Hiện nay, ở các tỉnh ĐBSCL đang có những bước tiến lớn trong việc thay đổi quy mô và chất lượng của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản.. Mô hình nuôi cá lóc trong ao đang dần được quan tâm
Trang 1KHOA THỦY SẢN
LÊ LONG PHI
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH
NUÔI CÁ LÓC (Channa striata Bloch, 1795) TRONG AO
Ở TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ThS HUỲNH VĂN HIỀN
2014
Trang 2PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC (Channa
striata bloch, 1795) TRONG AO Ở TRÀ VINH
Lê Long Phi1
1
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
ABSTRACT
The study was conducted from January to May 2014, objectives of the study is to analyse financial efficiency of snakehead fish farming system in Tra Vinh The primary data were collected from 30 households in Tra Vinh province by questionnaires The results showed that the mean total cost of snakehead fish farming is 472,7 million VND/ha/crop Mean income was 442,7 million VND/ha/ crop Price of snakehead fish this year was 29.22 thousand VND/kg while the mean production cost of commercial fish was 29,27 - 33 thousand VND/kg) Therefore, this year the mean deficit was 57 million VND/ha/ crop Minority of studied households had positive profit The main reason is the selling price was low at the harvest time Although there are a lot of advantages including of natural conditions, techniques, the support from aquarium fish feed company However, snakefish farmers have to face difficulties such as low selling price,treatment and medication as well as feed quality control Therefore there is a need
of planning, treatment and medication control as well as feed quality assessment
Keywords: Snakeheed fish, financial performance efficiency, Tra Vinh province
Title: Financial performance efficiency analysis of snakehead fish in pond farming systerm in Tra Vinh province
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014, nhằm phân tích hiệu quả tài chính cơ bản của mô hình nuôi cá lóc trong ao đất ở Trà Vinh Số liệu sơ cấp được thu thập từ 30 hộ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh bằng cách phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi Qua khảo sát cho thấy, tổng chi phí nuôi cá lóc trung bình là 472,7 triệu đồng/ha/vụ tương ứng với mức thu nhập trung bình là 442,7 triệu đồng/ha/vụ Giá bán cá lóc đầu ra năm nay thấp ở mức 29,22 (ngàn đồng/kg) trong khi giá thành sản xuất cá thương phẩm thì ở mức trung bình là 29,27 – 33 (ngàn đồng/kg) Kết quả khảo sát cho thấy hộ nuôi cá lóc tại Trà Vinh trung bình lỗ trên 57 triệu đồng/ha/vụ Số ít hộ nuôi hòa vốn hoặc có lời trong vụ nuôi được khảo sát Nguyên nhân chính là giá bán thời điểm thu hoạch xuống thấp Dù có những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, kỹ thuật sản xuất, sự hỗ trợ đầu vào của các đại lý Tuy nhiên, cũng có nhiều khó khăn là giá bán thấp, khả năng kiểm soát chất lượng thức ăn và thuốc phòng trị bệnh Chính vì thế cần quy hoạch vùng nuôi, kiểm tra chất lượng thuốc phòng trị bệnh, kiểm định chất lượng thức ăn là việc làm cần thiết
