1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010 2011

52 414 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhân tố hạn chế đa dạng hoá các thiết bị KSH...42 CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO BUS - Khảo sát người sử dụng khí sinh học ĐVT - Đơn vị tính KSH - Khí sinh học KTV - Kỹ thuật viên Q

Trang 1

CỤC CHĂN NUÔI - BỘ NN VÀ PTNT

-TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN HÀ LAN – SNV -

CHƯƠNG TRÌNH KHÍ SINH HỌC CHO NGÀNH

CHĂN NUÔI VIỆT NAM 2007-2012

NHÓM TƯ VẤN ĐỘC LẬP

Trưởng nhóm

Nguyễn Quang Dũng

Hà Nội, tháng 6 năm 2011

Trang 3

MỤC LỤC

Trang BÁO CÁO TÓM TẮT a

BÁO CÁO CHÍNH 1

1 SỰ CẦN THIẾT ĐIỀU TRA NGƯỜI SỬ DỤNG KSH 1

2 MỤC TIÊU KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KSH 1

2.1 Mục tiêu tổng quát 1

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 PHƯƠNG PHÁP 2

3.1 Đối tượng khảo sát 2

3.2 Phương pháp thực hiện 3

3.3 Trình tự thực hiện 3

3.3.1 Nghiên cứu tại bàn 3

3.3.2 Thu thập thông tin 3

3.3.3 Điều tra khảo sát và phân tích thông tin 5

3.3.4 Viết báo cáo 5

4 TỔNG QUAN NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM VÀ DỰ ÁN KHÍ SINH HỌC TẠI VIỆT NAM 6

4.1 Các thông tin chung về ngành chăn nuôi Việt Nam 6

4.2 Thông tin về KSH 7

4.2.1 Tầm quan trọng của công nghệ KSH 7

4.2.2 Ứng dụng công nghệ KSH ở Việt Nam 8

4.2.3 Giới thiệu về dự án KSH tại Việt Nam 9

5 KẾT QUẢ KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KSH 2010 – 2011 10

5.1 Thông tin về dự án KSH tại các tỉnh điều tra 10

5.1.1 Tỉnh Thái Nguyên 11

5.1.2 Thành phố Hà Nội 11

5.1.3 Tỉnh Bắc Ninh 11

5.1.4 Tỉnh Thái Bình 12

5.1.5 Tỉnh Thanh Hóa 12

5.1.6 Tỉnh Quảng Ngãi 13

5.1.7 Tỉnh Bến Tre 13

5.1.8 Tỉnh Kiên Giang 13

5.2 Thông tin cơ bản về hộ khảo sát 14

5.2.1 Nhân khẩu, lao động và thu nhập bình quân của hộ: 14

5.2.2 Năm xây dựng, kích cỡ và chi phí xây dựng công trình KSH 15

5.3 Các hoạt động của chương trình KSH 16

5.3.1 Ra quyết định 16

5.3.2 Kinh tế của hộ gia đình 17

5.3.3 Những khó khăn trong quá trình xây dựng 18

5.3.4 Đánh giá về tình hình đào tạo, tập huấn 18

5.3.5 Tình hình kết nối nhà vệ sinh với công trình KSH 21

5.3.6 Hoạt động của công trình KSH 21

5.3.7 Nguyên liệu nạp cho công trình 22

5.3.8 Bảo trì, bảo dưỡng 23

5.3.9 Thiết bị KSH 24

Trang 4

5.3.11 Đánh giá công nghệ KSH 27

5.3.12 Đánh giá dịch vụ của kỹ thuật viên và thợ xây 28

5.3.13 Bảo hành và trợ cấp 29

5.3.14 Nhận thức và sự hài lòng của người sử dụng 31

5.4 Đánh giá tác động 32

5.4.1 Tác động về kinh tế của công trình KSH 32

5.4.2 Tác động về xã hội 34

5.4.3 Tác động của công trình tới môi trường và sức khỏe 37

5.4.4 Tác động của công trình KSH tới sản xuất nông nghiệp 39

5.5 Phát triển thị trường KSH 40

5.5.1 Phân tích người sử dụng tiềm năng 40

5.5.2 Phân tích đánh giá về thị trường cung cấp trang thiết bị sử dụng KSH 42

6 KẾT LUẬN 43

BẢNG TRONG BÁO CÁO Trang Bảng 1 Số lượng phiếu của BUS 2010 - 2011 4

Bảng 2 Diễn biến đàn vật nuôi chính của Việt Nam 6

Bảng 3 Dự kiến quy mô đàn gia súc, gia cầm đến năm 2020 7

Bảng 4 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 11

Bảng 5 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi TP Hà Nội đến năm 2020 11

Bảng 6 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 12

Bảng 7 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Thái đến năm 2020 12

Bảng 8 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 12

Bảng 9 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 13

Bảng 10 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Bến Tre đến năm 2020 13

Bảng 11 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 14

Bảng 12 Một số thông tin chung về hộ điều tra 14

Bảng 13 Kích cỡ bình quân công trình theo năm xây dựng 15

Bảng 14 Những khó khăn của hộ trong xây dựng công trình KSH 18

Bảng 15 Đánh giá khả năng nắm bắt thông tin của nữ giới 20

Bảng 16 Đánh giá về công việc của KTV và thợ xây 28

Bảng 17 Thời gian hoàn vốn công trình KSH (tính bình quân cho CT 11 m3) 34

Trang 5

ĐỒ THỊ, HÌNH ẢNH TRONG BÁO CÁO

Trang

Đồ thị 1 Các tỉnh được lựa chọn khảo sát người sử dụng KSH 10

Đồ thị 2 Tỷ lệ hộ khảo sát theo năm xây dựng công trình KSH 15

Đồ thị 3 Kích cỡ bình quân của công trình (m3) 15

Đồ thị 4 Kinh phí xây dựng bình quân 1m3 công trình 16

Đồ thị 5 Nguồn thông tin mà hộ được tiếp cận về KSH 16

Đồ thị 6 Người được tham gia tập huấn của hộ 18

Đồ thị 7 Tỷ lệ nữ (đã tham gia tập huấn) trực tiếp vận hành công trình KSH (%) 19

Đồ thị 8 Tầm quan trọng của đào tạo và tập huấn 20

Đồ thị 9 Các nội dung tập huấn cần nâng cao 21

Đồ thị 10 Tình hình gắn nhà vệ sinh với công trình KSH 21

Đồ thị 11 Lý do tạm thời ngừng sản xuất KSH 22

Đồ thị 12 Loại nguyên liệu nạp cho công trình 22

Đồ thị 13 Tỷ lệ hộ nạp nguyên liệu không đúng cách (%) 23

Đồ thị 14 Kiểm tra áp suất của KSH 24

Hình 1 Áp kế chữ U và áp kế của Trung Quốc 24

Đồ thị 15 Tình hình khuấy đảo dịch, phá váng 24

Đồ thị 16 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định lựa chọn thiết bị 25

Đồ thị 17 Nguyên nhân thiết bị, phụ kiện của công trình bị hỏng (%) 25

Đồ thị 18 Sản lượng khí của các hộ điều tra 26

Đồ thị 19 Các cách xử lý khi thừa KSH 26

Đồ thị 20 Các cách sử dụng phụ phẩm 27

Đồ thị 21 Nguyên nhân các hộ chưa sử dụng phụ phẩm KSH 27

Đồ thị 22 Đánh giá về các loại công nghệ KSH tại địa phương 27

Đồ thị 23 Mục đích đến hộ dân của KTV và thợ xây (%) 29

Đồ thị 24 Các hình thức hỗ trợ mà hộ dân đã nhận được (%) 29

Đồ thị 25 Đánh giá chất lượng bảo hành (%) 30

Đồ thị 26 Thời gian hộ dân nhận được hỗ trợ từ thợ xây sau khi đề nghị 31

Đồ thị 27 Lý do hài lòng của người đang sử dụng 31

Đồ thị 28 Cơ sở để đầu tư xây dựng công trình KSH của các hộ chưa có KSH 32

Đồ thị 29 Chi phí nhiên liệu của hộ trước khi có công trình KSH 32

Đồ thị 30 Cơ cấu khoản tiền tiết kiệm từ việc mua nhiên liệu 33

Đồ thị 31 Số tiền tiết kiệm từ sử dụng phụ phẩm KSH bình quân hộ 33

Đồ thị 32 Thời gian tiết kiệm được bình quân mỗi ngày của hộ sử dụng KSH 35

Đồ thị 33 Sử dụng thời gian tiết kiệm được cho các hoạt động (%) 36

Đồ thị 34 Những hoạt động gây ô nhiễm môi trường ở địa phương 38

Đồ thị 35 Đánh giá các thay đổi về mùi hôi và bụi bẩn tại hộ gia đình 38

Đồ thị 36 Phương thức xử lý chất thải chăn nuôi của hộ điều tra 39

Đồ thị 37 Đánh giá chất lượng của bã thải KSH đối với cây trồng, vật nuôi (%) 40

Đồ thị 38 Những khó khăn khi xây dựng (%) 41

Đồ thị 39 Ảnh hưởng của hỗ trợ khi ra quyết định xây dựng công trình 41

Đồ thị 40 Các nhân tố chính để phát triển thị trường thiết bị KSH 42

Đồ thị 41 Các nhân tố hạn chế đa dạng hoá các thiết bị KSH 42

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO

BUS - Khảo sát người sử dụng khí sinh học

ĐVT - Đơn vị tính

KSH - Khí sinh học

KTV - Kỹ thuật viên

QSEAP - Tăng cường chất lượng và an toàn của sản phẩm nông nghiệp và Phát triển KSH BPD - Dự án chương trình khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam

Trang 6

BÁO CÁO TÓM TẮT

GIỚI THIỆU

Công nghệ KSH đã được nghiên cứu và thực hiện tại Việt Nam từ năm 1960 Kể

từ đó công nghệ đã được cải thiện và áp dụng rộng rãi ở các cấp độ khác nhau, mang lại lợi ích đáng kể về kinh tế - xã hội và môi trường cho nông dân

"Chương trình KSH cho ngành chăn nuôi của Việt Nam" (bắt đầu vào năm 2003 dưới sự hợp tác bởi tổ chức phát triển Hà Lan SNV với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) đã làm lợi cho nông dân bằng cách cung cấp cho họ một nguồn năng lượng sạch, thường xuyên và giá rẻ, góp phần giải quyết vấn đề vệ sinh phải đối mặt trong sản xuất chăn nuôi của các hộ gia đình Hiệu quả thiết thực đó đã tạo sự hưởng ứng tích cực từ các địa phương và người chăn nuôi

Để có được những thông tin về thực trạng của chương trình, các kết quả và tác động của nó, khảo sát người sử dụng KSH (BUS) đã trở thành một hoạt động của chương trình từ năm 2005

BUS nhằm mục đích để có được một sự hiểu biết tốt hơn về ý kiến và sự hài lòng của người sử dụng KSH, cũng như những khó khăn và hạn chế trong vận hành

và bảo trì Ngoài ra BUS còn tìm kiếm, cung cấp các xu hướng phát triển chương trình KSH và tác động của nó Đây là cơ hội tốt để đánh giá chương trình và các hoạt động hiện nay đang được tiến hành trong các lĩnh vực, nhằm thực hiện những cải tiến cần thiết để duy trì tiêu chuẩn cao đã đạt được trong những năm tiếp theo

MỤC TIÊU CỦA CUỘC KHẢO SÁT

- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá toàn diện tác động của công trình KSH về năng lượng, sức khoẻ và vệ sinh môi trường, nông nghiệp, kinh tế - xã hội và giới tính, mối liên quan của những tác động đó với việc sử dụng công trình KSH của các hộ dân

- Mục tiêu cụ thể: Điều tra, đánh giá các sản phẩm và dịch vụ do Dự án cung cấp tới người dân; Đánh giá tác động của việc sử dụng công trình KSH tới các mặt kinh tế

- xã hội, giới tính, sản xuất nông nghiệp, vệ sinh môi trường, sức khoẻ của người dân, nhiên liệu thay thế, tiết kiệm thời gian Những tác động của công trình KSH tới mục tiêu tham gia thị trường Carbon Cung cấp các các thông tin về thị trường cho công trình KSH quy mô hộ dựa trên các phân tích, đánh giá quan điểm của người sử dụng, của người chưa sử dụng KSH và các cán bộ kỹ thuật trong và ngoài Dự án về các khía cạnh khác nhau của công tác triển khai chương trình khí sinh học

PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

- Phương pháp điều tra, khảo sát được thực hiện theo 8 bước: Lựa chọn vấn đề

cần điều tra, khảo sát; Tổng kết lại các nghiên cứu trước đây và lựa chọn khuôn khổ tiếp cận phù hợp; Lập kế hoạch điều tra, khảo sát; Chọn mẫu khảo sát; Thu thập dữ liệu; Phân tích dữ liệu; Diễn giải kết quả; Công bố kết quả điều tra, khảo sát

- Khảo sát người sử dụng KSH năm 2010 - 2011 được triển khai tại 8 tỉnh, thành phố, với quy mô điều tra là 383 hộ, bao gồm 303 hộ đang sử dụng công trình KSH và

Trang 7

1 TÓM TẮT KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NGƯỜI SỬ DỤNG KSH 2010 - 2011 Thông tin về người sử dụng KSH

Thu nhập bình quân 1 hộ đang sử dụng KSH là: trước khi có công trình 92,6 triệu đồng/năm, sau khi có công trình 145,6 triệu đồng/năm, hộ chưa sử dụng KSH là 119,1 triệu đồng/năm

Hiện nay, chi phí xây dựng bình quân cho 1 công trình là cao nhất kể từ khi dự

án KSH bắt đầu 99,3% hộ gia đình được khảo sát đã nhận được tiền trợ giá từ Dự án,

Về nguồn vốn xây dựng công trình KSH, để xây dựng công trình 83,2% số hộ điều tra không phải vay tiền; còn 16,8% số hộ phải vay tiền Cơ cấu vốn đầu tư của hộ phải vay tiền là: vốn tự có chiếm 43,0%, vốn vay (ngân hàng, người thân) chiếm 45,5%, vốn hỗ trợ từ Dự án chiếm 10,1%, nguồn vốn khác khác (hỗ trợ của tỉnh) chiếm 1,4% Số tiền bình quân một hộ điều tra phải vay là 5,4 triệu đồng

69,3% hộ gia đình nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật và giám sát khi xây dựng công trình và 71,9% hộ gia đình nhận được cả hai, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính sau khi xây dựng công trình KSH

92,7% hộ gia đình được đào tạo và / hoặc hướng dẫn, 69,3% nhận được nó trước khi xây dựng công trình KSH và 38,3% được đào tạo sau khi hoàn thành công trình

Thông tin về công trình KSH và trang thiết bị:

91,7% hộ gia đình được khảo sát cho rằng quy mô và tình hình sản xuất KSH của công trình là thích hợp và hiệu quả Kích thước trung bình của công trinh KSH có

xu hướng tăng trong những năm gần đây, kết quả khảo sát người sử dụng KSH qua 3 năm (năm 2007-2008, 2009 và 2010-2011) cho thấy kích thước trung bình của công trình lần lượt là: là 9,7 m3; 11,2 m3 và 11.3 m3

KSH chủ yếu được sử dụng để nấu ăn và thắp sáng, số lượng bếp được sử dụng bình quân tại mỗi công trình là 1,65, với mức trung bình 3,5 giờ mỗi ngày để nấu ăn

Số lượng đèn KSH cho mỗi công trình là 1,8 chiếc, với mức trung bình 3,19 giờ chiếu sáng mỗi ngày 78,8% người sử dụng cho rằng thiếu của các cửa hàng cung cấp thiết

bị KSH trong tỉnh và khoảng 10,6% cho rằng ở địa phương không có cửa hàng cung cấp trang thiết bị

Thông tin về sản phẩm của công trình KSH:

Có 118 hộ điều tra (chiếm 38,9% số hộ điều tra) đã sử dụng phụ phẩm từ công trình KSH cho trồng trọt Các hộ đều đánh giá rất cao tác dụng của nó đối với cây trồng cũng như vật nuôi, gần 60% số người sử dụng phụ phẩm từ công trình ở dạng lỏng và khoảng 40% trộn làm phân bón 92,7% hộ gia đình cho rằng lúa, ngô, rau, ngũ cốc và các cây công nghiệp sau khi được bón phụ phẩm cho sản lượng cao hơn Ngoài ra 3,9% số hộ gia đình sử dụng phụ phẩm làm thức ăn cho chăn nuôi

Đánh giá về nhận thức và sự hài lòng của người sử dụng KSH:

Trong những năm qua, người dân ngày càng có sự hiểu biết cao về tác dụng của công trình KSH để có một môi trường sống tốt hơn, nhà ở sạch sẽ, hiện nay 100% người chưa sử dụng KSH sẵn sàng đầu tư xây dựng công trình và coi đó là một công nghệ xử lý

