đỡ cho nhiều doanh nghiệp lớn về việc huy động vốn và sử dụng vốn hiệuquả.Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của Chi nhánh ngân hàng Công Thươngkhu vực Hai Bà Trưng trong những năm gần đây
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại 3
1.1 Khái quát chung về ngân hàng thương mại : 3
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại : 4
1.2.1 Khái niệm : 4
1.2.2 Các loại hình cho vay : 5
1.2.2.1 Cho vay thấu chi : 5
1.2.2.2 Cho vay từng lần : 6
1.2.2.3 Cho vay theo hạn mức : 6
1.2.2.4 Cho vay luân chuyển: 7
1.2.2.5 Cho vay trả góp : 8
1.2.2.6 Cho vay gián tiếp : 8
1.2.3 Quy trình cho vay : 9
1.2.3.1 Phân tích doanh nghiệp trước khi cho vay : 9
1.2.3.2 Xây dựng và kí kết hợp đồng tín dụng : 11
1.2.3.3 Giải ngân và kiểm soát trong khi cho vay : 11
1.2.3.4 Thu nợ hoặc ra các quyết định cho vay mới : 12
1.2.4 Vai trò của hoạt động cho vay : 12
1.3 Hiệu quả cho vay đối với các doanh nghiệp lớn của ngân hàng thương mại : 14
1.3.1 Khái niệm hiệu quả cho vay đối với các doanh nghiệp lớn : 14
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay : 16
1.3.2.1 Các chỉ tiêu định lượng : 16
1.3.2.2 Các chỉ tiêu định tính : 18
1.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng :19
Trang 21.3.3.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng : 19
1.3.3.2 Các nhân tố thuộc về khách hàng : 21
1.3.3.3 Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô : 22
1.3.3.4 Các nhân tố bất khả kháng : 22
Chương 2 : Thực trạng chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng ( từ năm 2006 đến năm 2008 ) 23
2.1 Khái quát về Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng : 23
2.1.1 Quá trình hình thành phát triển : 23
2.1.2 Cơ cấu tổ chức : 24
2.1.2.1 Mô hình tổ chức tại Chi nhánh NHCT – HBT 24
2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban tại NHCT- HBT 25
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng từ năm 2006 đến năm 2008 : 28
2.1 3.1 Công tác huy động vốn 28
2.1.3.2 Công tác tín dụng 30
2.1.3.3 Công tác tài trợ Thương mại 33
2.1.3.4 Hoạt động dịch vụ 34
2.1.4 Tồng quan về Phòng Khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng : 35
2.1.4.1 Nhiệm vụ, chức năng 35
2.1.4.2.Vai trò của Phòng khách hàng Doanh nghiệp lớn trong Chi nhánh : 37
2.1.4.3.Quy trình cho vay tại Phòng khách hàng doanh nghiệp lớn : 38
2.2 Giới thiệu về khách hàng doanh nghiệp lớn : 39
Trang 32.2.1 Tổng quan về doanh nghiệp lớn : 39
2.2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp lớn : 39
2.2.1.2 Những đặc điểm của doanh nghiệp lớn : 40
2.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp lớn : 41
2.2.2 Khách hàng doanh nghiệp lớn của Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng : 42
2.3 Hiệu quả hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng : 43
2.3.1 Thực trạng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng : 43
2.3.1.1 Dư nợ cho vay tại phòng khách hàng doanh nghiệp lớn của Chi nhánh : 43
2.3.1.2 Cơ cấu dư nợ : 43
2.3.1.3 Số dư nợ các nhóm : 45
2.3.2 Đánh giá hiệu quả cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng : 47
2.3.2.1 Các thành tựu đạt được : 47
2.4.2.2.Những mặt hạn chế 48
2.4.2.3.Nguyên nhân hạn chế 49
Chương 3: Giải pháp và một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng trong thời gian tới 57
3.1 Định hướng hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng trong thời gian tới : 57
3.1.1 Các mục tiêu cụ thể : 57
3.1.2 Phương hướng hoạt động : 58
Trang 43.2 Một số biện pháp tăng cường hiệu quả cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai
Bà Trưng : 59
3.2.1 Nâng cao chất lượng quy trình thẩm định cho vay 59
3.2.1.1 Nâng cao chất lượng chính sách tín dụng: 59
3.2.1.2 Đưa quy trình cho vay vào thực hiện nghiêm túc và hiệu quả nhất: 59
3.2.1.3.Nâng cao chất lượng thẩm định cho vay 60
3.2.1.4.Tăng cường kiểm tra, giám sát món vay của các doanh nghiệp lớn : 62
3.2.2.Nâng cao chất lượng thông tin 63
3.2.3.Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng 64
3.2.4.Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ : 65
3.3.Một số kiến nghị : 66
3.3.1 Đối với Ngân hàng Công thương Việt Nam : 66
3.3.2 Đối với ngân hàng Nhà nước : 67
3.3.3 Đối với nhà nước 68
Kết luận 70
Danh mục tài liệu tham khảo 71
Danh mục các website: 72
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp tham gia vào thịtrường với đủ loại ngành nghề,tạo nên sự sôi động cho nền kinh tế thịtrường.Tuy nhiên phải nói rằng, chỉ có các doanh nghiệp lớn mới có thểkhẳng định được tên tuổi của mình, giành được ưu thế trong cạnh tranh hơn
so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lớn cũngđóng vai trò to lớn đối với một quốc gia, ảnh hưởng đến sự lớn mạnh, ổn định
về kinh tế không chỉ đối với quốc gia đó, mà còn đối với các doanh nghiệpkhác cũng như các quốc gia khác trên toàn thế giới Thậm chí, một số doanhnghiệp lớn còn có thể đại diện cho nền kinh tế của một quốc gia
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi bắt đầu sản xuất kinh doanh cũng nhưtrong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng cần có nguồn vốn nhất định Ngoàiphần vốn tự có ra, một phần rất quan trọng và hầu như chiếm toàn bộ nguồnvốn sử dụng của doanh nghiệp đó là nguồn vốn vay từ các ngân hàng Đây lànguồn vốn ổn định và quan trọng nhất cho quá trình hình thành cũng như pháttriển của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn Với quy mô củamình, các doanh nghiệp lớn không thể chỉ dựa vào vốn tự có hay vay từ các tổchức khác, mà tỷ trọng lớn nguồn vốn là từ vay ngân hàng Nguồn vốn nàymang lại lợi ích to lớn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,tuy nhiên cũng nhiều khi mang đến rủi ro nếu như hiệu quả cho vay khôngđược đảm bảo
Trong hệ thống ngân hàng Công Thương Việt Nam, Chi nhánh ngânhàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng là một trong những chi nhánh lâuđời, có nhiều thành tựu trong huy động vốn và cho vay vốn đối với các kháchhàng Trong đó, việc cho vay với các khách hàng lớn chiếm một vị trí quantrọng trong hoạt động của Chi nhánh, với một mức số dư tín dụng lớn, giúp
Trang 6đỡ cho nhiều doanh nghiệp lớn về việc huy động vốn và sử dụng vốn hiệuquả.
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của Chi nhánh ngân hàng Công Thươngkhu vực Hai Bà Trưng trong những năm gần đây, có thể thấy hoạt động chovay đối với doanh nghiệp lớn của Chi nhánh có nhiều thành tích , nhưng bên
cạnh đó cũng vẫn còn những tồn tại Từ đó, với đề tài “Tăng cường hiệu quả cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh ngân hàng Công Thương khu vực Hai Bà Trưng", em muốn đưa ra những kiến nghị
nhằm tăng cường hiệu quả cho vay tại chi nhánh trên cơ sỏ đánh giá một cáchchân thực về hiệu quả cho vay của chi nhánh
Trang 7Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về hiệu quả cho vay
đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại.