Trang 3Từ khóa: Cá lóc, hiệu quả tài chính, Trà Vinh
1 GIỚI THIỆU
Thuỷ sản là ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Điều kiện
tự nhiên thuận lợi giúp ngành thuỷ sản Việt Nam tạo ra rất nhiều giá trị từ nguồn nguyên liệu dồi dào đến giá trị kim ngạch xuất khẩu cao Điều quan trọng nhất là đưa thương hiệu thuỷ sản Việt Nam đến với thị trường thế giới Tổng sản lượng thuỷ sản cả năm
2012 ước tính đạt 5,938 ngàn tấn, tăng 3,6% so với cùng kì năm trước; trong đó sản lượng khai thác ước đạt 2,725 ngàn tấn, tăng 3,9% so với năm trước, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3,213 ngàn tấn Giá trị xuất khẩu thuỷ sản tính đến cuối năm 2013 ước đạt 6,7 tỷ USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2013) Theo nghiên cứu của Đỗ Minh Chung (2010) tại thời điểm nghiên cứu, cá lóc được nuôi hầu hết các tỉnh ĐBSCL ngay cả những tỉnh ven biển như Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng,… Sản lượng năm 2009 đạt hơn 40,000 tấn tăng gấp 8 lần so với năm 2002 (5,300 tấn) Cá lóc là loài bản địa của ĐBSCL nên hầu hết cá lóc nuôi hiện tại chủ yếu tiêu thụ
ở thị trường nội địa và một số ít bán cho Campuchia Lượng cá lóc tự nhiên giảm mạnh nên một số cơ sở chế biến tìm nguồn cá lóc tự nhiên thay thế từ Campuchia (5,7%), lượng cá lóc tự nhiên này được nhập về nhiều vào mùa lũ hằng Các thương lái mua cá lóc ở các ao nuôi thương phẩm vận chuyển về các chợ đầu mối để tiêu thụ như chợ Bình Điền (Tp Hồ Chí Minh), chợ Vĩnh Kim (Tiền Giang), các dựa thu mua lớn,… Sau đó, các chợ đầu mối này phân phối lại cho các chợ lớn nhỏ trong toàn khu vực Với các cơ sở thu mua cá nước ngọt thì cá lóc chiếm 38,5% tổng sản lượng cá thu mua của các cơ sở mua thủy sản của tỉnh Trà Vinh (Lê Xuân Sinh và Dương Nhựt Long, 2006) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm của Việt Nam về ngành hàng thuỷ sản Thời gian qua, nuôi trồng và khai thác thủy hải sản ở vùng ĐBSCL được khẳng định là những nghề mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển và nông thôn Mỗi năm, vùng ĐBSCL cung cấp khoảng 52% sản lượng thuỷ sản đánh bắt và gần 67% sản lượng nuôi trồng; chiếm 65% giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nước (Việt Âu, 2013) Theo báo cáo của Nguyễn Thị Diệp Thúy (2010) qua đề tài “Phân tích một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các mô hình nuôi cá lóc ở đồng bằng sông Cửu Long”, cho biết năm 2009, Đồng Tháp có 2,299
hộ nuôi cá lóc với tổng sản lượng thu hoạch là 6.558,7 tấn, trong đó: nuôi ao đạt 2.744 tấn, vèo ao đạt 2.561 và lồng bè là 1.253,7 tấn, với diện tích ao nuôi là 30,4 ha giảm 165
ha so với năm 2008 và số lượng vèo, lồng bè lần lượt là 2.714 cái và 207 cái có tăng số lượng so với năm 2008 Cũng vào năm 2009, báo cáo cho biết tổng sản lượng cá lóc nuôi toàn tỉnh là 15.241 tấn với 75,4 ha cá lóc nuôi trong ao hầm 6,9 ha nuôi vèo và các mô hình nuôi khác còn lại với 476 cái lồng có thể tích nuôi 38,98 nghìn m3 nước nuôi