Trang 8

95,6%) Người sử dụng được sống trong một môi trường ít ruồi muỗi, bụi bẩn hơn, không khí trong lành hơn và từ đó hạn chế được các bệnh lây truyền từ chăn nuôi

Người sử dụng KSH hài lòng về chất lượng và tác dụng của công trình: 85,8% ý kiến cho rằng công trình KSH giúp hộ giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường, có 83,8% số ý kiến nhận thấy việc đun nấu bằng KSH rất sạch sẽ và thuận tiện, có trên 50% số ý kiến nêu các tác dụng khác của KSH như giúp hộ tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian…

Các hộ gia đình được khảo sát đánh giá cao về chất lượng bảo hành, 98% số hộ gia đình đánh giá đội ngũ thợ xây đã cung cấp dịch vụ bảo hành rất tốt hoặc tốt Người sử dụng KSH hài lòng với chất lượng và tác dụng của công trình KSH cũng như dịch vụ và hỗ trợ từ kỹ thuật viên và thợ xây Hầu như tất cả người sử dụng KSH (91,7%) đánh giá cao sự hỗ trợ mà các nhân viên chương trình KSH cung cấp cho họ

Tác động về xã hội

Giải quyết được nhiều công lao động cho đội thợ xây, năm 2010, tính bình quân mỗi thợ xây phụ trách xây dựng 94 công trình, con số này theo BUS năm 2007 - 2008

là 48 công trình và năm 2009 là 71 công trình

Tác động về giới: có 90,1% số ý kiến cho rằng người được hưởng lợi nhiều nhất

từ công trình KSH chính là phụ nữ và trẻ em Sử dụng công trình KSH giúp tiết kiệm được 2,4 giờ mỗi ngày, 10,9% số người khảo sát sử dụng thời gian này cho các hoạt động tạo thu nhập và 32,3% cho các hoạt động xã hội Ngoài ra phụ nữ lựa chọn để dành nhiều thời gian chăm sóc cho gia đình (94,7%) và giáo dục trẻ em (23,97%)

Tác động kinh tế:

Bếp và đèn KSH là những thiết bị chính được sử dụng tại các hộ gia đình, đã giúp các hộ gia đình tiết kiệm chi phí điện, gas công nghiệp và gỗ nhiên liệu trong nội trợ Trước khi có công trình KSH, hộ gia đình chi tiêu bình quân 388 nghìn đồng cho các mục đích năng lượng Với sự hoạt động của công trình KSH tổng chi phí năng lượng giảm xuống còn 102 nghìn đồng mỗi tháng, đem lại một khoản tiền tiết kiệm đáng kể 286 nghìn đồng mỗi tháng Ngoài ra, các hộ còn tiết kiệm được khoảng 84.000 đồng/tháng từ việc sử dụng bã thải KSH làm phân bón và thức ăn chăn nuôi

Dự kiến tuổi thọ tối thiểu của công trình là mười năm, thời gian hoàn vốn của một công trình KSH 11 m3 khoảng 2,5 năm, do đó sau giai đoạn này gia đình có thể tận hưởng việc sử dụng KSH “miễn phí” trong nhiều năm

72,2% hộ gia đình có sử dụng KSH đã tăng quy mô chăn nuôi so với trước khi xây dựng công trình Có thể nói, công trình KSH là một phương pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tạo điều kiện sản xuất chăn nuôi tốt hơn

Tác động đến môi trường và sức khỏe con người:

Công trình KSH đã đem lại những lợi ích khác nhau cho các hộ sử dụng Một trong những lợi ích được kể đến là điều kiện sống được cải thiện:

• 98,7% hộ gia đình nhận thấy số lượng ruồi, muỗi và côn trùng xung quanh

Trang 9

• 96% hộ gia đình được khảo sát nhận thấy có sự giảm lớn về khói trong nấu ăn sau khi sử dụng công trình KSH

• 85,5% hộ gia đình rất hài lòng với việc giảm mùi hôi từ chăn nuôi

• 58,4% hộ gia đình cho rằng có ít bồ hóng, bụi than hơn trên các đồ dùng và nhà bếp, môi trường sống sạch hơn nhiều so với trước

• 41,2 và 58,9% hộ gia đình đồng ý rằng có ít hơn và không có bụi bẩn trong nhà bếp, so với trước đây sử dụng phụ phẩm nông nghiệp

Theo đó, hạn chế được số người bị bệnh phổi, tiểu đường, đau mắt thường được gây ra bởi ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi

Tiềm năng đầu tư xây dựng công trình KSH của các hộ chưa có công trình

Đối với các chưa có công trình KSH một trong những lợi ích quan trọng nhất từ công trình KSH mà các hộ quan tâm là tiết kiệm được chi phí chất đốt, với 63,7% số

hộ đồng ý Vệ sinh sạch sẽ, môi trường được cải thiện là lý do thứ 2 để xem xét đầu

tư, với 58,8% số hộ quan tâm Lý do quan trọng thứ 3 có trên 50% số hộ quan tâm đến tác dụng tiện lợi trong đun nấu bằng KSH, hoặc bếp đun không bị khói

81,2% người chưa sử dụng KSH biết về chương trình KSH, trong đó 75,6% đã được giới thiệu từ dự án, 57,1% từ cán bộ xã và 43,9% từ bạn bè, hàng xóm hoặc người thân Phương tiện truyền thông đóng một vai trò quan trọng, 99,7% số hộ được tiếp nhận thông tin từ truyền hình và 28,4% số hộ từ đài phát thanh

Khả năng đầu tư của hộ gia đình chưa có KSH: 31,2% hộ gia đình ước tính khả năng đầu tư khoảng 6 đến 9 triệu đồng cho một công trình KSH, 26,2% hộ gia đình

có thể đầu tư 3 - 5 triệu đồng và 22,5% hộ gia đình có thể đầu tư 10 - 12 triệu đồng Những khó khăn chính để xây dựng công trình KSH là thiếu vốn (81,2% hộ gia đình), quy mô chăn nuôi nhỏ (23,7%) và thiếu diện tích xây dựng (21,2%)

Các kết luận chính của BUS2010-2011:

Người sử dụng rất hài lòng với quyết định đầu tư xây dựng công trình KSH vì

nó cung cấp cho họ nhiều lợi ích to lớn, cũng như rất hài lòng với các dịch vụ được cung cấp bởi chương trình KSH

Công trình KSH có ảnh hưởng lớn ở khu vực nông thôn và chương trình đã đạt đến một mức độ mà trong đó lợi ích thiết thực mang lại cho người sử dụng đã tự thúc đẩy những người chưa sử dụng ra quyết định đầu tư phát triển công nghệ KSH

Một điều quan trọng cần đề cập đến là có hơn một nửa số hộ gia đình (65,3%) gắn nhà vệ sinh với công trình KSH để xử lý chất thải của con người Khi có công trình KSH, xu hướng mở rộng quy mô chăn nuôi tăng lên do giảm bớt được gánh nặng về vệ sinh môi trường, 72% số hộ sử dụng KSH đã tăng quy mô đàn lợn bình quân khoảng 2,9 con/hộ Điều này cho thấy rằng KSH đằng sau việc sản xuất năng lượng nó còn cung cấp một loạt các lợi ích cho người dân ở khu vực nông thôn

Tuy nhiên, cuộc khảo sát đã nêu ra một vài vấn đề trong đào tạo, vận hành, bảo trì, bảo hành và các thiết bị KSH cần sửa đổi Chi tiết về các vấn đề và các nội dung

Trang 10

BÁO CÁO CHÍNH

Công nghệ KSH đã được nghiên cứu và thực hiện tại Việt Nam từ năm 1960 Kể

từ đó công nghệ đã được cải thiện và áp dụng rộng rãi ở các cấp độ khác nhau, mang lại lợi ích đáng kể về kinh tế - xã hội và môi trường cho nông dân Dự án "Chương trình KSH cho ngành chăn nuôi của Việt Nam" (BPD) được thực hiện vào năm 2003 bởi những nỗ lực tham gia của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Chăn nuôi) và SNV (tổ chức phát triển Hà Lan)

