Có hai loại CSTT: CSTT mở rộng lỏng là chính sách đợc thực hiệnnhằm mục tiêu tăng lợng cung tiền trong nền kinh tế, làm cho nền kinh tếtrở nên sôi động hơn, đầu t tăng lên và sản xuất ki
Trang 1Phần I: Cơ sở lý luận chung
1 Khái niệm chính sách tiền tệ (CSTT)
Ta có thể định nghĩa: “Chính sách tiền tệ là một chính sách của Nhànớc, của NHTƯ trong việc thay đổi cung cầu tiền trong nền kinh tế, trên cơ
sở đó tác động vào các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác nh lạm phát, thấtnghiệp, ” Tiền tệ ở đây đợc hiểu nh là tổng các phơng tiện thanh toán màngời ta sẵn sàng chấp nhận để mua bán hàng hoá, dịch vụ, thanh quyết toáncác khoản nợ của mình, bao gồm các loại giấy bạc và tiền kim loại doNHTƯ phát hành, các chứng khoán và giấy tờ có giá khác
Nhiệm vụ của CSTT là phải cung cấp đầy đủ các phơng tiện thanhtoán cho nền kinh tế quốc dân, bảo đảm lợng tiền cung ứng cho quá trình luthông hàng hoá Nếu thừa phơng tiện thanh toán sẽ gây ra những chi phí vềphát hành giấy bạc, công trái, và dẫn tới lạm phát do thừa phơng tiệnthanh toán để mua hàng hoá trên thị trờng nội địa cũng nh làm tăng tỷ giácủa đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ Nhng nếu thiếu phơng tiện thanh toánthì có thể làm ách tắc quá trình lu thông hàng hoá, gây ra hàng loạt các hậuquả xấu Vì thế điều tiết tốt lợng tiền cung ứng cho nền kinh tế là rất quantrọng
Có hai loại CSTT: CSTT mở rộng (lỏng) là chính sách đợc thực hiệnnhằm mục tiêu tăng lợng cung tiền trong nền kinh tế, làm cho nền kinh tếtrở nên sôi động hơn, đầu t tăng lên và sản xuất kinh doanh mở rộng vìtrong giai đoạn đầu thì lãi suất vốn vay ngân hàng có thể giảm và các nhà
đầu t dự tính tới một nền kinh tế mạnh hơn, dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp giảmxuống, sau đó lãi suất có thể tăng vì ngời tiêu dùng tính rằng việc tăng lợngtiền có thể dẫn tới lạm phát, họ tiêu dùng nhiều hơn ; ngợc lại, CSTT thắtchặt (chặt) nhằm làm cho giảm mức cung tiền trong nền kinh tế, dẫn tớinhững hiệu ứng trái ngợc với CSTT mở rộng
2 Các tác nhân trong quá trình cung ứng tiền tệ
Quá trình cung ứng tiền tệ có bốn tác nhân: Ngân hàng trung ơng(NHTƯ), các ngân hàng thơng mại (NHTM- hay tổ chức nhận tiền gửi),những ngời gửi tiền, và những ngời vay tiền
Trong một quốc gia thì CSTT có thể do NHTƯ xây dựng và quyết
định, cũng có thể do cơ quan khác quyết định tuỳ theo trình độ phát triểncủa công nghệ ngân hàng và cơ cấu tổ chức Nhà nớc của quốc gia đó Tuynhiên trong mọi nền kinh tế hiện đại thì CSTT luôn là một công cụ quản lýkinh tế vĩ mô quan trọng của Nhà nớc, và là hoạt động cơ bản nhất củaNHTƯ Lịch sử hình thành các NHTƯ cũng dựa trên hai cơ sở là do nhucầu của các NHTM (là “ngân hàng của các ngân hàng”) và nhu cầu củaquản lý Nhà nớc Hoạt động của NHTƯ nhằm hai mục đích chính là ổn
Trang 2định giá trị đồng nội tệ và đảm bảo cho hoạt động của các ngân hàng trongnớc đợc an toàn và hiệu quả Khi NHTƯ độc lập với Chính phủ, độc lập và
có thể cho vay với Kho bạc nhà nớc thì nó thực hiện chức năng ổn định giácả đồng tiền thông qua các biện pháp nghiệp vụ, bao gồm cả việc quyết
định CSTT Còn trong điều kiện NHTƯ không độc lập với Chính phủ(Thống đốc NHTƯ là một thành viên của Chính phủ) thì việc thông quaCSTT phải đợc sự đồng ý của Chính phủ
Các ngân hàng và tổ chức nhận tiền gửi khác nhận tiền gửi từ các cánhân và tổ chức và thực hiện cho vay đến các đối tợng trong nền kinh tế.Tại các nớc có trình độ công nghệ ngân hàng cao thì các tổ chức nhận tiềngửi có thể bao gồm các NHTM, các công ty tiết kiệm và cho vay, các ngânhàng tiết kiệm tơng trợ, và các liên hiệp tín dụng Còn tại các nớc có trình
độ công nghệ ngân hàng thấp hơn thì loại hình tổ chức nhận tiền gửi kém đadạng hơn do khả năng quản lý kém hơn
Những ngời gửi tiền là các cá nhân và tổ chức có quyền chiếm hữu và
định đoạt với tiền gửi ở ngân hàng, còn ngân hàng chỉ có quyền sử dụngvốn huy động đợc cho hoạt động tín dụng và đầu t khác của ngân hàngngoài phạm vi tiền dự trữ bắt buộc
Những ngời vay tiền là mọi cá nhân và tổ chức vay tiền từ các tổ chứcnhận tiền gửi hoặc từ các tổ chức phát hành trái khoán, các trái khoán đó đ-
ợc các tổ chức nhận gửi mua
Điều hành chính sách tiền tệ là do NHTƯ của mỗi quốc gia, nhngkhông thể không xem xét trong mối quan hệ tác với các tác nhân này
3 Mục tiêu của CSTT
Việc thực hiện CSTT ở bất kỳ một quốc gia nào cũng nhằm vàonhững mục tiêu cơ bản sau:
3.1 Tăng việc làm.
Mọi quốc gia đều cần tính đến mục tiêu tăng việc làm nhằm ổn địnhxã hội, giảm bớt các tệ nạn do tình trạng thất nghiệp gây ra nh trộm cắp, matuý, và tận dụng các tài nguyên về con ngời cũng nh vật chất của đất nớc,ngày càng nâng cao mức sống của ngời dân Tuy nhiên tỷ lệ công ăn việclàm cao không phải ở quốc gia nào cũng nh nhau Những quốc gia có nềnkinh tế phát triển cao có thể xem xét đến tỷ lệ thất nghiệp (hay tỷ lệ có việclàm) nên là bao nhiêu để vừa kích thích sự phát triển của nền kinh tế, vừatạo ra động lực cạnh tranh cho ngời lao động- vì nếu không có thất nghiệpthì sẽ không có sự cạnh tranh trong lực lợng lao động và do đó làm giảmnăng suất lao động- tỷ lệ này gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Sức ép phảigiảm tỷ lệ thất nghiệp ở đây không lớn nh ở các nớc nghèo vì mức thu nhậpbình quân đầu ngời của họ đã cao hơn nhiều so với nhu cầu để duy trì cuộcsống Còn các nớc đang phát triển kinh tế cha thể xem xét đến tỷ lệ đó, mà
Trang 3mục tiêu của mọi chính sách kinh tế là làm sao để giảm tỷ lệ thất nghiệpxuống càng thấp càng tốt Khi đó để tạo ra thêm công ăn việc làm cần phảithực hiện CSTT lỏng, làm giảm lãi suất, tăng hoạt động đầu t vào sản xuấtkinh doanh, từ đó tăng dần lợng tiền cung ứng trong nền kinh tế
3.2 Mục tiêu ổn định lãi suất, giá cả, thị trờng tài chính và thị trờng ngoại hối.
Mục tiêu ổn định lãi suất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dân ctrong việc tính toán mua bán lâu dài các tài sản lớn và tiện cho các doanhnghiệp trong việc khảo sát nhu cầu thị trờng để dự báo lập kế hoạch sảnxuất kinh doanh Với xu hớng phát triển loại hình mua bán trả góp để tăngnhanh vòng quay vốn và tạo công ăn việc làm cho ngời lao động thì việc ổn
định lãi suất ngày càng quan trọng
Mục tiêu ổn định giá cả là điều ai cũng mong muốn vì khi giá cả tănglên (lạm phát) sẽ gây nên tình trạng bấp bênh trong nền kinh tế Khi đó cảngời tiêu dùng và những ngời lập kế hoạch phát triển kinh tế vĩ mô cũng nh
vi mô đều khó ra quyết định Hơn nữa các nhóm ngời khác nhau trong xãhội liên quan đến các nhóm hàng có sự tăng giá khác nhau sẽ gây nênnhững cạnh tranh căng thẳng không đáng có nhằm giữ quyền lợi của mìnhgây mất ổn định xã hội Tất nhiên hoàn toàn không có lạm phát cũng khôngtốt vì khi đó sẽ không có sự tăng cung tiền và do đó không thể có sự tăngtổng sản phẩm trong nền kinh tế, không có sự đầu t mở rộng nên không tạocông ăn việc làm Vì vậy mục tiêu hiện nay của CSTT ở mọi quốc gia làgiữ cho lạm phát ở một mức độ vừa phải tuỳ theo đánh giá của mỗi nớc vềtình hình kinh tế nớc mình, thông thờng tỷ lệ này dao động dới 10% (lạmphát vừa phải một con số)
Mục tiêu ổn định thị trờng tài chính luôn đợc các quốc gia có nềnkinh tế phát triển đặc biệt quan tâm vì các nớc này có những thị trờng tàichính phát triển cao, lu chuyển một khối lợng lớn vốn của đất nớc Trongcác thị trờng này thờng xuyên có những biến động lớn về lãi suất và đâycũng là xu hớng trong những năm gần đây nên các tổ chức kinh doanh hoạt
động trong khu vực này chịu rủi ro cao hơn, mỗi sự mất ổn định về lãi suất
đều có thể làm cho một tổ chức kinh doanh tài chính gặp khó khăn lớn vớicác trái khoán dài hạn và cầm cố mà họ nắm giữ Khi đó rất cần có sự canthiệp giúp đỡ của các NHTƯ để cho các thị trờng hoạt động ổn định thôngqua các khoản cho vay và sự điều chỉnh lãi suất của NHTƯ Với các nớc cóthị trờng tài chính cha phát triển thì mục tiêu này cha thực sự cấp bách nhngkhông thể không quan tâm vì đó là bài học của các nớc đi trớc mà chắcchắn mỗi quốc gia sẽ phải trải qua trong quá trình phát triển kinh tế
Mục tiêu ổn định thị trờng ngoại hối cũng không kém phần quantrọng Khi NHTƯ can thiệp vào thị trờng ngoại hối thì họ thu đợc hoặc mất
đi một lợng dự trữ ngoại hối trong tổng lợng tiền dự trữ của mình, từ đó ảnh
Trang 4hởng đến cơ số tiền tệ và sau đó là cung ứng tiền tệ, cha kể đến ảnh hởng do
sự biến động của tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia
đó Khi tỷ giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ mạnh càng tăng thì cácnhà xuất khẩu của nớc đó đợc lợi do u thế giá cạnh tranh của hàng hoá, còncác nhà nhập khẩu của nớc đó lại chịu thiệt, và trên tổng thể nếu quốc gianày nhập siêu thì có thể phải chịu thiệt nhiều hơn cái lợi thu đợc Nếu mộtquốc gia có cán cân thanh toán thiếu hụt, tức là phải mất đi dự trữ ngoại tệmạnh cũng làm cho tỷ giá của đồng tiền nớc đó tăng lên, hoặc phải thựchiện CSTT thắt chặt, rồi sau khi ổn định cán cân thanh toán lại thực hiệnCSTT lỏng, gây ra một sự mất ổn định trong nền kinh tế vốn đã đầy nhữngbiến động
3.3 Mục tiêu tăng trởng kinh tế.
Tăng trởng kinh tế là sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc dân, và chỉ
có thể đạt đợc khi các mục tiêu trên đợc kết hợp hài hoà Một sự tăng việclàm, ổn định giá cả và lạm phát, ổn định thị trờng tài chính cũng nh lãi suấttiền gửi và tỷ giá đồng nội tệ sẽ đảm bảo cho một sự tăng trởng của nềnkinh tế
Cần lu ý là không phải tất cả các mục tiêu luôn có sự thống nhất vớinhau, đặc biệt là trong thời gian ngắn Sự tăng việc làm đòi hỏi phải cóCSTT lỏng lại mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá cả, kiềm chế lạm phátcần CSTT chặt Về lâu dài thì sự mâu thuẫn này có thể đợc giải quyết thôngqua việc sử dụng kết hợp với các chính sách khác, đặc biệt là chính sách tàikhoá của ngân sách nhà nớc Đồng thời tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể mỗi quốcgia có sự chọn lựa những mục tiêu u tiên trong từng giai đoạn phát triển củanền kinh tế để chọn lựa CSTT là chặt hay lỏng, và chặt hay lỏng ở mức độnào, trong thời gian bao lâu
đoái
4.1 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ giữa mức tiền dự trữ bắt buộc so vớitổng số tiền gửi của khách ở NHTM, tỷ lệ này do pháp luật quy định, sốtiền dự trữ bắt buộc đó không đợc sử dụng vào hoạt động tín dụng
Trang 5Để xem xét cơ chế tác động của tỷ lệ này đến tổng cung tiền ta hãyxem xét cơ chế tạo tiền gửi của NHTM Trong nền kinh tế thì có tới khoảng90-95% tổng lợng tiền lu hành và tiền gửi không kỳ hạn (hay tiền gửi có thểphát séc) ở các NHTM (gọi là khối tiền M1) là do các NHTM tạo ra, còn lạitiền lu hành do các NHTƯ tạo ra chỉ chiếm khoảng 5-10% của M1.
Ta có:
M1= Tiền gửi có thể phát séc + Tiền mặt lu hành
Tiền gửi có thể phát séc= Tiền dự trữ * (1/Tỷ lệ dự trữ bắt buộc)
Tiền dự trữ = Mọi giấy bạc do NHTƯphát hành đang lu lại trong hệ
thống ngân hàng (do NHTM dự trữ)
Ta cũng có thể viết:
M1= Cơ số tiền tệ * hệ số nhân tiền tệ
Với: Hệ số nhân tiền tệ= 1/ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tiền NHTƯ(Tổng tài sản nợ)= Tiền mặt lu hành+ Tiền dự trữ
Cơ số tiền tệ = Tổng tài sản nợ NHTƯ+ tài sản nợ tiền tệ của
kho bạc Nhà nớc
Thờng ngời ta chỉ xem xét đến cơ số tiền tệ nh là tổng tài sản nợ củaNHTƯ vì thực tế là tổng nợ tài sản tiền tệ của kho bạc nhà nớc chỉ chiếmkhông quá 10% của cơ số tiền tệ này
Ngoài ra tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn ảnh hởng tới lãi suất của cácNHTM, vì sự thay đổi tỷ lệ này làm cho lợng tiền có khả năng cho vay củangân hàng và do đó lãi suất cho vay của ngân hàng thay đổi, làm cho lợngcung tiền cho nền kinh tế thay đổi, chẳng hạn các nhà đầu t tranh thủ cácnguồn vốn huy động với lãi suất thấp hơn
Nh vậy ta có thể thấy sự thay đổi của tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể làm
ảnh hởng đến lợng tiền cung ứng cho nền kinh tế Việc sử dụng tỷ lệ nàycòn có thuận lợi là NHTƯ đợc chủ động quyết định, và bảo đảm sự bình
đẳng giữa các ngân hàng Tuy nhiên còn một số nhợc điểm lớn khi áp dụng
nh sự thiếu linh hoạt do việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc có tính chất pháp
lý buộc phải đợc quốc hội thông qua không thể nhanh chóng, việc áp dụngchỉ phù hợp khi NHTƯ muốn điều chỉnh một lợng tiền quy mô lớn, lại gâychi phí tốn kém và rất phức tạp cho quản lý, hoặc nếu cần tăng tỷ lệ này sẽlàm cho các NHTM gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo tỷ lệ dự trữ.(Hơn nữa, xem xét kỹ hơn ta sẽ thấy rằng hệ số nhân tiền tệ không phản
ánh đúng sự tăng lợng tiền cung ứng cho nền kinh tế Nó chỉ đạt đợc một
sự tăng nh thế với giả định đồng tiền tạo ra chỉ đợc luân chuyển trong hệthống ngân hàng và không có sự giữ lại phần tiền dự trữ vợt quá mức dự trữbắt buộc trong các NHTM Điều này là quá lý thuyết đến mức hầu nhkhông thể xảy ra)
Trang 64.2 Chính sách chiết khấu
Chính sách chiết khấu là chính sách NHTƯ cho NHTM vay vốn dớihình thức tái chiết khấu, trên cơ sở đó làm thay đổi tiền dự trữ trong hệthống NHTM, từ đó làm thay đổi lợng cung tiền trong nền kinh tế
Cơ chế tác động của chính sách chiết khấu là thông qua việc tăng haygiảm lãi suất tái chiết khấu và khối lợng vay chiết khấu mà NHTƯ làm chocác NHTM tăng hay giảm lãi suất vay (huy động vốn) và cho vay (sử dụngvốn) của mình, từ đó làm thay đổi lợng tiền vay và cho vay, làm thay đổi l-ợng cung tiền tệ Một sự tăng lên của cho vay chiết khấu làm cho cơ số tiền
tệ tăng lên vì tăng lợng tiền dự trữ trong các NHTM, làm cho lợng tiền cungứng có thể tăng lên Qua việc thực hiện cho vay chiết khấu với các đối tợngkhác nhau nhằm đáp ứng từng nhóm NHTM về nhu cầu tạm thời, nhu cầuthời vụ và nhu cầu cho hoàn cảnh đặc biệt khác Thông thờng thì lãi suất táichiết khấu thờng thấp hơn lãi suất chung trên thị trờng ngân hàng, và có thể
là cơ hội cho một số ngân hàng đi vay từ NHTƯ rồi cho vay lại lấy lãichênh lệch- điều này rất cần đợc hạn chế vì nó làm giảm hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng Nó cũng có thể là cơ sở để các nhà đầu t dự
đoán xu hớng của lãi suất để có các quyết định hợp lý Và một vai trò khácvô cùng quan trọng của chính sách chiết khấu là với t cách ngời cho vaycuối cung, NHTƯ có thể giúp cho các NHTM chống đỡ đợc những cơnkhủng hoảng tài chính- mà nguyên nhân có thể từ phía các ngân hàng hoặckhông- có thể dẫn đến sụp đổ hàng loạt ngân hàng do thiếu hụt tiền dự trữ
để thanh toán, khi đó các ngân hàng sẽ đợc NHTƯ lựa chọn u tiên cho vaylàm tăng dự trữ và do đó làm tăng khả năng thanh toán tạm thời Ngày naycác cuộc sụp đổ của các ngân hàng ngày càng nhiều, đặc biệt là các ngânhàng nhỏ ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển thì vai trò này càngtrở nên quan trọng
Việc thực hiện chính sách chiết khấu có u điểm là linh hoạt hơn hẳn
sử dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, và vẫn bảo đảm vai trò của NHTƯ trong việcgiám sát, quản lý các NHTM, đặc biệt trong hoạt động tín dụng (vay và chovay) Qua chính sách chiết khấu NHTƯ cũng có thể tác động điều chỉnh lạicơ cấu đầu t trong nền kinh tế với việc u tiên cho các ngân hàng hoạt độngcho vay với các dự án trong các lĩnh vực đó Hoặc với vai trò ngời cho vaycuối cùng cũng là một u điểm lớn của chính sách chiết khấu
Nhng chiết khấu cũng có nhợc điểm là NHTƯ cha đợc thực sự chủ
động trong việc điều chỉnh lợng tiền cung ứng, vì còn phụ thuộc vào cácNHTM và các doanh nghiệp cũng nh dân c Do đó việc kiểm soát lợng tiềncung ứng trở nên vất vả hơn Từ thông báo về lãi suất chiết khấu đến sựphản ứng của các NHTM làm thay đổi về lãi suất vay và cho vay, thay đổi
về lợng tiền vay chiết khấu mà NHTƯ không thể tự quyết định đợc, và cuốicùng là NHTƯ cho vay chiết khấu thì dễ nhng thu hẹp lợng tiền cung ứngbằng chiết khấu thì không phải là đơn giản
Trang 7Hiện nay có hai quan điểm cải cách chiết khấu Quan điểm thứ nhất
là bỏ chính sách chiết khấu và chỉ cần có một tổ chức bảo hiểm cho cácngân hàng để tránh sự sụp đổ của các ngân hàng, từ đó tránh đợc sụp đổ tàichính, nhng thực tế không tổ chức bảo hiểm nào có thể đủ lớn để bảo hiểmcho tất cả các ngân hàng nếu có sụp đổ tài chính xảy ra, và hơn nữa các sụp
đổ tài chính có thể không hẳn có nguyên nhân từ sự sụp đổ các ngân hàng.Quan điểm thứ hai là có thể ràng buộc lãi suất chiết khấu với lãi suất thị tr-ờng để giảm sự biến động do chênh lệch giữa lãi suất chiết khấu và lãi suấtthị trờng, làm giản đơn các thủ tục vay vốn chiết khấu, và không còn nhữngnhận định sai lầm về xu hớng của lãi suất chiết khấu, các ngân hàng cũngkhông còn cơ hội để đi vay chiết khấu kiếm lợi vì sẽ bị phạt Quan điểm thứhai đang đợc ủng hộ tuy cha đợc áp dụng thử nghiệm
4.3 Nghiệp vụ thị trờng tự do
Trong nghiệp vụ này NHTƯ mua bán các chứng khoán, trái phiếutrên thị trờng tài chính làm cho cơ số tiền tệ thay đổi, và là nguồn chính gâynên những thay đổi trong cung ứng tiền tệ Việc mua trên thị trờng tiền tệ sẽlàm cho cơ số tiền tệ của NHTƯ tăng lên (do phát hành thêm tiền) và do đólàm tăng cung tiền tệ
Có hai loại nghiệp vụ thị trờng tự do là nghiệp vụ thị trờng tự do năng
động nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ, và nghiệp vụ thị trờng tự dothụ động nhằm bù đắp những chuyển động của các nhân tố khác đã ảnh h-ởng đến cơ số tiền tệ Thông qua các xem xét về tổng số tiền dự trữ trong hệthống ngân hàng cũng nh lãi suất, các dự đoán giá cả chứng khoán mà th-ờng là tín phiếu ngắn hạn của kho bạc nhà nớc vì có tính lỏng cao và độ rủi
ro thấp đồng thời có khối lợng lớn- ngoài ra còn có các chứng khoán vàgiấy tờ có giá khác cũng có thể đợc giao dịch, và cuối cùng là qua quyết
định về lợng tăng cung tiền hay thắt chặt tiền tệ nh thế nào để NHTƯ tiếnhành các nghiệp vụ mua bán trên thị trờng tự do để đạt mục tiêu của mình
Ưu điểm của nghiệp vụ thị trờng tự do là NHTƯ có thể kiểm soáthoàn toàn lợng tiền tệ mình cung ứng ra thị trờng, là một nghiệp vụ linhhoạt và chính xác có thể đợc sử dụng bất cứ lúc nào, giúp cho NHTƯ luônchủ động trong điều tiết lợng cung tiền Và nó cũng có thể tác động để đạt
đợc những mục tiêu về dự trữ cũng nh cơ số tiền tệ Hơn nữa nếu có sai lầmcũng rất dễ sửa chữa bằng nghiệp vụ mua bán ngợc lại Chi phí cho nghiệp
vụ này cũng là ít hơn so với hai nghiệp vụ trớc, và lại đơn giản dễ thực hiệnhơn Vì thế đây luôn là nghiệp vụ đợc các NHTƯ sử dụng nhiều nhất vàhiệu quả nhất, can thiệp vào phần lớn lợng tiền cung ứng
Nhợc điểm duy nhất của nghiệp vụ này là việc mua bán trên thị trờngkhông chỉ phụ thuộc vào NHTƯ mà còn phụ thuộc vào những ngời mua vàbán khác, vì khi kinh doanh ai cũng phải tính đến lợi nhuận, còn NHTƯcũng không thể mua bán với bất cứ mức giá nào
