1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng tinh thần khoan dung hồ chí minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

28 407 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 156 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội nhìn trên một bình diện chung nhất, nó là một chỉnh thể thống nhất, nhưng không đồng nhất mà ngược lại là rất đa dạng. Trong xã hội đó vẫn có rất nhiều mặt, những mối liên hệ, quan hệ khác nhau, thậm chí đối lập nhau, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau và vận động theo những khuynh hướng khác nhau. Không phải sự khác nhau nào cũng tạo nên bất đồng, nhưng những sự khác nhau, tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu xử lý không tốt sẽ tạo nên bất đồng, thậm chí là sự tan rã của một chỉnh thể nhất định nào đó. Cũng bởi ứng xử không khoan dung đối với những khác biệt mà lịch sử xã hội loài người đã phải trải qua biến bao thăng trầm biến cố từ những cuộc chinh phạt, những cuộc chiến tranh. Biết bao dân tộc đang thống nhất trở nên chia rẽ, rơi vào cảnh huynh đệ tương tàn… cũng một phần là thiếu tinh thần khoan dung.Nhân ái, hòa bình là khát vọng chung của nhân loại, nhưng trong thực tế hàng ngàn năm tồn tại, loài người chưa bao giờ có hòa bình, lòng nhân ái ngự trị trong xã hội. Loài người đã phải nếm trải hàng ngàn cuộc chiến tranh lớn nhỏ khác nhau, đặc biệt là trong thế kỷ XX, nhân loại phải chứng kiến những cuộc chiến tranh khốc liệt nhất. Nhờ biết khoan dung mà một thế giới có thể phát triển trong ổn định, nhờ biết khoan dung mà một dân tộc có thể đoàn kết, gắn bó và cường thịnh. Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy, và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của khoan dung, nhân ái Việt Nam. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam có nhiều yếu tố tạo nên, trong đó tinh thần khoan dung là một yếu tố quan trọng. Đối với cách mạng nước ta đại đoàn kết là điểm mẹ, là sức mạnh, là nền tảng của thành công, thì chính tinh thần khoan dung đã góp phần tạo dựng nên sự đoàn kết đó. Có khoan dung mới có hòa đồng, có khoan dung mới có hòa thuận, có khoan dung mới có thể tập hợp được lực lượng của toàn dân tộc để hướng sức mạnh chung vào một mục tiêu thống nhất. Nói cách khác, biết khoan dung mới có thắng lợi.Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến biết bao sự đổi thay của thế giới. Hòa bình và hợp tác vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng những cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, những cuộc chiến tranh cục bộ vẫn xảy ra, gieo rắc biết bao khổ đau cho nhân loại, mà một trong những lý do là thiếu tinh thần khoan dung. Ở trong nước, tình hình đất nước ta vẫn phát triển ổn định và đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, vẫn có nhiều vấn đề xã hội cần phải giải quyết, nhiều mâu thuẫn xã hội đã phát sinh thành những điểm nóng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bị thoái hóa, biến chất, mất đoàn kết, chạy theo danh lợi, địa vị, kèn cựa lẫn nhau, thờ ơ với những khổ nhân dân dân, gây bức xúc trong dư luận và ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng, Nhà nước trong nhân dân. Điều này cần phải được khắc phục để tạo nên sự đồng thuận xã hội cao nhất, để đưa nước ta vượt qua mọi khó khăn, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức đạt được các mục tiêu đề ra. Một trong những cách thức để đạt được điều đó là làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thấm nhuần tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh trong lời nói và việc làm yếu tố vô cùng quan trọng trong tạo lập sự đoàn kết và đồng thuận xã hội

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội nhìn trên một bình diện chung nhất, nó là một chỉnh thể thống nhất,nhưng không đồng nhất mà ngược lại là rất đa dạng Trong xã hội đó vẫn có rấtnhiều mặt, những mối liên hệ, quan hệ khác nhau, thậm chí đối lập nhau, bị chiphối bởi nhiều yếu tố khác nhau và vận động theo những khuynh hướng khácnhau Không phải sự khác nhau nào cũng tạo nên bất đồng, nhưng những sự khácnhau, tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu xử lý không tốt sẽ tạo nênbất đồng, thậm chí là sự tan rã của một chỉnh thể nhất định nào đó Cũng bởi ứng

xử không khoan dung đối với những khác biệt mà lịch sử xã hội loài người đã phảitrải qua biến bao thăng trầm biến cố từ những cuộc chinh phạt, những cuộc chiếntranh Biết bao dân tộc đang thống nhất trở nên chia rẽ, rơi vào cảnh huynh đệtương tàn… cũng một phần là thiếu tinh thần khoan dung

