trên thế giới
Về kỹ thuật lập pháp, Hiến pháp năm 1946 là một bản hiến pháp cô đọng,khúc chiết, mạch lạc và dễ hiểu với tất cả mọi người
Ngay sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946, thực dân Pháp lạigây ra chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa Nhân dân ta lại bước vàocuộc kháng chiến trường kì và gian khổ Với chiến thắng Điện Biên Phủ vàHội nghị Giơnevơ, miền bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng nhưng đấtnước tạm thời bị chia cắt hai miền Vì vậy, trong kỳ họp lần thứ 6, Quốc hộinước Việt Nam DCCH khóa I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1946 Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi Hiếnpháp năm 1959 gồm có lời nói đầu và 112 điều, chia làm 10 chương Là bảnhiến pháp được xây dựng theo mô hình hiến pháp XHCN Nó là bản hiến phápXHCN đầu tiên của nước ta
Trang 17Thắng lợi vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975 đã mở ramột giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc ta Đất nước hoàn toàn độc lập, tự do
là điều kiện thuận lợi để thống nhất hai miền, đưa cả nước quá độ lên CNXH.Sau một thời gian thảo luận, Quốc hội khóa VI tại kì họp thứ 7 (18/12/1980)
đã nhất trí thông qua Hiến pháp 1980 Hiến pháp năm 1980 bao gồm lời nóiđầu, 147 điều chia làm 12 chương
Ngay trong lời nói đầu của hiến pháp khẳng định truyền thống tốt đẹp củadân tộc ta, ghi nhận những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân ta đã giành đượctrong cuộc Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp vàcuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ xâm lược và bè lũ tay sai Xác địnhnhững nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong điều kiện mới và nêu lênnhững vấn đề cơ bản mà Hiến pháp 1980 đề cập Hiến pháp năm 1980 là Hiếnpháp của thời kì quá độ lên CNXH trong phạm vi cả nước Tuy có nhiềunhược điểm nhưng Hiến pháp năm 1980 là một cái mốc quan trong trong lịch
sử lập hiến của nước ta
Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp năm
1980 tỏ ra không phù hợp Tình hình thực tiễn của đất nước đòi hỏi phải cómột bản hiến pháp mới, phù hợp hơn để thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, xâydựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã mở ra thời kì đổi mới ở nước
ta Đảng đã chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện những sai lầm củaĐảng, của Nhà nước, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy tư duy độc lập, sángtạo của các tầng lớp nhân dân lao động, trên cơ sở đó có những nhận thứcđúng đắn về CNXH và vạch ra những chủ trương, chính sách mới nhằm xâydựng một xã hội dân giàu nước mạnh, công bằng và văn minh
Ngày 15 tháng 4 năm 1992 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp Việc soạnthảo và ban hành Hiến pháp năm 1992 là một quá trình thảo luận dân chủ vàchắt lọc một cách nghiêm túc những ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhândân về tất cả các vấn đề từ quan điểm chung đến các vấn đề cụ thể Đây là bảnhiến pháp của Việt Nam trong quá trình đổi mới, là sản phẩm trí tuệ của toàndân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước
2 Các nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992
Hiến pháp năm 1992 là văn bản pháp luật hiện hành có giá trị pháp lý caonhất thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống Hiến phápnăm 1992 đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Khoá VIII, kỳhọp thứ 11, thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1992 và đã được sửa đổi bổ sungtheo Nghị quyết của Quốc hội số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001
Hiến pháp năm 1992 gồm 12 chương, 147 điều.
Từ Chương I đến Chương III quy định: Về chế độ chính trị; chế độ vănhoá, giáo dục, khoa học, công nghệ;
Trang 18Chương IV : Bảo vệ Tổ quốc XHCN;
Chương V: Về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;
Chương VI đến Chương X quy định: Về bộ máy nhà nước;
Chương XI: Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, thủ đô, ngày quốc khánh
Chương XII: Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp
- Những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Về bản chất nhà nước, Hiến pháp 1992 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội mang tínhquy luật khách quan (Điều 4)
Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồngnhân dân (HĐND) các cấp - là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyệnvọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tựnguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội vàcác cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, cáctôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các tổ chức thành viên được xác định là cơ sở chính trị của chínhquyền nhân dân
2.2 Chế độ kinh tế
Chế độ kinh tế là một hệ thống quan hệ kinh tế được xây dựng trên một cơ
sở vật chất - kỹ thuật nhất định thể hiện tính chất và hình thức sở hữu đối với
tư liệu sản xuất, các nguyên tắc sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm xãhội và tổ chức nền kinh tế
- Hiến pháp 1992 ghi nhận sự tồn tại và bảo hộ các hình thức sở hữu: Sởhữu toàn dân (sở hữu nhà nước), sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sởhữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng
- Trên cơ sở các hình thức sở hữu cơ bản, Nhà nước thực hiện nhất quánchính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng
Trang 19Các thành phần kinh tế gồm: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá
thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất -
kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thịtrường thế giới Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọngcủa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Tổ chức, cá nhân thuộc cácthành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành nghề màpháp luật không cấm; cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranhtheo pháp luật
2.3 Chính sách văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ.
- Về văn hoá: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân”.
Nhà nước tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thứccông dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong,
mỹ tục xây dựng gia đình có văn hoá, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước, yêuchế độ XHCN, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với cácdân tộc trên thế giới Văn hoá, văn học, nghệ thuật, thông tin, báo chí, phátthanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản…được Nhà nước đầu tư phát triển
- Chính sách giáo dục: Điều 35 Hiến pháp quy định: “Phát triển giáo dục
là quốc sách hàng đầu Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là nhằm hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm
tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tưkhác và thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chươngtrình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệthống văn bằng; phát triển cân đối hệ thống giáo dục gồm giáo dục mầm non,giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học.Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; phát triển các hình thức trườngquốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác
- Chính sách khoa học và công nghệ Hiến pháp 1992 quy định: “Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ quốc gia; xây dựng nền khoa học công nghệ tiên tiến…”(Điều 37) Nhà nước đầu tư và
khuyến khích tài trợ cho khoa học bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, ưu tiên
Trang 20khoa học, công nghệ mũi nhọn; chăm lo đào tạo và sử dụng hợp lý đội ngũcán bộ khoa học, kỹ thuật nhất là những người có trình độ cao, công nhân lànhnghề và nghệ nhân; tạo điều kiện để các nhà khoa học sáng tạo và cống hiến;gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặtchẽ giữa nghiên cứu khoa học, đào tạo với sản xuất, kinh doanh (Điều 38).
2.4 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Ở Việt Nam, “Các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá
và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50).