Theo nghiên cứu của Đỗ Minh Chung (2010) tại thời điểm nghiên cứu, cá lóc được nuôi hầu hết các tỉnh ĐBSCL ngay cả những tỉnh ven biển như Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng,… Sản lượng năm 2009 đạt hơn 40.000 tấn tăng gấp 8 lần so với năm 2002 (5.300 tấn) Cá lóc là loài bản địa của ĐBSCL nên hầu hết cá lóc nuôi hiện tại chủ yếu tiêu thụ
Trang 4ở thị trường nội địa và một số ít bán cho Campuchia Lượng cá lóc tự nhiên giảm mạnh nên một số cơ sở chế biến tìm nguồn cá lóc tự nhiên thay thế từ Campuchia (5,7%), lượng cá lóc tự nhiên này được nhập về nhiều vào mùa lũ hằng năm (Đỗ Minh Chung, 2010) Các thương lái mua cá lóc ở các ao nuôi thương phẩm vận chuyển về các chợ đầu mối để tiêu thụ như chợ Bình Điền (Thành phố Hồ Chí Minh), chợ Vĩnh Kim (Tiền Giang), các dựa thu mua lớn,… Sau đó, các chợ đầu mối này phân phối lại cho các chợ lớn nhỏ trong toàn khu vực Với các cơ sở thu mua cá nước ngọt thì cá lóc chiếm 38,5% tổng sản lượng cá thu mua của các cơ sở mua thủy sản của tỉnh Trà Vinh (Lê Xuân Sinh và Dương Nhựt Long, 2006)
Hiện nay, ở các tỉnh ĐBSCL đang có những bước tiến lớn trong việc thay đổi quy
mô và chất lượng của các mô hình nuôi trồng thuỷ sản Mô hình nuôi cá lóc trong ao đang dần được quan tâm phát triển do mang lại hiệu quả khá cao cho nhiều hộ nông dân đồng thời góp phần mang lại giá trị kinh tế ở thị trường nội địa Nhiều năm nay, Trà Vinh nói chung và các hộ nuôi nói riêng đã xem mô hình này là một trong những hướng đi mới của thuỷ sản Trà Vinh, Hiện nay nuôi cá lóc trong ao mang lại mức lợi nhuận là 219,6 (ngàn đồng/m2)(Nguyễn Hoàng Huy, 2011) Do vậy, nhiều hộ dân đã chuyển đổi sang nuôi cá lóc trong ao, đặc biệt là huyện Trà Cú Việc nuôi cá lóc trong ao với diện tích ngày càng được mở rộng dẫn đến tình trạng khan hiếm con giống, phần lớn nguồn nước thải trong các ao nuôi sau thu hoạch hoặc trong quá trình nuôi được thải trực tiếp ra sông, rạch Vì thế làm cho một số tuyến kênh bị ô nhiễm, rất dễ làm phát sinh bệnh Song song là vấn đề giá cả đầu vào đầu ra cũng có nhiều vấn đề phát sinh Trước thực trạng hiện nay, để đưa ra hướng quy hoạch, quản lý và phát triển mô hình nuôi bền vững cũng như nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá lóc trong ao nên đề tài “Phân
tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc (Channa Striata Bloch, 1795) trong ao ở
Trà Vinh” được thực hiện Nhằm đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển mô hình nuôi ổn định
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Số liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phỏng vấn 30 hộ nuôi cá lóc tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh từ tháng 01/2014 đến tháng 6/2014
Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp, kiểm tra, xử lý sơ bộ trước khi nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel Sử dụng phương pháp thống kê mô
tả, phương pháp thống kê nhiều lựa chọn và phương pháp phân tích ma trận SWOT (Lê
Xuân Sinh và ctv., 2012)
Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu được tính toán dựa trên các công thức sau: (Lê Xuân Sinh, 2010):