Nhân ái, hòa bình là khát vọng chung của nhân loại, nhưng trong thực tế hàngngàn năm tồn tại, loài người chưa bao giờ có hòa bình, lòng nhân ái ngự trị trong

xã hội Loài người đã phải nếm trải hàng ngàn cuộc chiến tranh lớn nhỏ khác nhau,đặc biệt là trong thế kỷ XX, nhân loại phải chứng kiến những cuộc chiến tranhkhốc liệt nhất Nhờ biết khoan dung mà một thế giới có thể phát triển trong ổnđịnh, nhờ biết khoan dung mà một dân tộc có thể đoàn kết, gắn bó và cường thịnh

"Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái" Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nóinhư vậy, và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của khoan dung, nhân ái ViệtNam Thắng lợi của cách mạng Việt Nam có nhiều yếu tố tạo nên, trong đó tinhthần khoan dung là một yếu tố quan trọng Đối với cách mạng nước ta đại đoàn kết

là điểm mẹ, là sức mạnh, là nền tảng của thành công, thì chính tinh thần khoandung đã góp phần tạo dựng nên sự đoàn kết đó Có khoan dung mới có hòa đồng,

có khoan dung mới có hòa thuận, có khoan dung mới có thể tập hợp được lựclượng của toàn dân tộc để hướng sức mạnh chung vào một mục tiêu thống nhất.Nói cách khác, biết khoan dung mới có thắng lợi

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến biết bao sự đổi thay của thế giới Hòabình và hợp tác vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng những cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc,tôn giáo, những cuộc chiến tranh cục bộ vẫn xảy ra, gieo rắc biết bao khổ đau cho

Trang 2

nhân loại, mà một trong những lý do là thiếu tinh thần khoan dung Ở trong nước,tình hình đất nước ta vẫn phát triển ổn định và đạt được rất nhiều thành tựu quantrọng Tuy nhiên, vẫn có nhiều vấn đề xã hội cần phải giải quyết, nhiều mâu thuẫn

xã hội đã phát sinh thành những điểm nóng Một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bịthoái hóa, biến chất, mất đoàn kết, chạy theo danh lợi, địa vị, kèn cựa lẫn nhau, thờ

ơ với những khổ nhân dân dân, gây bức xúc trong dư luận và ảnh hưởng khôngnhỏ tới uy tín của Đảng, Nhà nước trong nhân dân Điều này cần phải được khắcphục để tạo nên sự đồng thuận xã hội cao nhất, để đưa nước ta vượt qua mọi khókhăn, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức đạt được các mục tiêu đề ra Một trongnhững cách thức để đạt được điều đó là làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thấmnhuần tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh trong lời nói và việc làm - yếu tố vôcùng quan trọng trong tạo lập sự đoàn kết và đồng thuận xã hội Xuất phát từ

những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Bồi dưỡng tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.

2 Mục đích, nhiệm vụ của tiểu luận

- Mục đích: Làm rõ tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh và vai trò của nó đối với

việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

- Nhiệm vụ:

+ Phân tích làm rõ quan niệm về khoan dung

+ Phân tích làm rõ những đặc trưng và biểu hiện của tinh thần khoan dung HồChí Minh

+ Đề xuất những giải pháp bồi dưỡng tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh chođội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của tiểu luận

- Đối tượng nghiên cứu: Tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh và giải pháp bồi

dưỡng tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận tập trung làm rõ tinh thần khoan dung Hồ

Chí Minh trong tư tưởng nhân văn của Người và trên cơ sở đó, đề xuất những giảipháp nhằm bồi dưỡng tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảngviên hiện nay ở nước ta

Trang 3

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của tiểu luận

- Phương pháp luận nghiên cứu: Sử dụng phương pháp luận của chủ

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp luậnnghiên cứu chuyên ngành

- Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng các phương pháp nhận thức khoa

học như: phân tích, tổng hợp; quy nạp, diễn dịch; so sánh, kết hợp lịch sử và lôgíc

5 Kết cấu của tiểu luận

Tiểu luận gồm: mở đầu, 3 tiết, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 4

NỘI DUNG

1 Quan niệm về khoan dung

Khoan dung là một khái niệm được tiếp cận trên nhiều phương diện khácnhau Trên phương diện triết học, khoan dung được hiểu là: Một phạm trù dùng đểchỉ thái độ, cách ứng xử tôn trọng, xóa bỏ kỳ thị đối với cái khác biệt; là việc chấpnhận có phê phán những cái khác mình trên vũ đài công khai và có sức thuyết phụctất cả các bên trên cơ sở hiểu mình, hiểu người để cùng tồn tại trong hòa bình.Khoan dung không phải là sự nhượng bộ, sự hạ mình mà là trách nhiệm của mỗingười để duy trì và bảo đảm quyền con người Trên phương diện văn hóa, khoandung là: Tập hợp những quan niệm biện chứng và nhân đạo chủ nghĩa, các giá trịtinh thần nhân văn, các hoạt động xã hội và những hành vi hướng tới cái nhân đạotrong quan hệ giữa người với người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên,phê phán cái sai, lên án cái xấu, cái ác để hướng tới chân, thiện, mỹ Trong Chínhtrị học, khoan dung là: sẵn sàng mở rộng các quyền tự do, dân chủ cho cá nhân,các nhóm có quan điểm khác với mình, đây là nguyên lý trung tâm của nền dânchủ tự do