1.1 Khái quát chung về ngân hàng thương mại :
Ngân hàng là một trong những trung gian tài chính có vị trí quan trọngbậc nhất đối với nền kinh tế Hiện nay, thông thường, hệ thống ngân hàng củamột quốc gia là hệ thống ngân hàng hai cấp, bao gồm ngân hàng Trung ương
và ngân hàng thương mại Tuy nhiên, trong đó, ngân hàng thương mại thường
có số lượng lớn, và chiếm ưu thế cả về quy mô tài sản, thị phần khách hàngcũng như mạng lưới hoạt động
Ngân hàng làm việc nhận tiền gửi và cho vay đối với nền kinh tế So vớicác trung gian tài chính khác, ngân hàng là tổ chức thu hút được lượng tiềntiết kiệm lớn nhất trong dân cư Các cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế,các tổ chức xã hội đều gửi tiền vào ngân hàng Trong quá trình gửi tiền, họnhận được một khoản lãi suất, coi như lợi nhuận từ việc cho ngân hàng vay
Do đó, lợi ích của người gửi tiền gắn bó chặt chẽ với hiệu quả hoạt động củangân hàng, hay nói cách khác là thu nhập của ngân hàng Xét về hoạt độngcho vay của ngân hàng, ngân hàng thường xuyên cho vay đối với các doanhnghiệp, nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh như mua sắmnguyên vật liệu, trang thiết bị, vật tư, xây dựng cơ sở hạ tầng Ngoài ra,ngân hàng cũng cho vay đối với các cá nhân trong việc đầu tư kinh doanhcũng như mua sắm các đồ dùng có giá trị lớn Bên cạnh đó, ngân hàng còncung cấp những phương tiện thanh toán hiện đại cho nền kinh tế, có tác dụnglàm giảm lượng tiền tệ trong lưu thông như séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán,tài khoản điện tử Ngân hàng không chỉ cho các tổ chức cá nhân thôngthường vay, mà nhiều lúc còn là người cung cấp tín dụng cho Chính phủ trongcác dự án đầu tư phát triển cho cả nước Bởi thế , ngân hàng sử dụng các
Trang 8chính sách kinh tế, mà trong đó quan trong nhất lề chính sách tiền tệ đã gópphần quan trọng trong việc giúp Chính phủ phát triển và ổn định nền kinh tế.
Có thể nói, ngân hàng thương mại cung cấp rất nhiều dịch vụ tài chínhcho nền kinh tế, đông thời thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với các
tổ chức trung gian tài chính khác Nhưng có thể thấy ba chức năng cơ bản củângân hàng là : trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán và là trunggian thanh toán Ngoài ra, một số dịch vụ cơ bản của ngân hàng là : mua bánngoại tệ, nhânj tiền gửi, cho vay, cung cấp các phương tiện giao dịch và thựchiện thanh toán, quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, bảolãnh, cho thuê thiết bị, dịch vụ uỷ thác, tư vấn, bảo hiểm, cung cấp các dịch
Trang 9Cho vay là một hoạt động điển hình của hoat động tín dụng Trong “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng - Quyết định 1627-2001-QĐ-NHNN “ có định nghĩa về hoạt động cho vay như sau :
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao chokhách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất địnhtheo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi
1.2.2 Các loại hình cho vay :
Các loại hình cho vay rất đa dạng, có thể dựa theo nhiều tiêu thức đểphân loại như : theo thời hạn khoản vay, theo loại tiền,theo đối tượng, theomục đích, theo hình thức đảm bảo, theo quy mô hay theo độ an toàn củakhoản vay
Theo thời hạn của khoản vay, ta có các khoản vay ngắn hạn, trung hạn
Theo loại tiền, ta có vay bằng VNĐ, vay bằng ngoại tệ
Tuy nhiên, một cách phân loại thường gặp nhất và hay được sử dụngnhất, đó là phân loại theo hình thức cho vay Với cách phân loại này, ta có cácloại hình cho vay như sau :
1.2.2.1 Cho vay thấu chi :
Đây là hình thức cho vay cho phép người vay được chi vượt quá số tiềngửi thanh toán đến một mức nào đó trong một khoảng thời gian xác định Giớihạn này là hạn mức thấu chi
Để được thấu chi, khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấuchi và thời gian thấu chi Từ đó, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi,
Trang 10mua thẻ vượt quá số tiền gửi để chi trả Khi khách hàng có tiền nhập vào tàikhoản tiền gửi , ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi Nếu khách hàng chi tiêu quáhạn mức thấu chi thì sẽ phải chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng hìnhthức này.
Hình thức thấu chi dựa trên cơ sở các khoản thu và chi của khách hàngkhông phù hợp về thời gian va quy mô Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn,khá linh hoạt và không phức tạp, thường không có tài sản đảm bảo, có thể cấpcho cả doanh nghiệp cũng như cá nhân Thấu chi chủ yếu sử dụng với nhữngkhách hàng có uy tín, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn
1.2.2.2 Cho vay từng lần :
Đây là hình thức cho vay khá phổ biến Cho vay từng lần thường được
áp dụng đối với những doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn thường xuyêncủa ngân hàng, và không có điều kiện để thoả mãn hạn mức thấu chi Mỗi lầnvay, khách hàng phải làm đơn trình ngân hàng về phương án sử dụng vốnvay Ngân hàng sẽ thẩm định phương án đó, nếu thấy thoả mã thì sẽ kí kếthợp đồng cho vay, lãi suất, yêu cầu bảo đảm nếu cần thiết Các khoản vaytrong từng lần sẽ được lập thành các hồ sơ riêng biệt
1.2.2.3 Cho vay theo hạn mức :
Cho vay theo hạn mức là hình thức ngân hàng cung cấp cho khách hàngmột hạn mức tín dụng nhất định, đảm bảo mức dư nợ cho vay của khách hàngtại ngân hàng theo như đã cam kết trong hợp đồn tín dụng
Hạn mức này được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, chu kìkinh doanh và nhu cầu vốn của khách hàng Trong kì , khách hàng có thể vaytrả nhiều lần, nhưng dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng
Trước khi vay, khách hàng phải trình bày kế hoạch sử dụng tiền vay,phải nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá dịch vụ và nêu yêu cầu
Trang 11vay Ngân hàng, sau khi kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ, sẽ thực hiện giảingân cho khách hàng.
Hình thức cho vay này phù hợp với những khách hàng cần vay mượnthường xuyên, ví dụ như các ngành nghề mà vốn vay tham gia vào quá trìnhsản xuất kinh doanh Trong nghiệp vụ này, ngân hàng có quyền ấn định hạntrả nợ , dựa trên chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi nào kháchhàng có thu nhập, ngân hàng sẽ đến thu nợ, tạo sự chủ động trong quản lýngân quỹ cho khách hàng Song, bên cạnh đó, do những lần vay không táchbiệt thành những kì hạn nợ cụ thể nên gây khó khăn cho ngân hàng trong việckiểm soát hiệu quả của từng lần vay Ngân hàng chỉ có thể phát hiện ra vấn đềkhi khách hàng đến nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút
1.2.2.4 Cho vay luân chuyển:
Đây là hình thức cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá Khimua hàng , doanh nghiệp có thể thiếu vốn, ngân hàng sẽ cho doanh nghiệpvay và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng Đầu năm hoặc đầu quý,người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển Ngân hàng và khách hàng sẽthoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cungcấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ Hạn mức tín dụng có thể trong một hoặcnhiều năm theo thoả thuận Thời hạn ở đây không phải là thời hạn hoàn trả ,
mà là thời hạn để ngân hàng xem xét xem có nên cho khách hàng của mìnhvay tiếp không, dựa trên cơ sở hiểu biết về uy tín và tình hình kinh doanh củakhách hàng
Hình thức cho vay này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu về kế hoạch luânchuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong thời gian tới Ngoài ra, chovay luân chuyển cũng rất thuận lợi đối với khách hàng Về mặt thủ tục, mộthợp đồng có thể áp dụng cho nhiều lần vay Khách hàng được đáp ứng nhucầu vốn kịp thời, do đó việc thanh toán cho nhà cung cấp cũng trở nên nhanh
Trang 12gọn, đơn giản hơn Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiêuthụ hàng hoá thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thu hồi vốn do thời hạn cuảkhoản vay không được quy định rõ ràng.