Trong đó: TFC: Tổng chi phí cố định (triệu đồng/ha/vụ)
TVC: Tổng chi phí biến đổi (triệu đồng/ha/vụ)
Tổng thu nhập (TR): TR = Q 1 P 1 + Q 2 P 2 + … + Q i P i
(kg/ha/vụ)
Trang 5Tổng lợi nhuận (PR) PR = TR – TC
Phương pháp hao mòn tài sản cố định (TSCĐ) được sử dụng để tính khấu hao hàng năm (KHHN) trong tổng chi phí cố định (TFC) là phương pháp tuyến tính (Lê Xuân Sinh)
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Phân tích thực trạng của mô hình nuôi cá lóc trong ao tại Trà Vinh
Độ tuổi trung bình của chủ hộ nuôi ở trong địa bàn nghiên cứu là 43.97 ± 9.49 Độ tuổi chủ hộ nuôi lớn đồng thời hoạt đông sản xuất thủy sản nói chung và nuôi cá lóc nói riêng cho ta thấy người dân có khá nhiều kinh nghiệm trong nghề nuôi này Kinh nghiệm sản xuất cá lóc thịt ở trong vùng có giá trị đạt từ 1 - 12 năm và giá trị trung bình cũng ở mức cao (5.13) và mức độ biến động kinh nghiệm cũng ở mức tương đối lớn với giá trị
là (± 3.68) Một phần do độ tuổi trung bình tương đối cao một phần địa phương đa số là nông dân nên trình độ của người dân ở đây chỉ ở mức trung bình với trình độ cấp 1 là 4 người chiếm 13.33%, cấp 2 là 18 người chiếm 60%, cấp 3 là 7 người chiếm 23.33%, đại học là 1 người chiếm 3.33% và không có chủ hộ nuôi nào mù chữ
Bảng 1: Một số thông tin về nông hộ nuôi cá lóc tại trà Vinh
Nguồn thông tin kinh tế - kỹ thuật được các hộ nuôi áp dụng chủ yếu là theo kinh nghiệm chiếm 37.29% và học hỏi từ các hộ nông dân khác chiếm 40.68% các nguồn
Trang 6khác như tài liệu khuyến ngư, tivi – báo – đài, kỹ sư, sách báo – tạo chí chuyên ngành lần lượt chiếm tỷ lệ là 8.47%, 6.78%, 5.08% và 1.69% Số liệu được cập nhật ở bảng 1 cho thấy, các nguồn thông tin trên đều được hộ nuôi đề cập đến bởi các nguồn thông tin này có tác động trực tiếp đến tình hình hoạt động sản xuất của họ đặc biệt là khả năng cân đối đầu vào đầu ra từ thức ăn, thuốc phòng trị bệnh mà ngay cả đến sự biến động của giá cả của chúng các hộ nuôi cũng luôn cập nhật liên tục
Lao động gia đình tham gia hoạt động sản xuất nuôi cá lóc đạt từ 2 – 8 người/hộ với giá trị trung bình là 2.53 ± 1.17 người/hộ, trong đó; số lao động nữ đạt từ 1 – 2 người/hộ với giá trị trung bình là 1.07 ± 0.25 người/hộ Do hoạt động nuôi thủy sản mang tính truyền thống theo từng hộ gia đình và có quy mô nhỏ nên hoạt động nuôi cá lóc ở trên địa bàn không có thuê lao động thường xuyên mà các thành viên trong hộ nuôi trực tiếp sản xuất và quản lý Đa số là các hộ chỉ thuê thêm vài lao động thời vụ phục vụ quá trình thu hoạch và chuẩn bị ao cho vụ sau Nguồn lao động này theo từng hộ, từng diện tích cũng như cách sử dụng của người thuê mà số lượng dao động từ 2 – 30 người với mức giá từ 150 – 180 nghìn đồng tùy theo thỏa thuận giữa chủ cơ sở và người lao động Nhìn tổng thể vấn đề lao động ở trong hoạt động sản xuất nuôi thủy sản đặc biệt là nuôi cá lóc trên địa bàn nghiên cứu từ lao động gia đình đến lao động thuê ngoài theo dạng thời vụ luôn chủ động và hoạt động tương đối hiệu quả với hiệu suất hoạt động ổn định