Khoan dung, xét từ góc độ văn hoá, hàm chứa thái độ ứng xử tích cực, mangtính giao lưu đối thoại trong quan hệ giữa các cộng đồng người, các dân tộc khácnhau, thể hiện sự tôn trọng và học hỏi lẫn nhau, hướng đến những giá trị nhân loạichung Văn kiện chính thức của UNESCO về khoan dung đã chỉ ra 4 ý nghĩa của

nó như sau:

1 Khoan dung là sự tôn trọng, chấp nhận và đánh giá cao sự phong phú và đadạng của các nền văn hoá thế giới, phương thức biểu đạt và cách thể hiện phẩmchất con người của chúng ta Nó được khuyến khích bằng tri thức, sự cởi mở giaotiếp và tự do tư tưởng, ý thức về tín ngưỡng Khoan dung là một đức tính khiếncho hoà bình có thể thực hiện được và góp phần vào việc thay thế chiến tranh bằnghoà bình

2 Khoan dung xuất phát từ việc thừa nhận các quyền phổ quát của con người

và những tự do cơ bản của người khác Trong bất kỳ trường hợp nào không thểviện ra khoan dung để bào chữa cho sự vi phạm những giá trị cơ bản này Khoandung cũng phải được thực hành bởi các cá nhân, các nhóm người và các nhà nước

Trang 5

3 Khoan dung là trách nhiệm đề cao các quyền con người, sự đa dạng của thếgiới (kể cả văn hoá) dân chủ và nhà nước pháp quyền…

4 Khoan dung có nghĩa là mỗi người được tự do chọn lựa những niềm tin củamình và chấp nhận những người khác cũng có quyền tự do như vậy Nó… chấpnhận thực tế con người, đương nhiên khác nhau về vẻ ngoài, hình thể, ngôn ngữ,tập tính và các giá trị, đều có quyền sống trong hoà bình và tồn tại đúng bản chấtcủa mình Khoan dung do đó là một kích thích tố của phát triển và ổn định

Khoan dung hẳn không phải là nét riêng của dân tộc này hay dân tộc khác, màđược hình thành từ lịch sử của nhiều dân tộc trong cuộc mưu sinh và bảo vệ phẩmgiá của mình Dân tộc ta từ xưa đã làm cho yếu tố này trở thành phổ biến trong hệthống ứng xử và đánh giá đối với quan hệ bên trong lẫn quan hệ đối ngoại Điềunày bộc lộ rõ trong việc tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc đi trước, thựchiện sự sàng lọc nghiêm túc, dần dân biến thành cái của chính mình

Như vậy, khoan dung có thể hiểu là sự tôn trọng quyền tự do của người khác

về niềm tin tôn giáo, cũng như về các quan điểm chính trị, triết học, xã hội; là cách nhìn rộng lượng với những cái khác biệt, là chấp nhận đối thoại về giá trị trong sự đa dạng của các nền văn hóa để cùng tồn tại và phát triển.

Ở phương Tây, trong thời kỳ cổ đại, tư tưởng khoan dung biểu hiện rõ nhất ởviệc chấp nhận sự đa dạng về thế giới quan và các giá trị đạo đức cá nhân Thoát lykhỏi thế giới quan thần thoại, triết học Hy Lạp từng bước hình thành tư duy duy lýkiến giải về thế giới, những ý kiến đố rất đa dạng, phong phú Thậm chí, đỉnh caocủa nó là ngay trong một hệ thống triết học, giữa những người cùng trường phái,giữa thầy và trò đã có những quan điểm khác nhau về thế giới quan, họ công nhiêntrao đổi, bàn bạc thậm chí phủ định nhau mà không hệ có sự phản đối nào (về đạođức) Tất cả những quan điểm khác nhau đều được tôn trọng

Sang thời kỳ trung cổ, tư tưởng khoan dung chủ yếu được biểu hiện ở sự chophép hay thừa nhận sự tồn tại khách quan của lý trí so với đức tin, triết học so vớithần học Trên lĩnh vực tinh thần, trung cổ là giai đoạn thống trị của tôn giáo vớimọi mặt đời dống tinh thần Đối với một tín hữu, đức tin là tuyệt đối, đối với nhàtriết học lý tính là tri thức tuyệt đối đáng tin cậy Các nhà triết học giai đoạn này