Chương trình KSH đã góp phần giải quyết vấn đề vệ sinh mà các hộ chăn nuôi phải đối mặt, làm giảm bớt ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi ở các vùng nông thôn Việt Nam Đồng thời nó mang lại lợi ích cho nông dân bằng cách cung cấp năng lượng sạch, thường xuyên và giá rẻ Chương trình KSH đã nhận được sự hưởng ứng cao của chính quyền địa phương và người chăn nuôi Trong thời gian ngắn, chương trình đã triển khai đồng bộ từ 12 tỉnh vào năm 2005 lên tới 46 tỉnh, thành phố năm

2010 Đến tháng 7 năm 2011 có hơn 108.000 công trình KSH được xây dựng trong khuôn khổ chương trình Dự án BPD Từ năm 2010, dự án QSEAP do Ngân ADB tài trợ, được xây dựng dựa trên cơ sở của Chương trình KSH quốc gia, mục tiêu mới cho cuối năm 2012 là 140.000 công trình từ BPD và 20.000 công trình từ QSEAP

Chương trình KSH rất thành công trong việc giới thiệu một công nghệ đem lại nhiều lợi ích cho người chăn nuôi, cải thiện môi trường và chất lượng cuộc sống của người sử dụng Trong thời gian tới, khi ngành chăn nuôi Việt Nam chuyển dần sang nuôi tập trung với quy mô lớn đòi hỏi phải có sự hợp tác để xây dựng các công trình

có quy mô lớn hơn, sử dụng KSH đa dạng hơn, phát triển thị trường KSH trong nước

Để thúc đẩy những kết quả này, tháng 4 năm 2011 chương trình KSH đã thành lập Hiệp hội KSH Việt Nam, nhằm cung cấp một không gian để thảo luận và thông tin liên lạc giữa các cá nhân, tổ chức, văn phòng chính phủ Hiệp hội KSH mong muốn tiếp tục phát triển ngành KSH tại Việt Nam và hoạt động như một tổ chức độc lập, định hướng và thị trường xã hội - nghề nghiệp

Chương trình KSH đã thường xuyên tiến hành các cuộc khảo sát người sử dụng KSH để có được thông tin mới nhất về thực trạng các công trình KSH cũng như sự hài lòng của người sử dụng BUS cung cấp một cái nhìn sâu trong quản lý chương trình KSH, sự phối hợp, theo dõi và lập kế hoạch, phát hiện các vấn đề cần sửa đổi,

bổ sung để hoàn thiện hơn và quan trọng nhất là thu thập được các ý kiến của hộ gia đình

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá toàn diện tác động của công trình KSH về năng lượng, sức khoẻ và vệ sinh môi trường, nông nghiệp, kinh tế - xã hội và giới tính, mối liên quan của những tác động đó với việc sử dụng công trình KSH của các hộ dân

Trang 11

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Tập huấn cho người sử dụng;

- Xây dựng và tư vấn kỹ thuật và quản lý chất lượng;

- Đánh giá cách vận hành, bảo dưỡng công trình;

- Đánh giá về sử dụng KSH, sử dụng phụ phẩm của người dân;

- Đánh giá vai trò của cán bộ dự án và cán bộ liên quan trong công tác triển khai;

- Đánh giá được vai trò của tập huấn - tuyền truyền cần được điều chỉnh và cải thiện như thế nào

giới tính, sản xuất nông nghiệp, vệ sinh môi trường, sức khoẻ của người dân, nhiên liệu thay thế, tiết kiệm thời gian Những tác động của công trình KSH tới mục tiêu tham gia thị trường Carbon

3.1 Đối tượng khảo sát

Xuất phát từ mục tiêu của BUS, tư vấn đã tiến hành khảo sát thông qua ba nhóm đối tượng sau:

1) Người sử dụng KSH và người sử dụng KSH tiềm năng: thực hiện cuộc khảo sát chi tiết theo bảng câu hỏi và có được các thông tin của mỗi hộ gia đình về các vấn

đề kỹ thuật và hỗ trợ

• Kiến thức của người chăn nuôi về lợi ích của công trình KSH, hoạt động của

nó, và tình hình sử dụng các sản phẩm KSH

• Mức độ hỗ trợ của đội ngũ thợ xây, kỹ thuật viên

• Chất lượng của công trình KSH

• Chất lượng của các thiết bị sử dụng KSH

• Chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi chương trình KSH như: đào tạo, xây dựng, kiểm soát chất lượng, dịch vụ

2) Thợ xây và kỹ thuật viên: thu thập thông tin để đánh giá các công việc về yêu cầu kỹ thuật:

• Hỗ trợ của đội ngũ thợ xây, kỹ thuật viên trong công việc

• Khảo sát và đánh giá tình hình thực hiện của văn phòng tỉnh, cán bộ địa phương theo các qui định của chương trình KSH, chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường

3) Văn phòng dự án tỉnh, lãnh đạo chính quyền địa phương, thu thập thông tin cơ bản về sản xuất năng lượng, nông nghiệp, chăn nuôi, kinh tế - xã hội, môi trường, và

Trang 12

• Khảo sát và đánh giá tình hình thực hiện các chính sách của Nhà nước về bảo

vệ môi trường, hỗ trợ chương trình KSH

• Xu hướng thị trường KSH ở các khu vực khác nhau

3.2 Phương pháp thực hiện

- Phương pháp điều tra, khảo sát được thực hiện theo 8 bước: Lựa chọn (xác

định) vấn đề cần điều tra, khảo sát; Tổng kết lại các nghiên cứu trước đây và lựa chọn khuôn khổ tiếp cận phù hợp; Lập kế hoạch điều tra, khảo sát; Chọn mẫu khảo sát; Thu thập dữ liệu; Phân tích dữ liệu; Diễn giải kết quả; Công bố kết quả điều tra, khảo sát;

- Phương pháp thu thập dữ liệu:

Các thông tin thứ cấp được thu thập từ các nguồn sau: Các cơ quan chính phủ,

Bộ, ngành, tổ chức quốc tế; Các cơ quan nghiên cứu, trường đại học…; Các tạp chí khoa học; Các tài liệu, số liệu của văn phòng Dự án

Các dữ liệu sơ cấp được thực hiện qua điều tra, khảo sát thực tế thông qua các mẫu phiếu, chỉ tiêu dựng sẵn, kết hợp với phỏng vấn sâu và quan sát tại hiện trường

- Phương pháp thống kê gồm: phương pháp chỉ số thống kê; phương pháp so

sánh đối chiếu; phương pháp loại trừ nhằm phân tích các thông tin định tính, định lượng đưa ra các thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích nghiên cứu;

Phần mềm hỗ trợ trong phân tích thống kê: Excel

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Báo cáo được xây dựng trên cơ sở tiếp

thu các ý kiến góp ý của các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan

3.3 Trình tự thực hiện

Cuộc khảo sát được tiến hành qua bốn giai đoạn chính: nghiên cứu tại bàn, thu thập thông tin, phân tích thông tin và viết báo cáo Quá trình thực hiện, nhóm tư vấn luôn liên hệ chặt chẽ với Văn phòng Dự án KSH để bảo đảm mọi hoạt động diễn ra theo đúng kế hoạch, đáp ứng được yêu cầu đặt ra

3.3.1 Nghiên cứu tại bàn

Nhóm tư vấn tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nội dung cuộc khảo sát, bao gồm các tài liệu liên quan của Dự án, thông tin về KSH và ngành chăn nuôi Việt Nam, tham khảo báo cáo khảo sát người sử dụng KSH từ năm 2005 đến nay, nghiên cứu các tài liệu có liên quan của 8 tỉnh, thành phố thực hiện khảo sát

3.3.2 Thu thập thông tin

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tài liệu, nhóm tư vấn thiết kế 5 mẫu phiếu khảo sát (mẫu 1 - khảo sát người sử dụng KSH; mẫu 2 - khảo sát người chưa sử dụng KSH; mẫu 3 - khảo sát kỹ thuật viên và đội thợ xây và mẫu 4 - làm việc với ban quản lý dự

án, các cơ quan, các Sở, ngành có liên quan ở địa phương; mẫu số 5 - khảo sát các cán

bộ quản lý tại các tỉnh trong và ngoài Dự án) Nhóm tư vấn tiến hành điều tra thử tại Thái Bình

Trang 13

Kết quả điều tra thử giúp nhóm tư vấn hoàn thiện bộ câu hỏi, bảo đảm bám sát các mục tiêu đề ra Sau khi bộ câu hỏi được Văn phòng Dự án thông qua, tư vấn đã tập huấn cho tất cả các thành viên của nhóm khảo sát và tiến hành điều tra khảo sát theo đúng tiến độ

─ Số lượng mẫu khảo sát:

Tư vấn đã khảo sát 383 hộ dân ở 8 tỉnh thuộc Dự án, trong đó có 303 hộ đã xây dựng công trình và 80 hộ chưa có công trình KSH Các tỉnh khảo sát là: Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Thái Bình, Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Bến Tre và Kiên Giang Ngoài ra, tư vấn đã tiến hành khảo sát ít nhất 5 kỹ thuật viên và thợ xây tại 8 tỉnh khảo sát, gửi phiếu điều tra tới cán bộ quản lý của tất cả 63 tỉnh thành trong cả nước Kết quả là nhóm tư vấn đã phỏng vấn được 43 kỹ thuật viên và thợ xây tại 8 tỉnh khảo sát, nhận được trả lời của 66 cán bộ quản lý của 49 tỉnh, trong đó có 34 tỉnh trong Dự

án và 15 tỉnh ngoài Dự án (riêng tỉnh Sóc Trăng nhận được trả lời của 17 cán bộ) Chi tiết về số mẫu khảo sát phân bổ được trình bày trong bảng 1

Bảng 1 Số lượng phiếu của BUS 2010 - 2011

Đơn vị: phiếu

Hạng mục Tổng

số

Thái Nguyên

Hà Nội

Bắc Ninh

Thái Bình

Thanh Hoá

Quảng Ngãi

Bến Tre

Kiên Giang

Phân bổ mẫu khảo sát được dựa trên những thông tin có trong cơ sở dữ liệu của

Dự án và được sự nhất trí của Ban quản lý Dự án trước khi tiến hành khảo sát Về cơ bản mẫu khảo sát đảm bảo được tính đại diện và tính ngẫu nhiên, cụ thể:

+ Địa bàn khảo sát được thực hiện tại 8 tỉnh đã được ban quản lý dự án lựa chọn Mỗi tỉnh điều tra tại ít nhất 2 huyện và mỗi huyện điều tra ở ít nhất 2 xã

+ Trong số các hộ đã có công trình KSH, tư vấn lựa chọn các mẫu đảm bảo có ở: tất cả các năm từ 2006 - 2011, tất cả các loại cỡ công trình, tất cả các loại nguyên liệu đầu vào của công trình (phân lợn, phân trâu bò, phân gia cầm)

Danh sách mẫu khảo sát người sử dụng KSH được lập theo phương pháp ngẫu nhiên dựa trên cơ sở dữ liệu của Dự án và đã được thống nhất với Văn phòng Dự án trước khi tiến hành điều tra (có lựa chọn thêm mỗi tỉnh một số hộ dự phòng)

Danh sách mẫu khảo sát người không sử dụng KSH được lựa chọn ngẫu nhiên trong thời gian điều tra (vào ngẫu nhiên các nhà có chăn nuôi)

Trang 14

3.3.3 Điều tra khảo sát và phân tích thông tin

Khảo sát người sử dụng KSH năm 2010 - 2011 được tiến hành tại 8 tỉnh theo 5

bộ phiếu dựng sẵn, kết hợp phỏng vấn sâu và quan sát thực tế

Các thông tin thu được từ hiện trường được xử lý, phân tích bằng các phương pháp thống kê

3.3.4 Viết báo cáo

Xác định một số tiêu chí đánh giá:

- Tiêu chí đánh giá chất lượng các sản phẩm và dịch vụ: Để xác định chất lượng của công trình, nhóm tư vấn sử dụng các yêu cầu kỹ thuật do Văn phòng Dự án cung cấp làm tiêu chí để đánh giá

- Đánh giá chất lượng kỹ thuật viên và đội thợ xây: được tổng hợp từ các ý kiến của người dân và điều tra sâu

Tư vấn sử dụng các số liệu đã được phân tích kết hợp với quan sát và nhận định thu được trong quá trình khảo sát và các tiêu chí đã được xác định để viết báo cáo Nội dung báo cáo mang tính khách quan, phản ánh trung thực tình hình Dự án và ảnh hưởng thực tế của công trình KSH với các hộ gia đình

Để minh hoạ, minh chứng cho các nhận định, đánh giá… ngoài các bảng biểu nhóm tư vấn sử dụng các hình ảnh, biểu đồ trong báo cáo Các biểu đồ liên quan đến

số lượng định tính (theo dạng câu hỏi mở và đóng) để phản ánh mức độ ảnh hưởng Các tài liệu tham khảo, các phương pháp tính toán dự báo được thể hiện rõ trong báo cáo

Cấu trúc báo cáo trình bày gồm các phần chính sau:

1) Tóm tắt, và phát triển của các chương chính:

2) Giới thiệu

3) Phương pháp

4) Tổng quan về ngành chăn nuôi của Việt Nam và chương trình KSH

5) Kết quả khảo sát người sử dụng KSH

6) Kết luận

Trang 15

4 TỔNG QUAN NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM VÀ DỰ ÁN KHÍ SINH HỌC TẠI VIỆT NAM

4.1 Các thông tin chung về ngành chăn nuôi Việt Nam

Bảng 2 Diễn biến đàn vật nuôi chính của Việt Nam

Đơn vị: triệu con

Năm Loại vật

nuôi

2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Tốc độ tăng GĐ 2000-2010 (%)

Nguồn: Chăn nuôi Việt Nam 2000 - 2010, Cục Chăn nuôi

Những năm qua, ngành chăn nuôi Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn do dịch bệnh, thiên tai cũng như những thách thức trong và ngoài nước, song vẫn đạt được những thành tựu nhất định: tổng đàn lợn của Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới (sau Trung Quốc, Hoa Kỳ và Brazil), tổng đàn vịt đứng thứ 2 (sau Trung Quốc), đàn trâu đứng thứ 6 trên thế giới; về sản phẩm chăn nuôi Việt Nam đạt trên 4 triệu tấn/năm, đứng thứ 3 châu Á (sau Trung Quốc và Ấn Độ) Sản phẩm chăn nuôi bình quân đầu người đạt trên 46 kg thịt hơi/người/năm, 3,5 kg sữa tươi và trên 67 quả

trứng/người/năm (nguồn: Chăn nuôi Việt Nam 2000 - 2020, Cục Chăn nuôi)

Chăn nuôi ở Việt Nam đang có sự chuyển dịch theo hướng hình thành các vùng chăn nuôi quy mô lớn theo hình thức trang trại, và các khu chăn nuôi tập trung, giảm dần phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, tận dụng Giai đoạn 2005 - 2010 số lượng trang trại chăn nuôi tăng từ 2,89% lên 14,59% Ngành chăn nuôi tăng trưởng tốt đã tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho người nông dân, đặc biệt là những người sống ở vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi đã trở thành vấn đề bức xúc tại mỗi vùng chăn nuôi Chất thải rắn, chất thải lỏng của trang trại chăn nuôi, của các cơ sở giết mổ, chế biến thịt gia súc, gia cầm đã gây ô nhiễm nguồn nước, không khí hoặc đất, tác động xấu đến sức khỏe con người Do vậy, việc xử lý chất thải chăn nuôi ngày càng được quan tâm hơn bởi các cơ quan quản lý nhà nước, của cộng đồng và của chính những người chăn nuôi

Một trong những quan điểm phát triển ngành chăn nuôi được thể hiện trong Chiến lược phát triển của ngành đến năm 2020 là: Phát triển chăn nuôi phải gắn với bảo vệ môi trường và cải tạo đất trồng Chăn nuôi càng phát triển càng gây ô nhiễm môi trường, nhưng nếu có giải pháp xử lý thích hợp thì không những môi trường không bị ô nhiễm mà còn được cải thiện nhất là môi trường đất và cây xanh

Trang 16

Trên quan điểm đó, ngành chăn nuôi đặt mục tiêu: Giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi: số hộ chăn nuôi gia trại, trang trại có hệ thống xử lý chất thải chiếm 12% năm 2006 lên 45% năm 2010, 65% năm 2015 và 80% vào năm 2020

Bảng 3 Dự kiến quy mô đàn gia súc, gia cầm đến năm 2020

Nguồn: Chiến lược phát triển chăn nuôi (Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008)

Để đạt được mục tiêu trên, Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã đề xuất các giải pháp tổng thể liên quan đến bảo đảm môi trường trong chăn nuôi như sau:

- Xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại và chăn nuôi công nghiệp:

+ Hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào cho các trang trại

và cơ sở giết mổ, chế biến công nghiệp nằm trong khu vực đó được quy hoạch gồm đường, nước, điện