Phong trào nuôi đang phát triển mạnh ở huyện trong nhiều năm nay Vì thế, vấn đề quản lý và kiểm soát các hộ nuôi đang gặp rất nhiều khó khăn Quan trọng nhất vẫn là vấn đề thiếu hụt con giống, một số vấn đề về thức ăn và thuốc, khối lượng cá thương phẩm bán ra thị trường quá lớn, khó kiểm soát chất lượng nguồn nước trong suốt vụ nuôi Bên cạnh đó, giá bán cá lóc trong vùng đang ở mức thấp gây ảnh hưởng lớn cho người nuôi Chính vì thế phải có biện pháp hỗ trợ và rà soát chất lượng con giống, thức
ăn, thuốc và một số vấn đề ảnh hưởng giá như lượng cung cá lóc vào thị trường Chính quyền các cấp tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lí cũng như đào tạo thêm nguồn nhân lực cho phù hợp với yêu cầu hiện tại
Trong thời gian tới đây diện tích ao nuôi, số lượng ao nuôi có những thay đổi nhất định nguyên nhân là do rất nhiều yếu tố khách quan Nhưng quan trong nhất là do giá bán cá đang ở mức thấp dẫn đến tình trạng người dân nuôi lỗ cộng thêm các yếu tố đầu vào đang có xu hướng tăng lên chỉ duy nhất giá con giống là có dấu hiệu giảm Bảng 2 cho thấy có đến 53.33% hộ nuôi sẽ giảm diện tích nuôi cá lóc trong thời gian tới mặc dù
số lượng ít nhưng sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến lượng cung cá lóc trong thời gian tới
Có thể nguyên nhân là do giá cá bán ra thị trường hiện đang ở mức thấp hơn so với giá
cá thành phẩm nên việc chuyển đổi cũng là việc làm cần thiết Trong tình hình giá cá chưa thực sự khả quan lại có nhiều hộ chấp nhận rủi ro, tăng thêm diện tích mô hình này
số lượng đó chiếm 26.67% Còn lại là 20% hộ nuôi quyết định không thay đổi diện tích sản xuất Chính vì hộ nuôi thấy được giá trị kinh tế của con cá là khá lớn nên đã quyết định chọn mô hình để duy trì và phát triển Mặc dù các hộ đang gặp rất nhiều khi vụ nuôi vừa rồi nhiều hộ lỗ nặng
Trang 7Bảng 2: Xu hướng thay đổi trong sản xuất của nông hộ nuôi cá lóc tại Trà Vinh
2013 – 2014
Diện tích
Số lượng ao
Loài nuôi
Nguồn cá giống
Mật độ thả
Thời điểm thả giống
Thức ăn
Quản lý chất lượng nước
Phòng trị bệnh
Thời điểm thu hoạch
Đối tượng tiêu thụ
83.33 83.33
100
100
70
100
100
100 3.33
100
100
16.67 16.67
0
0
30
0
0
0 96.67
0
0
Từ Bảng 2 cho thấy, số lượng ao nuôi sẽ giảm trong thời gian tới khi 16,67% hộ nuôi muốn thay đổi với các lý do khác nhau Nhìn chung các lý do chủ yếu là chuyển đổi
mô hình khác (ở đây người dân một phần nhỏ chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng theo hình thức nuôi thâm canh), một lý do khác là treo ao do khả năng tài chính không còn đủ
để duy trì nghề nuôi Dự kiến tình hình diện tích cũng như số lượng ao nuôi trong thời gian tới ở các hộ sẽ có xu hướng giảm dần theo tỷ lệ 16,67% Diện tích, số lượng ao giảm có những ảnh hưởng nhất định đến ngành hàng cá lóc Thông qua tác động về giá bán, nguồn đầu vào như thức ăn và thuốc phòng trị bệnh cũng có những thay đổi theo hướng bình ổn từ giá đến chất lượng
3.2 Thông tin về kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao tại Trà Vinh
Diện tích trung bình là 1,94 ± 1,27 ha Số lượng ao khảo sát là 77 ao, trong đó: mỗi