Nguyên tắc cơ bản khi xác định quyền và nghĩa vụ của công dân là: “Mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, bình đẳng về hưởng quyền và thực
hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội, quyền và nghĩa vụ của côngdân không tách rời nhau
- Các quyền về chính trị:
Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảoluận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhànước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu dân ý
Công dân đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và 21 tuổi trở lên đều cóquyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND theo quy định của pháp luật mà khôngphân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độvăn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú
- Các quyền về kinh tế, văn hoá, xã hội.
Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, cóquyền thành lập doanh nghiệp, có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải
để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trongdoanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác
Mọi công dân đều có quyền lao động, quyền được học tập, quyền đượcnghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹthuật…quyền được bảo vệ sức khoẻ, quyền bình đẳng nam nữ, quyền được nhànước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, hôn nhân, gia đình…
- Các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân.
Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội,biểu tình theo quy định của pháp luật, tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, quyềnbất khả xâm phạm về thân thể, chổ ở, được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sứckhoẻ, danh dự và nhân phẩm, quyền bí mật thư tín…quyền tự do đi lại và cư trú
- Các nghĩa vụ của công dân
Công dân nước Cộng hòa XHCN Việt Nam phải trung thành với Tổ quốc;
có nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý là bảo vệ Tổ quốc, phải làm nghĩa
vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân; có nghĩa vụ tôn trọng
và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng; có nghĩa vụ tuân theo
Trang 21Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xãhội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng; cónghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật.
II Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Khái niệm, đặc điểm
Bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là hệ thống cơ quan từ
Trung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có những đặc điểm cơ bản:
1 Việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước dựa trên những nguyêntắc chung, thống nhất mà nguyên tắc cơ bản là tất cả quyền lực thuộc về nhândân Nhân dân có quyền quyết định mọi công việc của Nhà nước, giải quyếtmọi công việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia, đời sống chính trị, kinh tế,văn hóa, tư tưởng của đất nước và dân tộc Nhân dân sử dụng quyền lực nhànước thông qua hệ thống cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra(Quốc hội và HĐND)
2 Các cơ quan trong bộ máy nhà nước đều mang tính quyền lực nhà nước,đều có quyền nhân danh nhà nước để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theoquy định của pháp luật
3 Đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước là những người hếtlòng phục vụ nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân
2 Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những tư tưởngchỉ đạo làm cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộmáy nhà nước Các nguyên tắc cơ bản là:
2.1 Nguyên tắc “quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”
Bộ máy nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền Quyền lựcnhà nước bao gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Ba lĩnh vực quyềnlực đó là một khối thống nhất được nhân dân trao cho Quốc hội là cơ quan đạibiểu cao nhất, do nhân dân trực tiếp bầu ra
Tuy tổ chức theo nguyên tắc tập quyền nhưng bộ máy nhà nước ta có sựphân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực nhànước Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp đồng thời cũng cóthẩm quyền trong lĩnh vực hành pháp và tư pháp Chính phủ là cơ quan hành
Trang 22pháp nhưng cũng có vai trò quan trọng trong lập pháp và tư pháp Tòa án nhândân và Viện kiểm sát nhân dân là những cơ quan tư pháp nhưng cũng cónhững thẩm quyền nhất định trong lĩnh vực lập pháp và hành pháp Tất cả đềuhoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội.
2.2 Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm cho bộ máy hoạt động theo một đường lốichính trị đúng đắn, thể hiện bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững bản chất tốt đẹp của một nhànước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Hiến pháp 1992 khẳng định:
“Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đaị biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc…là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”.
2.3 Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào hoạt động quản lý của nhà nước
Đây là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước, nhằm phát huy trí tuệ của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước
Điều 53 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà
nước và xã hội…”
Hình thức nhân dân tham gia quản lý nhà nước cũng đa dạng như bầu
những người đại diện vào các cơ quan nhà nước hay trực tiếp thảo luận, góp ýkiến cho các dự án luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cán
bộ, công chức nhà nước…
2.4 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có sự kết hợp chỉ đạo,điều hành tập trung, thống nhất của Trung ương và các cơ quan nhà nước cấptrên với tính chủ động, sáng tạo của địa phương và cơ quan nhà nước cấpdưới Kết hợp hoạt động của tập thể với trách nhiệm cá nhân
2.5 Nguyên tắc pháp chế XHCN
Nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộmáy nhà nước phải tiến hành theo đúng quy định của pháp luật Mọi cán bộ,công chức nhà nước phải tôn trọng pháp luật khi thi hành công vụ Mọi hành
vi vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm minh
Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN” Các cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phảinghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng chống tội
Trang 23phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Mọi hành vi xâm phạm lợi ích củanhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều phải
Theo Hiến pháp 1992, cơ quan nhà nước ta bao gồm:
1 Quốc hội
2 Chủ tịch nước
3 Chính phủ
4 Hội đồng nhân dân
5 Uỷ ban nhân dân
6 Tòa án nhân dân
7 Viện kiểm sát nhân dân
3.1 Quốc hội
3.1.1 Vị trí, tính chất và chức năng
Trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng TheoHiến pháp năm 1992 tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhưngnhân dân không thể trực tiếp, thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước chonên phải bầu ra các cơ quan đại biểu để thay mặt mình sử dụng quyền lực nhànước Vì vậy, các cơ quan này được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước Ởnước ta, các cơ quan này bao gồm Quốc hội và HĐND các cấp
Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ vị trí và tính chất của Quốc hội là “cơ quan
đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước
và của nhân dân như thông qua Hiến pháp, các đạo luật, quyết định nhữngchính cách cơ bản về đối nội và đối ngoại, mục tiêu phát triển kinh tế, vănhoá, xã hội, tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước; bầu, miễn nhiệm nhữngchức vụ cao cấp nhất của bộ máy nhà nước; giám sát tối cao hoạt động củacác cơ quan nhà nước; Quốc hội biểu hiện tập trung ý chí và quyền lực củanhân dân trong phạm vi toàn quốc
Quốc hội nước ta thực sự đại diện cho ý chí, lợi ích của nhân dân lao độngdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là một tổ chức chínhquyền thể hiện rất rõ tính chất đại diện và tính chất quần chúng Các đại biểuQuốc hội là những công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động ưu
Trang 24tú thuộc mọi dân tộc trong cả nước được nhân dân tín nhiệm bầu ra và chịutrách nhiệm trước quần chúng nhân dân, họ có mối liên hệ chặt chẽ với quầnchúng, nắm rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng Do đó, quyết định mọivấn đề được sát và hợp với quần chúng đồng thời có điều kiện thuận lợi đểvận động quần chúng thi hành tốt các quy định của nhà nước
Với vị trí, tính chất như vậy, Quốc hội mang chủ quyền Nhà nước và chủquyền nhân dân Mọi quyền lực nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội.Mọi công việc quan trọng của đất nước và của nhân dân có ý nghĩa toàn quốcđều do Quốc hội quyết định
Với tinh thần nói trên, Điều 83 Hiến pháp năm 1992 đã quy định chứcnăng của Quốc hội bao gồm những phương diện lớn sau đây:
- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
- Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại,nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước…
- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động củaNhà nước
3.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội
Các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được phân thành các lĩnh vựcsau đây:
- Trong lĩnh vực lập hiến và lập pháp
Quyền này xuất phát từ vị trí, tính chất của Quốc hội là cơ quan quyền lựcnhà nước cao nhất Vì vậy, chỉ có Quốc hội mới có quyền định ra các quyphạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơbản nhất Các quy phạm do các cơ quan nhà nước khác ban hành không đượctrái với quy định của Hiến pháp
Ở nước ta, quyền lập hiến và lập pháp đều thuộc về Quốc hội Quốc hội cóquyền làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội có quyền làm luật vàsửa đổi luật Và quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội được giao cho nhiều
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và những người có chức trách trong bộ máynhà nước (Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Tòa án NDTC…)
- Trong lĩnh vực quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước
Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội có quyền quyết địnhnhững mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội; những vấn đề quốc kế dân sinh, đốinội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh của đất nước, những vấn đề hệ trọng đốivới vận mệnh quốc gia như vấn đề chiến tranh, hoà bình, các chính sách dântộc, tôn giáo…
- Trong lĩnh vực tổ chức nhà nước
Trang 25Quốc hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng, củng cố và pháttriển bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Quốc hội lựa chọn và quyết định cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của
bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, từ các cơ quan quyền lực nhànước đến các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát.Ngoài việc quy định chung về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhànước, Quốc hội còn bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm những viên chức cao cấpnhất của bộ máy nhà nước; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng chính phủ vềviệc bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và cácthành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danhsách thành viên Hội đồng quốc phòng an ninh…
Bên cạnh đó, Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và cơ cơ quanngang bộ của Chính phủ, thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hànhchính các tỉnh, thành phố thuộc trung ương
Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướngChính phủ, TANDTC, VKSNDTC trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết củaQuốc hội
- Trong lĩnh vực giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của nhà nước.
Hoạt động giám sát là một trong những hoạt động quan trọng của Quốchội, nhằm đảm bảo cho những quy định của hiến pháp và pháp luật được thihành triệt để và thống nhất
Hoạt động giám sát của Quốc hội thông qua việc xem xét báo cáo hoạtđộng của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC thôngqua Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đặc biệt làhoạt động chất vấn tại các kì họp
3.1.3 Cơ cấu tổ chức của Quốc hội
Các cơ quan của Quốc hội gồm có:
- Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- Hội đồng dân tộc
- Các Uỷ ban của Quốc hội
a, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Là cơ quan thường trực của Quốc hội Thành phần của UBTVQH gồm có:
Trang 26- Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; tổ chức việc chuẩn bị,triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội
- Ra pháp lệnh, giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh
- Giám sát hoạt động thi hành các văn bản quy phạm pháp luật của Quốchội và UBTVQH
- Chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các uỷban của Quốc hội…
UBTVQH làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số
Chủ tịch Quốc hội có vị trí rất quan trọng Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các
phiên họp của Quốc hội, là người chủ trì và điều hành các hoạt động củaUBTVQH, lãnh đạo công tác của UBTVQH, thực hiện quan hệ đối ngoại củaQuốc hội, giữ quan hệ với đại biểu Quốc hội Các Phó chủ tịch giúp Chủ tịchQuốc hội làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch
b, Hội đồng dân tộc
Nhiệm vụ của Hội đồng dân tộc là tham mưu cho Quốc hội các vấn đề dântộc, thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chươngtrình phát triển kinh tế xã hội miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số
c, Các uỷ ban của Quốc hội
Các uỷ ban của Quốc hội có nhiệm vụ giúp Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ
và quyền hạn của mình Giúp Quốc hội nghiên cứu, thẩm tra những vấn đề đượcQuốc hội và UBTVQH giao phó; đề xuất các sáng kiến giúp Quốc hội vàUBTVQH giải quyết tốt các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của mình.Các Uỷ ban của Quốc hội gồm có:
- Uỷ ban pháp luật
- Uỷ ban kinh tế và ngân sách
- Uỷ ban quốc phòng và an ninh
- Uỷ ban văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên và nhi đồng
- Uỷ ban các vấn đề xã hội
- Uỷ ban khoa học công nghệ và môi trường
- Uỷ ban đối ngoại
3.2 Chủ tịch nước
Theo quy định tại Điều 101 Hiến pháp 1992, Chủ tịch nước là người đứng
đầu nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại Sự hiện diện trở lại thiết chế Chủ tịch nước cá nhân góp phần tăng
cường tính phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thựchiện quyền lực nhà nước trong thời kỳ đổi mới
Về đối nội, Chủ tịch nước có quyền công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh;
thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng
Trang 27quốc phòng và an ninh; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức vụ cao cấpcủa nhà nước; công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tình trạngkhẩn cấp; quyết định đặc xá…
Về đối ngoại, Chủ tịch nước có quyền cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn
quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài;nhân danh nhà nước ký kết các điều ước quốc tế; quyết định cho nhập quốctịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam…Chủ tịch nước và Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểuQuốc hội, Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước làm nhiệm vụ và có thểđược Chủ tịch nước uỷ nhiệm thay Chủ tịch nước làm một số nhiệm vụ
Chủ tịch nước thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụChủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh Chủ tịch nước đề nghị danh sáchthành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội phê chuẩn Hộiđồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các Ủy viên Thànhviên Hội đồng quốc phòng và an ninh không nhất thiết là đại biểu Quốc hội.Hội đồng quốc phòng và an ninh có nhiệm vụ động viên mọi lực lượng và khảnăng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc Trong trường hợp có chiến tranh, Quốchội có thể giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ vàquyền hạn đặc biệt Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tậpthể và quyết định theo đa số
3.3 Chính phủ.
Hiến pháp năm 1992 đã đổi tên Hội đồng bộ trưởng thành Chính phủ và xác
định lại vị trí của Chính phủ: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội,
cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.”(Điều 109).Khẳng định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội nhưng là cơquan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam nhằm chỉ
rõ tính chất của Chính phủ và mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội.Chính phủ do Quốc hội thành lập ra, nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội, khiQuốc hội hết nhiệm kì Chính phủ tiếp tục hoạt động cho đến khi bầu ra Chínhphủ mới Với thẩm quyền của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hộiquyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như kế hoạch, ngân sách,các loại thuế, ban hành Hiến pháp và luật.…Để triển khai được các nghị quyết
đó, Chính phủ phải tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Trên cơ sở cụ thểhoá bằng các văn bản dưới luật, Chính phủ đề ra biện pháp thích hợp, phâncông, chỉ đạo thực hiện các văn bản đó trên thực tế Đồng thời, Chính phủ là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam
Trên cơ sở kế thừa mô hình tổ chức Chính phủ trong các Hiến pháp trướcđồng thời khẳng định quan điểm đổi mới về tổ chức và hoạt động của Chínhphủ trong giai đoạn mới, Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Chính phủ
2001 quy định:
Trang 28Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm có bộ và cơ quan ngang bộ, Quốc hộiquyết định thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và cơ quan ngang bộ theo đề nghị củaThủ tướng Chính phủ.