1.2.2.5 Cho vay trả góp :
Cho vay trả góp là hình thức cho vay mà ngân hàng cho phép kháchhàng được trả gốc vay làm nhiều lần trong kì hạn tín dụng đã thoả thuận Hìnhthức này thường được áp dụng cho các khoản vay trung và dài hạn, các khoảntài trợ cho tài sản cố định hay hàng hoá lâu bền Số tiền mỗi lần trả được tínhtoán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng
Ngân hàng cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mứcnhất định Ngân hàng sẽ thanh toán cho cửa hàng bán lẻ số hàng hoá màkhách hàng đã mua trả góp Các cửa hàng bán lẻ nhận tiền từ ngân hàng, làmđại lí thu tiền cho ngân hàng, hoặc khách hàng trả tiền trực tiếp cho ngânhàng Hình thức tài trợ này có tác dụng kích thích tiêu thụ hàng hoá
Cho vay trả góp có rủi ro cao, do khách hàng thường thế chấp bằng hànghoá mua trả góp Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của ngườivay Nếu người vay mất việc, ốm đau, bệnh tật, thu nhập giảm sút , thì khảnăng thu nợ của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng Chính vì có rủi ro cao cho nênlãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất củangân hàng
1.2.2.6 Cho vay gián tiếp :
Hầu hết các khoản cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp Tuynhiên, ngân hàng cũng đồng thời phát triển các hình thức cho vay gián tiếp,cho vay thông qua các tổ chức trung gian
Ngân hàng cho vay với các tổ chức xã hội như: các tổ đội hội, nhóm sảnxuất, Hội nông dan, Hội chiến binh, hội phụ nữ Các tổ chức này được lập ravới mục đích hỗ trợ, liên kết các thành viên, bảo vệ quyền lợi của mỗi thành
Trang 13viên Vì vậy, những mục tiêu chung của xã hội như xoá đói giảm nghèo, pháttriển kinh tế luôn được các tổ chức này quan tâm.
Ngân hàng cho các tổ chức này vay, các tổ chức này lại đứng ra đảm bảocho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm đứng ra bảo lãnh chomột thành viên vay Điều này rất có lợi khi người vay không có hoặc không
đủ tài sản đảm bảo thế chấp Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua ngườibán lẻ các sản phẩm đàu vào của quá trình sản xuất Cho vay cách này giúphạn chế người vay sử dụng tiền sai mục đích
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng cho thị trường có nhiều món vaynhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng, như vậy sẽ tiết kiệm chi phí vay,nhằm giảm bớt rủi ro Tuy nhiên, nó cũng có thể gặp rủi ro khi mà các trunggian lợi dụng vi thế của mình để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy tiềncủa các thành viên cho riêng mình Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng bán nhữngsản phẩm kém chất lượng hoặc với giá đắt cho người vay vốn
1.2.3 Quy trình cho vay :
Quy trình cho vay là tập hợp các bước tiêu chuẩn, được lập ra ngằmhướng dẫn các cán bộ tín dụng thực hiện khi cấp tín dụng cho khách hàng.Một quy trình cho vay hợp lý có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả cho vay củangân hàng đó
Quy trình cho vay thông thường bao gồm các bước như sau :
1.2.3.1 Phân tích doanh nghiệp trước khi cho vay :
Nội dung chủ yếu của phân tích trước khi vay bao gồm thu thập và xử lýthông tin liên quan đến khách hàng, như năng lực sử dụng vốn vay, uy tín,khả năng tạo ra lợi nhuận, các điều kiện về kinh tế của người đi vay
- Các cách thức thông thường để thu thập và xử lý thông tin :
+ Phỏng vấn trực tiếp : cách này rất quan trọng và hiệu quả, giúp cho cán
bộ tín dụng loại bỏ được những thông tin sai lệch từ các báo cáo “ ma “
Trang 14+ Thu thập thông tin qua các trung gian : các trung gian ở đây có thể làcác cơ quan quản lý, bạn hàng, chủ nợ khác, Qua phân tích mối quan hệgiữa các trung gian với người vay, có thể biết được về uy tín cũng như khảnăng tài chính của họ.
+ Nghiên cứu các thông tin trong các báo cáo tài chính với một khoảngthời gian đủ lớn của khách hàng, các thông tin về đội ngũ ban lãnh đạo , nhânsự, từ đó ngân hàng có thể ước tính được nhu cầu về vốn, khả năng sinh lờicủa khách hàng
- Nội dung phân tích :
+ Đánh giá tài sản của khách hàng : Tài sản của khách hàng được coinhư tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay,tạo khả năng thu hồi nợ khi kháchhàng không còn khả năng thanh toán Tài sản của khách hàng – doanh nghiệpđược thể hiện trong bảng cân đối kế toán, bao gồm : Ngân quỹ, các giấy tờ cógiá, hàng hoá trong kho, tài sản cố định
+ Đánh giá các khoản nợ : Ngân hàng quan tâm tới tất cả các khoản nợcủa khách hàng, xét theo hầu hết các tiêu thức, và quan tâm đến cả những chủ
nợ của khách hàng
+ Phân tích luồng tiền : Việc trả nợ ngân hàng liên quan chặt chẽ đếnngân quỹ của người vay Trong khi đó, bảng cân đối tài sản không phản ánhđược hết các khoản mục liên quan tới dòng tiền Để hỗ trợ cho ngân hàngcũng như khách hàng,cần dự kiến các luồng tiền cũng như kế hoạch chi tiêu
Kế hoạch này ghi lại vận động hàng tháng của các khoản tiền mặt, tiền gửingân hàng, các khoản thanh toán hàng tháng
+ Sử dụng các chỉ số tỷ lệ : Đó là các tỷ lệ có khả năng phản ánh nănglực tài chính và khả năng trả nợ của người vay mà ngân hàng xây dựng và sửdụng Các tỷ lệ này sẽ được áp dụng trong phân tích đối với từng khoản vay,từng người vay với một số điều kiện cụ thể Các nhóm tỷ lệ đó là : nhóm tỷ lệ
Trang 15thanh khoản, nhóm tỷ lệ sinh lời , nhóm tỷ lệ rủi ro, nhóm tỷ lệ đo khả năngtài trợ bằng vốn tự có.
+ Các điều kiện kinh tế : Đây là các điều kiện bên ngoài, có tác động đếnnhững tính toán ban đầu về khả năng thu hồi vốn trong tương lai của kháchhàng Những yếu tố này bao gồm, thiên tai, thay đổi chín trị, khủng hoảngkinh tế, Những yếu tố đó có thể tác động trực tiếp đến khách hàng và có thểgây tổn thất cho ngân hàng
1.2.3.2 Xây dựng và kí kết hợp đồng tín dụng :
Hợp đồng tín dụng ghi lại thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng, nộidung chủ yếu là việc ngân hàng cung cấp một khoản tín dụng nhất định trongmột thời gian và lãi suất cố định cho khách hàng Một số mục cơ bản tronghợp đồng là thông tin khách hàng, mục đích sử dụng vốn vay, hạn mức tíndụng, lãi suất khoản vay, các loại đảm bảo, giải ngân, điều kiện thanh toán,các điều kiện khác
1.2.3.3 Giải ngân và kiểm soát trong khi cho vay :
Sau khi kí kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng có trách nhiệm cấp tiền chokhách hàng như đã thoả thuận Cùng với việc cung cấp vốn, ngân hàng cònthực hiện việc kiểm soát khách hàng : sử dụng tiền vay có đúng mục đích ,đúng tiến độ hay không, quá trình sản xuất kinh doanh có thay đổi gì không,
có dấu hiệu thua lỗ hay lừa đảo gì không ? Qua đó, ngân hàng có thể thu thậpthêm thông tin về khách hàng, từ đó cho biết chất lượng khoản vay có đượcđảm bảo không, nếu không thì có thể đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời Khi
đó, ngân hàng có thể thu hồi nợ trước thời hạn, ngừng giải ngân, có thể yêucầu khách hàng bổ sung thêm tài sản thế chấp, giảm số tiền vay khi cần thiết
để đảm bảo an toàn tín dụng Đối với ngân hàng, đây là bước đi nguy hiểm,tuy nhiên rất cần thiết, nhằm ngăn chặn việc sử dụng tiền vay không đúngmục đích của khách hàng
Trang 161.2.3.4 Thu nợ hoặc ra các quyết định cho vay mới :
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng đã thu được cả gốc và lãi Cáckhoản vay đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản vay an toàn.Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những trường hợp do các biến động bất ổntrong hoạt động của khách hàng mà các khoản tín dụng không được thanhtoán hoặc thanh toán không đúng hạn Lúc này, ngân hàng phải xem xét vàtìm nguyên nhân để đưa ra những quyết định mới liên quan đến tính an toàncủa khoản tín dụng Nếu khách hàng có dấu hiệu lừa đảo, cố tính không trảđúng hạn, ngân hàng sẽ lập tức áp dụng phương pháp thanh lí, thu hồi khoản
nợ bằng cách phong toả, thế chấp các tài sản đảm bảo, tước đoạt các khoảntiền gửi Nếu khách hàng có khó khăn về tài chính, nhưng vẫn tích cực tìmcách khắc phục trả nợ thi ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp như gia hạn
nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm
1.2.4 Vai trò của hoạt động cho vay :
Như trên đã phân tích, cho vay là một hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu
về vốn cho các doanh nghiệp, đồng thời là một trong những hoạt động tíndụng cơ bản của ngân hàng Do đó, cho vay có vai trò rất quan trọng đối vớingân hàng, với các doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng, thậm chí làđối với cả nền kinh tế
Đối với ngân hàng :
Ban đầu, hoạt động cho vay chưa là một trong những nghiệp vụ của ngânhàng thương mại, nhưng khi kinh tế ngày một phát triển, nhu cầu về vốn củacác doanh nghiệp ngày càng cao, cùng với đặc điểm của ngân hàng là cónhiều nguồn vốn huy động được mà không sử dụng trong cùng một thời điểmnên hoạt động cho vay đã ra đời và ngày càng phát triển, trở thành hoạt độngchính và mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng Tỷ trọng cho vaytrong tổng tài sản của ngân hàng ngày càng cao Cùng với hoạt động này,
Trang 17ngân hàng thực hiện đầy đủ chức năng của một trung gian tài chính trong nềnkinh tế Tóm lại, hoạt động cho vay của ngân hàng đóng vai trò quan trọngkhông thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.