hộ có số lượng ao nằm trong khoảng từ 1 – 6 ao giá trị trung bình của số lượng ao mà từng hộ có là 2,57 ± 1,19 ao Diện tích trung bình của mỗi ao đạt 0,73 ± 0,30 ha nằm trong khoảng 0,23 – 0,6 ha Độ sâu nằm trong khoảng 2 – 3 m với giá trị trung bình là 2,70 ± 0,36 m Nhìn chung, diện tích nuôi của các hộ ở trong vùng nghiên cứu có sự chênh lệch khá lớn nguyên nhân là do địa hình khu vực xây dựng công trình khác biệt, diện tích đất canh tác, khả năng tài chính Bên cạnh đó khả năng cung cấp nước cho ao nuôi, phong cách quản lý cũng như kinh nghiệm sản xuất của từng chủ hộ nuôi cũng có
sự khác biệt Số lượng ao nuôi và độ sâu của ao cũng có những chênh lệch chủ yếu dựa vào diện tích đất canh tác của từng hộ nuôi
Trên địa bàn nghiên cứu tất cả các hộ điều chọn đối tượng nuôi là loài cá lóc đầu nhiếm, cho thấy cá lóc đầu nhiếm có những điều kiện thích nghi tốt với môi trường cũng như là mô hình nuôi ở đây Số lượng giống thả được nghiên cứu trên địa bàn đạt 2.075.000 con các hộ thả chủ yếu thả ở khoảng từ 26.000 – 180.000 con
Ở đây nguồn giống các hộ nuôi chủ yếu mua ở các trại sản xuất giống của 2 tỉnh khác trong đó An Giang là tỉnh cung cấp số lượng lớn nhất chiếm đến 83.33% số lượng giống cho các hộ nuôi được khảo sát Còn lại là các trại sản xuất giống ở tỉnh Đồng Tháp
Trang 8chiếm 16,67% trong tổng số các hộ trên địa bàn nghiên cứu Kích cỡ cá giống ở đây các
hộ nuôi chủ yếu sử dụng ở khoảng 400 – 900 con có giá trị trung bình đạt 646,67 ± 123,13 con
Theo ý kiến người dân kích cỡ cá giống như hiện tại đã đáp ứng gần như đầy đủ các điều kiện kỹ thuật và tài chính Tiếp theo là vấn đề về giá của cá giống được mua về thả có giá vào khoảng 260 – 470 đồng/con cùng với mức trung bình là 398,33 ± 42,92 (đồng/con) Giá giống này theo đánh là tương đối thấp trong thời điểm nghiên cứu và gần như đồng đều với giá giống ở các tỉnh khác có nuôi cá lóc thương phẩm Chi phí mua giống cảu các hộ nằm vào khoảng 12,22 - 72 triệu đồng, mức trung bình của từng
hộ là 27,45 ± 14,11 (triệu đồng) Nhìn chung, chi phí giống cũng không phải là trở ngại lớn của các hộ nuôi bởi nó chỉ chiếm chi phí một phần nhỏ trong tổng chi phí của hộ nuôi
Mật độ giống thả trung bình trên địa bàn khảo sát là 19,87 ± 16,94 con/m3 nằm trong khoảng 4,17 – 72 con/m3, đây là mật độ tương đối cao so với mô hình nuôi này Bởi vì với mật độ này rất khó để quản lý lượng thức ăn, thuốc phòng trị bệnh, cá phát triển không đều, chi phí khác cũng sẽ tăng lên vì thế giá cả làm ra của cá thương phẩm sẽ tăng lên dẫn đến các vấn đề về tài chính
Bảng 3: Thông tin về khối lượng và giá thức ăn của nông hộ nuôi cá lóc tại Trà
Vinh 2013 – 2014
Đơn vị: (hộ/năm/vụ)
Cá tạp là loại cá gồm rất nhiều loại cá dùng để làm thức ăn cho các loại cá khác Trung bình một vụ nuôi mỗi hộ dùng một lượng cá tạp làm thức ăn là 481,67 ± 490,45