Mỗi bộ và cơ quan ngang bộ thực hiện chức năng quản lí đối với ngành vàlĩnh vực nhất định Hiện nay, theo Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày5/11/2002 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của bộ và
cơ quan ngang bộ (gọi tắt là bộ) quy định cơ cấu bộ gồm:
- Vụ, thanh tra, văn phòng bộ
- Cục, tổng cục (không nhất thiết các bộ đều thành lập)
- Các tổ chức sự nghiệp
- Thành viên Chính phủ gồm: Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng
và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ do quốc hội quyết định
Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đềnghị của Chủ tịch nước Thủ tướng trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị việc bổnhiệm miễn nhiệm, cách chức và từ chức đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Theo Hiến pháp 1992, thành viên Chính phủ không nhất thiết phải là đạibiểu Quốc hội trừ Thủ tướng Quy định này nhằm thể hiện quan điểm phâncông, phân nhiệm giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước đồng thời đảm bảohiệu quả hoạt động cho thành viên Chính phủ và đại biểu Quốc hội
Về hoạt động của Chính phủ: hiệu quả hoạt động thực tế của Chính phủphải thể hiện qua 3 hình thức:
Thông qua phiên họp Chính phủ
Hoạt động của Thủ tướng Chính phủ
Hoạt động của các thành viên chính phủ
- Phiên họp Chính phủ: Hình thức hoạt động của tập thể Chính phủ là
phiên họp Chính phủ Chính phủ họp thường kì mỗi tháng một lần Ngoài ra
có thể họp bất thường theo quyết định của Thủ tướng hoặc theo yêu cầu ítnhất 1/3 tổng số thành viên Chính phủ Ngoài các thành viên của Chính phủ,Chính phủ có thể mời Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động ViệtNam và người đứng đầu các tổ chức đoàn thể khác tham dự các phiên họp củaChính phủ khi bàn về vấn đề có liên quan
Thủ tướng Chính phủ chủ tọa các phiên họp Chính phủ, khi được Thủtướng uỷ quyền, một Phó Thủ tướng có thể chủ tọa phiên họp
Tại phiên họp Chính phủ thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọngthuộc nhiệm vụ, quyền hạn như: Chương trình hoạt động hàng năm của Chínhphủ, các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trình Quốc hội và Uỷ banthường vụ Quốc hội; dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội ngắn hạn và dài hạn…Nghị quyết của phiên họp Chính phủ phải được
Trang 29quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành, trong trường hợpbiểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng đã biểu quyết.
Như vậy, trong hoạt động của Chính phủ nước ta, phiên họp luôn được xác
định là một hình thức hoạt động quan trọng
- Hoạt động của Thủ tướng Chính phủ: Theo quy định của pháp luật thì Thủ
tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ Thủ tướng có quyền hạn sau:+ Lãnh đạo công tác của Chính phủ, thành viên của Chính phủ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp;
+ Triệu tập, chủ tọa phiên họp Chính phủ;
+ Đề nghị thành lập hoặc bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ; trình Quốc hộiphê chuẩn đề nghị việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức đối vớiPhó thủ tướng, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ
+ Quyết định các biện pháp cải tiến lề lối làm việc, hoàn thiện bộ máyquản lí nhà nước v.v
- Hoạt động của các bộ trưởng và các thành viên khác thuộc Chính phủ
Ngoài hoạt động của Thủ tướng, hoạt động của Phó thủ tướng, bộ trưởng
và thủ trưởng cơ quan ngang bộ đóng vai trò khá quan trọng trong hoạt độngcủa Chính phủ nói chung
Phó thủ tướng giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủtướng Khi Thủ tướng vắng mặt, một Phó thủ tướng được Thủ tướng uỷ quyềnthay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ Phó thủ tướng chịu trách nhiệmtrước Thủ tướng, trước Quốc hội về nhiệm vụ được giao
Ngoài vai trò của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động của bộ trưởng và thủtrưởng cơ quan ngang bộ cũng góp phần quan trọng vào hiệu quả hoạt độngcủa Chính phủ Theo Hiến pháp 1992, bộ là cơ quan có chức năng quản lí nhànước đối với một ngành hay một lĩnh vực Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quanngang bộ là thành viên thuộc Chính phủ, lãnh đạo công tác của bộ và cơ quanngang bộ, phụ trách một số công tác của Chính phủ, bộ trưởng chịu tráchnhiệm trước Thủ tướng và trước Quốc hội về hoạt động quản lí nhà nướctrong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công
Căn cứ vào văn bản do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịchnước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành, bộ trưởng và thủ trưởng cơquan ngang bộ ban hành ra quyết định, chỉ thị, thông tư và hướng dẫn kiểm traviệc thi hành các văn bản đó đối với tất cả các ngành, các địa phương và cơ sở
3.4 Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
3.4.1. Hội đồng nhân dân
Vị trí, tính chất và chức năng của Hội đồng nhân dân (HĐND) được quyđịnh tại Điều 119, 120 Hiến pháp năm 1992 và cụ thể hoá tại Luật tổ chứcHĐND và uỷ ban nhân dân (UBND) năm 2003
Trang 30HĐND là cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương, do nhân dân địaphương bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương HĐND cùng với Quốc hội hợp thành hệ thống cơ quan quyềnlực nhà nước và là gốc của chính quyền nhân dân Các cơ quan nhà nước khácđều do Quốc hội và HĐND thành lập
Khác với Quốc hội là cơ quan thay mặt toàn thể nhân dân cả nước, sử dụngquyền lực nhà nước trên phạm vi toàn quốc, HĐND thay mặt nhân dân địaphương sử dụng quyền lực nhà nước trong phạm vi địa phương mình
HĐND trong nhà nước ta là những tổ chức chính quyền gần gũi dân nhất,hiểu tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân, nắm vững những đặc điểmcủa địa phương, do đó mà nắm và quyết định mọi công việc sát hợp vớinguyện vọng của nhân dân địa phương HĐND còn là một tổ chức có tính chấtquần chúng, bao gồm các đại biểu của mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc, tôngiáo, những công nhân, nông dân, trí thức ưu tú cùng nhau bàn bạc và giảiquyết mọi công việc quan trọng của địa phương
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức HĐND năm 2003 thì HĐND
có ba chức năng chủ yếu sau:
1 Quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, như quyết địnhnhững chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địaphương, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố qquốc phòng an ninh,cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương
2 Bảo đảm thực hiện các quy định và quyết định của các cơ quan nhànước cấp trên và trung ương ở địa phương
3 Thực hiện giám sát đối với hoạt động của thường trực HĐND, UBND,tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, giám sát việc thực hiện cácnghị quyết của HĐND, giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhànước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của côngdân địa phương
Hội đồng nhân dân được tổ chức thành 3 cấp ở địa phương:
- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
- Hội đồng nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
- Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn
3.4.2 Uỷ ban nhân dân.
Vị trí, tính chất, chức năng của UBND các cấp hiện nay được quy định tạiĐiều 123 Hiến pháp 1992 và Điều 2 Luật tổ chức HĐND và UBND năm
2003: “UBND do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương…chịu trách nhiêm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp”.
Trang 31Vị trí, tính chất của UBND được thể hiện ở hai điểm sau:
- UBND là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước ở địaphương, sở dĩ như vậy vì:
+ UBND do HĐND cùng cấp bầu ra tại kì họp thứ nhất của mỗi khóaHĐND Kết quả bầu cử các thành viên UBND phải được sự phê chuẩn của chủtịch UBND cấp trên trực tiếp Đối với kết quả bầu cử các thành viên của UBNDtỉnh, thành phố trực thuộc TW phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn.+ UBND là cơ quan chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc triển khai, tổ chứcthực hiện các nghị quyết của HĐND, biến các quy định trong các nghị quyếtthành hiện thực
+ UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cấp mình vàtrước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp UBND cấp dưới chịu sựlãnh đạo của UBND cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ Do đó,các văn bản của UBND ban hành không trái với nghị quyết của HĐND cùngcấp và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên HĐND có quyền bãi nhiệm,miễn nhiệm các thành viên của UBND cùng cấp, có quyền sửa đổi hay huỷ bỏnhững quyết định không phù hợp của UBND cùng cấp
- Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND là cơquan thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, chấp hành nghị quyếtcủa HĐND cùng cấp cũng như các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.+ Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chủ yếu, quan trọng nhất,được coi là chức năng của UBND
+ Hoạt động quản lý của UBND mang tính toàn diện trên tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội về chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh, quốcphòng …đối với mọi đối tượng
+ Hoạt động quản lý của UBND mang tính thống nhất UBND quản lýhành chính nhà nước ở địa phương trên cơ sở chấp hành các quyết định củacác cơ quan hành chính nhà nước cấp trên dưới sự quản lý thống nhất củaChính phủ
+ Hoạt động quản lý của UBND chỉ giới hạn trong phạm vi một địaphương, một vùng lãnh thổ nhất định Khác với Chính phủ, các cơ quan thuộcChính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong phạm vi cả nước, đốivới mọi địa phương trong nước
Về chức năng UBND chỉ có một chức năng duy nhất là quản lý nhà nước,
vì quản lý nhà nước là hoạt động chủ yếu, bao trùm lên toàn bộ hoạt động củaUBND Như vậy, chức năng của UBND giống chức năng của Chính phủ Tuynhiên, khác với Chính phủ ở phạm vi và hiệu lực
3.5 Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân.
3.5.1 Tòa án nhân dân (TAND)
Trang 32Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định: “TAND tối cao, các TAND địaphương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quanxét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Như vậy, trong tổ chức bộ máy nhà nước chỉ TAND mới có thẩm quyềnxét xử Hoạt động xét xử của TAND có những đặc điểm:
- Chỉ có toà án mới có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hônnhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc kháctheo quy định của pháp luật
- Từ kết quả xét xử của TAND mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân đượchưởng các quyền hoặc phải thực hiện những nhiệm vụ nhất định Bản án,quyết định của TAND mang tính bắt buộc đối với bị cáo hoặc các đương sựcho nên hoạt động xét xử của TAND phải tuân theo những thủ tục, trình tựnghiêm ngặt
- Việc xét xử của TAND có tính quyết định cuối cùng khi giải quyết các vụviệc pháp lý Trong nhiều trường hợp, sau khi các cơ quan, tổ chức đã giảiquyết nhưng đương sự không đồng ý với cách giải quyết đó và yêu cầu TANDgiải quyết, TAND có thể xem xét và quyết định Quyết định của TAND có thểthay thế cho các quyết định trước đó và quyết định của TAND là quyết địnhcuối cùng
- Hoạt động xét xử là một hoạt động sáng tạo của các thẩm phán và hộithẩm nhân dân Đây là hoạt động áp dụng pháp luật nhưng là sự áp dụng phápluật một cách sang tạo, bởi vì khi xây dựng luật các nhà làm luật không dựliệu được hết tất cả những hành vi, tình tiết, hoàn cảnh của từng sự việc cụ thểcủa từng vụ án Vì vậy, các thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu
kĩ, toàn diện điều kiện khách quan có liên quan đến những vụ án cụ thể, lựachọn quy phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩacủa các quy phạm pháp luật đối với từng vụ án một cách hợp tình, hợp lý, ápdụng các quy phạm pháp luật đúng đắn
3.5.2 Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)
Trong bộ máy nhà nước ta hiện nay có hai hệ thống cơ quan được Hiếnpháp quy định cùng chung nhiệm vụ đó là TAND và VKSND vì đều là cơquan tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật Tuy nhiên, đây là hai hệ thống cơquan khác nhau vì có chức năng khác nhau Điều 137 Hiến pháp năm 1992
quy định: “VKSND tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các VKSND địa phương, các VKS quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm
do luật định” Như vậy, kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền
công tố là chức năng duy nhất của VKSND
Trang 33- Chức năng công tố: Thực hành quyền công tố là việc đưa vụ án ra tòa với
quyền truy tố và buộc tội đối với những người có hành vi nguy hiểm cho xãhội trên cơ sở các quy định của pháp luật Đây là chức năng đặc thù củaVKSND được Hiến pháp trao mà các cơ quan khác không thể thay thế nhằmbảo đảm cho pháp luật về tư pháp được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
- Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp: Theo điều 137 Hiến pháp và
Điều 1 Luật tổ chức VKSND 2002 thì các VKSND chỉ kiểm sát việc tuân theopháp luật trong các hoạt động tư pháp bao gồm:
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hành sựcủa cơ quan điều tra và cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra
+ Kiểm sát xét xử các vụ án hình sự
+ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hànhchính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định pháp luật
+ Kiểm sát việc thi hành án
+ Kiểm sát viẹc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành
án phạt tù
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các hoạt động tư pháp là một tronghai chức năng của VKSND được quy định trong Hiến pháp Khi thực hiệnchức năng này, VKSND chỉ chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhànước cùng cấp, độc lập khi thực hiện chức năng đó
+ Khi thực hiện chức năng của mình, VKSND chỉ xem xét khi có dấu hiệucủa hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, VKSND không có thẩm quyền trựctiếp xử lý về hành chính mà chỉ dừng lại ở quyền yêu cầu, kháng nghị, kiếnnghị để các cơ quan xử lý về hành chính theo thẩm quyền Khi phát hiện cóyếu tố cấu thành tội phạm thì có quyền khởi tố, truy tố và luận tội trước tòa án.+ Là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền truy tố kẻ phạm pháp ra trướctoà án và giữ quyền công tố tại phiên tòa
Trang 34CHƯƠNG 3
QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I Quy phạm pháp luật.
1 Khái niệm, đặc điểm.
1.1 Khái niệm quy phạm pháp luật
Trong đời sống xã hội, mỗi người luôn phải tuân theo những quy tắcchung nhất định trong các quan hệ giữa con người với nhau Khoa học pháp lý
gọi quy tắc xử sự chung đó là các quy phạm Các quy phạm đó có thể là: quy
phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm của một tổ chức xã hội, quyphạm pháp luật Do vậy, quy phạm pháp luật là một trong số những quy phạm
xã hội Từ đó có thể đưa ra khái niệm về quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng và nhằm đạt được những mục đíc h nhất định.
Pháp luật của một nhà nước là sự thống nhất của một hệ thống các quy
phạm pháp luật Mỗi quy phạm có thể xem như một “đơn vị pháp luật”, một
tế bào của một cơ thể thống nhất là toàn bộ nền pháp luật nói chung
1.2 Đặc điểm quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội Vì vậy nó vừa mangđầy đủ những thuộc tính chung của các quy phạm xã hội vừa có những thuộctính của riêng mình Quy phạm pháp luật có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự Với tư cách là quy tắc xử sự,
quy phạm pháp luật luôn là khuôn mẫu cho hành vi con người, nó chỉ dẫn chomọi người cách xử sự (nên hay không nên làm gì hoặc làm như thế nào) trongnhững hoàn cảnh, điều kiện nhất định Điều này cũng có nghĩa là quy phạmpháp luật đã chỉ ra cách xử sự và xác định các phạm vi xử sự của con người,cũng như những hậu quả bất lợi gì nếu như không thực hiện đúng hoặc viphạm chúng
- Quy phạm pháp luật là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi con người
Trang 35Không chỉ là khuôn mẫu cho hành vi, quy phạm pháp luật còn là tiêuchuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của các chủ thể tham gia quan
hệ mà nó điều chỉnh
Thông qua quy phạm pháp luật mới biết được hoạt động nào của cácchủ thể có ý nghĩa pháp lý, hoạt động nào không có ý nghĩa pháp lý, hoạtđộng nào phù hợp với pháp luật, hoạt động nào trái pháp luật… Chẳng hạn, đểbiết được đâu là hoạt động tình cảm, đâu là hoạt động pháp luật của cá nhânchúng ta phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật hay để đánh giá hành vi nào
là vi phạm hành chính, hành vi nào là vi phạm hình sự (tội phạm) thì phải căn
cứ vào các quy phạm của pháp luật hành chính và pháp luật hình sự
- Quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra,
thừa nhận hoặc phê chuẩn, do vậy bản chất của chúng trùng với bản chất củapháp luật Quy phạm pháp luật thể hiện ý chí nhà nước, chúng chứa đựngtrong mình những tư tưởng, quan điểm chính trị - pháp lý của nhà nước, củalực lượng cầm quyền trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Nhà nước ápđặt ý chí của mình trong quy phạm pháp luật bằng cách xác định những đốitượng (tổ chức, cá nhân) nào? trong những hoàn cảnh, điều kiện nào thì phảichịu sự tác động của quy phạm pháp luật, những quyền và nghĩa vụ pháp lý
mà họ có và những biện pháp cưỡng chế nào? mà họ buộc phải gánh chịu.Thuộc tính do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện là thuộctính thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa quy phạm pháp luật với các loại quyphạm xã hội khác
- Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung Quy phạm pháp luật
được ban hành không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cảcác tổ chức và cá nhân tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Mọi tổchức, cá nhân ở vào những hoàn cảnh, điều kiện mà quy phạm pháp luật đãquy định đều xử sự thống nhất như nhau Tuy nhiên, tính chất chung của cácquy phạm pháp luật khác nhau thì khác nhau
Ví dụ, quy phạm pháp luật Hiến pháp thì có liên quan đến mọi tổ chức
và cá nhân trong đất nước, nhưng quy phạm pháp luật hình sự thì chỉ liênquan đến những người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà thôi
- Quy phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội, mà nội dung của nó thường thể hiện hai mặt là cho phép và bắt buộc, nghĩa là, quy
phạm pháp luật là quy tắc xử sự trong đó chỉ ra các quyền và nghĩa vụ pháp lýcủa các bên tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh
Trang 36- Quy phạm pháp luật có tính hệ thống Mỗi quy phạm pháp luật được
nhà nước ban hành không tồn tại và tác động một cách biệt lập, riêng rẽ màgiữa chúng luôn có sự liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau tạo nên nhữngchỉnh thể lớn nhỏ khác nhau cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội vì sự ổn định
và phát triển xã hội
Quy phạm pháp luật của các nhà nước hiện đại chủ yếu là quy phạmpháp luật thành văn, chúng được chứa đựng trong các văn bản quy phạm phápluật của nhà nước Do nhu cầu điều chỉnh xã hội mà số lượng các quy phạmpháp luật của nhà nước được ban hành ngày một nhiều hơn và phạm vi các đốitượng mà chúng tác động cũng ngày càng rộng hơn, trật tự ban hành, áp dụng
và bảo vệ chúng ngày càng dân chủ hơn với sự tham gia của các thành viêntrong xã hội Nội dung các quy phạm pháp luật ngày càng chính xác, chặt chẽ,
rõ ràng thống nhất và có tính khả thi cao
2 Cấu trúc, phương pháp diễn đạt, vai trò của quy phạm pháp luật.
2.1 Cấu trúc của quy phạm pháp luật.
Cấu trúc của quy phạm pháp luật chính là những thành phần tạo nênquy phạm có liên quan mật thiết với nhau Cũng như các quy phạm xã hộikhác quy phạm pháp luật chứa trong nó những câu hỏi: Ai (tổ chức, cá nhânnào)? Trong những tình huống nào (khi nào)? thì sẽ xử sự như thế nào hoặchậu quả gì cần phải gánh chịu?