Đối với khách hàng :
Hình thành cơ cấu vốn :
Trong nền kinh tế thị trường, hầu như các doanh nghiệp đều sử dụng hainhóm nguồn vốn chủ yếu là vốn tự có và vốn đi vay để sản xuất kinh doanh.Điều này giúp cho doanh nghiệp giảm gánh nặng trong việc phải tự bỏ ra một
số vốn lớn ban đầu, có thể làm chậm quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh, màtrong thương trường, thì ra quyết định đúng thời điểm là điều rất quan trọng.Nguồn vốn đi vay có thể giải quyết được điều đó Tuy nhiên, không phảidoanh nghiệp muốn vay bao nhiêu cũng được, mà còn tuỳ thuộc vào các quyđịnh của ngân hàng cho vay cũng như quy định của nhà nước, đồng thời tuỳthuộc vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Bởi vậy, doanh nghiệp phải xâydựng một cơ cấu vốn tối ưu, kết hợp một cách hợp lý các nguồn vốn nhằm tối
đa hoá giá trị thị trường của doanh nghiệp tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất
Mở rộng sản xuất :
Một doanh nghiệp muốn ngày càng lớn mạnh thì cần phải mở rộng sảnxuất, cũng như mở rộng thị trường kinh doanh cho mình Thị trường ở đâykhông chỉ có thị trường nội địa mà còn phải tính đến thị trường nước ngoài.Muốn mở rộng sản xuất, đôi khi các doanh nghiệp phải nhập khẩu những tưliệu sản xuất hay các sản phẩm đầu vào từ nước ngoài Khi đó ngân hàng sẽ
sử dụng nghiệp vụ bảo lãnh, mở thư tín dụng tạo điều kiện cho hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Còn khi doanh nghiệp là người xuất khẩu, ngânhàng sẽ đóng vai trò là ngân hàng thông báo thu hồi vốn cho họ Như vậy,ngân hàng với các hình thức tín dụng phù hợp đã thực sự trở thành người bạn
Trang 18đồng hành đối với các doanh nghiệp trong quá trình mở rộng sản xuất kinhdoanh cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ.
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh :
Tín dụng ngân hàng không phải chỉ đơn thuần là hoạt động cấp phát vốn
mà là sự hoàn trả gốc và lãi theo thời gian quy định Trước khi cho doanhnghiệp vay, ngân hàng đã có sự kiểm tra kĩ lưỡng về tình hình hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó mới ra quyết định cho vay, đồngthời trong quá trình vay cũng như sau khi cho vay, ngân hàng luôn theo dõi sựtiến triển trong hoạt động kinh doanh của khách hàng, đưa ra các biện pháplàm ăn hiệu quả cho khách hàng của mình, đảm bảo là doanh nghiệp hoạtđộng có lãi, có đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng Vì vậy, doanh nghiệp luôntrong trạng thái phải duy trì việc hoat động kinh doanh hiệu quả để có thể thuhồi lại vốn, trả nợ lãi và giữ lại được lợi nhuận Đồng thời, ngân hàng luôncùng doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn trong phạm vi cho phép, tư vấncho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn
1.3 Hiệu quả cho vay đối với các doanh nghiệp lớn của ngân hàng thương mại :
1.3.1 Khái niệm hiệu quả cho vay đối với các doanh nghiệp lớn :
Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm doanh nghiệp lớn Việcphân chia các doanh nghiệp có thể thực hiện theo nhiều tiêu chí khác nhau.Nếu nói đến doanh nghiệp lớn, có nghĩa là ta đang phân loại doanh nghiệptheo quy mô, độ lớn của doanh nghiệp Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, thì việcphân chia lại cũng khác nhau, và ở từng thơi kì cũng khác nhau Do đó kháiniệm doanh nghiệp lớn chỉ mang tính chất tương đối Ở Việt Nam, doanhnghiệp lớn là doanh nghiệp có số vốn đăng kí trên 10 tỷ đồng, số lao độngtrung bình hàng năm trên 300 người Các doanh nghiệp lớn ở nước ta đều là
Trang 19những doanh nghiệp có uy tín, khẳng định được thế mạnh của mình và đóngvai trò tích cực trong công cuộc phát triển đất nước.
Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuậnnhất cho ngân hàng, nhưng đồng thời cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ronhất Hiệu quả của hoạt động cho vay ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động tíndụng và kinh doanh của ngân hàng Do đó, đối với mỗi đối tượng khách hàngkhác nhau, ngân hàng phải đánh giá hiệu quả cho vay, để từ đó có địnhhướng, giải pháp khắc phục các hạn chế cũng như đẩy mạnh hơn nữa hoạtđộng cho vay của ngân hàng
Hiệu quả của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp lớn được thể hiệntrên hai góc độ kinh tế và xã hội
Xét trên góc độ kinh tế: có thể coi hiệu quả cho vay là lợi nhuận thuđược từ hoạt động cho vay Đối với ngân hàng, đó là chênh lệch giữa lãi vayvới lãi huy động và các khoản chi phí khác Còn đối với doanh nghiệp , đây làkhoản thu nhập hợp lí so với dự kiến ban đầu, khoản thu này giúp cho doanhnghiệp tái sản xuất giản đơn và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh củamình
Xét trên góc độ xã hội : Các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam chủ yếu là cácdoanh nghiệp nhà nước, do đó hoạt động cho vay của ngân hàng đối với cácdoanh nghiệp này nếu đạt được hiệu quả sẽ góp phần thực hiện các mục tiêucủa Nhà nước như : cân bằng kinh tế giữa các thành phần, các vùng miền, tạocông ăn việc làm cho người dân, đưa đất nước đi lên và có thể hội nhập, sánhvai với các nền kinh tế lớn mạnh khác trên thế giới
Nói tóm lại, có thể hiểu là hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệplớn là sự đáp ứng nhu cầu vay hợp lý của các doanh nghiệp và nhu cầu đóphải phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội và phải đảm bảo sự tồntại và phát triển của ngân hàng
Trang 201.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay :
Hiệu quả cho vay đạt được khi ngân hàng đạt được những mục tiêu đề
ra, đó là an toàn, sinh lợi, thoả mãn tối đa nhu cầu vốn của khách hàng Để đolường mức độ đạt được những mục tiêu đó, ngân hàng đã đề ra các chỉ tiêuđịnh tính cũng như định lượng, đánh giá chất lượng của hoạt động tín dụng.Nhóm các chỉ tiêu định lượng được tính toán dựa trên các thông số vềhoạt động cho vay để đánh giá chất lượng cho vay
Nhóm các chỉ tiêu định tính thể hiện cho vay phải đảm bảo các quychế,thể lệ tín dụng và đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội
1.3.2.1 Các chỉ tiêu định lượng :
a Chỉ tiêu định lượng đo lường mức an toàn :
Nhóm chỉ tiêu về dư nợ :
Trước hết, ta cần biết đến một số quy định như sau :
- Tỷ trọng tổng dư nợ của ngân hàng đối với một khách hàng khôngđược vượt quá 15 % vốn tự có của ngân hàng so với tỉ lệ quy định Nếu ngânhàng có thể đảm bảo cho vay dưới tỷ lệ này thì tính an toàn sẽ cao hơn, cònkhi số dư nợ tăng hơn 15% vốn tự có của ngân hàng thì rủi ro đối với ngânhàng sẽ tăng lên, khi đó khách hàng sẽ không thể thanh toán đủ và kịp thờihạn của khoản nợ, do đó làm giảm chất lượng tín dụng, ảnh hưởng đến kếtquả kinh doanh của ngân hàng
- Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đối với một nhóm khách hàngkhông được vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng Ngân hàng có thể giảmthiểu rủi ro bằng cách cho vay đối với nhiều khách hàng, một nhóm kháchhàng thay vì chỉ cho vay đối với một khách hàng Tuy nhiên, phải đảm bảo làđối với mỗi nhóm khách hàng thì dư nợ cho vay không vượt quá tỉ lệ đã quyđịnh
Trang 21- Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với một khách hàng, ví dụ như đối với mộtdoanh nghiệp lớn ( DNL ) :
Dư nợ cho vay DNL
Tỷ trọng dư nợ cho vay DNL = x 100
Tổng dư nợ
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay : phản ánh khả năng mở rộng tíndụng trong một thời kì Chỉ số này > 1 thì quy mô cho vay tăng lên
Dư nợ cho vay kì này
Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay = _
Dư nợ cho vay kì sau
Nhóm chỉ tiêu về nợ quá hạn :
Nợ quá hạn là những khoản nợ vẫn chưa được thanh toán khi đã hết thờihạn trả nợ theo như hợp đồng giữa ngân hàng và khách hàng, và có thể tínhthêm thời gian gia hạn nếu có Chỉ tiêu nợ quá hạn được tính như sau :
Tổng dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = _
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn thấp cho thấy hiệu quả cho vay của ngân hàng cao, tính
an toàn cao Tỷ lệ nợ quá hạn cao thì cho kết quả ngược lại, cho thấy ngânhàng sẽ gặp khó khăn trong phân phối luồng tiền, hoặc mất khả năng thanhtoán
Nhóm chỉ tiêu về tỷ lệ nợ được xếp theo nhóm (từ nhóm 1 đến nhóm 5):
Theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Quyết định 2007-QĐ-NHNN, các món nợ của tổ chức tín dụng có thể phân thành 5 nhómnhư sau :
18-Nợ nhóm 1 : nợ đủ tiêu chuẩn
Trang 22từ 2 đến 5 ).
Tổng dư nợ theo nhóm ( từ 2-5 )
Tỷ lệ nợ nhóm 2-5 =
Tổng dư nợ
b Các chỉ tiêu định lượng đo lường mức sinh lời :
Đó là các chỉ tiêu phản ánh hoạt động thu lãi :
Lãi từ hoạt động cho vay thực thu
Trang 23 Mức đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng : điều này thể hiện thôngqua việc ngân hàng có đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng đủ và kip thờihay không Bên cạnh đó còn là mức độ đầy đủ, nhanh chóng, thuận tiện, chiphí giao dịch và thời gian khách hàng phải bỏ ra để có khoản vay.
Hiệu quả từ việc sử dụng vốn vay của khách hàng : khách hàng khi sửdụng vốn vay vào hoạt động sản xuất kinh doanh phải đạt được mục tiêu đề
ra, hoàn trả đủ gốc và lãi cho ngân hàng, và đảm bảo vẫn có lợi nhuận giữ lại
Sự đóng góp của hoạt động cho vay đến phát triển kinh tế xã hội : hoạtđộng cho vay sẽ góp phần làm cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệuquả hơn, tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật, tăng khối lượng hàng hoá lưuthông, tạo việc làm ổn định cho người lao động
1.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng :
Hoạt động cho vay của ngân hàng là một hoạt động có tính rủi ro cao.Hiệu quả cho vay phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có thể chia ra thành 4nhóm nhân tố chính, đó là : các nhân tố thuộc về ngân hàng, các nhân tố thuộc
về khách hàng, các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô, các nhân tố bất khảkháng
1.3.3.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng :
Chính sách tín dụng : là những hướng dẫn chung nhất cho việc thựchiện các hoạt động tín dụng đối với các cán bộ và nhân viên ngân hàng, giúpcho hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng được thựchiện một cách thống nhất và hiệu quả Mỗi thời kì khác nhau ngân hàng lại cónhững chính sách tín dụng khác nhau đề phù hợp với hoàn cảnh, tình hìnhhiện tại Các chính sách này có tác động trực tiếp đến hoạt động cho vay củangân hàng, nếu chính sách hợp lý sẽ làm cho hoạt động tín dụng được hạn chếnhững rủi ro và nâng cao lợi nhuận có thể đạt được
Trang 24 Phân tích tín dụng : Đây là lúc ngân hàng thu thập thông tin về kháchhàng để ra quyết định có nên cho khách hàng vay hay không Những thông tin
mà ngân hàng cần thu thập là xem xét mức độ đáng tin cậy của khách hàng,việc đảm bảo sử dụng nguồn vốn vay hiệu quả, cũng như các tài sản đảm bảocho khoản vay Nếu trong giai đoạn này, ngân hàng có những phân tích tốt,thì sẽ đưa ra quyết định cho vay và đem lại hiệu quả của khoản vay đó
Quy trình tín dụng : Nếu ngân hàng trong quá trình cho vay, thực hiệncác bước trong quy trình tín dụng một cách nhịp nhàng và hiệu quả, có thể sẽtìm ra những sai sót trong quá trình thực hiện việc cho vay của nhân viênngân hàng cũng như phát hiện ra những điểm khiếm khuyết từ người đi vay ,
từ đó có biện pháp ngăn ngừa một cách có hiệu quả, giảm thiểu tối đa rủi ro
có thể gặp phải Bên cạnh đó, một quy trình tín dụng rõ ràng, dề hiểu sẽ khiếncho khách hàng cảm thấy an toàn và tin tưởng khi sử dụng dịch vụ của ngânhàng
Thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng chính là những thông tin màngân hàng thu thập được về khách hàng cũng như các đối tượng liên quantrước khi quyết định cho vay Thông tin càng đầy đủ, chính xác, kịp thời thìrủi ro trong cho vay càng được hạn chế, ngân hàng có thể hoạt động một cách
an toàn và sinh lời
Chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng : Trong suốt quá trình cho vay, hầunhư toàn bộ sự tiếp xúc của khách hàng với ngân hàng là thông qua đội ngũcán bộ tín dụng Bởi thế, đạo đức nghề nghiệp và chuyên môn là hai yếu tố rấtquan trọng cần có ở một cán bộ tín dụng Bên cạnh đó, họ cũng phải là ngườinắm bắt được một cách nhanh nhất những tiến bộ về khoa học công nghệ để
áp dụng vào quá trình phục vụ khách hàng ngày một hiệu quả hơn
Trình độ công nghệ : việc ứng dụng những thành tựu khoa học côngnghệ hiện đại vào quá trình phân tích quản lý các khoản vay của ngân hàng có
Trang 25tác động rất lớn đến hiệu quả cho vay Nếu công nghệ càng hiện đại, thì cácbước trong quy trình cho vay có thể được giảm bớt, khiến cho việc đánh giákhoản vay dễ dàng hơn, tạo tâm lí thoải mái cho khách hàng , thu hút thêmkhách hàng đến với ngân hàng Ngoài ra, nó còn giúp tiết kiệm chi phí quản
lí, chi phí giao dịch , nâng cao khả năng cạnh tranh cho ngân hàng
Công tác tổ chức quản lý của ngân hàng : Nếu công tác tổ chức quản lýđược thực hiện một cách chuyên nghiệp, ngân hàng sẽ đưa ra những quyếtđịnh cho vay đúng đắn, kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình chovay, do đó cũng góp phần làm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
1.3.3.2 Các nhân tố thuộc về khách hàng :
Khách hàng là người đi vay, là một trong hai chủ thể trong hoạt độngcho vay Do đó, khách hàng cũng có một tầm quan trọng to lớn liên quan đếnhiệu quả của món vay Ảnh hưởng của khách hàng có thể xét trên hai góc độ,
đó là khả năng và ý chí trả nợ của khách hàng
Khả năng trả nợ :
Trước hết , khi nói về khả năng trả nợ, phải nói về tiềm lực tài chính củakhách hàng, thể hiện qua nguồn vốn tự có Nếu tỉ lệ vốn tự có trên tổng nguồnvốn càng cao thì khả năng tự chủ của doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp cómức độ an toàn tín dụng cao hơn Có nghĩa là có khả năng trả nợ cao hơn sovới các doanh nghiệp khác có tỉ lệ này thấp Ngoài ra, còn phải kể đến tìnhhình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, trong một thời kì đủ dài
để có thể đưa ra một quyết định về việc cho vay Kết quả kinh doanh sẽ chothấy thực lực, khả năng tạo ra lợi nhuận của khách hàng, từ đó cũng phản ánhkhả năng trả nợ của khách hàng Bên cạnh đó, uy tín của khách hàng cũng làđiều cần phải xem xét Nếu khách hàng là người có uy tín, thì sẽ làm cho ngânhàng tin cậy và ra quyết định cho vay, từ đó cũng đảm bảo khoản vay được sửdụng hiệu quả hơn
Trang 26 Ý chí trả nợ và đạo đức của khách hàng : điều này thể hiện sự trungthực của khách hàng trong việc tuân thủ các cam kết với ngân hàng trong quátrình vay và trả nợ Ý chí trả nợ là tinh thần tích cực, thể hiện tinh thần quyếttâm trả nợ cho ngân hàng
1.3.3.3 Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô :
Môi trường pháp lý : bao gồm các chính sách pháp luật được ban hànhnhằm quản lý hoạt động của các tổ chức Các ngân hàng luôn phải tuân theocác chính sách do Ngân hàng Nhà nước đế ra, ví dụ như các chính sách về cácquy định về tỉ lệ đảm bảo an toàn, quy mô khoản vay, giới hạn cho vay
Môi trường kinh tế : Do đặc tính hoạt động kinh doanh trên lĩnh vựctiền tệ, cho nên hoạt động của ngân hàng rất nhạy cảm với những diễn biếncủa nền kinh tế Môi trường này không những tác động đến khả năng cho vaycủa ngân hàng, đến các chính sách cho vay của ngân hàng, mà còn có tácđộng đến người đi vay, một chủ thể trong quan hệ tín dụng, ảnh hưởng đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của họ
1.3.3.4 Các nhân tố bất khả kháng :
Các nhân tố này là những nhân tố không thể biết trước được như thiêntai, chiến tranh, dịch bệnh Khi những nhân tố này xuất hiện, thường có tácđộng sâu rộng, nặng nề với cả nên kinh tế nói chung và các chủ thể trongquan hệ tín dụng nói riêng Một số khoản vay trong những thời điểm này rấtkhó thậm chí không thể thu hồi lại được
Trang 27Chương 2 : Thực trạng chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng ( từ năm 2006 đến năm 2008 )
2.1 Khái quát về Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng :
2.1.1 Quá trình hình thành phát triển :
Trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia sự hình thành và pháttriển của các tổ chức tài chính, tín dụng như Ngân hàng là hết sức quan trọng.Cũng theo xu hướng chung đó Việt Nam hiện nay sự phát triển và đóng gópcủa các Ngân hàng cho nền kinh tế cũng rất lớn, hệ thống các Ngân hàng cũngngày càng nhiều hơn như các Ngân hàng tư nhân, cổ phần… và cũng khôngthể không kể đến vai trò của hệ thống Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Côngthương Hai Bà Trưng là một Chi nhánh của Ngân hàng công thương ViệtNam (NHCT) Năm 1998 Hội đồng Bộ Truởng ban hành Nghị Định số :53/HĐBT ngày 26/03/1998 về tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà Nước ViệtNam chuyển sang cơ chế Ngân hàng hai cấp Sau khi thực hiện Nghị định trên
từ một Chi nhánh Ngân hàng Nhà Nước cấp Quận và một Chi nhánh Ngânhàng kinh tế cấp Quận thuộc địa bàn Quận Hai Bà Trưng, trực thuộc Ngânhàng Nhà Nước Thành phố Hà Nội chuyển thành Ngân hàng Công ThươngThành phố Hà Nội thuộc Ngân hàng Công Thương Việt Nam Sau quyết định
số : 93/NHCT-TCCB ngày 01/04/1993 của Tổng giám đốc Ngân hàng Côngthương Việt Nam sắp xếp lại bộ máy tổ chức NHCT trên địa bàn Hà Nội theo
mô hình quản lý hai cấp của NHCT Việt Nam, bỏ cấp thành phố, hai Chinhánh NHCT khu vực I và II Hai Bà Trưng là những Chi nhánh trực thuộcNHCT Việt Nam được tổ chức hạch toán kinh tế và hoạt động như các Chi
Trang 28nhánh NHCT cấp Tỉnh, Thành phố Kể từ ngày 01/09/1993, theo Quyết địnhcủa Tổng giám đốc NHCT Việt Nam, sáp nhập chi nhánh NHCT khu vực I vàChi nhánh NHCT khu vực II Hai Bà Trưng Và từ đó trên địa bàn Quận Hai
Bà Trưng Hà Nội chỉ còn duy nhất một Chi nhánh NHCT Tại Quyết định số :107/QĐ- HĐQT- NHCT1 của Hội đồng quản trị NHCT1, Chi nhánh NHCT-khu vực Hai Bà Trưng được đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Công thươngHai Bà Trưng
Cho đến nay, NHCT- Hai Bà Trưng đã vượt qua những khó khăn banđầu và ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong nền Kinh tếthị trường, đứng vững và phát triển trong cơ chế mới, chủ động mở rộngmạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các dịch vụ Kinh doanh tiền tệ Ngoài ra,NHCT Hai Bà Trưng còn thường xuyên tăng cường việc huy động vốn và sửdụng vốn, thay đổi cơ cấu đầu tư phục vụ phát triển kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần theo định hướng phát triển kinh tế của đất nước là đến năm 2020nước ta cơ bản là một nước Công nghiệp theo hướng hiện đại
Để thực hiện chiến lược đa dạng hoá các phương thức, hình thức, giảipháp huy động vốn trong và ngoài nước, đa dạng hoá các hình thức kinhdoanh và đầu tư, từ năm 1993 trở lại đây NHCT- Hai Bà Trưng đã thu đượcnhiều kết quả trong hoạt động kinh doanh, từng bước khẳng định mình trongmôi trường kinh doanh mới mang đầy tính cạnh tranh
2.1.2 Cơ cấu tổ chức :
2.1.2.1 Mô hình tổ chức tại Chi nhánh NHCT – HBT
Theo quyết định số : 36/ QĐ- TCHC ngày 15/05/2006 có hiệu lực kể từngàt 01/06/2007 Trong đó Ban Giám đốc gồm 1 Giám đốc và 3 Phó Giámđốc Phòng tín dụng được chia thành phòng khách hàng Doanh nghiệp lớn,khách hàng DN vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân Phòng Quản lý rủi ro, Phòngthanh toán xuất nhập khẩu, Phòng Kế toán giao dịch, Phòng thông tin điện
Trang 29toán, Phòng tổng hợp, Phòng tiền tệ kho quỹ, Phòng tổ chức hành chính.Ngoài ra còn các Chi nhánh giao dịch.
2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban tại NHCT- HBT
Phòng Khách hàng doanh nghiệp lớn ( KH số1)
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanhnghiệp lớn về khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực hiện các nghiệp vụliên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể
lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT VN Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giớithiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho các doanh nghiệp lớn
Phòng Thông tin điện
toán
Trang 30Phòng Khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ ( KH số 2)
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các Doanhnghiệp vừa và nhỏ (DNV&N), để khai thácvốn bằng VND và ngoại tệ ; Thựchiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phùhợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCTVN Trực tiếpquảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho cácDNV&N
Phòng Khách hàng cá nhân
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, đểkhai thác vốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực hiện các nghiệp vụ với kháchhàng là các cá nhân, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệhiện hành và hướng dẫn của NHCTVN Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giớithiệu và bán các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng cá nhân
Phòng quản lý rủi ro (Bao gồm cả quản lý nợ có vấn đề)
Phòng quản lý rủi ro có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh vềcông tác quản lý rủi ro của Chi nhánh ; Quản lý giám sát thực hiện danh mụccho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng.Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tíndụng Thu cj hiện các chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ cáchoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của NHCTVN Chịu trách nhiệm về quản
lý và đề xuất xử lý các khoản nợ có vấn đề (bao gồm các khoản nợ : cơ cấu lạithời hạn trả nợ, nợ quá hạn, nợ xấu tại các phòng có cho vay) quản lý, khaithác và xử lý tài sản đảm bảo nợ vay theo quy định của Nhà nước nhằm thuhồi các khoản nợ gốc và lãi tiền vay đối với các khoản nợ xấu theo chỉ đạocủa Giám đốc Chi nhánh.Quản lý, theo dõi, đề xuất các biện pháp và phối hợpvới các Phòng có liên quan thu hồi các khoản nợ đã được xử lý rủi ro
Phòng kế toán giao dịch
Trang 31Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng :Các nghiệp vụ và công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêunội bộ tại Chi nhánh ; Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng liên quan đến nghiệp
vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch Quản lý và chịu trách nhiệm đốivới giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theođúng quy định của Nhà nước và NHCTVN Thực hiện nhiệm vụ tư vấn chokhách hàng về sử dụng các sản phẩm Ngân hàng
Phòng thanh toán xuất nhập khẩu
Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về thanh toán xuất nhậpkhẩu và kinh doanh ngoại tệ tại Chi nhánh theo quy định của NHCTVN
Phòng tiền tệ kho quỹ
Phòng tiền tệ kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản
lý quỹ tiền mặt theo qui định của Ngân hàng Nhà nước và NHCTVN Ứng vàthu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chitiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn
Phòng tổ chức hành chính
Phòng Tổ chức Hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổchức cán bộ và đào tạo tại Chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách củaNhà nước và quy định của NHCTVN, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh antoàn Chi nhánh
Phòng thông tin điện toán
Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại Chinhánh, bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệthống mạng, máy tính của Chi nhánh
Phòng Tổng hợp
Trang 32Phòng tổng hợp là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh
dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạtđộng kinh doanh, thực hiện báo cao hoạt động hàng năm của Chi nhánh
Các Phòng giao dịch
Huy động tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế trên địa bàn, chovay đối với các thành phần kinh tế theo đúng chế độ
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng Công
thương khu vực Hai Bà Trưng từ năm 2006 đến năm 2008 :
2.1 3.1 Công tác huy động vốn
Trong những năm gần đây hoạt động kinh tế chung của cả nước có ảnhhưởng không nhỏ đến hoạt động Ngân hàng nói chung và công tác huy độngvốn nói riêng Vốn kinh doanh chủ yếu dựa vào các Ngân hàng nên cũng làmcho việc huy động vốn gặp rất nhiều khó khăn.Nhìn chung Công tác huy độngvốn của NHCT- HBT đạt chỉ tiêu được được giao, tính cho đến năm 2008tổng nguồn vốn huy động vốn đạt 107,6% kế hoạch của NHCTVN giao
Về tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của Chi nhánh
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động năm 2006 là 11,7% (năm 2005tăng 5,5%), so với tốc độ tăng trưởng của các Ngân hàng trên địa bàn Hà Nộinói chung thì Chi nhánh tăng trưởng vẫn ở mức rất thấp (Tổng nguồn vốn các
NH trên địa bàn Hà Nội đạt 232.000 tỷ tăng 32,3%, trong đó tiền gửi dân cưtăng 31,6% ; Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 32,8% ) Nếu so với cácChi nhánh NHCT trên địa bàn Hà Nội thì Chi nhánh có mức tăng trưởngtương đối ( các chi nhánh NHCT tăng 13.5%) Năm 2006 xét về thị phần huyđộng vốn trên địa bàn Hà Nội thì các NHTM nhà nước vẫn thể hiện được ưuthế chủ đạo (chiếm 72,7% tuy nhiên thị phần chỉ còn 72,7% giảm 3,4%) Vềlãi suất huy động vốn NHCTVN chỉ đạo đã ổn định hơn so với năm 2005(L/S VND ổn định, chỉ có L/s huy động ngoại tệ có thay đổi tăng tích cực
Trang 33theo thị trường), tuy nhiên mặt bằng chung thì lái suất hệ thống NHCT là thấpnhất.
Năm 2007 là 16%, so với tốc độ tăng trưởng của các Chi nhánh NHCTtrên địa bàn Hà Nội nói chung thì Chi nhánh có tốc độ tăng trưởng cao hơn(các chi nhánh NHCT tăng 8,4%) tuy nhiên so với các Chi nhánh : Ba Đình,Đống Đa, Cầu Giấy, Cầu Diễn, Đông Anh, Yên Viên, Bắc Hà Nội, HoàngMai thì tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn của Chi nhánh còn rất thấp, nhất là tiềngửi dân cư chúng ta có tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn mức bình quân và xếp thứ
10 trong 12 đơn vị
Năm 2008 là 80,1% , so với tốc độ tăng trưởng của các chi nhánh NHCTtrên địa bàn Hà Nội thì có tốc độ tăng trưởng rất cao, chủ yếu tăng nguồn củacác tổ chức kinh tế.Năm 2008 đầy những khó khăn cho công tác huy độngvốn : lạm phát vẫn diễn biến phức tạp, vấn đề lãi suất huy động vốn luôn nóngbỏng bắt đầu tăng từ những tháng đầu năm, việc NHNN nâng tỷ lệ dự trữ bắtbuộc đối với các NHTM đã làm cho tình hình cạnh tranh giữa các NHTMngày càng quyết liệt hơn Với những khó khăn của thị trường đã làm ảnhhưởng không nhỏ tới công tác huy động vốn của chi nhánh , tuy chi nhánh đạtvượt kế hoạch 7,6 % về tổng nguồn vốn huy động và tăng trưởng rất cao sovới năm 2007, nhưng tiền gửi VND giảm, tiền gửi từ dân cư giảm
Cơ cấu nguồn vốn
Nếu phân theo loại tiền
Trong ba năm trở lại đây do tỷ giá ngoại tệ luôn có sự thay đổi nên làmảnh hưởng lớn đến sự cơ cấu nguồn vốn.Nguồn vốn huy động bằng VND năm
2006 chiếm tỷ trọng 79,8%, năm 2007 chiếm tỷ trọng 84,3% trong tổngnguồn vốn huy động, năm 2008 chiếm 44,7 % Nguồn vốn huy động bằngngoại tệ chiếm tỉ trọng 55,3% trong tổng nguồn vốn huy động ( năm 2007 là15,7% ) Năm 2008 là năm có sự chuyển dịch tỷ lệ cơ cấu nguồn VND và
Trang 34ngoại tệ thay đổi lớn nhất, tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm tỉ trọng cao hơn TGbằng VND,trong khi nguồn VND giảm so với năm 2007.
Nếu phân theo tính chất tiền gửi
Năm 2006 tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng 61,6% trong tổng nguồn vốnhuy động Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 11,3% so với năm 2005 vàthường xuyên biến động do nguồn vốn này là tiền gửi thanh toán
Năm 2007, tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng 51,1% trong tổng nguồn vốnhuy động, tỷ trọng giảm 7% so với năm 2006 Tiền gửi của các tổ chức kinh
tế chiếm tỷ trọng 38,7% trong tổng nguồn vốn, trong năm xu hướng nguồnvốn này giảm lớn thời gian đầu năm và tăng trưởng nhanh vào tháng cuốinăm
Bảng 1 : Số liệu về tình hình huy động vốn của NHCT-HBT
từ năm 2005-2008
Chỉ tiêu
TH 31/12/2005 (Tr đ)
TH 31/12/2006 (Tr đ)
%So sánh
TH 31/12/2007 (Tr đ)
%So Sánh
TH 31/12/2008 ( Tr.đ)
% so sánh
Trang 35Bảng 2: Số liệu về công tác Tín dụng của NHCT-HBT từ năm 2005-2008
Chỉ tiêu
TH 31/12/2005 (Tr đ)
TH 31/12/2006 (Tr đ)
% So sánh
TH 31/12/2007 (Tr đ)
% So sánh
TH 31/12/2008 ( Tr.đ)
% so sánh
Về tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của Chi nhánh NHCT- HBT :
Năm 2006 tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế chỉ đạt 85,8% so với kếhoạch NHCTVN giao, so với năm 2005 giảm 7,25% trong khi dư nợ cho vaycủa NHTM trên địa bàn Hà Nội tăng 26,4%(trong đó NHTM nhà nước tăng9,8% thị phần còn59.2% giảm 5,1%), khối NHCP tăng 43.4%, NH liên doanhtăng 26,4% thì khối NHCT trên địa bàn giảm 10% tỷ lệ sử dụng vốn huy động
để cho vay trực tiếp thấp chiếm chưa đầy 30% điều này làm giảm hiệu quảkinh doanh rất lớn của NH
Trang 36Trong năm 2007 dư nợ cho vay có khả quan hơn nhiều khi đạt được91,3% so kế hoạch NHCTVN giao cho, tăng so với năm 2006 là 2,5% và cònthấp hơn so với NHCT trên địa bàn Hà Nội(dư nợ của các NHCT tăng14,8%) Tuy tỷ lệ tăng trưởng còn thấp nhưng hoạt động tín dụng của Chinhánh được coi là an toàn và ít rủi ro có chất lượng.
Năm 2008 tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của chính phủ đạt 89,2% sovới kế hoạch NHCTVN giao, so với năm 2007 tăng 23,7% cao hơn so với tốc
độ tăng của các chi nhánh NHCT trên địa bàn Hà nội Trong điều kiện chinhánh phải thắt chặt tiền tệ, kiềm chế tăng trưởng dư nợ trong 6 tháng đầunăm, những tháng cuối năm chỉ tiêu kế hoạch có nới rộng nhưng lãi suất tăngcao, tình hình kinh doanh ở hầu hết các doanh nghiệp hết sức khó khăn nên đãgiảm nhu cầu vay vốn nên dư nợ không đạt được kế hoạch giao
Kể từ năm 2006, khi bắt đầu thực hiện các QĐ 070; 071 HĐQT ngày 3/4/2006 của HĐQT- NHCTVN ban hành nhằm tăng cường hoạtđộng tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NH nhằm sàng lọckhách hàng Do vậy khi áp dụng các doanh nghiệp đã gặp nhiều khó khănvướng mắc vì trên thực tế nhiều khách hàng có vốn chủ sở hữu thấp, tình hìnhtài chính không lành mạnh, tài sản bảo đảm tiền vay không đủ điều kiện chặtchẽ mà NH đưa ra đối với khách hàng vay Trong hoàn cảnh hiện nay khi nềnkinh tế đã chịu tác động lớn của nền kinh tế thế giới, việc kinh doanh ngàycàng trở nên khắt khe hơn nhưng nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệpchủ yếu vẫn dựa vào các tổ chức tín dụng như NH thì điều kiện vay vốn tạicác NH đã trở nên chặt chez hơn rất nhiều Điều này đối với các NH cũng làđiểm khó khăn chung và điều này đã tác động trực tiếp tới nguồn vốn huyđộng cũng như tới tổng dư nợ cho vay
;072/QĐ-Đối với các khoản vay có cầm cố tài sản, hay khoản vay được bảo đảmbằng đất đai, bất động sản cũng đang gặp rất nhiều khó khăn không chỉ đối
Trang 37với Chi nhánh mà là khó khăn chung đối với khách hàng vay vốn Bởi lẽ córất nhiều đất đai bất động sản của các doanh nghiệp, và khách hàng khác gặprắc rối về giấy tờ quyền sử dụng đất Việc tiến hành cho vay đối với nhữngkhách hàng có cầm cố tài sản đặt ra rất nhiều vấn đề đối với công tác tín dụng
và tăng trưởng tín dụng tại Chi nhánh Chẳng hạn như căn cứ định giá tài sảnthế chấp chưa đầy đủ và việc thẩm định giá tài sản chưa thực sự mềm dẻo cácNgân hàng trên địa bàn định giá nhà đất còn chênh lệch nhau nhiều điều nàylàm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng
Cùng với xu thế phát triển chung, trong những năm tới thị trường bấtđộng sản sẽ ngày càng phát triển hơn vì thế Chi nhánh sẽ đẩy mạnh công táchuy động vốn từ nguồn thị trường này và có sự quan tâm hơn tới công tác tíndụng với những khoản vay có cầm cố bằng tài sản và bất động sản Nhữngchính sách, quy định về cho vay có thế chấp bằng đất đai, bất động sản đangđược quan tâm và hoàn thiện hơn nhằm thực hiện tốt công tác tín dụng cũngnhư góp phần phát triển thị trường bất động sản trong những năm tới Đó làbước chuyển hướng chiến lược quan trọng thúc đẩy phát triển công tác tíndụng cũng như trong sự phát triển của Chi nhánh
2.1.3.3 Công tác tài trợ Thương mại
Trong năm 2006 công tác thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thươngmại đã có mức tăng trưởng cao so với năm 2005, tuy nhiên nếu xét về doanh
số hoạt động cũng chưa phải là lớn, nguyên nhân chính đó là Chi nhánh chưatăng trưởng được tín dụng đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhậpkhẩu Đến năm 2007 công tác thanh toán xuất nhập khẩu của Chi nhánh cónhiều thuận lợi hơn so với các năm trước do hoạt động thanh toán xuất nhậpkhẩu của cá khách hàng truyền thống có mức tăng trưởng khá và Chi nhánh
đã chủ động tích cực có những chính sách ưu đãi vì thế các chỉ tiêu đều tăng
Trang 38trưởng cao so với năm 2006, góp phần vào hiệu quả kinh doanh của Chinhánh
Năm 2008 công tác thanh toán xuất nhập khẩu của Chi nhánh khôngthuận lợi do 6 tháng cuối năm tình hình kinh tế thế giới suy thoái nên hoạtđộng thanh toán xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp khó khăn và giảm sút,dẫn đến doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của chi nhánh bị ảnh hưởng
2.1.3.4 Hoạt động dịch vụ
Dich vụ hệ thống Ngân hàng cung cấp cho khách hàng vẫn chủ yếu làcác dịch vụ truyền thống ( Tiền gửi, tiền vay, thanh toán và ngân quỹ ), việcứng dụng công nghệ hiện đại, dịch vụ Ngân hàng hiện đại còn hạn chế, thiếusản phẩm phục vụ nhu cầu đa dạng của các tổ chức và cá nhân Do đó ảnhhưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng thu phí dịch vụ và tỷ lệ chiếm trong tổngthu nhập còn thấp
Về hoạt động thanh toán
Công tác kế toán thanh toán là một trong những hoạt động quan trọngcủa Ngân hàng Thương mại Chi nhánh đã không ngừng hoàn thiện phongcách lề lối làm việc, triển khai kịp thời các chương trình ứng dụng công nghệNgân hàng hiện đại đảm bảo thanh toán kịp thời chính xác và an toàn chokhách hàng Với khối lượng vốn luân chuyển lớn trong giao dịch thanh toáncủa các doanh nghiệp, công tác thanh toán ngày càng phức tạp và đòi hỏikhẩn trương hơn, tuy nhiên Chi nhánh đã tổ chức tốt việc giao dịch một cửangày càng ổn định và thuận lợi hơn nên đã giữ vững được uy tín đối vớikhách hàng