kg nằm vào khoảng từ 50 – 2000 kg Chênh lệch lượng cá tạp giữa các hộ nuôi rất lớn nên độ lệch chuẩn cũng rất lớn Nguyên nhân chính là do người dân thay đổi kỹ thuật trong sản xuất Thay vì cho cá lóc ăn cá tạp vào thời gian đầu thì nhiều hộ nuôi cho ăn ít lại và trong thời gian rất ngắn Một số khác cho ăn nhiều hơn vì giá cá tạp rẻ hơn giá thức ăn công nghiệp hoặc số khác sợ cá còn nhỏ chưa ăn được thức ăn công nghiệp Giá
cá tạp nằm ở mức 6,5 - 12 nghìn đồng, với mức trung bình là 8,4 ± 1,17 nghìn đồng Nhìn chung giá cá tạp tương đối ổn định do nhu cầu không quá cao và lượng cung vào thị trường cũng khá lớn, cộng thêm lượng chi phí cho nguồn thức ăn này cũng không đáng kể Chính vì vậy người nuôi không quá quan tâm về giá của nguồn thức ăn này Nhưng theo đánh giá thì thời điểm khó khăn này chúng ta cần phải tận dụng tối đa cơ hội
có thể mua được lượng nguyên liệu đầu vào giá rẻ để tăng hiệu quả tài chính cho hoạt động sản xuất
Trang 9Thức ăn công nghiệp là loại thức ăn được sản xuất ở các nhà máy xí nghiệp phục
vụ cho hoạt động sản xuất theo từng loại cá hoặc tôm Thức ăn công nghiệp trung bình mỗi hộ dùng 35.260 ± 23.932,53 kg/vụ, giá trị nằm trong khoảng 6.250 – 100.000 kg/vụ Theo thông tin khảo sát được từ các hộ dân cho thấy, trong thời gian vừa qua các hộ nuôi thấy giá cá có sự biến động theo hướng xấu cho nên họ giảm lượng thức ăn xuống mức rất thấp Còn số khác đã nuôi trong thời gian quá lâu nên lượng thức ăn lớn dần theo thời gian nhằm mục đích chờ giá Đó chính là nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động rất lớn về lượng thức ăn công nghiệp ở các hộ nuôi Giá thức ăn công nghiệp hiện đang ổn định ở mức giá ở vào khoảng 19,20 – 24 nghìn đồng/kg, tùy thuộc vào loại thức ăn được
hộ nuôi lựa chọn Trên địa bàn người dân sử dụng các loại thức ăn khác nhau như: UP (16,67%), Tongwei (16,67%), Toàn Phát (13,33%), Ewos (13,33%), Con Cò (10%), Afiex (10%), Cargill (6,67%), Bình Phước (6,67%), Lái Thiêu (3,33), Master (3,33%) Tùy theo thời gian sử dụng dài hay ngắn và mức độ thân thiết giữa các hộ nuôi với đại lý phân phối mà các đại lý quyết định là có các khoảng chiết khấu về giá hay không cũng như thời gian thanh toán sẽ như thế nào Hiện nay, nhiều người nuôi cũng có chuyển đổi loại thức ăn nhưng cũng nằm vào danh sách các nhà phân phối đã được đề cặp ở trên Giá trung bình của các loại thức ăn ở mức 21,09 ± 0,76 nghìn đồng/kg Sự chênh lệch giá giữa các loại thức ăn tương đối thấp điều này cho thấy sự cạnh tranh về giá giữa các đại lý là khá lớn Tuy chưa biết chiết khấu theo các loại thức ăn như thế nào nhưng chắc chắn sẽ có lợi cho hộ nuôi khi họ chuyển đổi hoặc sử dụng loại thức ăn của nhà phân phối cũ Cách thu thập các thông tin về giá của hộ nuôi chủ yếu qua các hộ nuôi khác hoặc theo biểu giá của đại lý điều này có thể gây bất lợi trong việc thương lượng cho hộ nuôi Do vậy hộ nuôi cần có nhiều thông tin và thông số kỹ thuật hơn để tận dụng tốt hiệu quả thức ăn và cả hiệu quả tài chính
Bảng 4: Tình hình sử dụng thức ăn trong nông hộ nuôi cá lóc tại trà Vinh
Hệ số FCR là 1,61 ± 1,48, hệ số này lớn nguyên nhân chủ yếu là do người dân neo
cá lại quá lâu không chịu bán vì mức giá hiện tại ở mức quá thấp