Trang 6

đồng thời cũng là những nhà thần học Tuy nhiên, lịch sử tư tưởng trung cổ chothấy không có sự phủ nhận hoàn toàn vai trò của triết học so với thần học, của lýtính so với đức tin khác nhau Thừa nhận sự tồn tại khách quan và vai trò của lý trí

so với đức tin là biểu hiện chính trong tinh thần khoan dung giai đoạn trung cổ.Tuy nhiên, khoan dung ở đây vẫn là sự “cho phép” của lực lượng có ưu thế, cóquyền lực về mặt tinh thần đối với những người có quan điểm, lập trường khác.Đến giai đoạn Phục hưng, Khai sáng, tư tưởng khoan dung đã mang nhữngnội hàm mới – tiêu biểu là sự thừa nhận những niềm tin khác nhau, nhất là nhữngniềm tin tôn giáo

Trong hệ thống lý luận của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa đề cập đếnkhoan dung như một phạm trù triết học, đạo đức hay chính trị một cách đầy đủ, hệthống, do lúc đó các ông chưa có điều kiện nghiên cứu Nhưng qua một số ý kiến,

ta thấy hai ông thường đề cập đến khoan dung như một giá trị đạo đức, đó là sự độlượng trong quan hệ ứng xử của con người, của các dân tộc với nhau Ngoài ra,theo các ông, khoan dung còn là sự tha thứ đối với những người đã từng mắc lỗilầm, là con đường thiết lập hòa bình, xóa đi chiến tranh, xung đột

Ở phương Đông, tư tưởng về khoan dung đã được hình thành từ xa xưa, tuynhiên nó không phải là đồng nhất, mà có nhiều quan điểm khác nhau Trong lịch

sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại, tư tưởng khoan dung được nhiều trường phái quantâm nghiên cứu Tuy nhiên, so với phương Tây, quan điểm khoan dung ở phươngĐông có nhiều khác biệt Khổng Tử đã nhiều lần đẻ cập đến “khoan” như một hìnhthức cai trị Ông cho rằng người ở ngôi vị cao phải có lòng khoan dung, vì có lòngkhoan dung sẽ thu hút cảm hóa được số dông dân chúng Trong Nho gia còn cóquan điểm “khoan mãnh tương tế” có nghĩa là việc cai trị thiên hạ phải kết hợp hainguyên tắc khoan dung và nghiêm khắc Sau này, tư tưởng này được phát triển,hình thành những nguyên tắc cơ bản: “đức chủ hình phụ”, “khoan mãnh tương tế”,

“ân uy tinh nhi” Tư tưởng này đã có ảnh hưởng đến quan điểm chính trị của cácnhà tư tưởng Trung Quốc về sau

Khác với Nho gia, những người thuộc trường phái Lão - Trang lại cho khoandung chính là sự tôn trọng bản tính tự nhiên của vạn vật Người tiêu biểu cho quan

Trang 7

điểm này là Lão Tử và Trang Tử Căn bản triết lý nhân sinh trong hệ thống triếthọc các ông là đạo thể vô danh, vô biên, tuyệt đối; con người và vạn vật phải thíchứng với tự nhiên mà hành động, lúc nào cũng tôn trọng tính tự nhiên của nó.

Ở Ấn Độ, tinh thần khoan dung cũng được thể hiện trong suốt lịch sử pháttriển cũng như tư tưởng Ấn Độ Đó là tinh thần tôn trọng, chấp nhận các niềm tin,tôn giáo khác nhau Đặc biệt, giống như khoan dung Việt Nam, người Ấn Độ sẵnsàng tiếp thu tinh hoa văn hóa bên ngoài để làm giàu nền văn hóa của mình vớimột tinh thần hòa bình, cầu tiến Khoan dung không chỉ trên phương diện tinh thần

mà nó thấm sâu vào các quan hệ xã hội, chính trị

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, khoan dung là một giá trị phổ biến, diễn ratrên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, thể hiện ở hai cấp độ tâm lý và lý luận Ở cấp

độ tâm lý, đó là giá trị đạo đức, phản ánh tình yêu thương, gắn bó giữa cá nhân vớicộng đồng; sự tôn trọng các đặc điểm, khác biệt của nhau; sự tha thứ cho nhữngngười mắc lỗi lầm nhưng biết ăn năn hối cải Ở cấp độ lý luận, khoan dung đượccoi là một hình thức cai trị nhân từ của nhà cầm quyền với dân chúng; một biệnpháp để xây dựng đoàn kết dân tộc; một phương thức để xác lập hòa bình; một cơchế để phát triển nền văn hóa dân tộc

Trong quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đãtiếp thu có chọn lọc tinh hóa văn hóa nhân loại, trong đó có tinh thần khoan dung

và cùng với việc kế thừa và phát triển truyền thống khoan dung của dân tộc, HồChí Minh đã nâng nó lên một tầm cao mới Người đã gắn khoan dung với giảiphóng dân tộc, giai cấp và con người