+ Hỗ trợ 45% kinh phí xây dựng hệ thống xử lý chất thải tại các cơ sở chăn nuôi trang trại, cơ sở giết mổ chế biến công nghiệp, các cơ sở sản xuất tinh phục vụ thụ tinh nhân tạo đó được quy hoạch

- Hỗ trợ rủi ro: hỗ trợ 30% chi phí di chuyển chuồng trại chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường đến quy hoạch mới để từng bước hình thành ngành chăn nuôi theo hướng

an toàn sinh học, hiệu quả, bền vững

- Khuyến nông: hỗ trợ kinh phí xây dựng mô hình trang trại chăn nuôi an toàn sinh học

4.2 Thông tin về KSH

4.2.1 Tầm quan trọng của công nghệ KSH

KSH được sinh ra từ quá trình phân giải những chất thải của người và động vật

và các chất hữu cơ (phụ phẩm nông nghiệp) trong điều kiện yếm khí Nhờ hoạt động của các vi sinh vật, các chất thải này sẽ lên men và khí được sinh ra Thành phần chủ yếu là Metan chiếm 60 - 70% và Cacbon dioxit 30 - 40%, các khí này có thể đốt cháy được và cung cấp năng lượng vào khoảng 4.500 - 6.000 calo/m3, tương đương với 1 lít cồn, 0,8 lít xăng, 0,6 lít dầu thô, 1,4 kg than hoa hay 2,2 kW điện năng

Trang 17

KSH là một trong những nguồn năng lượng tái tạo có thể thu hồi được từ việc xử

lý chất thải chăn nuôi, rác thải thành phố, nước thải và các chất thải khác… Việc tái tạo chất thải có thể cung cấp:

- Nhiên liệu KSH: được sử dụng như khí ga tự nhiên để đốt nóng và sản xuất năng lượng Nó có thể được nén lại và sử dụng như nhiên liệu, hoặc được bơm vào bình để dự trữ Sau khi xử lý, loại bỏ CO2, nhiên liệu KSH có thể được sử dụng như

là nhiên liệu cho chạy xe

- Phân bón: là loại phân bón sạch làm gia tăng sản lượng lên đến 40- 50%

Ngoài ra, quá trình lên men trong điều kiện kỵ khí các vi khuẩn gây bệnh cho con người đã được loại trừ Phát triển ứng dụng công nghệ KSH không chỉ giải quyết vấn đề năng lượng mà còn là giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phần bảo

vệ và nâng cao sức khoẻ cộng đồng dân cư, đồng thời tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Có thể hy vọng KSH sẽ là nguồn năng lượng chính trong tương lai Sử dụng công nghệ KSH quy mô gia đình là giải pháp hữu hiệu cho phép kết hợp hài hòa giữa cung cấp năng lượng với giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở nông thôn miền núi nước ta

4.2.2 Ứng dụng công nghệ KSH ở Việt Nam

Công nghệ KSH được nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam từ những năm 1960

Kể từ đó, công nghệ này luôn được cải tiến và ứng dụng rộng rãi ở những quy mô khác nhau và đem lại những hiệu quả đáng kể về kinh tế - xã hội và môi trường cho người dân

KSH cung cấp nguồn nhiên liệu khí đốt thỏa mãn nhu cầu đun nấu và thắp sáng, nâng cao hiệu quả kinh tế và điều kiện sống cho nông dân Sử dụng KSH, nông dân hạn chế được sử dụng nguồn nguyên liệu củi làm chất đốt cũng góp phần tốt trong việc bảo vệ rừng và giảm chi phí mua củi, công kiếm củi, giảm sự ô nhiễm môi trường do sử dụng củi làm chất đốt Lượng phân sau khi đã qua phân huỷ ở hầm KSH

sử dụng để bón cho các loại cây trồng rất tốt, ít bị các mầm bệnh sống ở phân gây hại cho cây trồng

Ngoài ra, nguồn khí này đã được sử dụng là nhiên liệu cho động cơ để dẫn động các máy công tác như: bơm nước, máy xay sát, máy lạnh góp phần tiết kiệm chi phí năng lượng, giảm giá thành sản xuất và cải thiện đời sống cho người dân Máy phát điện chạy bằng KSH đã được ứng dụng tại Thái Bình, Bắc Giang, Phú Thọ, Đà Nẵng, Tiền Giang… Bước đầu, giải pháp này đã cho hiệu quả rõ rệt Ở Hà Nội, mô hình này cũng đã được áp dụng tại một số hộ chăn nuôi ở các huyện ngoại thành như Mỹ Đức, Đông Anh

Trong giai đoạn 2001 - 2010, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, các chính sách này đều quy định rõ các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm, cơ sở chế biến, tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi phải có hệ thống xử lý chất thải hiệu quả Đây là cơ sở pháp lý để áp dụng công nghệ KSH trong chăn nuôi hiện tại và trong tương lai

Trang 18

4.2.3 Giới thiệu về dự án KSH tại Việt Nam

Dự án Chương trình KSH cho Ngành Chăn nuôi Việt Nam triển khai từ năm

2003 cho đến nay, do Cục Chăn nuôi, thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổ chức Hợp tác Phát triển Hà Lan (SNV) thực hiện Dự án được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn 1 (2003-2005): triển khai trên 12 tỉnh và thành phố; giai đoạn bắc cầu (2006): chuẩn bị cho giai đoạn II và mở rộng thêm 8 tỉnh mới; giai đoạn II (2007-2012): triển khai dự án trên 50 tỉnh thành phố trên toàn quốc

Đến cuối năm 2010, dự án chương trình KSH đã hỗ trợ xây dựng 103.000 công trình KSH trong cả nước Tổ chức đào tạo được 839 kỹ thuật viên, 1.302 đội tợ xây Trong số này, 171 đội trưởng đội thợ xây đã được lựa chọn tham gia chương trình khởi nghiệp và đào tạo tiếp thị

Năm 2006, Dự án được trao giải nhất năng lượng toàn cầu tại Brussel, Bỉ Tháng 7/2010, Dự án được trao giải thưởng năng lượng bền vững Ashden tại London, Vương quốc Anh Giải thưởng này nhằm công nhận quan hệ thành công giữa hai đối tác là Bộ Nông nghiệp và PTNT và SNV trong việc phát triển cũng như phổ biến công nghệ KSH trên diện rộng cả nước để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nông dân Việt Nam

Trang 19

5 KẾT QUẢ KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KSH 2010 – 2011

5.1 Thông tin về dự án KSH tại các tỉnh điều tra

HÀ NỘI

Diện tích: 3.345 km2 Dân số: 6.472 nghìn người

THANH HOÁ

Diện tích: 11.133 km2 Dân số: 3.405 nghìn người

THÁI NGUYÊN

Diện tích: 3.526 km2 Dân số: 1.127,4 nghìn người

BẮC NINH

Diện tích: 823 km2 Dân số: 1.026,7 nghìn người

THÁI BÌNH

Diện tích: 1.567 km2 Dân số: 1.784 nghìn người

QUẢNG NGÃI

Diện tích: 5.153 km2 Dân số: 1.219,2 nghìn người

BẾN TRE

Diện tích: 2.360 km2 Dân số: 1.255,8 nghìn người

KIÊN GIANG

Diện tích: 6.346 km2 Dân số: 1.687,9 nghìn người

Trang 20

5.1.1 Tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên tham gia Dự án từ năm 2004 Tính đến 1/12/2009 toàn tỉnh đã xây dựng và nghiệm thu được 3.322 công trình, riêng năm 2009 đạt 1.001 công trình Tuy nhiên đến hết năm 2010 cũng là kết thúc Dự án tại Thái Nguyên do tỉnh chuyển sang tham gia vào dự án QSEAP

Bảng 4 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

để tham gia dự án QSEAP

Bảng 5 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi TP Hà Nội đến năm 2020

có tăng (từ 1 triệu đồng/công trình lên 1,2 triệu đồng/công trình) nhưng vẫn còn thấp, một số mẫu công trình KSH bằng vật liệu composite có khuyến mại cạnh tranh đã làm ảnh hưởng đến kết quả, tiến độ nghiệm thu và xây dựng của Dự án

Trang 21

Bảng 6 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020

Bảng 7 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Thái đến năm 2020

Nguồn: Alat nông nghiệp toàn quốc năm 2010

Tỉnh tham gia dự án từ năm 2006 đến năm 2010 đã xây dựng được 5.333 công trình Riêng năm 2010 xây dựng 1.833 công trình trên địa bàn 21 huyện, thị xã, thành phố đạt 122% so với kế hoạch được giao Trong 5 năm triển khai dự án, tỉnh đều hoàn thành sớm và vượt kế hoạch đề ra Chất lượng công trình đảm bảo tốt và được người