Vì vậy, các quy phạm pháp luật được trình bày theo một cơ cấu nhấtđịnh, gồm những bộ phận cấu thành Nhìn chung, cấu thành của một quyphạm pháp luật bao gồm 3 bộ phận: Giả định, quy định, chế tài
2.1.1 Giả định
Là một phần của quy phạm pháp luật trong đó nêu ra những tình huống(hoàn cảnh, điều kiện) có thể xảy ra trong đời sống xã hội mà quy phạm phápluật sẽ tác động đối với những chủ thể (tổ chức, cá nhân) nhất định Nói cáchkhác, giả định nêu lên phạm vi tác động của quy phạm pháp luật đối với các
cá nhân hay tổ chức nào? Trong những hoàn cảnh, điều kiện nào?
Ví dụ: Khoản 1 Điều 102 Bộ luật hình sự Việt Nam quy định: “Người
nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” Hoàn cảnh ở đây là: bất kỳ “Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng”, nhưng chủ thể chịu sự tác động của quy
phạm này không phải tất cả những người trong hoàn cảnh đó mà chỉ gồm
những người “tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó
chết” Như vậy, trong cùng một hoàn cảnh nhưng không phải mọi tổ chức hay
cá nhân ở vào hoàn cảnh ấy cũng chịu sự tác động của quy phạm đó mà chỉ
Trang 37những chủ thể có liên quan đến phần chỉ dẫn của quy phạm mới chịu sự tácđộng của quy phạm (chủ thể được, buộc phải thực hiện quy phạm đó hoặc bị
áp dụng quy phạm đó)
Những tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) được nêu ra trong phần giảđịnh của quy phạm pháp luật là vô cùng phong phú Về hoàn cảnh có thể lànhững sự kiện: liên quan đến hành vi của con người (tham gia giao thông, gâythương tích cho người khác…); liên quan đến sự biến (sự sinh, tử…); liênquan đến thời gian; liên quan đến không gian (phạm vi lãnh thổ áp dụng nhưmiền núi hay đồng bằng…) Về điều kiện có thể là: điều kiện về không gian(địa điểm xảy ra sự kiện như nơi tội phạm xảy ra…); điều kiện về chủ thể (độtuổi, giới tính, dân tộc…); và rất nhiều những điều kiện khác, tùy theo hoàncảnh mà nhà nước quy định về điều kiện đối với chủ thể
Những hoàn cảnh, điều kiện được dự liệu trong phần giả định của các quyphạm pháp luật là những tình huống đã, đang hoặc sẽ xảy ra trong cuộc sống
Như vậy, phần giả định của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Tổ
chức, cá nhân nào? Trong những tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) nào?Thông qua phần giả định của quy phạm pháp luật chúng ta biết được tổ chức tổchức, cá nhân nào? khi ở vào những hoàn cảnh, điều kiện nào? thì chịu sự tácđộng của quy phạm pháp luật đó Việc xác định tổ chức, cá nhân nào và nhữnghoàn cảnh, điều kiện nào để tác động là phụ thuộc vào ý chí của nhà nước
2.1.2 Quy định
Là một phần của quy phạm pháp luật nêu lên những cách xử sự mà cácchủ thể có thể hoặc buộc phải thực hiện gắn với những tình huống đã nêu ởphần giả định của quy phạm pháp luật Tức là, khi xảy ra những hoàn cảnh, điềukiện đã nêu ở phần giả định của quy phạm pháp luật thì nhà nước đưa ra nhữngchỉ dẫn có tính chất mệnh lệnh (các cách xử sự) để các chủ thể thực hiện
Phần quy định là phần cốt lõi của quy phạm pháp luật, nó thể hiện ý chícủa nhà nước đối với các tổ chức hay cá nhân khi xảy ra những tình huống đãđược nêu trong phần giả định của quy phạm pháp luật Phần quy định của quy
phạm pháp luật thường được nêu ở dạng mệnh lệnh như: Cấm, không được,
phải, thì, có, được…Thông qua phần quy định của quy phạm pháp luật các
chủ thể pháp luật mới biết được là nếu như họ ở vào những tình huống đã nêutrong phần giả định của quy phạm pháp luật thì họ phải làm gì? được (khôngđược) làm gì? và thậm chí làm như thế nào?
Ví dụ: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" (Điều 57 Hiến pháp 1992) Phần quy định của quy phạm này là: "có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật".
Hay tại Khoản 3 Điều 141 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: "Mỗi cá
nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân" Phần quy định
của quy phạm này là: "chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân".
Trang 38Phần quy định của quy phạm pháp luật thường chỉ ra các quyền (lợi ích)
mà các chủ thể được hưởng hoặc các nghĩa vụ pháp lý mà họ phải thực hiện,mặc dù không phải khi nào thuật ngữ quyền và nghĩa vụ pháp lý cũng trựctiếp thể hiện trong lời văn của quy phạm
Như vậy, những mệnh lệnh của nhà nước được nêu trong phần quy định
của quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có thể là:
+ Những cách xử sự (hành vi) mà chủ thể được phép hoặc không đượcphép thực hiện;
+ Những quyền và lợi ích mà chủ thể được hưởng;
+ Những cách xử sự (hành vi) mà chủ thể buộc phải thực hiện, thậm chí
là phải thực hiện như thế nào?
2.1.3 Chế tài
Là một phần của quy phạm pháp luật chỉ ra các biện pháp mang tínhchất trừng phạt mà các chủ thể có thẩm quyền áp dụng quy phạm có thể ápdụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng nhữngmệnh lệnh đã được nêu trong phần quy định của quy phạm pháp luật Do đó,chế tài là bộ phận bảo đảm tính cưỡng chế của pháp luật trong thực tế
Phần chế tài của quy phạm pháp luật thường trả lời cho câu hỏi: Cácchủ thể có thẩm quyền áp dụng quy phạm có thể áp dụng những biện pháp nàođối với các chủ thể đã vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng những mệnhlệnh đã được nêu trong phần quy định của quy phạm pháp luật Còn đối vớicác chủ thể được nêu ở phần giả định của quy phạm pháp luật thì nhà nướcgián tiếp thông báo hoặc cảnh báo cho họ biết là nếu như họ ở vào những tìnhhuống như đã nêu ở phần giả định của quy phạm pháp luật thì họ phải chịunhững hậu quả bất lợi, bị trừng phạt bằng những biện pháp gì?
Ví dụ: Khoản 1 Điều 100 Bộ luật Hình sự 1999 quy định: “Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ hai đến bảy năm” Phần giả định
nêu chủ thể chịu sự tác động của quy phạm này là: “Người nào đối xử tàn ác,
thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát” Phần chế tài được chỉ dẫn cho chủ thể có thẩm quyền áp
dụng pháp luật đối với chủ thể đã thực hiện hành vi nêu ở phần giả định của
quy phạm này là: “phạt tù từ hai đến bảy năm” Còn phần quy định đã không
trực tiếp thể hiện trong quy phạm pháp luật này Tuy nhiên, với quy phạmpháp luật này thì phần quy định được hiểu là: không được đối xử tàn ác,không được thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộcmình làm cho người lệ thuộc mình tự sát
Hay "Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi
phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị
Trang 39phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm" (Điều 202 Bộ luật hình sự
1999) Phần chế tài ở quy phạm này là: "bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến
năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".