Nhìn chung, chi phí thuốc phòng trị bệnh của các hộ nuôi ở mức trung bình vào khoảng từ 2 – 30 triệu đồng/vụ với giá trị trung bình là 9,9 ± 6,99 triệu đồng/vụ, chiếm 59% trong tổng chi phí sử dụng hóa chất trong ao nuôi Mỗi vụ nuôi các hộ nuôi dùng số lượng thuốc phòng trị bệnh khác nhau tùy theo điều kiện thời tiết hoặc cá bị bệnh nhiều hay ít Các hộ nuôi sử dụng các loại thuốc của các nhà phân phối khác nhau nên có giá
Trang 10cũng như hiệu quả khác nhau Vì vậy, để có được hiệu quả tốt nhất về kỹ thuật và tài chính các hộ nuôi cần chọn các nhà phân phối uy tính về chất lượng và giá
Chi phí chất xử lý nước của các hộ nuôi trong huyện có giá trị trung bình 6,08 ± 4,31 triệu đồng/vụ nằm vào khoảng từ 2 – 22 triệu đồng/vụ Từ số liệu cho thấy vụ nuôi vừa các hộ nuôi xử dụng chất xử lý có sự chênh lệch số lượng rất cao dẫn đến chi phí cũng rất cao Mặc khác, hộ nuôi có cách sử dụng các hóa chất khác nhau với chất lượng khác nhau, do vậy mà chi phí của các hộ cũng rất khác nhau Hóa chất xử lý nước chiếm 38% trong tổng chi phí dành cho các khoảng dùng hóa chất xử lý và phòng trị bệnh Điều này phản ánh tình hình môi trường nước ở huyện Trà Cú đang dần thay đổi theo chiều hướng xấu Do quá nhiều hộ nuôi thải trực tiếp nguồn nước nuôi chưa qua xử lý ra nguồn cung cấp nước (sông, kênh, gạch) làm ảnh hưởng xấu đến nguồn nước cũng như chất lượng cá Hóa chất xử lý nước, thuốc phòng trị bệnh được thải trực tiếp ra sông cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc xử lý lại nguồn nước Làm cho hóa chất xử lý, thuốc phòng trị bệnh kém hiệu quả Vì vậy các hộ nuôi phải sử dụng nhiều hơn tốn chi phí nhiêu hơn Nếu có điều kiện tốt về diện tích nên hính thành ao xử lý nước thải sẽ rất tốt cho các vụ nuôi Nhưng việc này phải được làm đồng loạt mới có hiệu quả
Tình hình tiêu thụ cá của người dân hiện nay chủ yếu chỉ thu hoạch và bán với cùng một mức giá Riêng chỉ có một phần rất nhỏ cá không đủ tiêu chuẩn (cá bị dị tật) được bán với giá thấp hơn Trong trình bày nghiên cứu, các loại cá này được quy đổi chung lại với nhau để tiện hơn cho việc tính toán Nhìn chung, cá thu hoạch được bán cho các thương lái trong và ngoài tỉnh Nhưng chủ yếu bán cho các thương lái ngoài tỉnh
do phương thức thanh toán và giá bán có nhiều thuận lợi hơn cho hộ nuôi
Các thương lái thu mua tỉnh khác gồm 7 tỉnh chiếm các tỷ lệ khác nhau: An Giang (34,62%), Đồng Nai (15,38%), Đồng Tháp (23,08%), Tp Hồ Chí Minh (7,69%), Vĩnh Long (3,85%), Kiên Giang (7,69%), Cần Thơ (7,67%) Thị trường tiêu thụ chủ yếu của con cá lóc ở thị trường nội địa do vậy hầu như tất cả các tỉnh đều có nhu cầu về loại thực phẩm này Nhu cầu cá lóc của Trà Cú cũng không lớn mà lượng sản xuất ra qua lớn và hơn nữa là thương lái của các tỉnh có được đánh giá tốt hơn so với các thương lái trong tỉnh Họ cũng có uy tính hơn, thanh toán nhanh hơn so với thương lái trong tỉnh
Bảng 5: Thông tin về kỹ thuật trong nông hộ nuôi cá lóc tại trà Vinh
Diện tích trung bình của các hộ nuôi trung bình khoảng 1,94 ha với độ lệch chuẩn
là 1,27 Chủ yếu là do diện tích giữa các hộ nuôi có sự trên lệch khá lớn trong mức biến