1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng để xếp hạng doanh nghiệp tại ngân hàng NHTMCP quân đội (MB) chi nhánh hoàn kiếm

85 426 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống chấm điểm tín dụng là một quy trình đánh giá khả năng thựchiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng đối với một ngân hàng như việctrả lãi và trả gốc nợ vay khi đến hạn hoặc

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngân hàng Thương mại được xem là một tổ chức tài chính quan trọngbậc nhất, thực hiện các chính sách kinh tế đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy làmột kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của chính phủ nhằm ổn định nềnkinh tế Hiện nay,Việt Nam đã gia nhập WTO, đồng thời nền kinh tế có tốc độtăng trưởng cao đòi hỏi hệ thống Ngân hàng phải phát triển mạnh mẽ Các Ngânhàng thương mại muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải phát triển về sản phẩm

và chất lượng, nhất là trong việc cung cấp tín dụng, vì hoạt động tín dụng cũng

là hoạt động cơ bản nhất

Một điều bất cứ Ngân hàng nào cũng có thể gặp phải khi cung cấp Tíndụng là phải luôn đối mặt với rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng có thể do nhiềunguyên nhân nhưng đều dẫn đến việc khách hàng không trả được nợ khi đếnhạn Rủi ro xảy ra sẽ gây tổn thất cho ngân hàng Trên quan điểm quản lý ngânhàng thì rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan Ngân hàng chỉ cóthể hạn chế rủi ro tín dụng chứ không loại bỏ hoàn toàn nó, và một trong nhữngbiện pháp để hạn chế đó là chấm điểm tín dụng để xếp hạng khách hàng Việc sửdụng phương pháp này nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác ra quyết định vàkiểm soát tín dụng, đây là vấn đề đòi hỏi cấp thiết cần phải xem xét của Hệthống Ngân hàng thương mại Việt Nam

Từ những lý do đó em chọn đề tài : “Hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng để xếp hạng doanh nghiệp tại Ngân hàng quân đội chi nhánh Hoàn Kiếm ”

Với đề tài này em đi sâu tìm hiểu về phương pháp chấm điểm tín dụngtrong xếp hạng Doanh nghiệp trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Từ

đó sẽ đánh giá thành công và hạn chế của hoạt động này và đưa ra giải phápnhằm hoàn thiện phương pháp chấm điểm doanh nghiệp

Trang 2

Trong bài chuyên đề của mình, em xin đi sâu tìm hiểu đối tượng kháchhàng là các doanh nghiệp Kết cấu bài chuyên đề ngoài phần Lời mở đầu, Kếtluận, Mục lục, gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác chấm điểm tại Ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng công tác chấm điểm tín dụng tại Ngân hàng quân đội chi nhánh Hoàn kiếm.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng tại Ngân hàng Quân Đội.

Để hoàn thành bài luận văn này em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫnnhiệt tình của các anh chi tại Ngân hàng Quân Đội chi nhánh Hoàn Kiếm và sựhướng dẫn chu đáo nhiệt tình của thầy giáo PGS- Mai Siêu

Do điều kiện kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên không thể tránhkhỏi những sai sót trong bài chuyên đề, em mong được sự góp ý của thầy cô vàcác bạn để bài chuyên đề của em được hoàn thiện hơn

Trang 3

Mục lục

Trang

LỜI MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.

Mục lục 3

Hệ thống bảng biểu: 5

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về công tác chấm điểm tín dụng tại ngân hàng thương mại 6

1.1 Khái niệm tín dụng của NHTM 6

1.2 Phương pháp chấm điểm tín dụng 7

1.2.1 Sự cần thiết của phương pháp chấm điểm tín dụng trong hoạt động tín dụng của NHTM 7

1.2.2 Khái niệm 7

1.2.3 Quá trình hình thành phát triển của Phương pháp chấm điểm tín dụng. 8

1.2.4 Một số mô hình chấm điểm tín dụng 10

1.3 Quy trình chấm điểm tín dụng khách hàng 16

1.3.1 Thu thập thông tin, phân tích các thông tin để đưa ra đánh giá chung về khách hàng 16

1.3.2 Xác định ngành nghề lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp: 22

1.3.3 Chấm điểm quy mô của Doanh nghiệp 23

1.3.4 Chấm điểm các chỉ số tài chính: 24

1.3.5 Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính 28

1.3.6 Tổng hợp điểm tín dụng 32

1.4 Ứng dụng của mô hình chấm điểm tín dụng 32

1.4.1 Xếp hạng tín nhiệm khách hàng 32

1.4.2 Hỗ trợ quá trình ra quyết định cho vay 34

1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác chấm điểm tín dụng của NHTM 36

Trang 4

1.5.1 Chất lượng thông tin về khách hàng 36

1.5.2 Cơ sở vật chất và pháp lý 36

1.5.3 Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ chấm điểm tín dụng 37

Chương 2 Thực trạng công tác chấm điểm tín dụng tại ngân hàng Quân đội chi nhánh Hoàn Kiếm 38

2.1 Tổng quan về ngân hàng quân đội chi nhánh Hoàn Kiếm 38

2.1.1 Sự hình thành và phát triển 38

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 40

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh 42

2.2 Thực trạng công tác chấm điểm tín dụng tại ngân hàng quân đội chi nhánh Hoàn Kiếm 47

2.2.1 Hệ thống chấm điểm tín dụng tại NHQĐ chi nhánh HK 47

2.2.2 Đánh giá công tác CĐTD tại NHQĐ nói chung và chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng 71

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng 76

3.1 Định hướng phát triển của ngân hàng quân đội: 76

3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác CĐTD tại NHQĐ chi nhánh HK 78 3.2.1 Đa dạng hoá các nguồn thu thập thông tin 78

3.2.2 Hoàn thiện nội dung CĐTD 80

3.2.3 Ứng dụng CNTT hiện đại nhằm cải tiến phương pháp chấm điểm tín dụng: 80

3.2.4 Nâng cao trình độ năng lực của cán bộ tín dụng: 81

3.3 Kiến nghị 82

3.3.1 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước 82

3.3.2 Kiến nghị với bộ tài chính 83

KẾT LUẬN 85

Danh mục tài liệu tham khảo: 86

Trang 5

Hệ thống bảng biểu:

Bảng 1: Mô hình xếp hạng của Standard & Poor 14

Bảng 2: Kết quả huy động vốn tại MB Hoàn Kiếm qua năm 2006 - 2008 42

Bảng 3: Tình hình sử dụng vốn của chi nhánh Hoàn Kiếm 44

Bảng 4: Doanh số thanh toán của NHQĐ chi nhánh Hoàn Kiếm 46

Bảng 5: Bảng thang điểm xếp hạng khách hàng 54

Bảng 6: Chỉ tiêu phi tài chính – Giá trị chuẩn 56

Bảng 7: Bảng xếp hạng rủi ro khách hàng 69

Bảng 8: Bảng đánh giá tài sản đảm bảo 70

Bảng 9: Ma trận xếp hạng khách hàng 70

Trang 6

Chương 1.Những vấn đề cơ bản về công tác chấm điểm tín dụng

tại ngân hàng thương mại (NHTM).

1.1 Khái niệm tín dụng của NHTM.

Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng nói riêng và của cáctrung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạothu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất

Tín dụng được hiểu là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng(tín dụng ngân hàng) Đó là quan hệ vay mượn tức là gồm cả đi vay và cho vay,tuy nhiên, với chủ thể là các ngân hàng thì tín dụng chỉ bao hàm nghĩa cho vaythôi

Theo luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) của Nhà nước Việt Nam điều 49

đã ghi rõ: “TCTD được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thứccho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuêtài chính và các hình thức khác theo quy định của nhà nước”

Hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằmđảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời Các nguyên tắc này đuợc cụ thể hoátrong các quy định của Ngân hàng nhà nước và các NHTM Các nguyên tắc cơbản như sau:

- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xácđịnh

- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoảthuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy địnhkhác của ngân hàng cấp trên

- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án hoặc dự án có hiệu quả

Trang 7

Việc quản lý phòng ngừa rủi ro tín dụng trong điều kiện hiện nay rất phứctạp và khó khăn Ngân hàng không thể hoàn toàn loại trừ khả năng rủi ro nhưng

có thể đưa ra những giải pháp đồng bộ, những biện pháp phòng chống hữu hiệu

để có thể ngăn ngừa, hạn chế ở mức thấp nhất rủi ro tín dụng Từ nhận thức hoạtđộng ngân hàng luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn và để quản lý an toàn hoạtđộng ngân hàng, NHTM cần sử dụng các công cụ khác nhau để hạn chế tối đamức độ rủi ro tín dụng, trong đó có Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạngkhách hàng nội bộ

1.2.2 Khái niệm.

Chấm điểm tín dụng là kỹ thuật sử dụng các dữ liệu nghiên cứu thống kê

và hoạt động để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng đối với khách hàng

Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng đối tượng khách hàng và đượcxác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tintài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tíndụng và xếp hạng khách hàng

Hệ thống chấm điểm tín dụng là một quy trình đánh giá khả năng thựchiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng đối với một ngân hàng như việctrả lãi và trả gốc nợ vay khi đến hạn hoặc các điều kiện tín dụng khác nhằmđánh giá, xác định rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng

Trang 8

Khi chấm điểm tín dụng ngân hàng sử dụng các bảng tiêu chuẩn đánh giácác tiêu chí chấm điểm tín dụng theo nguyên tắc:

- Đối với mỗi tiêu chí trên bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí, chỉ sốthực tế gần với trị số nào nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằm giữahai trị số thì ưu tiên nghiêng về loại tốt nhất

- Trong trường hợp khách hàng có bảo lãnh của một tổ chức có năng lựctài chính mạnh hơn thì khách hàng đó có thể được xếp hạng tín dụng tươngđương hạng tín nhiệm của bên bảo lãnh Quy trình chấm điểm tín dụng của bênbảo lãnh cũng giống như quy trình áp dụng cho khách hàng

1.2.3 Quá trình hình thành phát triển của Phương pháp chấm điểm tín

Năm 1938 nhà nghiên cứu Dunham đưa ra một hệ thống đánh giá các hồ

sơ vay vốn với những tiêu chí cơ bản sau:

- Chức danh, địa vị xã hội của người vay

- Thống kê về thu nhập của người vay

- Báo cáo tài chính

- Tài sản thế chấp

- Lịch sử trả nợ

Dunham cũng đưa ra quan điểm rằng nếu những tiêu chí cơ bản này dựatrên cơ sở kinh nghiệm thì sẽ đem lại kết quả chính xác hơn là áp dụng những kĩthuật phân tích thống kê phức tạp

Năm 1941, lần đầu tiên nhà kinh tế Dunran đã sử dụng phương phápthống kê trong chấm điểm tín dụng Ông đưa ra mô hình chấm điểm trong đó

Trang 9

mối liên hệ giữa các đặc tính của người vay và rủi ro vỡ nợ của họ được biểuhiện bằng phương pháp thống kê Đây là tiền đề cho sự ra đời các lý thuyết xâydựng mô hình chấm điểm tín dụng về sau này Đồng thời ông cũng đặt ra vấn đề

về phân tích rủi ro tín dụng và là những gợi ý ban đầu cho các mô hình chấmđiểm tín dụng ngày nay Hệ thống chấm điểm của Duran dùng để phân loạingười vay với mục đích mua ô tô cũ Các chỉ tiêu sử dụng gồm:

- Nghề nghiệp, địa vị xã hội

- Số năm làm công việc hiện tại

- Số năm sống ở địa chỉ hiện tại

- Giới tính

- Bảo hiểm nhân thọ

- Các tài khoản tiền gửi tại ngân hàng

- Số tiền lãi phải trả hàng tháng

Nhìn chung thì những nghiên cứu về chấm điểm tín dụng ở giai đoạn đầuthế kỷ 20 còn mang tính chất nhỏ lẻ, phân tán và tính ứng dụng chưa cao

Cuối những năm 1950 do sự ra đời và phát triển của thẻ tín dụng đòi hỏithời gian thẩm định khoản vay phải nhanh chóng thì lúc đó chấm điểm tín dụngmới thực sự được chú ý và đi vào sử dụng Năm 1956, hãng Fair Issac ra đời.Đây là một công ty đã thành công trong việc cung cấp các mô hình chấm điểmtín dụng đã được thiết kế sẵn cho các ngân hàng nhưng các mô hình này chỉ mớidừng lại ở việc áp dụng cho các khoản vay tiêu dùng của cá nhân Tuy nhiênFair Issac cũng đặt một dấu mốc quan trọng cho sự phát triển của phương phápchấm điểm tín dụng

Năm 1986, mô hình điểm số Z ra đời (mô hình này sẽ nói kỹ ở phần sau).Năm 1995, Fair Issac đã công bố phát minh về việc ứng dụng mô hìnhchấm điểm tín dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các mô hình chấm điểm tín dụng sau này đã có nhiều vượt trội, nó đánhgiá rủi ro của người vay dựa trên một tập hợp khá toàn diện và đầy đủ các yếu tố

Trang 10

định tính và định lượng với các phương pháp phân tích hoàn chỉnh hơn nhiều sovới trước.

Đến nay, chấm điểm tín dụng đã trở thành một công cụ không thể thiếutrong hệ thống ngân hàng trên thế giới, trở thành một phương pháp hữu hiệu đểlưọng hoá rủi ro không thanh toán của khách hàng từ đó giúp ngân hàng có cách

xử lý phù hợp

Hiện nay, các hãng cung cấp mô hình chấm điểm tín dụng nổi tiếng trênthế giới gồm: Standard & Poor, Moody, KMW Ngoài ra các ngân hàng lớn cótiềm lực về tài chính và công nghệ thường tự trang bị cho mình những hệ thốngchấm điểm tín dụng riêng

1.2.4 Một số mô hình chấm điểm tín dụng.

1.2.4.1 Mô hình điểm số Z

Chỉ số Z được phát minh bởi giáo sư Edward I.Altman, trường kinh doanhLeonard N.Stern, thuộc trường đại học New York, dựa vào việc nghiên cứu khácông phu trên số lượng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ

Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số X1, X2, X3, X4, X5:

X1 = Tỷ số Vốn lưu động trên Tổng Tài Sản

X2 = Tỷ số Lợi Nhuận Giữ Lại trên Tổng Tài Sản

X3 = Tỷ Số Lợi Nhuận Trước Lãi Vay và Thuế trên Tổng Tài sản.X4 = Giá Trị Thị Trường của Vốn Chủ Sỡ Hữu trên Giá trị sổ sáchcủa Tổng Nợ

X5= Tỷ số Doanh Số trên Tổng Tài Sản

Từ một chỉ số Z ban đầu, Giáo Sư Edward I Altman đã phát triển ra Z’ vàZ’’ để có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành của doanh nghiệp (DN), nhưsau:

Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản xuất:

Z = 1.2x1 + 1.4x2 + 3.3x3 + 0.64x4 + 0.999x5

Nếu Z > 2.99 DN nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản

Trang 11

Nếu 1.8 < Z < 2.99 DN nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phásản.

Nếu Z <1.8: DN nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao

Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản xuất:

Đối với các doanh nghiệp khác:

Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loạihình doanh nghiệp Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đãđược đưa ra Công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh như sau:

Mô hình điểm số Z có một số hạn chế như sau:

- Khách hàng chỉ được phân loại thành hai nhóm là vỡ nợ và không vỡ

nợ nhưng thực tế vỡ nợ lại được phân thành nhiều loại, có cả chậm trả, trả thiếuhoặc không trả được…Cách phân chia đơn giản này chưa đủ cơ sở để ngân hàng

Trang 12

đưa ra được các quyết định phù hợp vì nó chưa chi tiết và ngân hàng sẽ khôngđánh giá toàn diện được khách hàng.

Chẳng hạn với nhóm khách hàng trả chậm nhưng ngân hàng đánh giánguyên nhân là do kỳ hạn trả lãi không phù hợp với dòng tiền thì NH vẫn chovay và sẽ điều chỉnh lại kỳ hạn nợ phù hợp với khách hàng (KH)

- Trong mô hình Z các trị số đi kèm với Xj là không đổi theo thời gian vàđối tượng vay Tuy nhiên với điều kiện thị trường thay đổi thì các trị số này cầnphải được thay đổi linh hoạt Ngoài ra mô hình cũng giả thiết rằng các biến số

Xj là hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc lẫn nhau Điều này cũng không hợp lý

vì khả năng sinh lời của doanh nghiệp có tương quan chặt chẽ đến khả năngthanh toán của doanh nghiệp trong cả ngắn hạn và dài hạn

- Trong mô hình điểm số Z không xét đến các chỉ tiêu phi tài chính Môhình không tính đến một số nhân tố quan trọng nhưng khó lượng hóa và có ảnhhưởng lớn đến mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Ví dụ như không xét đến

uy tín, thương hiệu của KH, yếu tố mối quan hệ truyền thống của NH với KH,lịch sử trả nợ của KH hay cả các yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinhdoanh Mặt khác mô hình này cũng không sử dụng đến các thông tin đại chúng

có sẵn nên thiếu tính khách quan và giảm độ tin cậy của mô hình trong đánh giárủi ro vỡ nợ của KH

1.2.4.2 Mô hình chất lượng dựa trên yếu tố 6C

Yếu tố 6 C bao gồm:

- Tính cách (Character): Tính cách KH là một yếu tố quan trọng để xem xétliệu người vay có trách nhiệm trong sử dụng tiền vay hay không Cán bộ tín dụngphải thông qua việc nói chuyện, cách thức làm việc của KH để có những đánh giá

về tính cách của KH Rõ ràng một người vay có “Trách nhiệm, trung thực, mụcđích vay vốn nghiêm túc, kế hoạch trả nợ rõ ràng” thì khả năng thu hồi nợ gốc vàlãi đầy đủ, đúng hạn của ngân hàng sẽ cao hơn những người vay khác

- Năng lực (Capacity): Cán bộ tín dụng (CBTD) phải đảm bảo khách hàng

có đủ năng lực vay vốn và đủ tư cách pháp lý để thực hiện đúng pháp luật việc ký

Trang 13

kết hợp đồng vay vốn Chẳng hạn theo pháp luật Việt Nam thì để đủ tư cách kýhợp đồng tín dụng, các cá nhân phải từ 18 tuổi trở lên còn các doanh nghiệp thìphải có đầy đủ giấy phép kinh doanh, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệmngười điều hành (Giám đốc, kế toán trưởng).