2 Đặc trưng và biểu hiện của tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh

2.1 Đặc trưng của tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh

Khoan dung Hồ Chí Minh đã kết hợp được lương tri của cá nhân mình với lương tri của dân tộc và lương tri thời đại để đạt tới sự hài hòa giữa cá nhân, dân tộc và nhân loại

Trong lịch sử dân tộc và thế giới, đã từng xuất hiện biết bao tấm gương yêunước, thương dân, thương số phận đau khổ của con người… Tuy nhiên, ở Hồ ChíMinh, lòng thương nước, thương dân, thương nhân loại mang một nội dung mới,sâu sắc và toàn diện

Trang 8

Trước hết, đó không hải là lòng thương hại của “bề trên” nhìn xuống, cũngkhông phải là sự động lòng trắc ân của người “đứng ngoài” trong vào, mà là sựđồng cảm của những người cùng cảnh ngộ Là một người dân mất nước, Người đãnhận thức sâu sắc sự thống trị tàn bạo của đế quốc, thực dân, khát vọng cháy bỏngđược giải phóng của các dân tộc bị áp bức Trong cuộc đời, Người đã chứng kiến,trải qua biết bao cảnh đau thương, ngang trái, bất công…

Thuở thiếu thời, được tắm mình trong trong truyền thống nhân ái, khoan dungcủa quê hương và gia đình, lớn lên, chứng kiến tội ác man rợ của bọn thực dân, nỗithống khổ, lầm than, cơ cực của đồng bào, Hồ Chí Minh đã sớm hình thành khátvọng đi ra tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc Trên hành trình cứu nước,Người cũng đã chứng kiến cuộc sống trong roi vọt, khổ đau của nhân dân các nướcthuộc địa Nhiều năm từng làm những nghề lao động cực nhọc, từng nếm cảnh lao

tù, đầy đọa, Người có mối đồng cảm, thương xót sâu sắc đối với số phận của tất cảcác dân tộc bị áp bức Vì vậy, ngay từ khi bước vào cuộc đấu tranh cách mạng, HồChí Minh đã thực hiện được sự kết hợp đấu tranh giải phóng dân tộc mình với đấutranh giải phóng những người bị áp bức trên thế giới

Ở Hồ Chí Minh, độc lập cho dân tộc mình, đồng thời là độc lập cho tất cả cácdân tộc, giải phóng dân tộc là để giải phóng giai cấp, giải phóng con người Conđường mà Hồ Chí Minh đi là từ độc lập dân tộc đến chủ nghĩa xã hội - cũng chính

là lôgic của con đường từ lương tri dân tộc đến lương tri thời đại để đạt tới sự hàihòa giữa cá nhân, dân tộc và nhân loại Đó chính là giá trị cao nhất, phổ quát nhấtcủa khoan dung Ta hiểu với sao trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc

ta, loài người tiến bộ trên toàn thế giới đã hình thành trên thực tế một mặt trậnquốc tế ủng hộ Việt Nam chống xâm lược, vì họ đã tìm thấy ở Việt Nam - Hồ ChíMinh biểu tượng cao đẹp của lương tri dân tộc và thời đại

Về vấn đề này, Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Cụ Hồ thương dân quá,nên dân thương Cụ lắm Sinh thời cho đến khi qua đời hãy còn để lại đức tin Cụthương người, quý người và ra sức xây dựng con người Một nhà quan sát nói quảkhông sai: Cụ Hồ là một người xây dựng lương tri, xây dựng khi nó thiếu, tái tạokhi nó mất; Cụ thức tỉnh kẻ u mê, ân cần đỡ dậy người trượt ngã, biến vạn ứcngười dân bình thường thành anh hùng vô danh và hữu danh trong lao động, trên

Trang 9

chiến trường, trong ngục tối, trước máy chém Để hiểu tại sao sức mạnh kỹ thuậtcủa Mỹ có giới hạn trước con cháu Cụ Hồ” [3, tr 82-83]

Khoan dung Hồ Chí Minh đã kết hợp được giữa tình cảm nồng nàn và lý trí sáng suốt, do đó khắc phục được những hạn chế, nhược điểm của khoan dung truyền thống

Cái nét chung sâu đậm của con người Việt Nam truyền thống là giàu tìnhcảm Tình cảm khi đi vào ứng xử xã hội đã tạo thành quan hệ tình nghĩa Khôngthể phủ nhận động lực mạnh mẽ, sức mạnh to lớn của tình cảm trong xây dựng vàbảo vệ đất nước; nhưng trong xã hội nông nghiệp, sản xuất hàng hóa, quan hệ phápluật, xã hội công dân… chậm phát triển, lối suy nghĩ trọng tình đã làm cho khoandung truyền thống thiên về tình cảm, “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, cái cơ sở đẻ ranhững ứng xử thiên lệch, hẹp hòi đố kỵ, phe giáp, phường hội… Ngoài ra, nó cũngkhông tránh khỏi chịu ảnh hưởng ít nhiều của lối “khoan hồng, tha thứ” mang tínhđẳng cấp của Nho giáo; lối nhẫn nhục, an phận, chịu đựng, thủ tiêu đấu tranh…của khoan dung Phật giáo nguyên thủy

Khoan dung Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ Nhân, nhưng là mộtchữ Nhân sáng suốt, có nguyên tắc, có công lý, chính nghĩa làm nền tảng; giảiquyết những vấn đề dân tộc và quốc tế trên cơ sở “có lý, có tình” Người viết:

“NHÂN là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào Vì thế màkiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân” [8,

tr 291] Vì vậy, nếu khoan dung với kẻ hung bạo là bất công với người lươngthiện, là phá hoại nền tảng đạo đức và pháp luật của cộng đồng Khi chủ nghĩa thựcdân đã dùng hành động bạo lực của kẻ mạnh để đàn áp kẻ yếu thì không có cáchnào khác là phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, đểgiành và giữ lấy chính quyền Trên tinh thần đó, Người trịnh trọng tuyên bố: “Toànthể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải đểgiữ vững quyền tự do và độc lập ấy” [7, tr 3] Chính vì vậy, cựu Thủ tướng Ấn ĐộNêru đã thừa nhận: Chủ tịch Hồ Chí Minh là “một lãnh tụ có sự kết hợp hiếm cógiữa lòng khoan dung tột độ và ý chí kiên quyết nhất”

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa nhân loại, là không ngừng mở rộng để thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ

Trang 10

và nhân văn của thế giới nhằm làm giàu cho văn hóa Việt Nam; đồng thời chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng để đạt tới sự hòa đồng và cùng phát triển

Hồ Chí Minh là biểu hiện mẫu mực của tinh thần khoan dung Việt Nam:Chăm lo giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời không ngừng kêu gọi phải mởrộng kiến thức của mình về văn hóa thế giới Người nhắc nhở rằng Tây phươnghay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam… cótinh thần thuần túy Việt Nam, hợp với tinh thần dân chủ

Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hóa Trongkhi chống thực dân Pháp, Người vẫn yêu mến và đề cao văn hóa Pháp; chống đếquốc Mỹ mà vẫn ca ngợi truyền thống cách mạng Mỹ Bản thân Người là là mộthình ảnh hoàn chỉnh của sự kết tinh tinh hoa văn hóa nhân loại Ở Người đạt đến

sự kết hợp hài hòa cả văn hóa phương Đông và phương Tây

Nhận định định Nhà văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, một nhà nghiên cứu

Mỹ đã viết: “Cụ Hồ Chí Minh chẳng những đã giải phóng đất nước mình, đã thayđổi chiều hướng của chế độ thuộc địa ở châu Á lẫn châu Phi mà Cụ còn làm đượcmột điều đáng chú ý hơn: dùng tới văn hóa và tâm hồn kẻ địch để chiến thắng”[13, tr 145]

Trong một thế giới có sự tồn tại và giao lưu giữa cái chung và cái riêng, cáiđồng nhất và dị biệt, văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh là chấp nhận đối thoại giátrị, đối thoại giữa cái Ta và cái Không phải ta, tìm ra cái chung, cái chất ngườitrong đó “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũnggiống nhau Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ” [7, tr 397]

Trong đối thoại với đối phương để đi đến những thỏa hiệp, nhân nhượng màcác bên có thể chấp nhận được, Hồ Chí Minh luôn luôn biết mềm dẻo, ôn hòatrong việc tìm ra cái chung, cái đồng nhất, bảo lưu cái khác biệt Người nói vớingười Pháp: “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức: Tự do, Bìnhđẳng, Bác ái và Độc lập” Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dươngmột nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” “Các bạn yêu nước Phápcủa các bạn và muốn cho nó độc lập… Nhưng chúng tôi cũng được phép yêu nướccủa chúng tôi và muốn cho nó độc lập chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũngphải là lý tưởng của chúng tôi

Trang 11

Như vậy, khoan dung Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa Tâm Đức Trí một tinh thần khoan dung được xây dựng trên tầm cao văn hóa, kết hợp được tìnhcảm với lý trí, nhận thức với hành động, yêu thương với đấu tranh, một bước pháttriển mới của tinh thần khoan dung Việt Nam.

-2.2 Biểu hiện của tinh thần khoan dung Hồ Chí Minh

Với kẻ thù xâm lược: Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên

nguyên tắc công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, không chấp nhận thỏa hiệp vônguyên tắc với tội ác, bất công, xã hội và tất cả cái gì chà đạp lên "quyền sống, quyền

tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" của mỗi con người và mỗi dân tộc Người nói:

"Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào Vì thế mà kiênquyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân"

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp cách mạng của mình bằng một cử chỉhòa bình: Đưa yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Vecxay (1919) Nhưng Người biết: "Chế

độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu".Bởi vậy, Người cũng đã nói từ rất sớm: "Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giảiphóng) bằng phương pháp ôn hoà, thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt

để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai thích cánh với năm châu" [5, 247]

Trong cuộc xung đột Việt - Pháp, giữa hai giải pháp hòa bình và bạo lực, HồChí Minh luôn luôn chọn giải pháp hòa bình, nên Người đã chấp nhận thỏa hiệp,nhân nhượng: Ký Hiệp định sơ bộ 6/3 rồi "Tạm ước 14/9; không quản bất trắc,hiểm nguy, Người sang tận Thủ đô nước Pháp để tìm kiếm hòa bình Rất tiếc, thiệnchí đó đã không được đáp lại

Đến khi đối phương buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên tự vệ, Người đãluôn luôn giáo dục chúng ta biết phân biệt bọn thực dân xâm lược phản động Phápvới nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình và công lý Người đã tìm mọi cách để hạnchế đến mức thấp nhất những thương vong trên chiến trường, cho quân ta và cho

cả quân địch Người nói một cách xúc động: " trước lòng bác ái, thì máu Pháp haymáu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người" [7, tr.510) Người nhắc nhở mục tiêu của chúng ta là đánh bại, đánh sập ý chí xâm lượccủa địch chứ không phải là đánh tiêu diệt hoàn toàn chúng trên chiến trường Ta

Trang 12

hiểu vì sao Người không tán thành cách gọi một trận đánh chết nhiều người là mộttrận đánh "đẹp"! Người nói: "Đánh mà thắng là giỏi, nhưng không đánh mà thắnglại giỏi hơn", nên theo binh pháp của cha ông, "đánh vào lòng người là hơn hết,đánh vào thành trì là thứ hai", vì vậy Người tất coi trọng địch vận, ngụy vận, coi

"khéo ngụy vận thì đó cũng là một cách tiêu diệt sinh lực địch"

Đối với những tù binh và thường dân Pháp bị ta bắt trong chiến tranh, Ngườikêu gọi đồng bào và chiến sĩ ta phải nêu cao lý tưởng chính nghĩa, nhân đạo, phảiđối xử khoan hồng đối với họ để cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh,văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước Người chỉ thị cho Bộ Tài chính của tacấp cho mỗi người lính hay thường dân Pháp bị bắt 200 đồng/mỗi tháng, trong khimức ăn của bộ đội ta chỉ có 150 đồng/tháng, với lý do "ta có thể chịu kham khổđược, nhưng đối với họ cần phải rộng rãi hơn" Một lần đến thăm trại tù binh Pháp

bị bắt trong chiến dịch Biên giới, thấy một đại úy quân y Pháp ở trần, đang run lên

vì lạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cởi chiếc áo người đang mặc, trao cho anh ta.Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh có sức cảm hóa sâu sắc đối với kẻ thù Nhiều sĩquan và binh lính Pháp đã phản chiến, bỏ ngũ, hoặc sang chiến đấu dưới ngọn cờđại nghĩa của Hồ Chí Minh

Trong thư gửi cho tướng R.Xalăng, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở ĐôngDương, một người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt chuyếnNgười sang thăm nước Pháp, đã từng được Người coi là bạn, có đoạn viết: " chúng

ta đã là những người bạn tốt Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng tathành hai kẻ đối địch Điều đó thật đáng tiếc! … Về phần tôi, bổn phận thiêngliêng của một người dân yêu nước buộc tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và đồng bàomình Còn về phía ngài, trách nhiệm quân nhân cũng buộc ngài phải làm nhữngđiều mà trái tim ngài không muốn

… Vì chúng tôi đã buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiếnbinh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta lại trở thành bạn hữucủa nhau Chúng ta đã từng là bạn Giữa hai chúng ta hiện nay vẫn là bạn bè của nhau

… Vì tình yêu thương con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn củachúng ta, tôi yêu cầu ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ

nữ, đốt phá làng mạc và phá huỷ nhà thờ, đền miếu như họ vẫn làm từ trước tới nay

Trang 13

Tôi đảm bảo với ngài rằng binh lính và thường dân Pháp ở chỗ chúng tôiđược đối xử rất tử tế Tôi hy vọng người của chúng tôi trong tay các ngài cũngđược đối xử như vậy” [8, tr 169-170].