Theo các ngành luật thì chế tài được chia thành: Chế tài hình sự, chế tàihành chính, chế tài kỷ luật, chế tài dân sự v.v
2.2 Phương pháp diễn đạt quy phạm pháp luật
Để đảm bảo tính logic, chặt chẽ đòi hỏi các quy phạm pháp luật phảiđược trình bày theo một kết cấu là: Nếu một tổ chức hay cá nhân nào đó ở vào
những hoàn cảnh, điều kiện nhất định nào đó (giả định); thì được phép hay buộc phải xử sự theo một cách thức nhất định (quy định); hoặc các chủ thể có
thẩm quyền có thể sẽ áp dụng những biện pháp cưỡng chế nào đối với các chủ
thể vi phạm pháp luật (phần chế tài)
Quy phạm pháp luật được thể hiện thành các điều luật trong các văn bảnquy phạm pháp luật, quy phạm pháp luật là nội dung, còn điều luật là hìnhthức biểu hiện của các quy phạm pháp luật Trong nhiều trường hợp quy phạmpháp luật trùng với các điều luật Nhưng cũng không ít trường hợp, trong mộtđiều luật của văn bản, bao gồm một số quy phạm pháp luật khác nhau cùngđiều chỉnh các quan hệ xã hội trong một lĩnh vực nhất định Có ba phươngpháp diễn đạt quy phạm pháp luật thành các điều luật trong các văn bản quyphạm pháp luật: phương pháp diễn đạt trực tiếp; phương pháp diễn đạt thamkhảo; phương pháp diễn đạt theo mẫu
Phương pháp diễn đạt trực tiếp, theo phương pháp này, trong một điều
luật trình bày (diễn đạt) một quy phạm pháp luật trọn vẹn, có đủ các yếu tố:giả định, quy định, chế tài Phương pháp này có ưu điểm là dễ hiểu, dễ vậndụng, phù hợp với trình độ dân trí chưa cao Nhưng có nhược điểm là thườnglặp đi lặp lại nhiều lần một nội dung nào đó
Phương pháp diễn đạt tham khảo, theo phương pháp này, tại một điều
luật, chỉ trình bày một hoặc hai bộ phận của quy phạm pháp luật, phần còn lạiphải tham khảo ở một điều luật khác Ưu điểm của phương pháp này là khắcphục được nhược điểm của phương pháp trên, khắc phục được sự trùng lặp.Nhưng nhược điểm là khó vận dụng, đòi hỏi trình độ dân trí cao
Phương pháp diễn đạt theo bản mẫu, là phương pháp diễn đạt ở một điều
luật chỉ trình bày một vài bộ phận của quy phạm như ở phương pháp thamkhảo, phần còn lại không giới thiệu ở một điều luật cụ thể nào, mà chỉ đề ramột phương hướng chung để tham khảo ở một luật nào đó đang hiện hành(tham khảo tại một văn bản quy phạm pháp luật khác)
Qua ba phương pháp diễn đạt trên, phương pháp nào là tốt nhất? Mỗiphương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm của nó Tùy theo tính chất
Trang 40của quan hệ xã hội do quy phạm pháp luật điều chỉnh, tùy theo trình độ dân trícủa dân cư mà các nhà làm luật chọn phương pháp thích hợp Tuy nhiên, dù
sử dụng phương pháp nào cũng phải tuân theo một yêu cầu chung là phải diễnđạt chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, dễ vận dụng Cần phải diễn đạt sao cho cùng
một vấn đề mà mọi người đều hiểu thống nhất, vận dụng thống nhất Không
thể có một quy định của quy phạm pháp luật mà hiểu nhiều cách khác nhau
4 Vai trò của quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là yếu tố đầu tiên, cơ bản trong cơ chế điều chỉnhpháp luật và xây dựng hệ thống pháp luật Không có quy phạm pháp luật,không có thước đo, thì không thể có sự điều chỉnh pháp luật, và do đó, không
có cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội Thông qua quyphạm pháp luật nhà nước quản lý xã hội Quản lý xã hội, theo góc độ pháp lý,
là việc nhà nước dùng quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của cácthành viên trong xã hội, sao cho khi họ tham gia các quan hệ xã hội phải xử sựthống nhất theo một quy tắc chung, theo ý chí của nhà nước đã được thể hiệntrong quy phạm pháp luật Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm phápluật Quy phạm pháp luật được coi là “tế bào” của hệ thống pháp luật, là yếu
tố cơ bản để xây dựng hệ thống pháp luật của một nhà nước Pháp luật củamột nhà nước là hệ thống các quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý đảm bảo sự hoạt động của Bộ máy nhà nước Các cơ quan nhà nước đều phải hoạt động trong phạm vi thẩm
quyền được quy định cụ thể bằng những quy phạm pháp luật Các nhà chứctrách, các nhân viên nhà nước phải dựa vào quy phạm pháp luật để thực thicông vụ của mình Có như vậy họ mới đủ lòng tin để thực hiện đúng chứctrách một cách có hiệu quả
Quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý đối với quyền tự do, quyền dân chủ
của công dân, đối với hành vi hợp pháp của con người trong xã hội Các quyphạm pháp luật tác động lên con người trong quan hệ xã hội trên hai mặt, tácđộng giáo dục tư tưởng và tác động pháp lý Tác động giáo dục tư tưởng củaquy phạm pháp luật thể hiện tương tự như các biện pháp giáo dục tư tưởngkhác Khi con người biết được những quy định của pháp luật về quyền tự do,quyền dân chủ thì trình độ nhận thức, trình độ văn hóa của họ được nâng cao.Tác động pháp lý của quy phạm pháp luật tạo cho con người sự hiểu biết cầnthiết về pháp luật, đồng thời khẳng định những quyền và nghĩa vụ pháp lý của
họ Để tạo cho con người có kiến thức pháp luật và hiểu biết quyền và nghĩa
vụ pháp lý, ngoài việc tiến hành trên ý thức, còn phải thông qua sự điều chỉnhbằng pháp luật đối với quan hệ xã hội Dựa vào quy phạm pháp luật, nhà nước
có khả năng bảo vệ các quan hệ xã hội đã có, tạo điều kiện cho các quan hệ xãhội mới phát sinh có điều kiện phát triển, góp phần thanh toán, loại bỏ cácquan hệ xã hội đối lập với xã hội mới