Trang 8x% + y%= z%
và NHTƯ sẽ phân bổ các hạn mức tín dụng cho các NHTM Đây là công cụcan thiệp trực tiếp mà NHTƯ sử dụng khi ba công cụ trên đã không có hiệuquả
Ưu điểm duy nhất của công cụ này là giúp cho NHTƯ quản lý và
điều chỉnh lợng tiền cung ứng (M1) khi tất cả các công cụ tác động giántiếp nêu trên đều đã vì những lý do nào đó mà hoạt động không hiệu quả, vàthể hiện một trình độ công nghệ ngân hàng kém Tuy chỉ có một u điểm nh-
ng nhợc điểm của công cụ này có thể kể ra rất nhiều nh: triệt tiêu động lựccạnh tranh giữa các ngân hàng vì đánh đồng giữa các ngân hàng hoạt độngtốt và kém để phân chỉ tiêu tín dụng, rồi hạn mức tín dụng cố định mà l ợngcầu tiền biến động cũng gây ra những hậu quả xấu, hơn nữa có thể các ngânhàng hoạt động kém không sử dụng hết hạn mức tín dụng gây lãng phí, cha
kể đến các hoạt động tín dụng không lành mạnh nằm ngoài pháp luật có thểxảy ra, các NHTM cũng a lựa chọn những dự án lớn cũng nh dự án đầu tcần vay tiền a chọn ngân hàng hoạt động tốt gây sai lệch trong đánh giá đầu
t, làm khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và dự án nhỏ trong việc vayvốn
4.5 Quản lý lãi suất NHTM
Biện pháp NHTƯ quản lý lãi suất NHTM cũng chỉ bất đắc dĩ mới
đ-ợc sử dụng Theo đó NHTƯ trực tiếp quy định lãi suất của các NHTM quacác cơ chế về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, chiết khấu và cho vay với các NHTM,thậm chí là quy định trực tiếp lãi suất của NHTM Những biện pháp mạnh
nh vậy có thể làm thay đổi lợng cung tiền, nhng là một sự can thiệp quá thôbạo vào hoạt động của NHTM, làm giảm tính độc lập tự chủ của NHTMtrong hoạt động của mình huy động vốn và cho vay) Hơn nữa lãi suất cố
định làm mất tính cạnh tranh giữa các ngân hàng, làm giảm hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng, cũng nh làm mất cơ hội làm giảm lãi suấttrên thị trờng vì không có sự cạnh tranh về giá cả tiền vay(lãi suất) đối vớingời đi vay
Hai công cụ sau cùng chỉ đợc áp dụng sau cùng trong cơ chế thị ờng để can thiệp trực tiếp vào những mục tiêu trung gian của CSTT khi cónhững biến động lớn xảy ra mà NHTƯ không thể sử dụng ba công cụ đầutiên tác động gián tiếp thông qua các tổ chức tín dụng trung gian có hiệu
Trang 9tr-quả Ngoài ra nó chỉ đợc áp dụng trong cơ chế quản lý kinh tế bao cấp củacác quốc gia xã hội chủ nghĩa trong những năm trớc đây.
Có thể nói việc sử dụng các công cụ nào để điều hành CSTT của mỗiquốc gia là tuỳ theo những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng nớc để vậndụng linh hoạt sao cho đạt hiệu quả cao nhất Tên gọi hay cách thức sửdụng các công cụ có thể biến tớng nhng mục tiêu cuối cùng của các CSTT
đều giống nhau
Phần II Thực trạng điều hành CSTT ở Việt Nam
Tồn tại và giải pháp
1 Sơ lợc quá trình phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam.
Mới đây các ngân hàng quốc doanh Việt Nam đã tổ chức lễ kỷ niệm
50 năm thành lập ngành 6/5/1951- 6/5/2001 Trong quá trình hoạt động củamình, ngành ngân hàng Việt Nam có thể chia ra các thời kỳ trớc và sau khi
đổi mới
Thời kỳ trớc khi đổi mới có thể đợc tính ngay từ khi cách mạng thángTám thành công cho đến trớc Đại hội Đảng toàn quốc năm 1986 Ngay khicách mạng mới giành đợc chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìnthấy nhu cầu cần thiết nắm lấy nền tài chính để có điều kiện thực hiện cuộckháng chiến của dân tộc, vì thế mặc dù không chiếm lĩnh nhà băng ĐôngDơng thuộc Pháp nhng với quan điểm chính quyền cách mạng phải có mộtngân hàng quốc gia lớn mạnh đã khẩn trơng chuẩn bị một số biện pháp vềtiền tệ và tín dụng, vừa đảm bảo đáp ứng yêu cầu trớc mắt của cuộc khángchiến, vừa chuẩn bị tiền đề cho sự ra đời của ngân hàng quốc gia Việt Nam
Đến đầu tháng 5/1951, để đáp ứng những yêu cầu mới của cuộc cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SLngày 6/5/1951 thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam Thực hiện sắc lệnhtrên, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có Nghị định số 94/TTgngày 27/5/1951 quy định hệ thống tổ chức của Ngân hàng quốc gia, trong
đó có các Ngân hàng xuất nhập khẩu đặt tại các vùng giáp ranh giữa vùng
tự do và vùng địch tạm chiếm với nhiệm vụ đấu tranh tiền tệ giữa vùng ta và
địch nhằm góp phần trao đổi hàng hoá dịch vụ, phục vụ cuộc kháng chiến
Đến năm 1954, vai trò của các ngân hàng này chấm dứt, chúng ta tiếp quảnNgân hàng Đông Dơng thuộc Pháp, riêng hoạt động quản lý ngoại hối đợcgiao cho Sở quản lý ngoại hối trực thuộc Ngân hàng quốc gia Việt Nam(thành lập theo Nghị định 43/TTg ngày 20/1/1955 của Chính phủ) Ngày26/10/1961, Hội đồng Chính phủ có Nghị định số 171/CP đổi tên Ngânhàng quốc gia Việt Nam thành Ngân hàng nhà nớc (NHNN) Việt Nam, đổitên Sở quản lý ngoại hối thành Cục ngoại hối trực thuộc NHNN Lúc này hệthống ngân hàng Việt Nam là hệ thống ngân hàng một cấp, NHNN là ngân
Trang 10hàng duy nhất đảm nhiệm tất cả các nghiệp vụ ngân hàng, vừa làm chứcnăng quản lý nhà nớc về tiền tệ tín dụng, vừa làm chức năng kinh doanh.Trong bộ máy tổ chức nhà nớc Việt Nam quy định NHNN là cơ quan trựcthuộc Chính phủ, Thống đốc ngân hàng là thành viên Chính phủ
Sau đó để mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế đối ngoại, ngày30/10/1962, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/CP thành lậpNgân hàng ngoại thơng Việt Nam để có một ngân hàng có t cách pháp nhântrong các quan hệ giao dịch thanh toán quốc tế, và đến ngày 1/4/1963 Ngânhàng ngoại thơng chính thức xuất hiện trên thơng trờng quốc tế Ngân hàngngoại thơng là một NHTM hoạt động với t cách một pháp nhân độc lập, cóvốn và có trụ sở độc lập với NHNN Việt Nam, có Hội đồng quản trị, có Ban
điều hành và hoạt động theo Điều lệ đợc công bố Tuy nhiên trong quan hệ
đối nội thì ngân hàng ngoại thơng vẫn đảm nhiệm chức năng của Cục ngoạihối, làm đơn vị tham mu cho NHNN về các chính sách quản lý ngoại tệ vàkinh tế đối ngoại, cho đến năm 1977 khi NHNN thành lập Vụ kinh tế ngoại
tệ thì ngân hàng ngoại thơng mới hoạt động nh một NHTM thuần tuý
Ngoài ra, trong thời kỳ bao cấp còn có một ngân hàng khác trựcthuộc NHNN là Ngân hàng đầu t & phát triển, đợc thành lập theo Nghị định
số 177/TTg ngày 26/4/1957 của Thủ tớng Chính phủ Ban đầu tên gọi củangân hàng này là Ngân hàng kiến thiết Việt Nam từ ngày 26/4/1957, rồi đổithành Ngân hàng Đầu t và xây dựng Việt Nam từ ngày 26/4/1981, đến ngày14/11/1990 chính thức lấy tên là Ngân hàng đầu t & phát triển Việt Nam.Ngân hàng đợc thành lập với mục tiêu nh tên gọi của nó là phục vụ chocông cuộc xây dựng và kiến thiết đất nớc, bảo đảm giao thông vận tải, xâydựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ chiến tranh, sau đó là công cuộc khôiphục đất nớc kể từ sau ngày giải phóng Nh vậy chức năng hoạt động ban
đầu của ngân hàng này không phải là một NHTM, tuy nó còn đợc thành lậpsớm hơn cả Ngân hàng ngoại thơng
Nh vậy, hệ thống ngân hàng cho đến năm 1964 đã chia ra NHNN,Ngân hàng ngoại thơng và Ngân hàng kiến thiết Nhìn chung các ngân hàng
đã thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn đất nớc có chiếntranh, góp phần không nhỏ vào sự lu thông hàng hoá tiền tệ, ổn định nềnkinh tế đất nớc, xây dựng đợc một nền kinh tế hậu phơng vững chắc để hỗtrợ cho tiền tuyến Khi đất nớc thống nhất năm 1975, cũng hệ thống ngânhàng này đã tiếp quản hệ thống tài chính ngân hàng của miền Nam, mởrộng hoạt động thống nhất trên toàn quốc
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế ngày càng lớn mạnh, quan hệkinh tế ngày càng mở rộng, đồng thời do tình hình trong nớc và quốc tế mà
đến đầu những năm 80 thì chúng ta đã nhận thấy phải có sự phân biệt rạchròi giữa chức năng quản lý nhà nớc và chức năng kinh doanh của các ngânhàng, không thể để tình trạng ngân hàng một cấp hoạt động với hai chứcnăng mà thực tế không thể chung chạ đợc Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần
Trang 11VI năm 1986 đa ra chủ trơng thực hiện đờng lối kinh tế đổi mới, đến ngày26/3/1988 Hội đồng Bộ trởng ban hành Nghị định 53/HĐBT đã đánh dấumột sự chuyển đổi của hệ thống ngân hàng một cấp thành hệ thống ngânhàng hai cấp, phân định rạch ròi hai chức năng quản lý tiền tệ và kinhdoanh tiền tệ Vai trò lịch sử của ngân hàng một cấp đã chấm dứt, cần cómô hình ngân hàng hai cấp cho phù hợp với thời kỳ mới Nhng do các bấtcập về t duy và cán bộ lúc đó chỉ có vậy nên bản thân Nghị định 53 cha thểthiết kế đợc hệ thống ngân hàng hai cấp Đến năm 1990, Chủ tịch Hội đồngNhà nớc CHXHCNVN chính thức ban hành hai pháp lệnh về ngân hàng làPháp lệnh NHNN và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công tytài chính, khẳng định sự ra đời mô hình ngân hàng hai cấp theo cơ chế thịtrờng ở nớc ta là NHNN và NHTM, với sự ra đời của các NHTM quốcdoanh mới là Ngân hàng công thơng và Ngân hàng nông nghiệp, cùng hoạt
động với các NHTM khác là Ngân hàng đầu t & phát triển và Ngân hàngngoại thơng Đến năm 1997 thì chúng ta có Luật NHNN và Luật các TCTD
đợc thông qua
Kể từ đây NHNN hoạt động theo Luật NHNN và có chi nhánh ở 61tỉnh thành trong cả nớc, độc lập với chính quyền địa phơng và chỉ chịu sựchỉ đạo theo ngành dọc từ NHTƯ NHNN là cơ quan trực thuộc Chính phủ,Thống đốc NHNN là thành viên của Chính phủ Ngành ngân hàng cũng đợc
tổ chức theo ngành dọc, quan hệ giữa các UBND và HĐND địa phơng đốivới chi nhánh NHNN ở địa phơng không phải là quan hệ lãnh đạo- phụctùng, mà các chi nhánh NHNN chỉ có trách nhiệm cố vấn cho chính quyền