Thật là ngôn luận của một hiệp sĩ, một chính nhân quân tử, một nhà nhân văncao cả! Chúng ta chiến đấu vì những mục tiêu cao cả hòa bình, độc lập dân tộc,chứ không vì lý do nào khác Hoàn cảnh đã buộc phải chiến đấu thì hãy chiến đấu

ra trò, cao thượng và chính trực, để sau chiến đấu, lại trở lại là những người bạn!Người đã làm hết sức mình để không gây ra mối hận thù đối với dân tộc Pháp, mộtdân tộc mà Người luôn luôn yêu mến và kính trọng

Với tôn giáo: Với các tôn giáo, Hồ Chí Minh thành thật tôn trọng đức tin của

người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức - nhân văn củacác vị sáng lập, không hề bài bác, phủ định mà khéo hướng lý tưởng của các tôngiáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân

Mùa Hè năm 1946 tại Pari, Người đã tiếp một nhóm linh mục công giáo đếnthăm, trong đó có linh mục Cao Văn Luận, một người công giáo xác tín, chốngcộng Sau này, ông ta đã thuật lại trong cuốn hồi ký của mình lời của Hồ Chí Minhtrong buổi gặp: "Mục đích của Chính phủ ta là đeo đuổi chiến đấu vì nền độc lập

và đem lại hạnh phúc cho nhân dân Để đạt hạnh phúc đó mọi người cần phải xâydựng chủ nghĩa xã hội Nếu đức Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặtmình trước những nỗi đau của người đồng thời, chắc Ngài sẽ là một người xã hộichủ nghĩa đi tìm cứu khổ loài người"

Tại cuộc họp mặt đại biểu các tôn giáo, đảng phái tại Chùa Bà Đá mừngChính phủ liên hiệp lâm thời vừa thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: " Tín đồPhật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở đức Chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạoKhổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng Nhưng đối với dân, ta đừng

có làm gì trái ý dân Dân muốn gì, ta phải làm nấy" [7, tr 169]

Nói về khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh, chính J.Sainteny thừa nhận:

“Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để thấy nơi các chương trình của

Cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chếdiễu bất kỳ một tôn giáo nào” [13, 152]

Trang 14

Triết lý tôn giáo của Người, nếu có thể gọi như vậy, không thể hiện trongnhững bài diễn văn hùng hồn, trong những chuyên khảo tự biên, hàn lâm, mà đivào lòng người bằng lời nói và hành động thiết thực, qua đó toát lên chính sách đạiđoàn kết và tấm lòng nhân đạo, truyền tải được ý nghĩ thầm kín của các tầng lớpnhân dân Hơn thế nữa, tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh gắn với chủ nghĩa yêunước, lấy chủ nghĩa yêu nước làm cơ sở xác định tính chất của khoan dung Trongthư gửi Hội Phật tử Việt Nam ngày 30/ 08/ 1947 (tức ngày 15 tháng 07 âm lịch) cóđoạn: “…Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hoà, Hiến pháp ta tôn trọng tự dotín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện Thế là: Nước có độclập, thì đạo Phật mới dễ mở mang Bọn thực dân Pháp muốn cướp nước ta Chúngđốt chùa chiền, phá tượng Phật, hành hạ tăng ni, tàn sát đạo hữu Chúng hòng phátan đạo Phật Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, khángchiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn,

để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại

từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải

nô lệ” [8, tr 228]

Trong thư gửi đồng bào Côn giáo nhân dịp lễ Noel 1947 có đoạn: “…Gần2.000 năm về trước, Đức Chúa đã cho loài người quyền tự do và dạy loài ngườilòng bác ái Thế mà thực dân phản động Pháp tàn sát đồng bào ta, phá phách nhàthờ chung, khinh rẻ tôn giáo Chúng làm trái với lòng của Chúa, chúng sẽ bị tội và

sẽ thất bại Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổquốc được độc lập, tôn giáo được tự do Đức Chúa phù hộ chúng ta, chúng ta chắc

sẽ thắng lợi…” [8, tr 373]

Có thể nhận thấy ở hai bức thư, hai mẩu “đối thoại” ấy, sự minh bạch của tưtưởng khoan dung Thứ nhất, tôn trọng quyền tự do lựa chọn tín ngưỡng, niềm tincủa con người, như văn bản của UNESCO sau này chỉ rõ Điều cần nhấn mạnh ởđây là Chủ tịch Hồ Chí Minh xem xét nội dung học thuyết tôn giáo từ góc độ giátrị, và sinh hoạt tôn giáo mang ý nghĩa hướng thiện Từ đó Người đặt các giá trị ấyvào hệ thống các giá trị cần được học tập Vào những năm 1960, cách tiếp cận giátrị đã được Người cô đọng lại, để đối lập với các “giá trị” mà quân xâm lược đem

Ngày đăng: 09/07/2016, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w