Trang 22

gặp rất nhiều khó khăn do địa bàn rộng, giao thông không thuận lợi, nghiệm thu và hồ

sơ nghiệm thu gửi về trung tâm còn rất chậm, chỉ đạt 73% (1.181/1.612 công trình)

5.1.6 Tỉnh Quảng Ngãi

Dự án KSH được thực hiện tại tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2007 Qua 4 năm triển khai, toàn tỉnh đã xây dựng được 1.649 công trình, trong đó nhiều nhất là 2 huyện Sơn Tịnh với 328 công trình và Nghĩa Hành 316 công trình Tỉnh có 15 kỹ thuật viên,

27 đội thợ xây với 32 thợ xây ở 9 huyện, thành phố đã được Dự án đào tạo Ngoài mức hỗ trợ xây dựng công trình của Dự án, tỉnh đã hỗ trợ 1,2 triệu đồng/công trình và các huyện hỗ trợ 0,3 triệu đồng/công trình, đưa tổng số tiền hỗ trợ cho 1 công trình đạt 2,7 triệu đồng Năm 2011 số hộ dân đăng ký tham gia xây dựng công trình lên tới

700 người, bằng 42% tổng số người tham gia dự án của 4 năm trước đó

Bảng 9 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

Bảng 10 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Bến Tre đến năm 2020

Dự án KSH mới được triển khai tại tỉnh từ năm 2009 Năm 2010 Văn phòng dự

án tỉnh đăng ký xây dựng 300 công trình nhưng đến thời điểm khảo sát toàn tỉnh mới

Trang 23

Thành và Hòn đất Hiện nay, đội ngũ thợ xây được đào tạo mới có 10 người, trong khi nhu cầu thực tế là 30 thợ xây lành nghề Do đặc thù về thời tiết, thời gian xây dựng công trình trong năm chỉ có 7 tháng, các tháng còn lại là mùa mưa nên phần nào ảnh hưởng đến tiến độ của Dự án

Bảng 11 Hiện trạng và dự kiến chăn nuôi tỉnh Kiên Giang đến năm 2020

Nguồn: Alat nông nghiệp toàn quốc năm 2010

5.2 Thông tin cơ bản về hộ khảo sát

5.2.1 Nhân khẩu, lao động và thu nhập bình quân của hộ:

Bảng 12 Một số thông tin chung về hộ điều tra

vị

Thái Nguyên Hà Nội

Bắc Ninh

Thái Bình

Thanh Hoá

Quảng Ngãi

Bến Tre

Kiên Giang

Nguồn: Khảo sát người sử dụng KSH năm 2010 - 2011

Khảo sát người sử dụng KSH năm 2010 - 2011 được triển khai tại 8 tỉnh, thành phố nêu trên, với quy mô điều tra là 383 hộ, bao gồm 303 hộ đang sử dụng công trình KSH và 80 hộ chưa có công trình KSH nhưng đang chăn nuôi và có nhu cầu tham gia xây dựng công trình

Thông tin chung về hộ điều tra đang sử dụng KSH và hộ chưa sử dụng KSH không có nhiều khác biệt Số nhân khẩu bình quân của 1 hộ đang sử dụng KSH là từ 4,5 - 5,5 người, trong đó có từ 2,8 - 3,6 lao động Số nhân khẩu bình quân của 1 hộ chưa sử dụng KSH là từ 4,4 - 5,1 người, trong đó số lao động là từ 2,9 - 3,6 người Kết quả điều tra cho thấy, thu nhập bình quân 1 hộ đang sử dụng KSH là: trước khi có công trình 92,6 triệu đồng/năm, sau khi có công trình 145,6 triệu đồng/năm, đối với hộ chưa sử dụng KSH thu nhập bình quân 1 hộ là 119,1 triệu đồng/năm Trong số 8 tỉnh điều tra, tỉnh Kiên Giang có mức thu nhập bình quân 1 hộ/năm là cao

Trang 24

5.2.2 Năm xây dựng, kích cỡ và chi phí xây dựng công trình KSH

Khảo sát này lựa chọn các hộ tham gia Dự án từ năm 2006 đến nay Trong tổng

số 303 hộ đang sử dụng KSH được đánh giá, có 15 hộ xây dựng công trình năm 2006;

33 hộ xây dựng năm 2007; 44 hộ xây dựng năm 2008; 108 hộ xây dựng năm 2009; 99

hộ xây dựng năm 2010 và 4 hộ xây dựng năm 2011

Đồ thị 2 Tỷ lệ hộ khảo sát theo năm xây dựng công trình KSH

Do khảo sát được thực hiện vào

tháng 3 và tháng 4 năm 2011 nên số

lượng hộ điều tra có công trình xây dựng

năm 2011 ít hơn dự kiến Các hộ mới

xây dựng công trình được 1 - 2 tháng,

chủ hộ chưa thể đánh giá được chất

lượng công trình Nhóm tư vấn đã lựa

chọn các hộ được nghiệm thu công trình

cuối năm 2010 để điều tra thay thế các

hộ xây dựng công trình năm 2011

Tại các tỉnh khảo sát, kích cỡ bình quân của công trình KSH được điều tra có xu hướng tăng lên, phù hợp với việc mở rộng quy mô chăn nuôi của các hộ gia đình Các công trình KSH xây dựng năm 2006 được điều tra ở tỉnh Thái Nguyên có kích cỡ bình quân là 15,1 m3, các công trình xây dựng năm 2009 có kích cỡ bình quân là 19,6

m3, các công trình xây dựng năm 2010 có kích cỡ bình quân 21,0 m3 Các tỉnh, thành phố khác cũng có xu hướng tăng kích cỡ công trình như Hà Nội, Bắc Ninh, Thanh Hoá, Bến Tre

Bảng 13 Kích cỡ bình quân công trình theo năm xây dựng

Đơn vị: m 3

Thái Bình

Thanh Hoá

Quảng

Kiên Giang

Nguồn: Khảo sát người sử dụng KSH năm 2010 - 2011

Đồ thị 3 Kích cỡ bình quân của công trình (m3)

Quy mô chăn nuôi tác động lớn đến kích cỡ công trình KSH của các hộ Kích cỡ bình quân của công trình KSH của các hộ điều tra là 11,3 m3 (chỉ tiêu này của BUS 2008 là 9,7 m3 và BUS 2009 là 11,2 m3) Trong đó, các hộ điều tra tại

Trang 25

số lượng gia súc, gia cầm bình quân hộ khá cao Các hộ điều tra tại tỉnh Quảng Ngãi

có kích cỡ công trình bình quân thấp nhất với 7,9 m3

Đánh giá về mức độ phù hợp của kích cỡ công trình: có 278 hộ điều tra (chiếm 91,8%) cho rằng kích cỡ công trình đang sử dụng là phù hợp và phát huy hiệu quả, chỉ 9 hộ cho là quá lớn và 16 hộ cho rằng kích cỡ quá nhỏ Theo các hộ được điều tra, kích cỡ công trình phù hợp bình quân khoảng 15 m3

Những năm gần đây giá cả vật tư và nhân công lao động tăng nên chi phí xây dựng công trình liên tục tăng Chi phí bình quân 1m3 công trình, theo báo cáo BUS

2008 là 0,95 triệu đồng và theo báo cáo BUS 2009 là 0,94 triệu đồng Chi phí bình quân 1m3 công trình trong khảo sát này là 1,04 triệu đồng

Kết quả khảo sát các hộ sử dụng KSH cho thấy, năm 2006, chi phí bình quân xây dựng 1m3 công trình là 0,69 triệu đồng, năm 2011 tăng lên đến 1,04 triệu đồng Như vậy, để xây dựng 1 công trình

cỡ 10 m3, các hộ xây dựng năm 2011 đã phải chi thêm 3,5 triệu đồng so với hộ xây dựng năm 2006 Tuy mức hỗ trợ của Dự

án cho mỗi công trình có tăng lên (hiện nay là 1,2 triệu đồng/công trình) nhưng mới chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu của người dân

Chi phí xây dựng công trình KSH bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động, trong

đó phải kể đến là: đặc điểm của nền đất xây dựng, chi phí vật liệu và nhân công Kết quả điều tra cho thấy chi phí xây dựng ở Miền nam cao hơn ở miền Bắc, năm 2010 chi phí xây dựng ở Kiên Giang là cao nhất 1,05 triệu đồng/m3 và thấp nhất ở Bắc Ninh 0,87 triệu đồng/m3 Ngoài ra tổng chi phí cuối cùng đến tay người sử dụng còn phụ thuộc vào giá của trang thiết bị KSH