địa phơng và thực hiện các nghiệp vụ của NHNN đối với các NHTM địaphơng Bên cạnh NHNN, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) cũng đãphát triển mạnh mẽ, có đủ mọi thành phần kinh tế, bao gồm bốn NHTMquốc doanh là Ngân hàng ngoại thơng, Ngân hàng công thơng, Ngân hàngNông nghiệp & phát triển nông thôn, và Ngân hàng đầu t & phát triển, hơn
50 NHTM cổ phần, hơn 20 chi nhánh của các ngân hàng nớc ngoài, vănphòng đại diện thuộc 47 ngân hàng và công ty tài chính của 21 quốc gia,cha kể đến các ngân hàng liên doanh và các công ty tài chính, các ngânhàng chính sách nh Ngân hàng phục vụ ngời nghèo, Ngân hàng phát triểnnhà ở ĐBSCL Ngoài ra còn có hàng ngàn các quỹ tín dụng cơ sở, một quỹtín dụng trung ơng, các quỹ tín dụng khu vực tỉnh thành,
Đối với bốn NHTM quốc doanh, hiện nay tỷ phần thị trờng của bốnngân hàng này chiếm tới khoảng 80% thị phần toàn ngành Mặc dù ban
đầu khi đợc thành lập mới nh Ngân hàng công thơng và Ngân hàng Nôngnghiệp, hoặc thành lập lại nh Ngân hàng ngoại thơng và Ngân hàng đầu t &phát triển, mục tiêu hoạt động của mỗi ngân hàng theo đúng với tên gọi của
nó chỉ chuyên trách về một mảng trong nền kinh tế, song thực tế hoạt độngcho thấy mục tiêu đó là không phù hợp Vì thế khi Thủ tớng Chính phủ raQuyết định 90/TTg ngày 7/3/1994 cho các doanh nghiệp lớn nhà nớc hoạt
Trang 12động theo mô hình Tổng công ty đã quyết định thành lập lại các ngân hàngnày hoạt động theo mô hình Tổng công ty nhà nớc, có các chi nhánh là các
đơn vị thành viên có thể hạch toán độc lập và có thể kinh doanh tổng hợptrên nhiều lĩnh vực Hiện nay các ngân hàng đợc phép đầu t hoặc cho vayvào những lĩnh vực mà ngân hàng và khách hàng vay vốn của ngân hàng cóliên quan và hoạt động có hiệu quả Các ngân hàng cũng có thể hợp tác vớinhau để đầu t cho những dự án lớn mà một ngân hàng không thể đủ khảnăng cho vay hoặc cần phải phân tán rủi ro đầu t
2 Thực hiện CSTT thời kỳ trớc đổi mới.
Khi cách mạng giành đợc chính quyền, giấy bạc Đông Dơng của Nhàbăng Đông Dơng thuộc Pháp phát hành vẫn đợc Chính phủ chủ trơng cho luthông thêm một thời gian vì đó là tài sản của nhân dân Sau một thời gianngắn chuẩn bị, đến ngày 31/1/1946 giấy bạc Việt Nam do chúng ta pháthành đã đợc đa ra lu thông tại miền Nam Trung bộ vì nơi đây cách mạngdiễn ra triệt để hơn, không có sự phá hoại tiền tệ của các lực lợng phản
động, đến ngày 16/8/1946 Quốc hội đã chính thức cho phát hành giấy bạctài chính trong toàn quốc, lu hành rộng rãi ở Bắc Bộ, Trung Bộ và một phầnNam Bộ Trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, do những nguyênnhân khách quan mà chính quyền cách mạng thu không đủ chi, phải dựavào việc phát hành giấy bạc Năm 1946 phát hành 606 triệu đồng tài chính,
đến năm 1950 phát hành tới 11.600 triệu Đồng tiền mất giá vào những năm1949-1950 đã ảnh hởng đến đời sống nhân dân Sau khi Ngân hàng quốcgia Việt Nam đợc thành lập đã thực hiện phát hành giấy bạc ngân hàng từBắc Trung bộ trở ra, thu về giấy bạc tài chính với tỉ lệ là 1đồng ngân hàng =
10 đồng tài chính Đây là cuộc cải cách tiền tệ đầu tiên của Việt Nam, làmcho giá cả đợc bình ổn, cải thiện đời sống nhân dân (Cùng thời gian đó,trong vùng Pháp tạm chiếm tỷ lệ lạm phát đã tăng cao, năm 1954 phát hànhgiấy bạc tăng hơn 4 lần so với năm 1945, chỉ số giá bằng 732% năm 1945.)
Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn độclập, Chính phủ đã tiến hành những biện pháp chấn chỉnh thơng nghiệp, tàichính và tiền tệ, song song với việc cải tạo lại nền kinh tế trên tất cả các mặtcông nông thơng nghiệp, giao thông vận tải và xây dựng cơ bản Nhà nớc
đã thực hiện việc thống nhất và ổn định tiền tệ, thu hồi lại các loại tiền: tiền
Đông Dơng, tiền tín phiếu, tiền ngân hàng nhân dân Nam Bộ, lu hành giấybạc Trung ơng phát hành năm 1951 Nhà nớc còn tăng cờng quản lý tiềnmặt và mở rộng quan hệ tín dụng Trong hoàn cảnh đó chúng ta đã thựchiện cuộc cải cách tiền tệ lần thứ hai Ngày 27/2/1959, Chính phủ cho phépthay đổi đơn vị tiền tệ, 1đồng ngân hàng mới= 1000 đồng ngân hàng cũ, bắt
đầu tiến hành từ ngày 28/2/1959 Cuộc cải cách này nhằm nâng cao sứcmua của đồng tiền, rút bớt một số tiền mặt trong lu thông, làm cho quan hệhàng tiền đợc cân đối hơn; nhà nớc nắm đợc sự phân bố tiền tệ trong nhân
Trang 13dân để điều hoà lu thông tiền tệ, đồng thời nhà nớc nắm đợc nguồn tiềntrong tay giai cấp t sản, lúc đó đang đợc cải tạo Các ngân hàng cũng đợcthành lập, ngay trong những năm đầu hoạt động đã tăng cờng huy động vốnnhàn rỗi trong nhân dân, năm 1964 bằng 1,5 lần năm 1960, cho vay ngắnhạn tăng từ 5.601,7 triệu lên 7.489,5 triệu đồng một năm, còn cho vay dàihạn tăng từ 24 triệu đồng năm 1960 lên 45,1 triệu đồng năm 1962.
Điều cần lu ý là trong suốt giai đoạn đất nớc có chiến tranh thì hoạt
động của Ngân hàng quốc gia Việt Nam chủ yếu là ở miền Bắc của đất nớc.Thực hiện chủ trơng nền tài chính tiền tệ phân tán, trong những năm khángchiến chống Pháp đã hình thành các khu vực tiền tệ riêng biệt: vùng Bắc bộ
và Bắc Trung bộ lu hành giấy bạc tài chính do trung ơng phát hành, các tỉnhliên khu 5 ở các tỉnh Nam Trung bộ lúc đầu lu hành giấy bạc tài chính trung
ơng và sau là tín phiếu do liên khu phát hành, còn trong Nam bộ năm 1947Chính phủ cho phép phát hành giấy bạc riêng Việc lu hành tiền tệ nh vậy
đã linh hoạt đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến, chống lại âm mu pháhoại tiền tệ của địch đối với đồng tiền của ta, và ngăn chặn sự lợi dụngchênh lệch giá giữa các khu vực Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ thì cáccán bộ tài chính ở miền Nam đã tìm những biện pháp kinh doanh để lấy tiềncủa chính quyền nguỵ mua hàng hoá nhu yếu phẩm phục vụ cho lực lợngkháng chiến, đồng thời gây ra những tác động bất lợi cho nền kinh tế củachính quyền nguỵ
Trong nền kinh tế XHCN ở miền Bắc trớc năm 1975, và trên toànquốc kể từ sau năm 1975, Việt Nam thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tậptrung, vốn hoạt động của mỗi cơ quan xí nghiệp trong nền kinh tế đều làvốn do ngân sách nhà nớc cấp phát và cha thực hiện chế độ hạch toán kếtoán độc lập Khi đó, NHNN Việt Nam không có những nghiệp vụ điềuchỉnh lợng cung tiền tệ theo cơ chế thị trờng nh nghiệp vụ thị trờng tự do,nghiệp vụ chiết khấu, và thay đổi dự trữ bắt buộc Công cụ để thực hiệnCSTT chỉ có tỷ giá hối đoái và hạn mức tín dụng, ngoài ra là lãi suất ngânhàng trong việc huy động vốn và cho vay Với hạn mức tín dụng, NHNN táicấp phát vốn hàng năm theo chỉ tiêu cho các ngân hàng ngoại thơng và xâydựng, đồng thời dựa trên các chỉ tiêu kế hoạch mà xem xét việc cấp phátvốn cho ngân sách nhà nớc để phân bổ cho các cơ quan xí nghiệp trên toànquốc Lãi suất ngân hàng đợc điều chỉnh theo các kế hoạch để giữ tỷ giá cố
định gắn với đồng tiền của các nớc XHCN Còn về tỷ giá thì tỷ giá chínhthức của Việt Nam đầu tiên đợc công bố là ngày 25/11/1955, là tỷ giá giữa
đồng Việt Nam và nhân dân tệ Trung Quốc, nhằm giải quyết nhu cầu vềthanh toán giữa hai nớc trong những năm chống Pháp Sau đó tỷ giá giữa
đồng Việt Nam và các đồng tiền khác đợc thiết lập, bên cạnh tỷ giá chínhthức (tỷ giá mậu dịch) nhà nớc còn đa ra hai loại tỷ giá khác là tỷ giá phimậu dịch và tỷ giá kết toán nội bộ Nh vậy chế độ tỷ giá ở giai đoạn này là
đa tỷ giá, do đó đã gây không ít khó khăn cho việc quản lý điều hành của
Trang 14nhà nớc trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, kinh tế đối ngoại, đồng thời để lạihậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế.
Do những sai lầm trong phát triển kinh tế dới cơ chế kế hoạch hoátập trung đã làm cho lợng hàng hoá trong xã hội khan hiếm, năng suất lao
động không cao, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, kinh tế chậmphát triển Hoạt động phân phối lu thông bị rối ren, lạm phát nghiêm trọng,giá cả tăng nhanh, làm đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, trật tự xã hộigiảm sút, tiêu cực tăng lên Cuối những năm 70 nhà nớc ta đã nhận thấy
điều này và đã bớc đầu có những sửa đổi, bắt đầu là khoán 100 cho các hộnông dân Đến tháng 6 năm 1985, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ơng Đảngkhoá V đã đề ra những chủ trơng lớn về giá, lơng, tiền, coi đây là bớc độtphá để xoá bỏ hẳn cơ chế quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanhXHCN Tuy nhiên, việc tổng điều chỉnh giá- lơng- tiền trong nửa cuối năm
1985 đã phạm sai lầm về các giải pháp cụ thể trong việc định mức giá, địnhmức lơng, đổi tiền, xác định bớc đi trong điều chỉnh giá- lơng- tiền, thiếu sựchuẩn bị chu đáo, làm cho lạm phát không những không giảm mà còn tănglên, cao điểm là năm 1986 tỷ lệ lạm phát lên tới hơn 700% Hoạt động phânphối lu thông đã rối ren càng rối ren hơn Tuy hệ thống ngân hàng đã cónhiều cố gắng nhng không thể kiểm soát đợc nạn lạm phát Một trongnhững nguyên nhân chính là các ngân hàng lúc này có thể phát hành tiềntheo kế hoạch điều chỉnh lơng và đổi tiền, nhng khi lạm phát tăng lên thìchỉ có nghiệp vụ duy nhất để thu hẹp lợng tiền đã cung ứng ra là lãi suấtngân hàng Nhng khi lạm phát ở mức cao thì tâm lý của cả ngời gửi tiền vàvay tiền ngân hàng đều kém tin tởng, nên hiệu quả không cao Phải đến khi
có chủ trơng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đổi mới ờng lối phát triển kinh tế, coi nông nghiệp là mục tiêu hàng đầu và u tiênthực hiện ba chơng trình mục tiêu về lơng thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng
đ-và hàng xuất khẩu, trải qua các năm 1987, 1988 thực hiện có hiệu quả bớc
đầu thì tình hình lạm phát mới dần giảm xuống Ta hãy xem bảng thống kê
tỉ lệ lạm phát (%) và tăng trởng GDP (%) kinh tế sau: (GDP tính theo giánăm 1989)
Nguồn số liệu: Niên giám Tổng cục thống kê- Ban vật giá
3 Thực hiện CSTT thời kỳ đổi mới
Trong thời kỳ đổi mới, CSTT quốc gia đợc coi là bộ phận cấu thànhquan trọng của chính sách kinh tế vĩ mô, có vai trò trọng yếu trong việc ổn
định nền tiền tệ quốc gia Trong những năm đầu đổi mới, trớc nguy cơ lạm