- Dòng tiền mặt (Cash): Dòng tiền của khách hàng là yếu tố quan trọngnhất để trả lời cho câu hỏi: “Người vay có đủ khả năng tạo ra được một dòng tiền

đủ lớn để hoàn trả cho ngân hàng món vay hay không?”.Thường thì KH sử dụngcác dòng tiền gồm dòng tiền mặt từ doanh thu bán hàng hoặc thu nhập, dòng tiền từviệc bán tài sản, các nguồn vốn huy động bằng cách phát hành nợ hay chứng khoánvốn để hoàn trả khoản vay Cả ba dòng tiền này đều có thể dùng để đáp ứng nhucầu tiền mặt để thanh toán nợ cho ngân hàng nhưng dòng tiền từ doanh thu bánhàng được ngân hàng chú ý nhất vì đây thể hiện tính hiệu quả của phương án vaycòn việc bán tài sản hay phát hành chứng khoán nợ, vốn có thể làm suy yếu nănglực tài chính của khách hàng hoặc làm tăng khoản nợ của khách hàng lên

Dưới giác độ kế toán thì dòng tiền mặt được tính như sau:

Dòng tiền mặt = Lợi nhuận ròng (tổng các nguồn thu trừ tổng chi phí) +Các chi phí bằng tiền mặt

Đối với nhà kế toán và phân tích tài chính thì dòng tiền mặt được tính nhưsau: Dòng tiền mặt = Lợi nhuận ròng + Các chi phí không bằng tiền mặt +Các khoản phải trả bổ sung - Số dư hàng hoá tồn kho và các khoản phải trả bổsung

Sử dụng định nghĩa thứ hai này thì cán bộ tín dụng có thể theo dõi đượctình hình tài chính của khách hàng Chẳng hạn như khi người vay đang trongtình trạng sử dụng quá nhiều các khoản tín dụng thương mại (Các khoản phảitrả), hàng tồn kho gia tăng hoặc đang có khó khăn trong việc thu hồi các khoảntín dụng cấp cho bạn hàng (Các khoản phải thu) thì khoản vay của KH đang cóvấn đề, tình hình tài chính của KH đang có nguy cơ suy giảm và cán bộ tín dụngcần phải lưu ý hơn đến món vay này

Trang 14

- Tài sản thế chấp (Collateral): là nguồn tài sản mà ngân hàng sử dụng đểthu nợ khi khách hàng không có khả năng thanh toán món vay Đối với một số KHthì đây cũng là một điều kiện cần để NH cho họ vay Tài sản thế chấp có thể là tàisản thực cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai Khi thẩm định tàisản thế chấp thì cán bộ tín dụng phải chú ý đến những đặc điểm như: Thời gian sửdụng, tình trạng hiện tại, mức độ chuyên môn hoá thể hiện ở tài sản của kháchhàng.

- Điều kiện (Conditions) : Khi cho vay NH cần có sự phân tích ngànhnghề DN đang hoạt động, tình hình thị trường cung cầu sản phẩm DN, dự báođược xu hướng phát triển trong tương lai của DN… Mặt khác các yếu tố vĩ mônhư lạm phát, thiểu phát, chu kỳ kinh tế, các chính sách của chính phủ cũngcần chú ý vì chúng đều có ảnh hưởng đến khoản vay của DN

- Sự kiểm soát (Control): Mọi cá nhân, tổ chức hoạt động trong nền kinh

tế đều chịu sự quản lý của pháp luật, nhà nước Do đó yếu tố Control tập trungvào việc sự thay đổi của các chính sách của nhà nước có tác động như thế nàođến người vay? Và liệu khách hàng có đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượngtín dụng mà ngân hàng đặt ra hay không?

Mô hình chất lượng dựa trên yếu tố 6C giúp NH trả lời một câu hỏi quantrọng khi xem xét cho vay một khách hàng, đó là “Người xin vay có đáng tincậy không?” Các chỉ tiêu sử dụng trong mô hình này vừa có cả định tính(Character, Capacity, Conditions, Control), vừa có cả định lượng (Cash,Collateral) nên NH có một đánh giá khá toàn diện về KH

1.2.4.3 Mô hình xếp hạng của Standard & Poor

Bảng 1: Mô hình xếp hạng của Standard & Poor .

Trang 15

hoàn trả nợ vay của KH này tốt.

A Khách hàng xếp loại A có nhiều khả năng chịu tác động tiêu cực của

các yếu tố bên ngoài và các điều kiện kinh tế hơn ở các KH ở hạng cao hơn Tuy nhiên khả năng trả nợ vẫn được đánh giá tốt

BBB Khách hàng xếp hạng này có các chỉ số cho thấy khả năng có thể hoàn

trả đầy đủ các khoản nợ Tuy nhiên, khả năng trả nợ có nguy cơ suy giảm do sự tác động của các yếu tố kinh tế bất lợi và sự thay đổi của các điều kiện bên ngoài

BB Khách hàng này đang phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn hoặc ảnh

hưởng từ các điều kiện kinh doanh, tài chính và kinh tế bất lợi, khả năng trả nợ có thể suy giảm song ít có nguy cơ mất khả năng trả nợ

B Khách hàng có nhiều nguy cơ mất khả năng trả nợ hơn nhóm BB

nhưng khả năng trả nợ vẫn đảm bảo Các điều kiện kinh doanh, tài chính, kinh tế nhiều khả năng có ảnh hưởng đến thiện chí trả nợ của Khách hàng

CCC Khách hàng đang bị suy giảm khả năng trả nợ và phụ thuộc nhiều vào

độ thuận lợi của các điều kiện kinh doanh, tài chính, kinh tế Nếu có yếu tố bất lợi xảy ra KH có nhiều khả năng không trả được nợ

CC Khách hàng đang bị suy giảm nhiều khả năng trả nợ

C Khách hàng có thể đã thực hiện thủ tục phá sản nhưng việc trả nợ vẫn

đang được họ duy trì

D Khách hàng đã mất khả năng trả nợ, tổn thất đã thực sự xảy ra

(Nguồn: www.saga.com.vn)

Standard & Poor là tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu trên thế giới Tổchức này đánh giá rủi ro tín dụng hay rủi ro không hoàn được vốn trái phiếu củacông ty thông qua xếp hạng trái phiếu

Standard & Poor xếp hạng theo thứ tự giảm dần để phản ánh rủi ro khôngđược hoàn vốn cao dần Theo đó các chứng khoán ở nhóm đầu được xem làchứng khoán nên đầu tư còn các chứng khoán ở nhóm cuối nếu đầu tư cần phảicẩn trọng Tất nhiên mối quan hệ là rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn nên

Trang 16

các chứng khoán xếp hạng thấp vẫn có thể là cơ hội đầu tư sinh lời cho nhữngnhà đầu tư tốt.

Hiện nay ngày càng có nhiều các ngân hàng, tổ chức tài chính sử dụng môhình của S & P để xếp hạng tín nhiệm cho các khách hàng của mình

- Thu thập từ hồ sơ của khách hàng vay vốn: Khi KH đến đề nghị xinvay bao giờ NH cũng đòi hỏi KH cung cấp một bộ hồ sơ vay vốn Hồ sơ nàycung cấp khá nhiều thông tin KH: Tư cách pháp nhân, tình hình tài chính(Thông qua các báo cáo tài chính), phương án kinh doanh, chiến lược phát triểncủa KH trong tương lai, các nguồn thu, các nguồn trả nợ ngân hàng, dòng tiềnvào ra, các hợp đồng kinh tế NH cũng yêu cầu hoặc mua các thông tin về giámđốc, đội ngũ nhân sự, công nghệ của KH Các báo cáo này cho thấy các số liệu

về các năm đã qua, vì vậy NH có cơ sở để dự đoán về tình hình của KH trongtương lai gần NH sử dụng các báo cáo này để ước tính nhu cầu vốn, trong đó cónhu cầu tài trợ, đánh giá khả năng sinh lời và khả năng trả nợ, các thiệt hại cóthể xảy ra nếu KH không trả, hoặc không trả đầy đủ, giá trị tài sản có thể phátmại khi cần thiết…

- Thông tin lưu trữ tại ngân hàng: Nếu khách hàng đã từng có quan hệ tíndụng trước đó với ngân hàng thì chắc chắn NH đã lưu thông tin của KH đó lại,

Trang 17

đặc biệt đối với những khoản cho vay theo hạn mức thì những lần cho vay tiếptheo, KH có thể không cần phải lập một bộ hồ sơ mới mà chỉ cần đưa ra phương

án kinh doanh mới là được Nguồn thông tin này được xem là rẻ và tin cậy nếucông tác lưu trữ hồ sơ thông tin KH của NH là an toàn và chính xác

Hai nguồn thông tin trên có ưu điểm là đã có sự kiểm chứng nhưng lại lạchậu về thời gian và không phải lúc nào cũng phù hợp cho việc phân tích Rõràng các lần vay vốn khác nhau có các đặc điểm khác nhau do đó nguồn thôngtin cần sử dụng cũng không giống nhau

- Thông tin thu được từ việc tiếp xúc với khách hàng: Thông tin này hoàntoàn là do KH cung cấp, chưa qua kiểm chứng thực nghiệm nên còn nhiều yếu

tố chủ quan Nếu nghệ thuật phỏng vấn tốt cán bộ tín dụng có thể loại bỏ đượccác thông tin gây nhiễu để chắt lọc được các thông tin cần thiết phục vụ cho việcphân tích KH và bổ sung thông tin KH Các cuộc tiếp xúc này bao gồm thămquan nhà xưởng, văn phòng, tiếp xúc trò chuyện trực tiếp với ban lãnh đạo,người lao động, xem xét, thẩm định tài sản thế chấp, trò chuyện thông thườngvới KH Mặt khác phỏng vấn trực tiếp còn giúp cán bộ NH loại trừ các báo cáo

ma, cảm nhận được những cái đang diễn ra…

- Các nguồn thông tin khác: NH còn có thể tìm kiếm thông tin qua nhiềukênh khác nữa, nếu cần thiết có thể mua hoặc tìm kiếm thông tin qua các trunggian (Qua các cơ quan quản lý, qua các bạn hàng chủ nợ khác của người vay,qua các trung tâm thông tin hoặc tư vấn) Rất nhiều người vay lần đầu tiên đếnvới NH hoặc chuyển từ NH này sang NH khác Tìm hiểu KH này trong thời gianngắn là không đơn giản Mua hoặc tìm kiếm thông tin qua các trung gian giúpphân tích người vay qua các mối liên hệ của họ, cho thấy uy tín, tình trạng rủi

ro, phát triển hay suy thoái…

Các nguồn thông tin trên có thể tin cậy hoặc không do đó cán bộ tín dụngcần có trình độ chuyên môn vững vàng để chọn lọc tìm ra những thông tin phùhợp nhất

* Một số thông tin quan trọng:

Trang 18

a) Các báo cáo tài chính:

Đối với NH thì tình hình tài chính của KH là vấn đề được quan tâm nhất

Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của DN thì có thể sử dụngthông tin kế toán trong nội bộ DN là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất.Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán Phântích tài chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính

“Báo cáo tài chính (BCTC) là phương pháp tổng hợp số liệu từ các số kếtoán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh có hệ thống tình hìnhtài sản, nguồn hình thành tài sản của DN, tình hình và hiệu quả sản xuất kinhdoanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và tình hình quản lý, sử dụng vốn của DNtrong một thời kỳ nhất định vào hệ thống mẫu biểu quy định thống nhất ” (Giáotrình kế toán tài chính – Học viện tài chính)

Báo cáo tài chính được coi là nguồn thông tin quan trọng trong việc chấmđiểm các chỉ số tài chính, ảnh hưởng đến quyết định tín dụng của NHTM nênphải luôn chính xác, hoàn chỉnh, đáng tin cậy

Các báo cáo tài chính thường được sử dụng để chấm điểm là bảng cân đối

kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Bảng cân đối kế toán: Là BCTC mô tả tình trạng tài chính của một DNtại một thời điểm nhất định nào đó

Thông thường bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cânđối số dư các tài khoản kế toán: Một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánhnguồn vốn của DN

Bên tài sản phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lậpbáo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của DN: Tài sản cố định hữu hình và vôhình, tài sản tài chính, tài sản lưu động (Tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán,các khoản phải thu, dự trữ) Bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tàisản

Bên nguồn vốn phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của DN đếnthời điểm lập báo cáo, bao gồm: Nợ ngắn hạn (Nợ phải trả nhà cung cấp, các

Trang 19

khoản phải nộp, phải trả khác, nợ ngắn hạn NHTM và các TCTD khác); nợ dàihạn (Nợ vay dài hạn NHTM và các TCTD khác, vay bằng cách phát hành tráiphiếu); vốn chủ sở hữu (Vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổphiếu mới) Bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khảnăng độc lập về tài chính của DN.

Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo khả năngchuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống

Bên tài sản và bên nguồn vốn đều có các cột chỉ tiêu: Số đầu kỳ và sốcuối kỳ Ngoài các khoản mục trong nội bảng còn có một số khoản mục ngoàibảng như: Một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận giacông, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các loại…

Thông qua bảng cân đối kế toán NH có thể nhận biết được loại hình DN,quy mô, mức độ tài chính của DN Đây là tư liệu quan trọng bậc nhất giúp NHđánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năngcân đối vốn của DN Ngoài ra bảng cân đối kế toán còn được sử dụng để tínhcác chỉ số tài chính như: Chỉ tiêu thanh khoản (Khả năng thanh toán ngắn hạn,khả năng thanh toán nhanh), Chỉ tiêu cân nợ (Nợ phải trả / Tổng tài sản, Nợ phảitrả/Nguồn vốn chủ sở hữu, Nợ phải trả/ Tổng dư nợ NH)

Báo cáo kết quả kinh doanh: Cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quátrình sản xuất kinh doanh của DN và cho phép dự tính khả năng hoạt động của

DN trong tương lai

Báo cáo kết quả kinh doanh giúp NH so sánh doanh thu với số tiền thựcnhập quỹ khi bán hàng hoá dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiềnthực xuất quỹ để vận hành DN Trên cơ sở doanh thu và chi phí có thể xác địnhđược kết quả sản xuất kinh doanh: Lãi hay lỗ trong năm Như vậy báo cáo kếtquả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tìnhhình tài chính của DN trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tintổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹthuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của DN

Trang 20

Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên báo cáo kết quả kinhdoanh là: Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt độngtài chính, doanh thu từ hoạt động bất thường và chi phí tương ứng với từng hoạtđộng đó.

Tuy nhiên cán bộ tín dụng khi phân tích báo cáo kết quả kinh doanh cầnlưu ý rằng một phần các số liệu phản ánh trên đó là các giá trị kế toán chứ chưaphải giá trị bằng tiền Chẳng hạn như doanh thu là số tiền thu được từ việc cungcấp dịch vụ hàng hoá nhưng đó có thể là số tiền DN đã thực sự thu về (Nếu KH

đã thanh toán) hoặc mới chỉ là số tiền DN sẽ được nhận trong tương lai (Nếu

KH mới chỉ chấp nhận thanh toán mà chưa thực sự thanh toán cho DN) Cáckhoản như doanh thu và chi phí được ghi nhận ngay tại thời điểm phát sinhnghiệp vụ kinh tế như DN tiêu thụ sản phẩm hay mua nguyên liệu mặc dù DNchưa thu được tiền hàng và cũng chưa trả tiền cho nhà cung cấp

Do đó thực tế có những DN có lợi nhuận kế toán nhưng vẫn bị phá sản dokhông có lợi nhuận bằng tiền, mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn

Vì thế khi phân tích báo cáo kết quả kinh doanh cán bộ tín dụng cần kết hợp vớinhững báo cáo khác nữa

Báo cáo kết quả kinh doanh còn được sử dụng để tính các chỉ tiêu như:Vòng quay hàng tồn kho, Kỳ thu tiền bình quân, Doanh thu thuần/ Tổng tài sản,Tổng thu nhập trước thuế/ Doanh thu thuần, Tổng thu nhập trước thuế/ Tổng tàisản, Tổng thu nhập trước thuế/ Vốn chủ sở hữu

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Để đánh giá một DN có đảm bảo được khảnăng chi trả hay không NH cần tìm hiểu tình hình ngân quỹ của DN Ngân quỹthường được xác định cho thời hạn ngắn

Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ (Thu ngân quỹ) bao gồm:Dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh (Từ bán hàng hoá hoặc dịch vụ),dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu tư, tài chính, dòng tiền nhập quỹ từ hoạtđộng bất thường

Trang 21

Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ (Chi ngân quỹ) bao gồm:dòng tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thực hiệnhoạt động đầu tư, tài chính; dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thường.

Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ NH sẽ thực hiện cânđối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ Từ

đó có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho DN nhằm mục tiêu đảmbảo chi trả

Do các số liệu trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ là các giá trị bằng tiền phátsinh thực sự trong thực tế nên nó rất được chú trọng trong phân tích chấm điểmtình hình tài chính KH

Bằng việc phân tích các Báo cáo tài chính như trên cán bộ tín dụng sẽ xácđịnh được tình hình tài chính thực sự của KH Hơn nữa dựa trên luồng tiền của

DN mà NH có thể đưa ra các kỳ hạn cho vay phù hợp sao cho thời điểm trả lãi(Hoặc có cả gốc) trùng hợp với các thời điểm DN có thặng dư ngân quỹ để trả

nợ Đồng thời khi NH đã xác định được nhu cầu tài chính và khả năng trả nợ của

DN trong một thời gian nhất định thì NH sẽ có những quyết định hợp lý theohướng duy trì mối quan hệ lâu dài với DN

b) Các chỉ tiêu phi tài chính

Để đánh giá khả năng tín dụng của khách hàng thì bên cạnh những thôngtin tài chính thì NH còn phải thu thập những thông tin phi tài chính như nănglực, kinh nghiệm của ban lãnh đạo, quan hệ với các ngân hàng khác Đây lànhững thông tin định tính nên đòi hỏi cán bộ tín dụng phải thu thập, phân tích,chọn lọc và tổng hợp tốt Những thông tin quan trọng bao gồm:

Tìm hiểu chung về khách hàng: Lịch sử hình thành và phát triển củacông ty, những thay đổi về cổ đông, sự tiến bộ về công nghệ, kĩ thuật, các sảnphẩm chủ đạo và mới chiếm lĩnh được thị trường của DN, lịch sử về quá trìnhhợp tác, liên doanh, góp vốn của DN, các mối quan hệ về chính trị và xã hội của

DN Những thông tin này được dùng để đánh giá về khả năng hiện tại cũng nhưtính cạnh tranh của DN

Trang 22

Tìm hiểu về khả năng quản trị điều hành của ban lãnh đạo: Danh sáchban lãnh đạo DN, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, bằng cấp của những ngườilãnh đạo chủ chốt (Giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng )

Tìm hiểu lịch sử trả nợ và quan hệ với các tổ chức tín dụng của DN: Vớinhững khách hàng truyền thống thì NH đã có sẵn thông tin về KH, chẳng hạnnhư KH trả nợ đúng hạn không, có các khoản gia hạn nợ, nợ quá hạn không, số

dư tiền gửi trung bình hàng tháng là bao nhiêu, DN thường có quan hệ tín dụngvới những ngân hàng nào…Đối với KH mới thì NH tìm hiểu sẽ phức tạp hơn,

NH phải thông qua các NH khác hoặc từ các nguồn khác…

Thông qua các thông tin thu thập được cán bộ tín dụng phải chọn lọc đểloại bỏ những thông tin thiếu chính xác, trung thực để đưa ra những đánh giáxác đáng về tình hình thật sự của DN, hỗ trợ hiệu quả cho công tác chấm điểmtín dụng và đưa ra quyết định tín dụng của NH

1.3.2 Xác định ngành nghề lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp:

Các ngành nghề hoạt động trong nền kinh tế là rất đa dạng, phong phú.Mỗi ngành nghề khác nhau thì có đặc điểm khác nhau về chu kỳ kinh doanh, cơcấu doanh thu, chi phí, triển vọng tăng trưởng trong tương lai

Việc xây dựng một hệ thống phân loại ngành kinh tế để chấm điểm và xếphạng DN cần phù hợp với tình hình phát triển của kinh tế, môi trường pháp lýcủa mỗi quốc gia cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế Việt Nam thường phâncác ngành kinh tế thành 4 nhóm chính gồm: Nông lâm ngư nghiệp, thương mại

và dịch vụ, xây dựng, công nghiệp Cơ sở để phân loại DN thuộc nhóm nào làdựa trên ngành nghề chính đăng ký trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhcủa DN Nếu DN hoạt động đa ngành nghề thì ngành nghề nào đem lại tỷ trọngdoanh thu lớn nhất sẽ được xem là ngành nghề chính

Tuỳ vào tiêu chí khác nhau mà mỗi hệ thống chấm điểm tín dụng khácnhau sẽ có cách phân chia ngành nghề khác nhau

Trang 23

1.3.3 Chấm điểm quy mô của Doanh nghiệp.

Các DN có quy mô khác nhau thì có những lợi thế, cơ hội khác nhau khitiếp xúc với thị trường

Những DN vừa và nhỏ thường chỉ tập trung được vào một loại sản phẩmnhất định và khó có thể đa dạng hoá để giảm rủi ro cũng như nâng cao ưu thếcạnh tranh nhờ tăng quy mô sản xuất Điều này là do các DN vừa và nhỏ gặpphải hạn chế về vốn, kĩ thuật, lao động…Vì thế vị thế tín dụng của nó thườngkhông bằng các DN lớn Mặt khác ưu điểm của các DN này lại là cơ cấu tổchức, quản trị, tổ chức kinh doanh gọn nhẹ, hiệu quả và dễ chuyển đổi mô hìnhsản xuất nếu gặp phải các điều kiện không thuận lợi

Các DN lớn thì ngược lại, có ưu thế về vốn, kĩ thuật, dễ đa dạng hoá sảnphẩm nhưng lại cồng kềnh, dễ bị chồng chéo trong quản lý, điều hành hoạtđộng, nhân sự…

Tiêu chí để đánh giá quy mô DN thường bao gồm:

- Tổng nguồn vốn của DN: là tiêu chí cơ bản nhất để xác định quy môcủa DN Nguồn vốn của DN thường bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn đi vay Tỷ

lệ giữa vốn chủ và vốn vay của mỗi DN khác nhau tuỳ thuộc vào loại hình sởhữu, điều lệ công ty… Chẳng hạn như các công ty cổ phần thì thường có tỷ lệvốn vay cao hơn so với các công ty thuộc sở hữu nhà nước Tuy nhiên có mộtđiểm chung là độ lớn của nguồn vốn tỷ lệ thuận với quy mô của DN Dựa vàotiêu chí này cán bộ tín dụng có thể xác định được quy mô của DN là lớn, vừahay nhỏ

- Tổng số lao động của DN: Các DN lớn thì hiển nhiên là tổng số laođộng sử dụng sẽ nhiều hơn các DN vừa và nhỏ, điều này càng đúng với cácnước đang phát triển như Việt Nam, trình độ tự động hoá trong sản xuất và hoạtđộng kinh doanh còn hạn chế nên nguồn lao động con người, lao động chân tayđóng vai trò chính trong quá trình sản xuất kinh doanh của các DN Các DN lớnthường có nhiều đại lý, chi nhánh, cơ cấu tổ chức phức tạp, khối lượng sản phẩmnhiều… nên cần lượng lao động lớn ngược lại các DN nhỏ cần ít lao động hơn

Trang 24

Dựa trên đặc điểm “Số lượng lao động tương xứng với quy mô DN ” mà cán bộtín dụng có thể căn cứ vào tổng lao động để xác định quy mô của DN.

- Doanh thu thuần: Do thị phần sản phẩm của các DN vừa và nhỏ trênthị trường bao giờ cũng thấp hơn các DN lớn, lượng hàng tiêu thụ của các DNnhỏ cũng ít hơn nên doanh thu của các DN lớn thường lớn hơn các DN nhỏ Cán

bộ tín dụng thường căn cứ vào tiêu chí này để chấm điểm quy mô DN đồng thờicòn để xem xét lợi nhuận của DN và khả năng trả nợ của DN nữa

1.3.4 Chấm điểm các chỉ số tài chính:

Các chỉ số tài chính biểu hiện một cách rõ ràng nhất tình hình tài chínhcủa DN Do đó khi chấm điểm tín dụng thì các NH không thể bỏ sót phần nàyđược Các chỉ số tài chính thường được sử dụng bao gồm:

- Các chỉ số về khả năng thanh toán:

Tỷ số này cho biết khả năng thanh toán ngắn hạn của DN, nó cho biết DN

có bao nhiêu tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền mặt để đáp ứng nhucầu thanh toán nợ ngắn hạn Tỷ số này thấp chứng tỏ DN có khả năng trả cáckhoản nợ ngắn hạn thấp, là một dấu hiệu không tốt cho tình hình tài chính của

KH, ngược lại chỉ số này cao thì chứng tỏ KH có khả năng thanh toán các khoản

nợ ngắn hạn tốt Tuy nhiên tỷ số này quá cao thì cũng không hay, vì nếu thếnghĩa là DN đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động, lượng tiền mặt tồn đọng

Trang 25

quá nhiều hoặc DN đã bán được hàng nhưng lại không thu được tiền về hoặc cóthể là hàng không bán được nên lượng hàng tồn kho lớn…

Ngoài ra còn cần phải quan tâm đến tỷ số khả năng thanh toán nhanh vìhàng tồn kho của DN thường cũng không dễ chuyển hoá thành tiền khi cần thiết

- Các tỷ số về khả năng hoạt động:

Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sảncủa DN Vốn của DN được dùng để đầu tư cho các loại tài sản khác nhau như tàisản cố định, tài sản lưu động Do đó, các nhà NH không chỉ quan tâm tới việc đolường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng củatừng bộ phận cấu thành tổng tài sản của DN Các tỷ số thường tính là:

dùng lượng hàng tồn kho bình quân của năm Tỷ số này thấp cho thấy DN dự trữ

quá nhiều hàng tồn kho so với doanh số bán

Đối với các DN thuộc ngành dịch vụ, không trực tiếp sản xuất thì thay thếgiá vốn hàng bán bằng doanh thu thuần để tính toán

Trang 26

Các khoản phải thu bình quân

Kỳ thu tiền bình quân =

Doanh thu thuần

Trong phân tích tài chính tỷ số này được sử dụng để đánh giá khả năng

thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu bình quân và doanh thu

thuần Nếu tỷ số này cao nghĩa là vốn của DN bị ứ đọng lớn trong khâu thanhtoán, gặp phải các khoản nợ khó đòi hoặc có lý do gì đó làm giảm doanh thu.Điều này cho thấy DN có vấn đề trong khâu bán hàng Khi phân tích tỷ số này

thì NH nên phân tích theo định kỳ vì trong thương mại ngày nay các hoạt động

mua bán chịu đang rất phổ biến và chịu tác động lớn của yếu tố mùa vụ vàngành nghề kinh doanh

Doanh thu thuần

Tỷ số này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu DN

so với phần tài trợ (Bao gồm cả NH) của các chủ nợ đối với DN và có ý nghĩaquan trọng trong phân tích tài chính Bởi lẽ các chủ nợ nhìn vào số vốn của chủ

sở hữu công ty để thể hiện mức độ tin tưởng vào sự bảo đảm an toàn cho cácmón nợ Nếu chủ sở hữu DN chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thìrủi ro xảy ra trong sản xuất kinh doanh do các chủ nợ gánh chịu Mặt khác bằngcách tăng vốn thông qua vay nợ các chủ DN vẫn nắm quyền kiểm soát và điềuhành DN Ngoài ra, nếu DN thu được lợi nhuận từ tiền vay thì lợi nhuận dànhcho các chủ DN sẽ gia tăng đáng kể

Nợ phải trả

Tỷ số nợ trên tổng tài sản =

Tổng tài sản

Trang 27

Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ DN đối với các chủ

nợ trong việc góp vốn Thông thường các chủ nợ thích tỷ số nợ trong tổng tàisản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trongtrường hợp DN bị phá sản Nếu tỷ số này quá cao, DN dễ bị rơi vào tình trạngmất khả năng thanh toán

- Các tỷ số về khả năng sinh lãi

Đây là tỷ số phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất - kinh doanh vàhiệu năng quản lý DN

Thu nhập sau thuế

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm =

Doanh thu thuần

Tỷ số này cho biết 1 đồng doanh thu thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuậnsau thuế Từ đó NH có thể đánh giá được khả năng quản lý, tiết kiệm chi phí,khả năng tăng trưởng lợi nhuận của DN như thế nào

Thu nhập sau thuế

Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) =

Vốn chủ sở hữu

Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, tức là một đồngvốn chủ sở hữu thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Khi phân tích tỷ sốnày cần kết hợp cả các hệ số nợ nữa vì nếu chỉ mới thấy ROE cao mà đã vội kếtluận DN điều hành tốt thì có thể là chưa hoàn toàn chính xác vì có thể ROE cao

Trang 28

là do lượng vốn chủ sở hữu bỏ vào sản xuất kinh doanh thấp và hầu hết phần lợinhuận tạo ra bởi vốn của các chủ nợ, thì tức là chủ sở hữu bỏ ít vốn mà vẫn cóquyển kiểm soát DN còn các chủ nợ (Bao gồm cả NH) vẫn có thể bị rủi ro mấtvốn khi hoạt động kinh doanh không thuận lợi.

Thu nhập sau thuế

Doanh lợi tài sản (ROA) =

1.3.5 Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính.

- Các chỉ tiêu về môi trường ngành

+ Chu kỳ kinh doanh: Chu kỳ kinh doanh của các ngành thường biếnđộng cùng xu hướng với chu kỳ kinh tế Khi nền kinh tế bước vào thời kỳ tăngtrưởng thì hoạt động của các ngành kinh tế cũng tốt hơn, ngược lại nền kinh tếsuy thoái thì làm ăn cũng khó khăn hơn do nó phụ thuộc vào mức tăng trưởngGDP, các hoạt động điều hành, điều tiết của chính phủ Để đánh giá chu kỳ kinhdoanh của một ngành thì người ta thường bắt đầu từ thời điểm ngành bắt đầuphát triển cho đến lúc nó suy giảm dần

+ Triển vọng tăng trưởng của ngành: phụ thuộc nhiều vào chu kỳ kinh

tế Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng thì nó sẽ tạo ra nhiều cơ hộithuận lợi cho các ngành phát triển: Các hoạt động kích cầu, môi trường đầu tư

Trang 29

rộng mở, khả năng mở rộng thị trường, cải tiến công nghệ, kĩ thuật và ngượclại Một DN thuộc ngành có tiềm năng tăng trưởng thì sẽ có nhiều khả năng thuđược lợi nhuận cao hơn các DN thuộc các ngành khác.

+ Áp lực cạnh tranh trong ngành: Các ngành có nhiều cơ hội thu lợinhuận cao thì đồng thời áp lực cạnh tranh cũng lớn, số lượng đối thủ cạnh tranhnhiều, do đó muốn phát triển DN phải có những chính sách hợp lý để biến sựcạnh tranh thành cơ hội để phát triển

+ Các nguồn cung ứng trong ngành: Hoạt động của DN chịu ảnh hưởngtrực tiếp của các nhà cung cấp Khi đánh giá DN cần xem xét vị thế của DN với

tư cách là khách hàng trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, xem xét sốlượng, uy tín của nhà cung cấp cũng như khả năng thay thế nhà cung cấp trongcác trường hợp cần thiết

+ Các yếu tố liên quan đến pháp luật: Các ngành hoạt động trong nềnkinh tế đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật Vì vậy xu hướng thay đổi,điều chỉnh chính sách pháp luật của các bộ ngành liên quan đến ngành đó đềucần phải được xem xét vì nó có thể trở thành những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽđến vị thế cạnh tranh của công ty

- Điều kiện kinh doanh

+ Quy mô thị trường: Là tổng lượng cầu sản phẩm của DN, nó cho biếtmức doanh thu tối đa mà các ngành có thể đạt được Quy mô thị trường càng lớnthì DN càng có nhiều cơ hội thu lợi nhuận cao

+ Thị phần của DN: Là tỷ số giữa doanh số bán của DN với tổng doanh

số bán của ngành Thị phần của DN càng cao thì DN càng có quy mô và sức ảnhhưởng thị trường lớn

Doanh số bán ước tính của DN

Thị phần của DN =

Doanh số bán ước tính của ngành

+ Đánh giá chất lượng sản phẩm: Có thể dựa trên 3 mức tiêu chuẩn nhưsau:

Mức 1: Sản phẩm chưa nhận được chứng nhận ISO 9000/9002

Trang 30

Mức 2: Sản phẩm đã nhận được chứng nhận ISO 9000/9002.

Mức 3: Sau khi nhận được chứng nhận ISO 9000/9002

+ Sự đa dạng hoá hoạt động của DN: DN đa dạng hoá hoạt động thì sẽphân tán được rủi ro hơn Tuy nhiên với các DN hoạt động đa ngành thì cán bộtín dụng phải xác định được lĩnh vực kinh doanh chính của DN, tức là lĩnh vựcđem lại nguồn lợi nhuận lớn nhất cho DN đó

+ Hoạt động nghiên cứu và phát triển: Các sản phẩm có thành phầncông nghệ cao thì thường nhanh chóng bị lỗi thời và lạc hậu, do đó DN phải đầu

tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển Nếu DN không quan tâm đến vấn đềnày thì rất dễ bị đào thải trong điều kiện thị trường ngày càng cạnh tranh khốcliệt

- Đánh giá về chất lượng quản lý: Khả năng quản lý của ban lãnh đạo làmột trong những yếu tố quan trọng để đánh giá DN

+ Đánh giá cơ cấu tổ chức: Mỗi DN đều có đặc thù riêng về ngành nghềsản phẩm, chiến lược kinh doanh Do đó tuỳ thuộc vào đặc điểm và chiến lược

DN theo đuổi mà cán bộ tín dụng đánh giá xem mô hình tổ chức và quản trị của

DN là có hiệu quả hay không

+ Đánh giá về ban lãnh đạo: Xem xét trình độ chuyên môn, kinh nghiệmquản lý, uy tín, đạo đức, sức khoẻ, tuổi tác của những người giữ vị trí chủ chốttrong ban lãnh đạo để xem xét khả năng điều hành hoạt động của DN như thếnào

+ Đánh giá về chính sách nhân sự: Bao gồm chính sách lương thưởng,tuyển dụng thể hiện khả năng thu hút, đào tạo, giữ nhân tài, khả năng cạnhtranh trên thị trường lao động của DN

+ Đánh giá về văn hoá và bản sắc DN: Trong nền kinh tế hiện đại, vănhoá kinh doanh của DN ngày càng được coi trọng Văn hoá, bản sắc DN là hệthống những giá trị chung, tập quán, nguyên tắc của DN được xây dựng dựa trêntriết lý kinh doanh của DN từ những ngày đầu thành lập Một DN có văn hoá,bản sắc riêng sẽ tạo được uy tín, truyền thống tốt trên thị trường

Trang 31

- Tình hình và uy tín giao dịch với ngân hàng: Nếu DN là khách hàng có

uy tín với ngân hàng tức là luôn trả gốc và lãi đúng hạn, không phải gia hạn nợ

và phát sinh nợ quá hạn thì điểm của DN sẽ cao hơn NH sẽ theo dõi lịch sử trả

nợ của KH để đánh giá khả năng và ý chí trả nợ của người vay Ngoài ra NHcòn xem xét các quan hệ phi tín dụng như: Số lượng giao dịch trung bình hàngtháng của DN, tiền gửi trung bình hàng tháng của KH, các giao dịch thườngxuyên, tiềm năng các giao dịch mới Những khách hàng truyền thống của NHthường đạt được điểm số cao hơn các KH mới

- Tài sản bảo đảm: Ngân hàng tài trợ dựa trên uy tín của KH Trongtrường hợp khách hàng truyền thống, có uy tín, NH cho vay không cần kí hợpđồng đảm bảo Trong trường hợp độ an toàn của người vay không chắc chắn,

NH sẽ đòi hợp đồng đảm bảo Các đảm bảo của KH nhằm hạn chế bớt thiệt hạicho NH khi KH có khó khăn không trả được nợ Đảm bảo có thể bằng phươngpháp cầm cố hoặc thế chấp Các đảm bảo thường là giấy tờ có giá, hàng hoátrong kho, nhà cửa, thiết bị, hoặc bảo lãnh của người thứ ba

Ngân hàng chỉ chấp nhận các tài sản có khả năng bán được làm đảm bảo.Các tài sản công, kém, mất phẩm chất hoặc phi pháp đều bị loại khỏi tài sản đảmbảo Có loại đảm bảo (Thường là bất động sản, máy móc, trang thiết bị, đồ dùnglâu bền) NH vẫn cho người vay được quyền sử dụng song phải cam kết giữnguyên hiện trạng hoặc sử dụng đúng mục đích đã thoả thuận với NH Có loạiđảm bảo (Thường là hàng hoá) bị NH phong toả hoặc kiểm soát chặt chẽ việc sửdụng Để đề phòng trường hợp bất trắc xảy ra đối với tài sản đảm bảo, NHthường yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm tài sản Các hợp đồng bảo lãnhcũng được xem xét cẩn thận Uy tín, khả năng trả nợ, tài sản mang làm vật đảmbảo cần phải được xác định rõ Các tài sản đảm bảo mang tính thanh khoản cao

và rủi ro thấp thì chấm điểm tín dụng cho tiêu chí này sẽ cao hơn

Trang 32

1.3.6 Tổng hợp điểm tín dụng.

Sau khi chấm điểm tín dụng các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính cán bộtín dụng sẽ cộng tổng số điểm tài chính và phi tài chính có trọng số để xác địnhđiểm tổng hợp Trong đó trọng số là mức độ quan trọng của từng tiêu chí chấmđiểm tín dụng (Chỉ số tài chính hoặc yếu tố phi tài chính) xét trên góc độ rủi rotín dụng Sau khi có điểm tổng hợp thì NH sẽ tiến hành xếp hạng tín nhiệm KH

và đưa ra các quyết định tín dụng phù hợp

1.4 Ứng dụng của mô hình chấm điểm tín dụng.

1.4.1 Xếp hạng tín nhiệm khách hàng.

1.4.1.1 Khái niệm về tín nhiệm khách hàng

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về xếp hạng tín nhiệm khách hàng.Theo công ty chứng khoán Merrill Lynch thì xếp hạng tín nhiệm là đánhgiá hiện thời của công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của một nhàphát hành chứng khoán nợ về một khoản nợ nhất định

Theo công ty Moody thì xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng nhàphát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn Trong kết quả xếp hạng cóchứa cả đánh giá chủ quan của chuyên gia xếp hạng tín nhiệm

Nhìn chung đối với ngân hàng thì xếp hạng tín nhiệm có thể được hiểu làkết quả của việc đánh gía tổng hợp tất cả các rủi ro về thanh toán gốc, lãi vềkhoản nợ hiện tại và trong tương lai của đối tượng được xếp hạng Thông quaviệc xếp hạng khách hàng, ngân hàng có thể xác định được năng lực và thiện chícủa người vay về việc thanh toán các khoản gốc và lãi đúng hạn, từ đó đưa racác quyết định tín dụng với khách hàng đồng thời xây dựng các cam kết nợ đểđảm bảo quyền lợi của ngân hàng trong trường hợp KH phá sản hoặc gặp các rủi

ro khác

Trang 33

1.4.1.2 Ứng dụng của chấm điểm tín dụng khi xếp hạng tín nhiệm khách

hàng

Chấm điểm tín dụng có thể xem là bước cơ sở để xếp hạng tín nhiệmkhách hàng Điểm số tín dụng là kết quả tổng hợp của quá trình chấm điểm tíndụng, dựa trên các tiêu chí khác nhau bao gồm cả phần tài chính và phi tàichính, để đưa ra đánh giá tổng quát nhất về mức độ rủi ro của người vay hayphương án, dự án vay

Chấm điểm tín dụng và xếp hạng tín nhiệm khách hàng là hai quy trìnhgắn bó chặt chẽ với nhau và đều là cơ sở để NH đưa ra quyết định tín dụng

Điểm tín dụng có thể là số tuyệt đối (Trong các mô hình được xây dựngtheo phương pháp chuyên gia) hoặc số tương đối (Phương pháp thống kê) Ngânhàng sẽ đặt ra mức điểm chuẩn để phân chia khách hàng với những điểm số tíndụng khác nhau vào các nhóm khác nhau Tuy vào mục đích và chiến lược theođuổi mà mỗi NH sẽ có số lượng nhóm và mức điểm chuẩn khác nhau

Ví dụ như dựa trên hệ thống xếp hạng của Standard & Poor, với một NHtiến hành xếp hạng nhằm mục đích phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi rotheo thông lệ quốc tế Basell II , đáp ứng yêu cầu của các cơ quan quản lý thì cóthể xếp loại với các nhóm như sau:

- Các khách hàng thuộc nhóm AAA, AA, A sẽ được phân loại vào nợ đủtiêu chuẩn

Trang 34

1.4.2 Hỗ trợ quá trình ra quyết định cho vay.

1.4.2.1 Chấm điểm tín dụng và các khoản vay lớn

Đối với các khoản vay có giá trị lớn thì rủi ro cho vay của NH rất cao,những khoản cho vay này mang lại nguồn thu nhập lớn nhưng nếu KH không cókhả năng thanh toán thì tổn thất mà NH phải chịu cũng rất cao Do đó với nhữngkhoản vay này cán bộ tín dụng cần phải thẩm định kĩ càng, thu thập thông tinđầy đủ, theo dõi sát sao tình hình thực tế, tài sản đảm bảo…

Tại thời điểm trước khi lập tờ trình, lúc này cán bộ tín dụng đã thu thập đủtài liệu và việc phân tích khách hàng đã được tiến hành một cách chủ quan thìbước chấm điểm tín dụng như là bước kiểm tra lại để xem những đánh giá đó cóđầy đủ và toàn diện hay không, tìm ra những điểm thiếu sót để kịp thời bổ sung

từ đó hoàn thiện tờ trình đưa lên ban lãnh đạo phê duyệt Đồng thời tờ trình đãdựa trên kết quả chấm điểm tín dụng chắc chắn sẽ có tính thuyết phục cao hơn

Sau khi giải ngân cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi khoản vay đểxem khách hàng sử dụng có đúng mục đích hay không cũng như có xảy ra cácyếu tố bất thường gì ảnh hưởng đến khả năng thanh toán món vay của kháchhàng không Lúc này điểm số tín dụng sẽ có mục đích dự đoán khả năng DN cóthực hiện trả nợ đúng theo các kỳ hạn quy định trong hợp đồng hay không Từ

đó ngân hàng sẽ có những chính sách đối phó kịp thời

Tất nhiên chấm điểm tín dụng còn có thể được sử dụng bất kỳ lúc nào cán

bộ tín dụng muốn đánh giá rủi ro của khách hàng

1.4.2.2 Chấm điểm tín dụng và các khoản vay nhỏ

Hiện nay chấm điểm tín dụng đang ngày càng được sử dụng phổ biếntrong cho vay tiêu dùng để tự động hoá một phần trong quy trình cho vay, giảmbớt công việc cho cán bộ tín dụng Tức là các ngân hàng có thể thiết lập nhữngmức điểm chuẩn, nếu điểm số của khách hàng cao hơn mức chuẩn đó, nó sẽ tựđộng chấp thuận cho vay và từ chối nếu điểm số là thấp hơn, còn nếu kháchhàng có điểm số gần đạt chuẩn sẽ được xem xét kĩ hơn bởi cán bộ tín dụng Tất

Trang 35

nhiên ứng dụng như thế sẽ giảm được chi phí, thời gian cho ngân hàng và KHtrong quá trình thẩm định, xét duyệt một khoản vay nhưng cũng tiềm ẩn nhiềurủi ro.

Ứng dụng như thế nào và bao nhiêu là tuỳ thuộc vào khả năng chấp nhậnrủi ro và lợi ích kỳ vọng của từng ngân hàng cụ thể

1.4.2.3 Thiết lập thị trường cho các khoản vay được tiêu chuẩn hoá.Thị trường mua bán nợ hiện đang được phát triển mạnh Đó là thị trường

mà ngân hàng sẽ thực hiện mua, bán các khoản vay cho các nhà đầu tư cũng nhưvới các tổ chức tín dụng khác Các khách hàng vay vốn sẽ trả lãi và gốc cho cácnhà đầu tư này thay vì cho ngân hàng

Đối với ngân hàng thì hoạt động trên thị trường này đem lại rất nhiều lợiích Rõ ràng đây là một biện pháp giảm thiểu rủi ro do biến động của lãi suấtcũng như tốt hơn cho vấn đề quản lý thanh khoản, đồng thời vẫn thu được mộtkhoản phí từ việc mua bán các món vay cộng với những khoản phí cho mỗi lầnthu nợ gốc và lãi từ khách hàng vay và chuyển vào tài khoản của nhà đầu tư.Hơn nữa thông qua việc mua bán các khoản nợ mà NH có thể đa dạng hoá danhmục tài sản của mình Vì thế NH sẽ mở rộng được phạm vi cho vay hơn

Đối với người vay thì nhờ việc mở rộng cho vay của các NH mà sẽ dễdàng tiếp cận được với nguồn vốn

Đối với nhà đầu tư thì đây là thị trường béo bở để thu được lợi nhuận.Những khoản vay đã được thông qua nhờ chấm điểm tín dụng đạt chuẩn

sẽ trở thành các khoản vay được tiêu chuẩn hoá, tạo ra tính thanh khoản cho thịtrường mua bán nợ, thúc đẩy hoạt động của thị trường này

1.4.2.4 Quản lý tín dụng toàn hệ thống

Thông qua chấm điểm tín dụng các DN thuộc các ngành kinh tế khácnhau có những đặc điểm riêng khác nhau sẽ được xếp hạng Dựa vào các số liệuthống kê qua các năm, ngân hàng sẽ có một cái nhìn tổng quát để xác định mộtcách chính xác và hợp lý nhất tổn thất tín dụng theo từng đối tượng khách hàng

Trang 36

theo các tiêu chí nhất định (Quy mô, ngành kinh tế ) Từ đó đề ra chiến lược vềkhách hàng mục tiêu cũng như đo lường được mức độ rủi ro của danh mục tíndụng tại ngân hàng.

Ngoài ra căn cứ vào mức xếp hạng, các quy trình tín dụng và chính sáchkhách hàng sẽ được xây dựng đồng bộ, rõ ràng và có hiệu quả hơn Nhờ đó vănhoá kinh doanh của NH dần hình thành và tạo nên bản sắc riêng của NH, nângcao uy tín của NH trên thương trường

1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác chấm điểm tín dụng

của NHTM.

1.5.1 Chất lượng thông tin về khách hàng.

Thông tin khách hàng được xem là nguyên liệu đầu vào của công tácchấm điểm tín dụng, quyết định độ chính xác của kết quả chấm điểm Chấtlượng thông tin không tốt sẽ là kết quả chấm điểm bị sai lệch

Thông tin khách hàng cần phải đảm bảo:

Trang 37

Cơ sở vật chất và hệ thống thông tin cũng là một yếu tố rất quan trọng.Quy trình chấm điểm tín dụng rất phức tạp đòi hỏi sự chính xác cao, việc lưutrữ, xử lý đều được tiến hành trên máy, do đó ngân hàng phải thường xuyên cậpnhật các phần mềm tiên tiến, hiện đại và khoa học.

1.5.3 Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ chấm điểm tín dụng.

Cán bộ chấm điểm tín dụng là người trực tiếp tham gia vào các bướctrong quy trình chấm điểm tín dụng, do đó trình độ năng lực của đội ngũ này làrất quan trọng

Cán bộ chấm điểm tín dụng trước hết phải có trình độ nghiệp vụ và amhiểu về quản trị rủi ro trong ngân hàng đồng thời cũng phải có hiểu biết kĩ càng

về các phần mềm chấm điểm Cán bộ tín dụng phải có đạo đức nghề nghiệp tốt

để đảm bảo kết quả chấm điểm trung thực, khách quan và đáng tin cậy

Trang 38

Chương 2.Thực trạng công tác chấm điểm tín dụng tại ngân hàng

Quân đội chi nhánh Hoàn Kiếm.

2.1 Tổng quan về ngân hàng quân đội chi nhánh Hoàn Kiếm.

MB do đó cũng tăng trưởng mạnh, đạt 29.623,6 tỷ, tăng hơn 2 lần so với đầunăm, đạt 137.7% kế hoạch Tổng dư nợ đạt 11.612,6 tỷ đồng, vượt 36.6% kếhoạch đề ra Hiện nay MB trở thành một trong những ngân hàng có mức lợinhuận trước thuế cao nhất trong hệ thống các NHTMCP trên địa bàn Hà nội.Hoạt động tín dụng còn được đánh dấu bởi một bước tiến quan trọng khi

hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ- một cấu phần quan trọng trong hệ thốngquản trị đối với bất kỳ một TCTD nào- đã hoàn thiện sau 5 năm nghiên cứu vàxây dựng, đưa MB trở thành NHTMCP đầu tiên triển khai thành công chươngtrình xếp hạng tín dụng nội bộ theo chuẩn mực quốc tế

Ngoài ra MB đã tập trung triển khai dự án công nghệ thông tin với việcthay thế phần mềm Corebanking từ IBank sang T24 do Temenos thực hiện

Trang 39

Với sự quyết tâm cao của toàn hệ thống, 8/2007 MB đã chính thức chuyển đổi

dữ liệu sang hệ thống T24, đóng hệ thống IBank Hệ thống IBank sau này sẽdùng vào mục đích tra cứu dữ liệu lịch sử của MB Hiện nay hệ thống T24 đãchạy ổn định, đảm bảo chính xác trong các hoạt động tài khoản và giao dịchvới khách hàng

Về mở rộng và đa dạng hóa hoạt động: MB đang tích cực phát triển mạnglưới với thị trường mục tiêu là các khu vực thành thị trên toàn quốc Xét riêngtrên địa bàn HN, MB đã có hơn 30 chi nhánh và phòng giao dịch và đang mởthêm nhiều chi nhánh tại các tỉnh thành phố khác như Hải Phòng, Vinh, ĐàNẵng Cùng với việc mở rộng mạng lưới chi nhánh trong nước, Ngân hàng cũngrất chú trọng đến việc mở rộng quan hệ hợp tác và giao dịch với các ngân hàngtrên thế giới, hiện nay đã có hơn 300 ngân hàng trên 56 quốc gia, đảm bảo thanhtoán và giao dịch với tất cả các châu lục khác trên thế giới

Cùng với việc mở rộng mạng lưới hoạt động, MB luôn chú trọng công tácđầu tư phát triển nguồn lực và ứng dụng công nghệ mới

Rõ ràng với chủ trương này chất lượng dịch vụ của MB sẽ liên tục đượccải thiện, mang lại cho khách hàng sự yên tâm, thuận tiện và hiệu quả khi sửdụng dịch vụ của NH

MB Hoàn Kiếm được thành lập vào năm 2005 Ban đầu mới thành lập

MB Hoàn Kiếm chỉ có 4 cán bộ và đi vào hoạt động chỉ sau 17 ngày chuẩn bị.Sau ba năm, tập thể cán bộ nhân viên chi nhánh đã cùng nhau vượt qua bao khókhăn, thử thách và đến năm 2006 chi nhánh đã được công nhận là “ Chi nhánhtiềm năng ”, năm 2007 đạt danh hiệu “ Chi nhánh vững mạnh toàn diện ” Kếtquả kinh doanh của chi nhánh luôn tăng trưởng mạnh mẽ qua các năm Theoquyết định của hội đồng quản trị, từ ngày 10/8/2008, MB Hoàn Kiếm chính thứctrở thành chi nhánh online về Hội sở với ba điểm giao dịch phụ thuộc (Trụ sở

MB Hoàn Kiếm, PGD Trần Hưng Đạo và PGD Lãn Ông)

Trang 40

2.1.2 Cơ cấu tổ chức.

Các khối hoạt độngKhối

khách hàng

cá nhân

Khối kháchhàng doanhnghiệp

Khối quản lýtín dụng

Khối hànhchính

Nhiệm vụ, chức năng của từng phòng ban như sau:

- Khối khách hàng cá nhân:

+ Phòng khách hàng cá nhân: Là cơ quan chuyên môn cho vay cá nhânvới mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh, xử lý yêu cầu về đơn từ, tín dụng cánhân, trực tiếp quan hệ với khách hàng

+ Phòng phát triển khách hàng cá nhân: Là cơ quan giúp việc cho tổnggiám đốc trong việc phát triển khách hàng cá nhân và sản phẩm cho khách hàng

cá nhân

- Khối khách hàng doanh nghiệp:

+ Phòng khách hàng doanh nghiệp: Là cơ quan chuyên môn cho vaydoanh nghiệp, xử lý yêu cầu về đơn từ, thực hiện thẩm định tín dụng, theo dõitình hình khoản vay

+ Phòng phát triển khách hàng doanh nghiệp: Phát triển khách hàngdoanh nghiệp, phát triển sản phẩm cho khách hàng và quan hệ khách hàng

+ Phòng thanh toán quốc tế: Chịu trách nhiệm quản lý và thực hiệnnghiệp vụ thanh toán với nước ngoài, liên quan đến thủ tục hải quan xuất nhậpkhẩu

- Khối quản lý tín dụng

+ Phòng quản lý tín dụng: Có chức năng thẩm định, tái thẩm định các

dự án, phương án đầu tư, các hồ sơ vượt hạn mức, phán quyết, soạn thảo các quytrình, quy chế về tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng

Ngày đăng: 10/07/2016, 01:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Giáo trình Ngân hàng thương mại (Đại học Kinh tế Quốc dân) Khác
[2] Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (ĐH KTQD) Khác
[3] Giáo trình kế toán tài chính (Học viện tài chính) Khác
[4] Nguyễn Công Nghiệp – Lê Tiến Phúc Xếp hạng tín nhiệm – nguyên lý và thực tiễn Khác
[5] TS.Trần Đắc Sinh - Định mức tín nhiệm tại Việt Nam Khác
[6] Dean Care and Robert Kossmann, 2003, Credit Scoring – It’s right for your bank.[7] www.saga.com Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kết quả huy động vốn tại MB Hoàn Kiếm qua năm 2006 - 2008. - Luận văn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng để xếp hạng doanh nghiệp tại ngân hàng NHTMCP quân đội (MB) chi nhánh hoàn kiếm
Bảng 2 Kết quả huy động vốn tại MB Hoàn Kiếm qua năm 2006 - 2008 (Trang 42)
Bảng 3: Tình hình sử dụng vốn của chi nhánh Hoàn Kiếm. - Luận văn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng để xếp hạng doanh nghiệp tại ngân hàng NHTMCP quân đội (MB) chi nhánh hoàn kiếm
Bảng 3 Tình hình sử dụng vốn của chi nhánh Hoàn Kiếm (Trang 44)
Bảng 4: Doanh số thanh toán của NHQĐ chi nhánh Hoàn Kiếm. - Luận văn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng để xếp hạng doanh nghiệp tại ngân hàng NHTMCP quân đội (MB) chi nhánh hoàn kiếm
Bảng 4 Doanh số thanh toán của NHQĐ chi nhánh Hoàn Kiếm (Trang 46)
Bảng 5: Bảng thang điểm xếp hạng khách hàng. - Luận văn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng để xếp hạng doanh nghiệp tại ngân hàng NHTMCP quân đội (MB) chi nhánh hoàn kiếm
Bảng 5 Bảng thang điểm xếp hạng khách hàng (Trang 54)
Bảng 6: Chỉ tiêu phi tài chính – Giá trị chuẩn. - Luận văn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng để xếp hạng doanh nghiệp tại ngân hàng NHTMCP quân đội (MB) chi nhánh hoàn kiếm
Bảng 6 Chỉ tiêu phi tài chính – Giá trị chuẩn (Trang 56)
Bảng 9: Ma trận xếp hạng khách hàng. - Luận văn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng để xếp hạng doanh nghiệp tại ngân hàng NHTMCP quân đội (MB) chi nhánh hoàn kiếm
Bảng 9 Ma trận xếp hạng khách hàng (Trang 69)
Bảng 8: Bảng đánh giá tài sản đảm bảo. - Luận văn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng để xếp hạng doanh nghiệp tại ngân hàng NHTMCP quân đội (MB) chi nhánh hoàn kiếm
Bảng 8 Bảng đánh giá tài sản đảm bảo (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w