5.3 Các hoạt động của chương trình KSH

5.3.1 Ra quyết định

Các nguồn thông tin giúp hộ tiếp cận với công nghệ KSH là từ các phương tiện thông tin đại chúng, từ bạn bè, hàng xóm, từ cán bộ địa phương hoặc từ Dự án

Đồ thị 5 Nguồn thông tin mà hộ được tiếp cận về KSH

Kết quả điều tra cho thấy, nguồn

thông tin chính giúp hộ dân tiếp cận

công nghệ KSH là từ hoạt động tuyên

truyền, tập huấn của Dự án Có

75,6% số ý kiến cho rằng họ đã quyết

định xây dựng công trình KSH sau

khi được giới thiệu thông qua các lớp

tập huấn và tư vấn hỗ trợ của các 19.80

43.89

75.58

57.10 0.33

1.65

TT đại chúng

Dự án Bạn bè, hàng xóm

Tự nghiên cứu

Từ cán bộ địa phương

Khác

Trang 26

57,1% số ý kiến nhận thấy cán bộ địa phương và có 43,9% số ý kiến cho rằng bạn bè, hàng xóm cũng là những người tích cực cung cấp thông tin về công nghệ KSH giúp

hộ quyết định xây dựng công trình Các phương tiện thông tin đại chúng cũng có đóng góp nhất định khi 19,8% số ý kiến cho biết đã quyết định xây dựng công trình từ thông tin về KSH mà các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp

Khảo sát các tác động về giới từ công trình KSH cho thấy, mức độ phụ nữ tham gia, thúc đẩy gia đình quyết định đầu tư xây dựng công trình KSH còn thấp Trong số

303 hộ điều tra, có 17,2% số hộ chủ hộ là nữ nhưng chỉ có 10,2% số công trình do người vợ quyết định xây dựng, có 85,5% số công trình do người chồng quyết định xây dựng, 4,3% do cả hai người ra quyết định

5.3.2 Kinh tế của hộ gia đình

Để xây dựng công trình KSH, đa số các hộ phải chuẩn bị một khoản kinh phí đủ

để xây dựng xong công trình Nguồn kinh phí chủ yếu là vốn tự có của gia đình, hoặc

đi vay, ngoài ra sau khi công trình đi vào hoạt động hộ gia đình còn nhận được kinh phí hỗ trợ từ Dự án

Về nguồn vốn xây dựng công trình KSH, có 83,2% số hộ điều tra không phải vay tiền để xây dựng Cơ cấu vốn đầu tư là: vốn tự có chiếm 86,9%; vốn hỗ trợ từ Dự

án chiếm 11,6%; nguồn vốn khác (hỗ trợ của tỉnh) chiếm 1,5%

Có 51 hộ (chiếm 16,8%) phải vay tiền để xây dựng công trình, trong đó có 41 hộ phải đi vay do thiếu một phần vốn xây dựng và 10 hộ phải đi vay hoàn toàn (bao gồm

2 hộ ở Hà Nội, 1 hộ ở Bắc Ninh, 1 hộ ở Quảng Ngãi, 4 hộ ở Bến Tre và 2 hộ ở Kiên Giang) Cơ cấu vốn đầu tư là: vốn tự có chiếm 43,0%, vốn vay (ngân hàng, người thân) chiếm 45,5%, vốn hỗ trợ từ Dự án chiếm 10,1%, nguồn vốn khác khác (hỗ trợ của tỉnh) chiếm 1,4% Số tiền bình quân một hộ điều tra phải vay để xây dựng công trình là 5,4 triệu đồng

Phần kinh phí được Dự án hỗ trợ là 1,2 triệu đồng/công trình bằng khoảng 10,8% giá thành công trình xây dựng năm 2010

Được hỏi về thủ tục đăng ký tham gia Dự án, các hộ điều tra cho biết, để có được công trình KSH như mong muốn cần tuân theo trình tự thủ tục bao gồm: làm đơn, làm hợp đồng hỗ trợ, làm hợp đồng xây dựng, xây dựng công trình, biên bản kiểm tra xây dựng, biên bản nghiệm thu công trình, phiếu bảo hành

Các hộ điều tra đều cho rằng thủ tục này là hợp lý và dễ dàng thực hiện vì họ luôn được KTV và thợ xây hỗ trợ, tư vấn Song kết quả phỏng vấn sâu cho thấy vẫn còn những hộ dân chưa thấy hết được sự cần thiết của mỗi thủ tục nêu trên để quản lý tiền hỗ trợ, vì vậy họ cho rằng Dự án còn nhiều thủ tục

Sau khi nhận phiếu bảo hành hộ dân sẽ được nhận tiền hỗ trợ từ Dự án Tuy nhiên, thời gian nhận tiền hỗ trợ còn chậm (trung bình phải sau khoảng 3,5 tháng), KTV không nắm được thông tin để phản hồi với người dân Thực tế cho thấy, ở nhiều tỉnh (Kiên Giang, Bến Tre…), KTV và thợ xây thường ứng trước thiết bị, nguyên vật liệu cho người dân để xây dựng công trình sau đó sẽ thu hồi về khi có tiền hỗ trợ của

Dự án Điều này tạo thuận lợi cho người dân, song lại gây những khó khăn nhất định

Ngày đăng: 09/07/2016, 23:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.  Các tỉnh được lựa chọn khảo sát người sử dụng KSH - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 1. Các tỉnh được lựa chọn khảo sát người sử dụng KSH (Trang 19)
Đồ thị 7.  Tỷ lệ nữ (đã tham gia tập huấn) trực tiếp vận hành công trình KSH (%) - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 7. Tỷ lệ nữ (đã tham gia tập huấn) trực tiếp vận hành công trình KSH (%) (Trang 28)
Bảng 15.  Đánh giá khả năng nắm bắt thông tin của nữ giới - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
Bảng 15. Đánh giá khả năng nắm bắt thông tin của nữ giới (Trang 29)
Đồ thị 16.  Các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định lựa chọn thiết bị - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 16. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định lựa chọn thiết bị (Trang 34)
Đồ thị 17.  Nguyên nhân thiết bị, phụ kiện của công trình bị hỏng (%) - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 17. Nguyên nhân thiết bị, phụ kiện của công trình bị hỏng (%) (Trang 34)
Đồ thị 22.  Đánh giá về các loại công nghệ KSH tại địa phương - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 22. Đánh giá về các loại công nghệ KSH tại địa phương (Trang 36)
Đồ thị 23. Mục đích đến hộ dân của KTV và thợ xây (%) - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 23. Mục đích đến hộ dân của KTV và thợ xây (%) (Trang 38)
Đồ thị 24.  Các hình thức hỗ trợ mà hộ dân đã nhận được (%) - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 24. Các hình thức hỗ trợ mà hộ dân đã nhận được (%) (Trang 38)
Đồ thị 28.  Cơ sở để đầu tư xây dựng công trình KSH của các hộ chưa có KSH - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 28. Cơ sở để đầu tư xây dựng công trình KSH của các hộ chưa có KSH (Trang 41)
Đồ thị 32. Thời gian tiết kiệm được bình quân mỗi ngày của hộ sử dụng KSH - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 32. Thời gian tiết kiệm được bình quân mỗi ngày của hộ sử dụng KSH (Trang 44)
Đồ thị 33.  Sử dụng thời gian tiết kiệm được cho các hoạt động (%) - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 33. Sử dụng thời gian tiết kiệm được cho các hoạt động (%) (Trang 45)
Đồ thị 34.  Những hoạt động gây ô nhiễm môi trường ở địa phương - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 34. Những hoạt động gây ô nhiễm môi trường ở địa phương (Trang 47)
Đồ thị 35.  Đánh giá các thay đổi về mùi hôi và bụi bẩn tại hộ gia đình - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 35. Đánh giá các thay đổi về mùi hôi và bụi bẩn tại hộ gia đình (Trang 47)
Đồ thị 36.   Phương thức xử lý chất thải chăn nuôi của hộ điều tra - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 36. Phương thức xử lý chất thải chăn nuôi của hộ điều tra (Trang 48)
Đồ thị 38.  Những khó khăn khi xây dựng (%) - KHẢO SÁT NGƯỜI SỬ DỤNG KHÍ SINH HỌC 2010  2011
th ị 38. Những khó khăn khi xây dựng (%) (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm