YRC Thực trạng đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản ở Việt Nam và nghiên cứu áp dụng một số quy định về đạo đứcYRC Thực trạng đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản ở Việt Nam và nghiên cứu áp dụng một số quy định về đạo đức
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6 LỜI NÓI
Trang 31.3.1 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động
26
Chương 2 Thực trạng đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản và những quy định về đạo
đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản ở Việt
Trang 4nghiệp trong môi giới bất động sản ở Hoa
Kỳ 543.1.1 Khái quát thị trường bất động sản và môi giới bất động sản tại Hoa
gia chuyên viên địa ốc Hoa
Kỳ 593.1.2.1 Giới thiệu về Hiệp hội quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ (NAR) 59
3.1.2.2 Quy định về đạo đức nghề nghiệp môi giới bất động sản trong Bộ quy tắc đạo đức của
Hiệp hội chuyên viên địa ốc Hoa
động sản của Hoa Kỳ tại Việt
Nam 823.2.2.1 Đề xuất với Nhà
Phụ lục 2: Bảng câu hỏi khảo sát đổi tượng người môi giới BĐS
Phụ lục 3: Bảng câu hỏi khảo sát đối tượng công ty môi giới BĐS
Phụ lục 4: Quy tắc đạo đức hành nghề của Hội viên Hiệp hội bất động sản Việt
Nam
Phụ lục 5: Mẫu hợp đồng dịch vụ môi giới bất động sản
Phụ lục 6: Quy tắc đạo đức và tiêu chuẩn hành nghề của Hiệp hội quốc gia chuyên viên địa
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
TrangBiểu đồ 1: Tỷ lệ khách hàng sử dụng dịch vụ môi giới BĐS phân theo
mục đích 34
Biểu đồ 2: Mức độ thường xuyên khách hàng gặp phải tình huống
người môi giới cung cấp thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch 45
Biểu đồ 3: Mức độ thường xuyên của người môi giới gặp phải trường hợp
khách hàng hiểu nhầm về hợp đồng 46
Biểu đồ 4: Tỷ lệ nguyên nhân dẫn đến hiểu nhầm về hợp đồng 46
Biểu đồ 5: Mức độ thường xuyên thay đổi nhà cung cấp dịch vụ môi giới
của khách hàng và nguyên nhân 47
Biểu đồ 6: Tỷ lệ người môi giới sở hữu chứng chỉ môi giới BĐS 49Biểu đồ 7: Mức độ hài lòng của khách hàng với thái độ và tinh thần
Bảng 1: Đề xuất sắp xếp các quy tắc đạo đức hành nghề của Hiệp
hội
BĐS Việt Nam 76
Trang 7(Vietnam National Real Estate Association)4.
4
ĐĐNN
MLS
Đạo đức nghề nghiệpDịch vụ đăng kê bất động sản(Multiple Listing Service)5
6
TP HCM
TNHH
Thành phố Hồ Chí MinhTrách nhiệm hữu hạn
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường BĐS là một trong những thị trường quan trọng nhất đối với mỗinền kinh tế, là kênh đầu tư, thế chấp và tín dụng đối với mỗi cá nhân và doanhnghiệp Cùng với sự tăng trưởng của thị trường BĐS Việt Nam, từ những nhu cầu
về thông tin thị trường, việc xuất hiện và phát triển dịch vụ môi giới BĐS là điều tất
yếu Vì đặc điểm của nghề môi giới phải sử dụng nhiều đến các mối quan hệ xã hội,
các kỹ năng giao tiếp và phải giữ được uy tín, có tinh thần trách nhiệm đối vớikhách hàng nên yêu cầu về tư cách đạo đức của những người làm nghề môi giới là
cao hơn nhiều ngành nghề khác
Tại Việt Nam, trước khi Luật Kinh doanh bất động sản được ban hành vàonăm 2006 thì vai trò của người môi giới chưa được thừa nhận chính thức trong xãhội Hiện nay tuy đã có quy định cụ thể nhưng hệ thống tiêu chuẩn yêu cầu đối với
người hành nghề môi giới vẫn còn chưa hoàn thiện, thị trường cung cấp dịch vụ môi
giới BĐS Việt Nam vẫn còn phát triển nhỏ lẻ, chưa tuân theo một quy tắc chung, số
lượng nhà môi giới tự do không thể kiểm soát được chiếm một số lượng lớn trong
xã hội Trước tình hình đó, vấn đề ĐĐNN trong môi giới BĐS và hình ảnh của cácnhà môi giới yêu cầu cần phải được phát triển theo hướng chuyên nghiệp để tránh
gây ra những tác động tiêu cực tới thị trường
Nhận thấy nghề môi giới BĐS tại Mỹ đã phát triển chuyên nghiệp nhiềunăm, có những quy định cụ thể, thiết thực đối với những người hành nghề môi giới
BĐS cũng như đã đưa ra những tiêu chuẩn về ĐĐNN với nhà môi giới mà ViệtNam có thể học tập để định hướng phát triển cho nghề môi giới BĐS trong nước; từ
đó, nhóm nghiên cứu đã quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng đạođức nghề nghiệp trong môi giới BĐS ở VN và nghiên cứu áp dụng một số quyđịnh về đạo đức nghề nghiệp trong môi giới BĐS của Hiệp Hội địa ốc Hoa Kỳ”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghề môi giới BĐS là nghề mới nổi tại Việt Nam trong vài năm trở lại đâynhưng cũng đã có một số tác giả nghiên cứu sâu về vấn đề này Trong số đó, tiêu
Trang 8biểu là cuốn sách: “Kinh doanh bất động sản: Chuyên đề môi giới” của tác giảĐặng Đức Thành, xuất bản năm 2010 Cuốn sách nêu lên tình hình tổng quan, thực
trạng của môi giới BĐS tại Việt Nam, đặc biệt là tại TP.HCM, đề cập tới pháp luậtkinh doanh BĐS cũng như bàn về vấn đề đạo đức trong môi giới BĐS
Bài viết “Dịch vụ môi giới bất động sản: kinh nghiệm quốc tế, thực tiễn vàđịnh hướng phát triển ở Việt Nam” của ThS Lưu Đức Khải và tác giả Hà Huy
Ngọc đăng trên tạp chí Quản lý kinh tế (số 24/2009) đã nêu lên thực trạng môi giới
BĐS tại Việt Nam, bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia phát triển tại Châu Âu,
Mỹ và Singapore, từ đó đề ra định hướng phát triển nghề môi giới tại Việt Nam.Tuy nhiên bài viết không đề cập nhiều đến vấn đề đạo đức trong môi giới
BĐS
Xét trên phạm vi quốc tế, đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu và đánh giá vềĐĐNN của người môi giới BĐS Trong đó có thể kể tới một tài liệu nổi bật củaPGS Lee Chun-Chang, Đài Loan: “Ảnh hưởng của quy tắc đạo đức tới ý định hành
vi của người môi giới bất động sản” (Influence of Ethics Codes on the BehaviorIntention of Real Estate Brokers) đăng trên tạp chí Human Resource and AdultLearning (12/2007) trong đó tác giả đưa ra mô hình phân tích dựa trên kết quảthống kê chỉ ra sự ảnh hưởng của đạo đức người môi giới tới hành vi của
quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ, đặc biệt là tại “Bộ quy tắc đạo đức và tiêuchuẩn hành nghề” của Hiệp hội này
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cuối cùng của đề tài là đưa ra những đề xuất để hoàn thiện quy định
về vấn đề ĐĐNN trong hoạt động môi giới BĐS ở Việt Nam nhằm đảm bảo quyềnlợi của các bên tham gia giao dịch BĐS, giúp thị trường BĐS hoạt động hiệu quả,góp phần ổn định và thúc đẩy nền kinh tế phát triển
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Do tính chất nhất định của đề tài nên chủ yếu sử dụng các phương phápnghiên cứu sau: Phương pháp điều tra bảng hỏi; Phương pháp phân tích - tổng hợp;
Phương pháp đối chiếu - so sánh; Phương pháp so sánh luật học; Phương pháp phân
tích định tính Trong đó, phương pháp điều tra bảng hỏi được nhóm nghiên cứuthực hiện vào tháng 3/2012 trên 3 nhóm đối tượng: người sử dụng dịch vụ môi giới
BĐS (phát ra 60 phiếu, thu về 40 phiếu có giá trị), người môi giới BĐS (phát ra 50phiếu, thu về 21 phiếu có giá trị) và công ty môi giới BĐS (phát ra 20 phiếu, thu về
10 phiếu có giá trị) (Nội dung phiếu điều tra tại Phụ lục 1, 2, 3)
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đạo đức nghề nghiệp trong môi giới BĐS
ở Việt Nam và khả năng áp dụng một số quy định về ĐĐNN trong môi giới BĐScủa Hiệp hội quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ ở Việt Nam
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian : Phạm vi nghiên cứu giới hạn về mặt thời gian từ khi
“Luật kinh doanh Bất động sản Việt Nam” chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày1/1/2007
Về mặt nội dung: Đề tài tập trung vào phân tích vấn đề đạo đức trong môigiới BĐS theo “Bộ quy tắc đạo đức và tiêu chuẩn hành nghề” và những hướng dẫnthi hành, quy định về khiếu nại của Hiệp hội quốc gia chuyên viên địa ốc Mỹ; cùng
với “Luật Kinh doanh bất động sản Việt Nam” và “Quy tắc đạo đức hành nghề củahội viên Hiệp hội bất động sản Việt Nam”
6 Kết quả nghiên cứu dự kiến
Đánh giá thực trạng ĐĐNN trong môi giới BĐS tại Việt Nam hiện nay, vàviệc áp dụng quy định về ĐĐNN trong lĩnh vực này
Phân tích những quy định của Hiệp hội quốc gia chuyên viên địa ốc Mỹ vềvấn đề ĐĐNN trong môi giới BĐS, từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá để thấyđược những ưu điểm trong các quy định này có thể áp dụng tại Việt
Nam
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP TRONG
MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN1.1 Những vấn đề cơ bản về đạo đức nghề nghiệp
1.1.1 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp
Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận cụ thể trong đạo đức nói chung của xã
hội Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Đạo đức là một trong nhữnghình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội
điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng(gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội) Căn cứ vào những chuẩnmực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện và
ác, về cái không được làm (vô đạo đức) và về nghĩa vụ phải làm.”1
Cụm từ “đạo đức nghề nghiệp” (Professional ethics hay Déontologic) xuấthiện là tên gọi khoa học về cách sử dụng nghề nghiệp của con người (Déon: bổnphận cần phải làm, logos: học thuyết - Déontologic được nhà triết học Anh JeremyBentham - tác giả của Thuyết vị lợi, sử dụng có ý nghĩa là nghĩa vụ luận, đạo đứcnghề nghiệp) Tuy nhiên, do vẫn chưa có định nghĩa thống nhất nên bài nghiên cứu
xin đưa ra một khái niệm tổng hợp về ĐĐNN như sau:
Đạo đức nghề nghiệp là những yêu cầu đạo đức đặc biệt, có liên quan đếnviệc tiến hành một hoạt động nghề nghiệp nào đó, là tổng hợp của các quy tắc, các
nguyên tắc chuẩn mực của một lĩnh vực nghề nghiệp trong đời sống, nhờ đó mà mọi
thành viên của lĩnh vực nghề nghiệp đó tự giác điều chỉnh hành vi của mình chophù hợp với lợi ích và sự tiến bộ của nó trong mối quan hệ giữa cá nhân với cánhân, cá nhân với tập thể và cá nhân với xã hội
1.1.2 Vai trò của đạo đức nghề nghiệp
1.1.2.1 Đối với doanh nghiệp, tổ chức
Tăng sự tin tưởng, thỏa mãn của đối tác và khách hàng:
1 Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa, 2005
Trong một thị trường cạnh tranh, điểm cân bằng tối ưu chỉ có thể hình thành
trên cơ sở của sự liên kết và sự tin tưởng giữa các đối tác chứ không thể trên nềntảng của sự lừa dối lẫn nhau Tôn trọng luân lý xã hội và thực hiện ĐĐNN chính làcách tăng niềm tin của doanh nghiệp đối với khách hàng và đối tác làm ăn Đối với
những tổ chức luôn gắn lợi ích của mình với lợi ích của khách hàng, xã hội thì sựtin tưởng và thỏa mãn của khách hàng cũng sẽ ngày càng tăng lên Một khách hàng
vừa lòng, sẽ quay lại và đem tới những khách hàng khác Ngược lại, một kháchhàng không vừa lòng sẽ không bao giờ trở lại và cũng kéo đi những khách hàngkhác
Tăng sự tin tưởng, trung thành của nhân viên:
Quan tâm tới các chuẩn mực ĐĐNN, thì tổ chức cũng đồng thời tôn trọng vàquan tâm tới nhân viên Tổ chức càng quan tâm tới nhân viên, nhân viên càng tậntâm với tổ chức Hơn nữa, bất cứ ai cũng muốn làm việc cho những công ty có hoạt
động kinh doanh minh bạch, trong sáng Họ tin tưởng hơn vào sự phát triển bềnvững của công ty Khi làm việc trong một tổ chức hướng tới cộng đồng, hướng tớilợi ích của xã hội, bản thân mỗi nhân viên cũng thấy công việc của mình có giá trịhơn Họ làm việc tận tâm hơn và sẽ trung thành hơn Một môi trường làm việc trung
thực, công bằng sẽ gây dựng được nguồn nhân lực quý giá
Góp phần nâng cao hình ảnh doanh nghiệp, tổ chức:
Một doanh nghiệp, tổ chức quan tâm tới ĐĐNN sẽ có được sự trung thànhcủa nhân viên, sự tin tưởng, hài lòng của khách hàng và các nhà đầu tư Khi có trách
nhiệm cao với cộng đồng, xã hội, tổ chức cũng sẽ nhận được sự ủng hộ tích cực của
cộng đồng Hình ảnh của tổ chức được nâng cao hơn, tạo dựng được sự tín nhiệmlâu dài đối với mọi người Điều này không phải tổ chức nào cũng làm được và cũng
không phải có tiền là tạo dựng được
Góp phần nâng cao lợi nhuận:
Nghiên cứu của hai giáo sư John Kotter và James Heskett ở trường Đào tạoquản lý kinh doanh thuộc Đại học Harvard trong cuốn "Văn hóa công ty và chỉ sốhoạt động hữu ích" (Corporate Culture and Performance, 1992) đã cho thấy, trong
Trang 12vòng 11 năm, những công ty quan tâm đến việc tạo dựng ĐĐNN đã nâng được thu
nhập của mình lên tới 682%, trong khi những công ty đối thủ không quan tâm vấn
đề này chỉ đạt 36% Khi có được sự tận tâm của nhân viên, hiệu quả công việc sẽcao hơn Khi có được sự tín nhiệm của các đối tác, các nhà đầu tư, doanh nghiệp sẽ
có nhiều cơ hội làm ăn hơn, lợi ích kinh tế sẽ cao hơn rất nhiều
1.1.2.2 Đối với cá nhân
Góp phần nâng cao uy tín của người hành nghề:
Một người làm trong lĩnh vực nào cũng phải luôn luôn tự xem xét và điềuchỉnh những hoạt động của mình sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức đã
được thừa nhận Tuân theo được những chuẩn mực đó sẽ tạo nên hình ảnh
chuyên
nghiệp của người hành nghề, nâng cao vị thế bản thân và đạt được sự tin tưởng của
khách hàng, thuận lợi cho quá trình làm việc
Góp phần điều chỉnh hành vi của người hành nghề:
ĐĐNN khi đã được xã hội chấp nhận sẽ vô hình trở thành khung điều chỉnhhành vi, yêu cầu người hành nghề không thể làm trái những quy tắc luân lý chungcủa xã hội Khi ở vị trí điều hành, sự điều chỉnh này càng có ý nghĩa quan trọng.Phong cách lãnh đạo, quản lý sẽ ảnh hưởng lớn tới thái độ của người nhân viên vàthành công hay thất bại của tổ chức Điều chỉnh cách lãnh đạo, quản lý phù hợp hơn
với các nguyên tắc đạo đức góp phần giúp tổ chức hoạt động hiệu quả
hơn
1.1.3 Hình thức biểu hiện của đạo đức nghề nghiệp
1.1.3.1 Các quy tắc, tiêu chuẩn
Những quy tắc, tiêu chuẩn hành nghề của một nghề nghiệp nào đó được ghi
chép lại và được xã hội công nhận tính đúng đắn, hợp lý là biểu hiện hữu hình củaĐĐNN Mỗi quốc gia đều có những quy định cụ thể về đạo đức đối với từng ngànhnghề; mỗi tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp đều hướng tới tự đưa ra bản quy tắc đạo
đức hành nghề (Code of Ethics – CoE) quy định đối với thành viên trong tổ chứcmình để có được sự tin tưởng hơn từ cộng đồng
Ví dụ đối với nghề kiểm toán: Tại Mỹ tồn tại đạo luật Sarbanes –Oxley củanghề kế toán – kiểm toán được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn ngày 30/07/2002; cùng
Trang 13với đó là “Các chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp” do tổchức nghề nghiệp kiểm toán Mỹ AICPA ban hành.
1.1.3.2 Thái độ, trách nhiệm
ĐĐNN biểu hiện bản chất của nó qua thái độ và trách nhiệm của người hành
nghề Việc áp dụng quy tắc ĐĐNN để điều chỉnh hành vi cho phù hợp với luân lý
xã hội phải tùy thuộc vào ý niệm chủ quan của từng người và quan niệm của người
đó về đúng và sai, về việc gì nên làm và không nên làm Thái độ và trách nhiệmđược thể hiện qua quan hệ của một cá nhân với cá nhân khác và với toàn xã hội
Quan hệ cá nhân với cá nhân
Cách trực tiếp nhất để nhận biết về đạo đức của một người làm một côngviệc nào đó là qua quá trình tương tác giữa người với người thông qua tiếp xúc, trao
đổi Ví dụ trong cơ quan chính quyền, các cán bộ quận, huyện, phường, xã phục vụ
nhân dân; trên máy bay nhân viên hàng không phục vụ hành khách; trên đường phố
cảnh sát giao thông phục vụ người lái xe và người đi bộ; người bán hàng, ngườicung cấp dịch vụ phục vụ khách hàng của mình Nếu hiểu đúng tầm quan trọngcủa nghề nghiệp của mình đối với người khác thì người đó sẽ làm đúng và tốt trách
nhiệm của mình, không còn ỷ vào vai trò, chức vụ, quyền hành của mình để gâykhó khăn, cản trở người khác, không đánh mất đạo đức trong nghề
vi, thái độ trong công việc Nó thể hiện rõ nét nhất trong những công việc liên quan
lợi ích của quảng đại quần chúng như báo chí, truyền hình, ảnh hưởng môi trườngcủa các nhà máy sản xuất; và thể hiện một cách gián tiếp như tác động tới nền kinh
tế qua những hoạt động của ngân hàng, công ty tài chính Mỗi lĩnh vực nghề nghiệp
đều nằm trong mối quan hệ với lợi ích của xã hội, xã hội có phát triển mới tạo cơhội cho nghề nghiệp phát triển Trong đó, ĐĐNN là yếu tố quyết định để cân bằnggiữa lợi ích cá nhân và lợi ích của cộng đồng
Trang 14với khách hàng, với cộng đồng cũng tăng theo tỷ lệ thuận Đồng thời, khi trình độcủa người tiêu dùng tăng lên thì càng yêu cầu cao hơn về sự chuyên nghiệp củangười cung cấp sản phẩm, dịch vụ đó Điều này có thể không đúng đối với mọi cánhân, nhưng xét trên phạm vi cả một ngành nghề hay phạm vi toàn xã hội thì haiyếu tố: trình độ của người hành nghề và yêu cầu của người tiêu dùng luôn ảnhhưởng tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển Tuy nhiên, mức độ
ảnh hưởng của trình độ nhận thức tới ĐĐNN cũng còn phụ thuộc vào trình độ pháttriển của kinh tế - xã hội và mức độ chặt chẽ của hệ thống pháp
luật
1.1.4.2 Môi trường văn hóa
Yếu tố văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến cách nhìn nhận quan điểm: Thếnào là phù hợp với đạo đức Các cá nhân tại các quốc gia khác nhau hay theo những
tôn giáo khác nhau sẽ đưa ra quyết định hành động phù hợp với ĐĐNN theo vănhóa của họ Về cơ bản, đạo đức trong văn hóa phương Đông lấy đẳng cấp tôn ti trật
tự làm cơ sở ứng xử, phương Tây là bình đẳng, đồng đẳng, vì vậy khi đưa ra
đi mua xe và trả nợ ngân hàng kèm theo một mức lãi suất nào đó; còn tại
Pakistan,
khách hàng có thể đến một ngân hàng Hồi giáo và ký hợp đồng mua xe với chínhngân hàng này Ngân hàng không cho vay tiền để lấy lãi mà đi mua xe và bán lạicho người kia cộng với một phần lời
Trang 151.1.4.3 Chế tài xử phạt
Chế tài xử phạt là yếu tố cần thiết để bắt buộc một người hành nghề hoạtđộng theo đúng những tiêu chuẩn về đạo đức mà người đó đã cam kết thực hiện.Đương nhiên, khi không có một chế tài xử phạt vi phạm hợp lý cũng như khi không
có một cơ chế kiểm tra, giám sát những hành vi vi phạm đạo đức thì việc kiểm soát
hoạt động của người hành nghề có phù hợp đạo đức hay không là vô cùng khókhăn Đặc biệt, đối với vấn đề đạo đức thì không luật nào có thể quy định rõ ràngđược Khi luật đã không quy định rõ ràng thì bất kỳ cá nhân nào cũng có xu hướnghành động có lợi cho cá nhân mình Tại những quốc gia phát triển như Anh, Mỹ,các hiệp hội nghề nghiệp hay các công ty lớn đều tự đưa ra những quy định ĐĐNN
và chế tài xử phạt vi phạm rất chặt chẽ với thành viên của
mình
1.2 Những vấn đề cơ bản về môi giới bất động sản
Môi giới BĐS là một hình thức môi giới với đối tượng của hợp đồng là tàisản BĐS; vì vây, trước khi tìm hiểu về môi giới BĐS, ta cần làm rõ khái niệm vềbất động sản và khái niệm môi giới thương mại
con người khai thác từ môi trường sống của mình để cải tạo phục vụ mục đích sảnxuất hay sinh hoạt của cá nhân họ
Mỗi một quốc gia đều đưa ra những khái niệm theo luật học về BĐS riêngcho quốc gia mình Nước ta đưa ra khái niệm cụ thể về BĐS trong Bộ luật Dân sựViệt Nam như sau: “Bất động sản là các tài sản bao gồm đất đai, nhà ở, công trình
xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà và công trình xây
Trang 17dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quyđịnh” 2
1.2.2 Khái niệm môi giới thương mại
Luật Thương mại Việt Nam định nghĩa: “Môi giới thương mại là hoạt độngthương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các
bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm
phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theohợp đồng môi giới.”3 Khi tiến hành nghiệp vụ, người môi giới không được đứng têncủa chính mình mà đứng tên của người ủy thác, không chiếm hữu hàng hóa vàkhông chịu trách nhiệm các nhân trước người ủy thác về việc khách hàng khôngthực hiện hợp đồng Người môi giới không tham gia vào việc thực hiện hợp đồngtrừ trường hợp được ủy quyền Quan hệ giữa người ủy thác với người môi giới dựatrên ủy thác từng lần, chứ không dựa vào hợp đồng dài hạn Hoạt động môi giớithường được trả công theo một tỷ lệ nhất định nào đó trên tổng giá trị hợp đồng đàm
phán và giao dịch, được gọi là hoa hồng
1.2.3 Khái niệm môi giới bất động sản
Trong một thương vụ BĐS thì chính các quyền liên quan đến BĐS mới đượcluân chuyển, chuyển giao trong quá trình giao dịch chứ không phải là bản thân BĐS
như nhiều người lầm tưởng Vì trong Luật Kinh doanh BĐS Việt Nam không cóđịnh nghĩa cụ thể về môi giới BĐS nên nhóm nghiên cứu xin đưa ra một khái niệm
về môi giới BĐS như sau:
Môi giới bất động sản là hoạt động của chủ thể (một cá nhân, một hãng haymột tổ chức) làm trung gian cho hai hoặc nhiều chủ thể khác (bên sử dụng dịch vụ
môi giới), hỗ trợ thiết lập các giao dịch thương mại hướng tới các đối tượng là cácquyền hạn khác nhau liên quan đến bất động sản, dẫn tới sự thay đổi ở khía cạnhpháp lý của bất động sản đó
2
3
Điều 174, Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
Điều 150, Luật Thương mại Việt Nam 2005.
1.2.4 Đặc điểm của môi giới bất động sản
Những đặc điểm của môi giới BĐS cũng chính là đặc điểm chung của nghềmôi giới; tuy nhiên, với đối tượng là BĐS thì loại hình môi giới này thể hiện nhữngđặc điểm của nó như sau:
Điều kiện làm việc linh hoạt
Môi giới BĐS có điều kiện làm việc linh hoạt hơn so với các ngành nghềkhác Cá nhân hay tổ chức tham gia vào hoạt động môi giới BĐS chỉ làm việc thực
sự khi nhận được yêu cầu của khách hàng
Kết nối giữa người bán và người mua
Môi giới BĐS đóng vai trò kết nối nhu cầu giữa người bán và người mua saocho hợp lý Vì trên thị trường BĐS tồn tại tình trạng thông tin bất đối xứng giữangười mua và người bán, giữa người môi giới và người sử dụng dịch vụ môi giới,nên người môi giới BĐS đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin đầy
đủ, chính xác và tư vấn những thủ tục cần thiết cho khách hàng Những người sửdụng dịch vụ thông qua nhà môi giới tiến hành việc mua/bán hay thuê/cho thuêBĐS một cách nhanh chóng, hiệu quả và ít gặp rắc rối nhất Sau khi đã tìm hiểu kỹ
yêu cầu và nguyện vọng của các bên nhà môi giới sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết
1.2.5 Các hình thức môi giới bất động sản
1.2.5.1 Môi giới độc quyền
Trong hình thức này, người môi giới sẽ được độc quyền và đại diện cho lợiích của duy nhất một bên trong giao dịch BĐS, có thể là người bán, người mua,người đi thuê hay người cho thuê Tuy nhiên, người môi giới cũng có thể chào bán
Trang 18người bán (cho thuê).
Môi giới độc quyền người mua (thuê)
Trái ngược với người môi giới độc quyền người bán (cho thuê), nhà môi giớiđộc quyền người mua (thuê) sẽ đại diện cho quyền lợi của người mua (thuê) tậndụng những hiều biết của mình về BĐS, pháp luật, khả năng thương lượng vànhững kỹ năng khác để tư vấn cho người mua (thuê) giá cả cũng như những điềukhoản tốt nhất trong hợp giao dịch Môi giới độc quyền người mua (thuê) là lựachọn tốt nhất cho khách hàng có nhu cầu tìm mua (thuê) BĐS và đa số các nhà môi
giới BĐS ở các nước phát triển đều hoạt động theo hình thức này
1.2.5.2 Môi giới tự do
Môi giới tự do (còn được gọi là “môi giới kép” ở Mỹ) là hình thức môi giới
mà người môi giới làm trung gian thực hiện nhiệm vụ giới thiệu khách hàng chochủ sở hữu BĐS, đồng thời cũng tư vấn cho cả 2 bên các vấn đề liên quan đến giao
dịch và hưởng hoa hồng dựa trên giá trị của thương vụ
1.2.6 Vai trò của môi giới bất động sản
Vai trò của môi giới BĐS không chỉ là dẫn dắt các chủ thể đến việc ký kếtthương vụ như các hoạt động môi giới thông thường mà còn là vấn đề làm thế nào
để đảm bảo tốt nhất quyền lợi của khách hàng liên quan đến
BĐS
1.2.6.1 Gia tăng lợi ích cho các chủ thể liên quan tới giao dịch bất động sản
Với chủ thể là người mua (người đi thuê)
Do những đặc tính nhất định của BĐS và thị trường BĐS nên đây là một thịtrường không hoàn hảo Thông tin về thị trường, về hàng hoá không thật sự chínhxác và đầy đủ do những tiêu chí đánh giá thường rất khó xác định, hơn nữa những
Trang 19thông tin này cũng không được công bố rộng rãi và đầy đủ như những loại hàng hoá
khác Ngoài ra các quy định pháp lý về đất đai, quy hoạch sử dụng đất, mức cungcủa thị trường BĐS… không phải người mua (người đi thuê) nào cũng nắm rõ Nhờnhững tư vấn và thông tin mà hoạt động môi giới mang lại, thông tin BĐS từ phíangười bán (cho thuê) đến với người mua (người đi thuê) nhanh chóng và chính xác
hơn giúp người mua (người đi thuê) sẽ có cái nhìn tổng quan và đưa ra được sự lựa
chọn đúng đắn đồng thời làm giảm rủi ro trong hoạt động mua
người bán (cho thuê) có thể nắm bắt được tình hình mua bán trên thị trường, đưa gia
những mức giá bán hợp lý phù hợp với cung cầu, tìm được người mua nhanh chóng
Trang 20lượng giao dịch ngầm và công khai hiện nay vẫn chiếm một tỷ lệ lớn, gây thất thuthuế nhà nước Rõ ràng là khi hoạt động môi giới BĐS trở nên chuyên nghiệp và có
hành lang pháp lý quy định rõ ràng thì đây sẽ là một kênh hoạt động hiệu quả, bên
cạnh các sàn giao dịch BĐS, giúp hạn chế các giao dịch ngầm, trao tay; đồng thời,
tăng thu nhập thuế cho nhà nước
Với xã hội
BĐS là nguồn tài sản quan trọng đối với mỗi quốc gia, cộng đồng và ngườidân Đây là tài sản lớn và gắn chặt với đời sống của mỗi người vì vậy các hoạt động
giao dịch BĐS thường có ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội tuỳ theo quy môcủa từng giao dịch Tuy nhiên, thông tin trên thị trường BĐS lại không phải lúc nào
cũng rõ ràng, minh bạch và chính xác, những chủ thể tham gia vào giao dịch thường
không có đủ sự am hiểu và kiến thức về các vấn đề BĐS Một thị trường hoạt động
không hoàn hảo, giá cả lên xuống thất thường sẽ tác động trực tiếp đến xã hội, gây
ra tâm lý bất ổn cho người dân, không tin vào chính sách pháp luật của nhà nước,gây mất ổn định cho xã hội Hơn nữa, các hoạt động ngầm như đã nói ở trên, ngoài
việc gây thất thu thuế cho nhà nước, còn có khả năng gây ra những tệ nạn, mất ổn
định xã hội Khi có sự tham gia của hoạt động môi giới chuyên nghiệp, thông tin thị
trường sẽ hoàn hảo hơn, những chủ thể tham gia được cung cấp đầy đủ thông tin về
BĐS làm giảm tiêu cực của thị trường, góp phần ổn định trật tự xã
hội
1.2.6.2 Thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản
Qua những phân tích trên, có thể thấy vai trò quan trọng của môi giới BĐS là
cung cấp đầy đủ thông tin cho các bên chủ thể tham gia vào hoạt động giao dịchhàng hoá BĐS Khi thông tin giao dịch đầy đủ và đồng bộ sẽ đưa thị trường BĐShoạt động vận hành trơn chu, người mua và người bán có được thông tin mình cần
Trang 21sẽ tiến hành giao dịch nhanh chóng, giảm bớt được rủi ro Khi mọi người mua nắm
được thông tin đầy đủ và chính xác sẽ đưa ra mức giá tốt và phù hợp, đồng nghĩavới tình trạng ép giá, đầu cơ được giảm bớt, người bán không còn ở vị thế quá chủđộng hơn so với người mua Đồng thời, với những tư vấn khác liên quan đến vấn đề
luật pháp, tài chính của người môi giới cũng như là người đóng vai trò trung gianthương lượng cho đôi bên giúp thúc đẩy nhanh quá trình giao dịch của thương vụ.Như vậy, có thể khẳng định hoạt động môi giới BĐS như một loại dầu nhớt giúp thị
trường BĐS – một guồng quay khổng lồ- hoạt động đồng bộ và hiệu quả
nhất
Tuy nhiên, hệ thống môi giới nếu phát triển lớn mạnh, đông đảo mà lại hoạtđộng không theo tiêu chuẩn nhất định, không có nguyên tắc chung thì tình trạngnhiễu loạn thông tin sẽ chắc chắn xảy ra Nguồn thông tin nhiễu loạn thì còn có hại
hơn là khi không có môi giới Mà bản chất của nghề môi giới là kỹ năng của conngười nên quy định chung về đạo đức trong hành nghề môi giới BĐS là cần thiết để
xây dựng một hệ thống môi giới lớn mạnh và hoàn hảo
1.3 Đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản
1.3.1 Khái niệm đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản
Môi giới BĐS là một nghề nghiệp cụ thể, vì vậy, về cơ bản, ĐĐNN trong môigiới BĐS cũng được định nghĩa tương tự như ĐĐNN nói chung Hiện nay, ở ViệtNam, ĐĐNN trong môi giới BĐS chưa được định nghĩa cụ thể trong bất cứ tài liệunào Tuy nhiên, dựa trên khái niệm ĐĐNN, nhóm nghiên cứu có thể đưa ra mộtđịnh nghĩa như sau:
Đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản là những yêu cầu của đạođức đặc biệt có liên quan đến hoạt động môi giới bất động sản của cá nhân hoặc tổ
chức, là tổng hợp các quy tắc, các nguyên tắc chuẩn mực của hoạt động môi giới và
lĩnh vực bất động sản, nhờ đó mà các cá nhân (tổ chức) hoạt động trong lĩnh vựcmôi giới bất động sản tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích
và sự tiến bộ của nó trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tậpthể và cá nhân với xã hội
Trang 221.3.2 Vai trò của đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản
Dựa trên những vai trò của ĐĐNN trong kinh doanh nói chung có thể đưa rađược những vai trò cơ bản của ĐĐNN trong môi giới BĐS như sau:
1.3.2.1 Tăng cường sự tin tưởng và thỏa mãn của khách hàng đối với hoạt động môi giới bất động sản
Môi giới BĐS là một hoạt động kinh doanh mang tính dịch vụ vì vậy việckhách hàng có thỏa mãn khi sử dụng dịch vụ môi giới BĐS hay không không chỉphụ thuộc vào kết quả mà họ đạt được mà còn phụ thuộc vào cách mà họ nhận được
dịch vụ ra sao Trong quá trình làm việc, những người môi giới không chỉ thể hiệntrình độ chuyên môn của họ thông qua những kỹ năng giải quyết vấn đề, cung cấp
thông tin và đáp ứng yêu cầu của khách hàng mà cách họ làm việc, tiếp xúc cũngnhư hoàn thành nhiệm vụ là rất quan trọng Việc hoàn thành công việc ủy thác làmột thành công lớn nhưng cách thức mà họ hoàn thành sẽ đẩy sự thành công haynói cách khác là sự thoả mãn và tin tưởng của khách hàng lên mức cao nhất Mộtngười môi giới được trang bị đầy đủ kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ cũng nhưđược đào tạo về ĐĐNN chắc chắn sẽ mang đến sự tin tưởng và thỏa mãn cao nhất
giới đến với khách hàng Khi những người môi giới BĐS phục vụ khách hàng theođúng những tiêu chuẩn ĐĐNN sẽ mang lại sự thỏa mãn và tin tưởng cho kháchhàng đồng nghĩa với việc xây dựng được hình ảnh và uy tín của bản thân họ cũngnhư của công ty môi giới trong lòng mỗi khách hàng Trong mọi lĩnh vực, kháchhàng sẽ chỉ quay lại mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ của những công ty, cửahàng hay cá nhân cung cấp mà họ tin tưởng Một khi đã gây dựng được hình ảnh tốt
đẹp, người môi giới BĐS (công ty môi giới BĐS) sẽ có nhiều cơ hội hơn trong
Trang 23tương lai, không chỉ có những khách hàng cũ đến với họ mà còn có những kháchhàng mới thông qua hình thức giới thiệu, truyền miệng Vì vậy, cùng với chuyênmôn nghiệp vụ, ĐĐNN là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh, thươnghiệu – giá trị lâu bền, mang lại lợi ích kinh tế về lâu dài – cho cá nhân hay doanhnghiệp môi giới BĐS.
1.3.2.3 Thúc đẩy sự phát triển của ngành bất động sản
Những người môi giới đóng vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực BĐS Họ lànhững người kết nối giữa người bán và người mua, người thuê và người đi thuê Nhờ có những người môi giới BĐS chuyên nghiệp mà các hợp đồng liên quan đếnBĐS diễn ra nhanh chóng và thuận lợi hơn Với vai trò là người được ủy thác,người môi giới BĐS không chỉ giúp các bên liên quan đến hợp đồng đạt đượcnhững mục đích riêng một cách tốt nhất mà còn hài hòa những lợi ích cá nhân ấyvới lợi ích chung của xã hội Nhưng những lợi ích trên chỉ đạt được khi nhữngngười môi giới hoạt động đúng với những tiêu chí ĐĐNN trong môi giới BĐS nếukhông sẽ gây ra những hậu quả xấu cho các bên liên quan cũng như cả xã hội Khi
người môi giới tuân thủ theo những quy tắc ĐĐNN sẽ giúp cho thị trường BĐS vậnhành thuận lợi và phát triển đúng hướng
1.3.3 Yêu cầu đạo đức đối với người hoạt động môi giới bất động sản
1.3.3.1 Tính khác biệt của yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp môi giới bất động sản
so với các ngành nghề khác
Mỗi ngành nghề có những đặc trưng và nhiệm vụ khác nhau cũng như đòinhững kỹ năng, hiểu biết và sự tuân thủ khác nhau Vì vậy bên cạnh những tiêuchuẩn chung như tuân thủ pháp luật, trung thực, thật thà, yêu cầu về đạo đức của
các ngành nghề khác nhau cũng khác nhau Như đối với giáo viên, những ngườitrực tiếp giảng dạy và đào tạo thế hệ tương lai cho đất nước có những tiêu chuẩnnhất định về nghề nghiệp là“Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy học; chấp hành LuậtGiáo dục, điều lệ, quy chế, quy định của ngành; có ý thức tổ chức kỉ luật và tinhthần trách nhiệm; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; sống trung
Trang 25thực, lành mạnh, là tấm gương tốt cho học sinh”4 Đây được coi là tiêu chí ĐĐNNđối với giáo viên trung học phổ thông Trong khi đó, đối với người cán bộ Kiểm sát,
mặc dù đang trong quá trình xây dựng bộ tiêu chuẩn ĐĐNN nhưng Viện trưởngViện kiểm sát Nhân dân tối cao Trần Quốc Vượng phát biểu tại Hội thảo "Học tập
và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ Kiểm sát: Công minh,chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn" (Hà Nội, tháng 9/2007) có nêu rõmột trong những tiêu chuẩn ĐĐNN của nhân viên trong ngành là “cán bộ Kiểm sát
trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với lýtưởng cách mạng của Đảng; kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, phấn đấu hết sức mình cho sự thắng lợi, sự phát triển của công cuộcđổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đối vớicán bộ kế toán, kiểm toán, 7 nguyên tắc cơ bản đối với ĐĐNN là: “Độc lập, chínhtrực, khách quan, năng lực chuyên môn và tính thận trọng, tính bảo mật, tư cáchnghề nghiệp, tuân thủ chuẩn mực chuyên môn”5 Ta thấy rõ sự khác biệt trong quy
định tiêu chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên, cán bộ Kiểm soát và nhân viên kếtoán, kiểm toán do tính chất và nội dung công việc của 3 ngành nghề này là khácnhau Đối với một người môi giới BĐS có đạo đức không nhất thiết phải gắn bó lâudài với nghề như đối với giáo viên và cũng không nhất thiết phải trung thành vớiChủ nghĩa Mác – Lênin hay tuân thủ chuẩn mực chuyên môn của người kiểm toán.Người môi giới BĐS cũng có những tiêu chí ĐĐNN riêng như đối xử bình đẳng vớikhách hàng, bảo mật thông tin, cạnh tranh lành mạnh…Những tiêu chí này khônggiống so với những ngành nghề trên và những những ngành nghề khác trong xã hội
1.3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp của người
môi giới bất động sản
Cũng như đối với ĐĐNN nói chung, các yếu tố ảnh hưởng đến yêu cầu vềĐĐNN trong môi giới BĐS bao gồm: trình độ nhận thức, môi trường văn hóa vàchế tài xử phạt Các nhà làm luật, các công ty môi giới và chính những người môi
4
5
Tiêu chí 2, Điều 4, Chương II, Thông tư số 30/2009/TT-BGDDT ngày 22/10/2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán do Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành năm 2005
giới BĐS cần nắm rõ được các yếu tố này để có những biện pháp tác động thíchhợp, từ đó giúp hình thành nên ĐĐNN cho người môi giới BĐS một cách hiệu quảnhất và tự nhiên nhất
độ thấp hơn Một yếu tố khác ảnh hưởng đến nhận thức là kinh nghiệm của ngườimôi giới Một người môi giới với nhiều năm kinh nghiệm hành nghề, tiếp xúc vớinhiều khách hàng, biết cách ứng xử và làm việc chuyên nghiệp có xu hướng hoànthiện hơn về mặt ĐĐNN
Bên cạnh đó, trình độ nhận thức của người sử dụng dịch vụ cũng quyết địnhđến ĐĐNN của người môi giới BĐS Một cá nhân sử dụng dịch vụ có yêu cầu cao
về sự chuyên nghiệp của người cung cấp dịch vụ môi giới buộc người môi giới phải
đáp ứng được những yêu cầu đó nếu muốn tiếp tục hợp đồng Chính khách hàng có
nhận thức cao là động lực thúc đẩy những người môi giới phải có ĐĐNN khi hànhnghề
Môi trường văn hóa:
Mỗi quốc gia khác nhau có quan điểm khác nhau về ĐĐNN do văn hóa, lốisống khác nhau Cùng một quy định về đạo đức có quốc gia đề cao nhưng có quốc
gia lại xem nhẹ hơn Bên cạnh đó, nghề môi giới BĐS có tính chất đặc biệt là đốitượng trong hợp đồng thường là tài sản có giá trị lớn và thù lao mà người môi giớinhận được phụ thuộc vào giá trị của hợp đồng trong giao dịch Chính vì đặc điểmnày mà nhiều người môi giới quên đi những quy định về ĐĐNN để làm lợi cho bảnthân Một người môi giới chuyên nghiệp cần có tinh thần trách nhiệm cao, không vì
Trang 27lợi ích cá nhân mà làm sai những chuẩn mực đạo đức khi cung ứng dịch vụ tớikhách hàng.
có thể là chế tài xử phạt được quy định trong luật quốc gia (ở Mỹ chế tài xử phạtđược thực hiện theo án lệ) với các mức độ như phạt hành chính, thậm chí là phạt tù
Chế tài xử phạt có thể được quy định trong Bộ nguyên tắc hoạt động của các Hiệphội liên quan đến môi giới BĐS Hiệp hội BĐS Việt Nam (VNREA) có quy định
“Hội viên Hiệp hội BĐS Việt Nam vi phạm các quy định trên đây sẽ chịu các hìnhthức kỷ luật theo quy định tuỳ theo mức độ vi phạm, đồng thời có trách nhiệm đền
bù thiệt hại theo quy định của pháp luật (nếu có)6” Thậm chí các công ty môi giớiBĐS cũng có đưa ra các quy định xử phạt đối với nhân viên môi giới vi phạm cácquy định về ĐĐNN Thông thường quy định xử phạt của các công ty sẽ bao gồmcác mức: khiển trách và nhắc nhở, xử phạt hành chính (phạt tiền; cắt lương, thưởng)
và cuối cùng là đuổi việc Việc áp dụng hình thức xử phạt nào sẽ phụ thuộc vàomức độ nghiệm trọng và thường xuyên của hành vi vi phạm ĐĐNN của nhân viênmôi giới BĐS
1.3.3.3 Những yêu cầu cơ bản của đạo đức nghề nghiệp đối với người môi giới bất động sản
Yêu cầu đạo đức với người hoạt động môi giới BĐS là rất rộng, họ không chỉ
có trách nhiệm đạo đức đối với người ủy thác mà còn đối với khách hàng, vớinhững người môi giới khác và đối với toàn xã hội Để đưa ra một văn bản quy định
về tiêu chuẩn ĐĐNN cho riêng người môi giới BĐS như “Quy tắc đạo đức và ứng
xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam” đối với Luật sư hay “Chuẩn mực ĐĐNN kếtoán, kiểm toán” đối với người làm kế toán, kiểm toán là không dễ dàng Tuy nhiên,
6 Chương 3- Quy tắc đạo đức hành nghề của Hội viên Hiệp hội bất động sản Việt Nam, năm
Cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác:
Với vai trò là người được ủy thác, người môi giới BĐS phải có ý thức cungcấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác cho người ủy thác Họ không được chegiấu hay cung cấp sai thông tin hoặc thông tin thiếu xót gây hiểu lầm cho người ủy
thác dẫn tới những quyết định sai lầm và khiến thị trường hoạt động không đúng với
hay nghèo, không được phân biệt màu gia, sắc tộc, địa vị xã
Cạnh tranh lành mạnh:
Người môi giới BĐS không chỉ có trách nhiệm đạo đức đối với xã hội, vớingười ủy thác mà còn với chính những người môi giới khác Một người môi giớichuyên nghiệp chỉ cạnh tranh lành mạnh, không tranh giành khách, không đánh cắp
Trang 28thông tin, không nói xấu đồng nghiệp; tích cực hợp tác, cung cấp thông tin cho đồng
nghiệp khi cần thiết để phục vụ khách hàng tốt nhất
Yêu cầu đạo đức trong kinh doanh BĐS nói chung và trong môi giới BĐSnói riêng là vấn đề nhạy cảm, có tầm quan trọng đến hiệu quả kinh doanh hay thậm
chí là sự tồn tại của một doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp môi giới Việc tuân
thủ theo qui tắc đạo đức là trách nhiệm của nhà môi giới Khi tuân thủ theo
những
tiêu chuẩn đạo đức này nhà môi giới có thể nhận ra những hành vi có thể gây hạiđến khách hàng, và vì vậy có thể tìm ra hướng hành động thích hợp Không có câu
trả lời cụ thể như thế nào là hợp đạo đức cũng như không có một hướng dẫn những
tập hợp hành vi được coi là hợp đạo đức Ranh giới của hành vi thiếu đạo đức vàthiếu văn hóa cá nhân (do năng lực yếu kém, tính cách riêng của nhà môi giới) là rất
khó nhận ra Tuy nhiên, tiêu chuẩn đạo đức nghề môi giới được hình thành trướctiên là để bảo vệ lợi ích khách hàng sử dụng dịch vụ môi giới Ngoài ra, cũng khóxác định những nguyên tắc ứng xử đúng đắn giữa các thành viên trong văn phòngmôi giới hay giữa các nhà môi giới cạnh tranh với nhau Nếu các nhà môi giới hoạtđộng mà bỏ qua các nguyên tắc đạo đức thì việc cung cấp dịch vụ của họ hoàn toàn
trở thành việc kinh doanh thuần túy
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP TRONG MÔI
GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP TRONG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát về thị trường bất động sản và hoạt động môi giới bất động sảntại Việt Nam
b Thị trường bất động sản Việt Nam giai đoạn 1980 -1992
Giai đoạn từ 1980 đến 1987
Nhà nước có đưa ra quy định cụ thể và rõ ràng hơn về sở hữu tập thể đất đai
trong Hiến pháp sửa đổi 1980 Việc tạo lập nhà ở cũng bắt đầu có những đổi mới:
“Công dân có quyền có nhà ở Việc phân phối diện tích nhà ở do Nhà nước quản
lý phải công bằng, hợp lý”7 Có thể nói rằng, trong giai đoạn trước năm 1987, thịtrường BĐS Việt Nam vẫn chưa được hình thành, bởi lẽ lúc này BĐS của người dânchủ yếu được nhà nước khoán và phân bổ
Diện tích nhà ở do Nhà nước xây dựng trong giai đoạn này chỉ đáp ứng được
30% nhu cầu nhà ở của cán bộ công nhân viên chức ở đô thị8 Trong khi một số nhà
ở đã có giấy chứng nhận sở hữu do chế độ cũ cấp nên sự chuyển nhượng trao taygiữa những người có nhu cầu vẫn diễn ra Nhà nước chưa có quy định công nhận
7
8
Điều 62, Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1980
PGS TS Thái Bá Cẩn, Th.S Trần Nguyên Nam, “Thị trường bất động sản - Những vấn đề lý luận thực tiễn
ở Việt Nam”, NXB Tài Chính, 2003.
Trang 31quyền sở hữu nhà ở và cũng chưa cấp giấy chứng nhận sở hữu đối với BĐS, do đóthị trường có hoạt động nhưng không có sự quản lý của Nhà
này, thị trường BĐS sơ cấp đã bắt đầu hoạt động
Tuy nhiên, năm 1991, thị trường BĐS Việt Nam mới thực sự khởi đầu khinhà nước đưa ra Pháp lệnh về Nhà ở mới Pháp lệnh chỉ rõ hai điểm quan trọng vềkinh doanh nhà ở và quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở khi nhận chuyển
nhượng
nhà ở Cụ thể như sau: “Tổ chức, cá nhân được kinh doanh nhà ở bằng việc xâydựng, cải tạo nhà ở để bán hoặc cho thuê và các hoạt động kinh doanh nhà ở khác
theo quy định của pháp luật”9 và “Đất có nhà ở không phải là đối tượng của hợpđồng mua bán nhà ở Người nhận chuyển quyền sở hữu nhà ở được quyền sử dụng
đất theo quy định của Luật Đất đai”10
c Thị trường bất động sản Việt Nam giai đoạn từ sau năm 1993
Thị trường BĐS đầu giai đoạn này đã có những bước đột phá rõ rệt trong hệthống pháp luật và quản lý các giao dịch mua, bán, thuê và cho thuê BĐS Trên cơ
sở Hiến pháp sửa đổi năm 1992, Luật Đất đai được sửa đổi năm 1993 và năm 2003
nhằm thể chế hóa các chính sách đất đai đã ban hành, đồng thời quy định và điềuchỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội theo hướng dài hạn, trong đó quy định: “Nhànước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”11;
“Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất”12 Ngoài ra, Bộ luật Dân sự
9
Điều 4, Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 51-LCT/HĐNN8, ngày 06/04/1991 về Nhà ở
Điều 31, Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 51-LCT/HĐNN8, ngày 06/04/1991 về Nhà ở
11 Điều 20, Luật đất đai 1993
12 Khoản 2, Điều 3, Luật Đất đai 1993
10
Trang 32năm 1995 cũng quy định về các điều kiện, nội dung hợp đồng mua bán tài sản, về
chuyển đổi, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất
Cho tới khi Quốc hội ban hành Luật Kinh doanh BĐS năm 2006, các hìnhthức thương nhân trên thị trường BĐS mới chính thức được chấp nhận và xác định
rõ ràng Theo đó, phạm vi điều chỉnh của luật này bao gồm cả những cá nhân, tổchức kinh doanh BĐS (đầu tư, xây dựng ) và kinh doanh dịch vụ BĐS (tư vấn, môi
giới, định giá, sàn giao dịch )
Những quy định pháp luật nêu trên có liên quan đến đất đai, nhà ở đã thực sự
tạo điều kiện cho thị trường BĐS có bước phát triển mới Nhờ vậy, thị trường BĐSchính thức đã có cơ sở pháp lý hình thành và đi vào hoạt động Tuy còn mới ở bước
đầu và còn nhiều khiếm quyết nhưng thị trường BĐS đã có những đóng góp tíchcực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
2.1.1.2 Tổng quan tình hình thị trường bất động sản Việt Nam 10 năm gần đây
Từ năm 2000, giá nhà đất bắt đầu biến động, tiếp đó giá cả tăng nhanh liêntục và đạt đỉnh cao vào khoảng quý II năm 2001 Có thể nói, giá BĐS của Việt Nam
giai đoạn này ở mức đắt nhất thế giới, cao hơn cả một số thành phố lớn của cácnước công nghiệp phát triển
Từ cuối năm 2003 đến năm 2007, thị trường BĐS ở nước ta diễn ra trầmlắng Theo số liệu thống kê từ Bộ Xây dựng: Năm 2003 giao dịch địa ốc thành công
giảm 28%, năm 2004 giảm 56% và năm 2005 giảm 78% Giá nhà đất trên mặt bằng
cả nước hiện đang có biểu hiện sụt giảm rõ nét, tuy diễn biến không đồng đều vàkhá phức tạp Qua khảo sát ở một số địa phương phía bắc, giá BĐS một vài nơi hạ30- 40% nhưng vẫn khó bán13 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là
Tâm lý chờ đợi của người dân: Người dân luôn kì vọng giá BĐS giảm
xuống Ngoài ra, Nhà nước siết chặt quản lý hoạt động mua bán BĐS vànhững chính sách về đất đai của Nhà nước đang trong quá trình chỉnh sửa và
hoàn thiện nên tâm lý của người dân còn chưa mua
ngay;
Giá vàng tăng cao;
Tiêu cực trong xây dựng và đất đai;
Do Nhà nước áp dụng các biện pháp nhằm hạ nhiệt thị trường BĐS;
Từ năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động mạnh mẽ đến tính
thanh khoản của thị trường, mặt bằng giá BĐS xuống dốc trầm trọng, đặc biệt là sau
khi Chính phủ thắt chặt tiền tệ vào cuối năm 2007 Đến năm 2010, thị trường BĐSViệt Nam tuy phát triển nhưng không có nhiều khởi sắc Thị trường gặp phải nhiềuyếu tố bất lợi từ việc quy hoạch tại các trung tâm lớn và một số chính sách vĩ mô
Từ giữa năm 2011, trước động thái siết chặt tín dụng của Ngân hàng nhànước đối với thị trường BĐS vào ngày 30/6/2011, thị trường BĐS đã hoàn toànchấm dứt chuỗi ngày tăng giá và bước vào vòng xoáy lao dốc khi tính thanh khoản
giảm sút, cầu giảm, nợ xấu tăng Đây chính là một sự khởi đầu cho trật tự mới trên
thị trường BĐS
Năm 2012 được kì vọng thị trường BĐS sẽ có sự khởi sắc trở lại, tuy vậy, thịtrường vẫn gặp khó khăn nếu tín dụng bị siết chặt, lãi suất cho vay cao Thực tế cho
thấy, trái ngược với sự phục hồi và không khí sôi sục của thị trường chứng khoántrong 2 tháng đầu năm nay, thị trường BĐS vẫn rơi vào trạng thái ảm đạm, BĐS tại
Hà Nội tiếp tục rớt giá
2.1.2 Môi giới bất động sản ở Việt Nam
2.1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tại Việt Nam, nghề môi giới BĐS dần hình thành và phát triển từng bướcdựa trên sự phát triển của thị trường BĐS Giai đoạn năm 1945 - 1980 là thời điểm
thị trường BĐS chưa được hình thành khi hầu hết các giao dịch mua bán nhà đấtkhông được chú trọng Vào những năm 80 của thế kỉ XX, khi thị trường BĐS mớibắt đầu được hình thành, để nắm bắt đầy đủ thông tin và giúp quá trình giao dịchdiễn ra thuận lợi hơn, các cá nhân và đại lý môi giới cũng dần dần xuất hiện Ở thời
Trang 34gian này, hầu như chưa có bất kì khung đào tạo cho nhân viên môi giới và đại lýmôi giới Vì vậy, họ chủ yếu hoạt động dựa trên những thông tin bản thân có được,
nhỏ lẻ và tự phát Chính vì thế mà vai trò của môi giới chưa thực sự phát huy hếthiệu quả của nó
Nghề môi giới chỉ thực sự phát triển kể từ cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI,trong thời điểm được cho là bùng nổ của thị trường BĐS Đánh dấu cho sự pháttriển của môi giới BĐS Việt Nam là sự ra đời của Hiệp hội BĐS vào ngày
13/08/2002 Hiệp hội này chịu sự quản lý của Bộ Xây Dựng trong hoạt động đầu
cơ, quản lý, khai thác kinh doanh BĐS
2.1.2.2 Quy mô hoạt động môi giới bất động sản ở Việt Nam
Nhìn một cách tổng thể, đội ngũ tư vấn BĐS hiện nay chia làm nhiều cấp độ
Quy mô nhất là các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn với phương thức
hoạt động khá bài bản Những công ty này tìm kiếm thông tin qua các dự án của các
nhà đầu tư, các công ty xây dựng Sau đó họ cập nhật, liên hệ và giao dịch vớikhách hàng Hầu hết những công ty môi giới BĐS hiện này đều đăng ký hành nghề,
có trụ sở làm việc, và các thông tin đưa ra có độ tin cậy khá cao Nhân viên môi giới
tại các công ty này phần lớn đều có trình độ đại học
Ngoài ra, số lượng lớn các văn phòng nhà đất mở ra ngày càng nhiều Tuynhiên, thực tế là các văn phòng nhà đất vẫn làm ăn manh mún, không mang lạinhiều hiệu quả Bên cạnh đó, còn tồn tại nhiều môi giới nhà đất làm việc tự do, đaphần chỉ làm ăn nhỏ lẻ, không có trình độ chuyên môn và chưa từng qua trường lớp
đào tạo Những người này hành nghề chủ yếu dựa trên kinh nghiệm vốn có của bản
thân Vì vậy, thông tin họ đưa ra thường không chính xác và họ cũng không nằmtrong sự quản lý hay giám sát của bất kì cơ quan chức năng nào Tính đến cuối năm
2011, cả nước có gần 1.000 sàn giao dịch BĐS trong đó có khoảng 30.000 ngườiđược cấp chứng chỉ hành nghề môi giới, định giá14
14
“Hội môi giới bất động sản sẽ thành lập vào tháng 12 tới”, truy cập ngày 2/1/2012 từ
http://dantri.com.vn/c76/s76-526162/hoi-moi-gioi-bat-dong-san-se-thanh-lap-vao-thang-12-toi.htm
Trang 35Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu thực hiện tháng 3/2012 về các cá nhân,
công ty môi giới trên địa bàn thành phố Hà Nội và khu vực lân cận: Doanh thu từhoạt động môi giới của các công ty đều đạt mức cao trong năm 2009 và 2010,nhưng đến năm 2011 lại cho thấy sự suy giảm rõ rệt, tình trạng này được lý giải do
đà suy thoái trên thị trường BĐS Tỉ lệ phần trăm hoa hồng mỗi hợp đồng môi giới
là 0-1%, trong đó, chủ yếu là ở mức 0,5 - 1% Các cá nhân thực hiện môi giới BĐSthường là nhân viên của các công ty môi giới nhà đất, tuy nhiên, cũng tồn tại rấtnhiều những cá nhân riêng lẻ hoạt động môi giới tự do Một phần trong số đó hoạtđộng môi giới như một nghề phụ và không được cấp chứng chỉ môi giới BĐS
Phần lớn khách hàng hiện nay tìm đến dịch vụ môi giới với mục đích
mua/bán nhà đất, một bộ phận còn lại là để tìm thuê nhà hoặc văn phòng cho công
ty; số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ môi giới để cho thuê nhà có số lượng íthơn các khách hàng khác rất nhiều Và chỉ có 37,5% số khách hàng là sử dụng dịch
vụ qua công ty môi giới BĐS chuyên nghiệp, 62,5% còn lại thông qua người môigiới tự do
Biểu đồ 1: Tỷ lệ khách hàng sử dụng dịch vụ môi giới BĐS phân theo mục đích 15
Tiềm năng và quy mô của thị trường BĐS ở Việt Nam còn rất lớn, nhất làsau khi Việt Nam gia nhập WTO Theo “Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam”,diện tích đất đô thị sẽ tăng từ 105.000 ha năm 2009 lên 460.000 ha vào năm 2020,
đưa tỷ lệ đô thị hoá từ 28% lên khoảng 45% vào năm 2025 Dân số đô thị từ 26triệu người (năm 2011) dự kiến sẽ tăng lên 46 triệu người vào năm 2025 Kéo theo
15 Theo số liệu khảo sát của nhóm nghiên cứu, thực hiện tháng
3/2012
Trang 36giới hợp lý để thu được những hiệu quả tốt nhất.
2.1.2.3 Quy định về môi giới bất động sản ở Việt Nam
a Quy định về hoạt động môi giới bất động sản
Điều kiện hoạt động của môi giới bất động sản
Theo Luật Kinh Doanh BĐS Việt Nam ban hành năm 2006, có hiệu lực từngày 1/1/2007 thì đối với cá nhân: “cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất độngsản độc lập phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và có chứng chỉmôi giới bất động sản”16; còn tổ chức hoạt động môi giới BĐS bắt buộc phải có “ítnhất một người có chứng chỉ môi giới bất động sản”17 Như vậy, trong cả haitrường hợp (cá nhân và tổ chức) hoạt động kinh doanh dịch vụ môi giới BĐS, điềukiện tiên quyết có thể thực hiện kinh doanh là được cấp chứng chỉ môi giới
BĐS
Để được cấp chứng chỉ môi giới kinh doanh BĐS, các cá nhân cũng như tổchức phải đáp ứng đủ những điều kiện: “có năng lực và hành vi dân sự đầy đủ; đãđược đào tạo về môi giới BĐS; có hồ sơ xin cấp chứng chỉ môi giới BĐS”18 KhiChính phủ ban hành nghị định 153/2007/NĐ-CP – Quy định chi tiết và Hướng dẫnthi hành Luật kinh doanh BĐS vào năm 2007 thì có thêm một điều kiện: “cá nhânđược cấp chứng chỉ môi giới BĐS phải không là cán bộ, công chức nhà nước”19 Nguyên tắc hoạt động của môi giới bất động sản
Khoản 3, Điều 8, Luật Kinh doanh bất động sản 2006
Khoản 2, Điều 8, Luật Kinh doanh bất động sản 2006
18 Khoản 1, Điều 50, Luật Kinh doanh bất động sản 2006
19 Khoản 1, Điều 14, Nghị định 153/2007/NĐ-CP về Quy định chi tiết và Hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh BĐS
Trang 37Nguyên tắc đầu tiên quy định phương thức hoạt động của người môi giới, đó
là: “làm trung gian trong việc đàm phán, ký hợp đồng kinh doanh bất động sản và
được hưởng thù lao, hoa hồng theo hợp đồng môi giới bất động sản”20
Nguyên tắc thứ hai: “Hoạt động môi giới bất động sản phải công khai, trungthực và tuân thủ pháp luật”21 Ở nguyên tắc này, Luật Kinh doanh BĐS đề cao sự
rõ ràng trong mọi công đoạn của quá trình cung cấp dịch vụ và quá trình đó phảinằm trong giới hạn khuôn khổ pháp luật đã quy định
Nguyên tắc thứ ba: “Tổ chức, cá nhân môi giới bất động sản không đượcđồng thời vừa là nhà môi giới vừa là một bên thực hiện hợp đồng trong một giaodịch kinh doanh bất động sản”22 Nguyên tắc này nhằm tách biệt hóa hoạt động môi
giới BĐS với việc kinh doanh BĐS thông thường, giúp nhà nước dễ dàng thực hiệnchức năng quản lý, đồng thời nhằm bảo vệ tính minh bạch của hoạt động môi giới
b Nội dung, quyền hạn và nghĩa vụ của môi giới bất động sản
Nội dung của hoạt động môi giới bất động sản
Hoạt động môi giới BĐS là việc tìm kiếm đối tác đáp ứng các điều kiện củakhách hàng để tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng Ngoài ra, môi giới BĐS cònđại diện theo ủy quyền để thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động kinhdoanh BĐS Thêm vào đó, họ còn cung cấp thông tin, hỗ trợ, tư vấn cho các bêntrong việc đàm phán ký kết hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thuê hay cho thuê
BĐS để quá trình này diễn ra nhanh chóng, thuận tiện nhất với người sử
20
21
Khoản 1, Điều 44, Luật Kinh doanh bất động sản 2006.
Khoản 2, Điều 44, Luật Kinh doanh bất động sản 2006.
22 Khoản 3, Điều 44, Luật Kinh doanh bất động sản 2006.
Trang 38với khách hàng nhưng phải chịu trách nhiệm trước khách hàng về kết quả môigiới”23 và có thể “đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng môi giới bất độngsản khi khách hàng vi phạm điều kiện để đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợpđồng do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp
luật”24
Người môi giới còn có một số đặc quyền khác như: chọn sàn giao dịch BĐS
để tham gia, khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động môigiới BĐS và một số quyền cụ thể khác
Nghĩa vụ của người môi giới bất động sản
Bên cạnh những đặc quyền vừa nêu, người môi giới BĐS cũng phải chịutrách nhiệm về các điều khoản trên hợp đồng và trách nhiệm về thông tin BĐS; về
chuyên môn nghiệp vụ môi giới (hỗ trợ đàm phán, ký kết hợp đồng, bồi thườngthiệt hại) và tuân theo quy định của pháp luật (chế độ báo cáo, kiểm tra, thanh tra,
nộp thuế )
c Quy định về hoa hồng, thù lao
Theo điều 46 và 47 - Luật kinh doanh BĐS, các khoản thù lao, hoa hồng phải
được hai bên thỏa thuận trước và phải ghi trong trong hợp đồng môi giới Trong đó:
Thù lao sẽ không phụ thuộc vào kết quả của giao dịch
Hoa hồng sẽ được nhận khi giao dịch thành công và được tính bằng tỷ lệ
phần trăm của trị giá giao dịch, hoặc tỷ lệ phần trăm chênh lệch giữa giá bán
và giá người được môi giới đưa ra, hoặc một số tiền cụ thể
d Quy định về đào tạo, bồi dưỡng môi giới bất động sản
Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng môi giới BĐS là một vấn đề quan trọng Đào tạo,bồi dưỡng môi giới BĐS là việc rèn giũa chuyên môn nghiệp vụ môi giới cho cánhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này; làm giàu ý thức, tác phong làm việc và
đạo đức làm việc Nghị định 153/2007/NĐ-CP của Chính Phủ đã quy định cá nhân,
tổ chức hoạt động kinh doanh môi giới BĐS phải được trang bị đầy đủ kiến thức
23
24
Khoản 4, Điều 48, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006.
Khoản 6, Điều 48, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006.
38
pháp luật và chuyên môn về môi giới để có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường
kinh doanh BĐS
Đối với các cơ sở đào tạo bồi dưỡng kiến thức về môi giới BĐS phải có đăng
ký kinh doanh, có chương trình, giáo trình và tài liệu phù hợp; đồng thời giảng viên
ở các cơ sở này đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy đáp
ứng yêu cầu của các môn học (giảng viên có thể là các nhà giáo chuyên nghiệp, các
chuyên gia hay các nhà quản lý, người có chứng chỉ và kinh nghiệm trong hoạtđộng kinh doanh BĐS)
e Quy định về xử lý vi phạm
Trong Luật kinh doanh BĐS có quy định cả về những trường hợp vi phạm vàviệc xử lý những tình huống đó tại Điều 17 Đầu tiên, đối với những tổ chức hay cá
nhân không có chứng chỉ môi giới BĐS mà thực hiện việc môi giới BĐS tự do côngkhai đều bị đình chỉ hoạt động, xử phạt hành chính và không được cấp chứng chỉtrong thời gian 3 năm kể từ ngày ra quyết định xử phạt Việc này nhằm tránh những
vấn đề lừa đảo, giả mạo môi giới để hoạt động nhằm những mục đích sinh lợi cánhân
Thứ hai, mặc dù đối với các tổ chức cá nhân đã được cấp chứng chỉ môi giớiBĐS nhưng vẫn hoạt động sai nội dung so với chứng chỉ thì bị xử phạt hành chínhbằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền; tái phạm lần đầu bị đình chỉ hoạt động 1năm, tái phạm lần hai bị tịch thu chứng chỉ và không được cấp lại trong thời gian 5
năm kể từ ngày ra quyết định xử phạt Hình thức phạt này nhằm đảm bảo môi giới
hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật đã quy định
2.2 Những quy định về đạo đức nghề nghiệp trong môi giới bất động sản tạiViệt Nam
2.2.1 Quy tắc đạo đức hành nghề của hội viên Hiệp hội Bất động sản Việt Nam2.2.1.1 Giới thiệu về Hiệp hội Bất động sản Việt Nam
Hiệp hội Bất động sản nhà đất Việt Nam ra đời Theo quyết định của Bộtrưởng, Trưởng ban tổ chức – Cán bộ Chính phủ ngày 13 tháng 8 năm 2002 Đến18/6/2010, theo quyết định của Bộ Nội vụ, Hiệp hội Bất động sản nhà đất Việt Nam
Trang 39chính thức đổi tên thành Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (viết tắt là VNREA),cùng với việc phê duyệt Điều lệ sửa đổi, bổ sung Sau gần 10 năm thành lập, vớimục đích phối hợp hoạt động của các hội viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngsản xuất - kinh doanh, quảng bá, dịch vụ, hợp tác quốc tế và phát triển kinh tế trong
lĩnh vực BĐS và các lĩnh vực khác có liên quan đến lĩnh vực BĐS trong phạm vi cảnước, Hiệp hội BĐS đang đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển thịtrường BĐS toàn diện ở Việt Nam
Để tăng tính chuyên nghiệp và góp phần tích cực vào mục tiêu nâng cao hiệu
quả hoạt động trong lĩnh vực BĐS, Hiệp hội Bất động sản Việt Nam đã ban hànhhai văn bản quan trọng là “Điều lệ Hiệp hội Bất động sản Việt Nam” gồm 7
chương, 32 điều và “Quy tắc đạo đức hành nghề của hội viên Hiệp hội Bất độngsản Việt Nam” Hai văn bản này đã góp phần xây dựng được hình ảnh chuyênnghiệp cho Hiệp hội, hoàn thiện khung pháp lý hoạt động cho doanh nghiệp, tạo cơ
sở đánh giá và quản lý các thành viên của Hiệp hội hiệu
quả
2.2.1.2 Quy tắc đạo đức hành nghề hội viên Hiệp hội Bất động sản Việt Nam
“Quy tắc đạo đức hành nghề của hội viên Hiệp hội bất động sản Việt Nam”(Phụ lục 4) là những quy tắc cụ thể mang tính pháp lý đầu tiên liên quan đến những
quy tắc đạo đức trong lĩnh vực BĐS ở Việt Nam Theo đó, tất cả các chuyên giaBĐS hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh BĐS, kinh doanh dịch vụ BĐS, đặcbiệt là những nhà môi giới trực thuộc Hiệp hội Bất động sản Việt Nam đều phảituân theo Bản quy tắc có 3 chương, 27 điều; trong đó quan trọng nhất là
a Nghĩa vụ đối với người uỷ thác và khách hàng
Đây là nhóm nguyên tắc quan trọng nhất vì mối quan hệ giữa người môi giới
với người ủy thác hay người khách hàng là mối quan hệ phát sinh chính trong hoạt
động của người môi giới Theo đó, người hoạt động trong lĩnh vực BĐS phải “thậtthà, trung thực, tận tâm” (Quy tắc 17) – đây là nguyên tắc đạo đức cốt lõi Trong
Trang 40lĩnh vực BĐS có thể coi đây là “kim chỉ nam” trong vấn đề ĐĐNN Các chuyên giaBĐS phải tận tâm, sáng suốt trong mọi quá trình cung cấp thông tin cho khách hàng
về BĐS để khách hàng hiểu biết rõ ràng, thông suốt về sản phẩm và hợp đồng, cung
cấp các thông tin BĐS đúng sự thật, kịp thời, tránh gây nhầm lẫn cho các bên tham
gia giao dịch và những người có liên quan Những thông tin cá nhân của khách hàng
hay các thông tin khác do khách hàng cung cấp cũng được yêu cầu phải giữ bí mật
tuyệt đối, không được tiết lộ để gây bất lợi cho khách hàng (Quy tắc 3) Đồng thời,
với mục đích tối ưu lợi ích cho khách hàng, người môi giới “phải cộng tác với
người môi giới bất động sản khác” khi cần thiết (Quy tắc 5)
Các chuyên gia BĐS không được thực hiện các dịch vụ mà họ đang hoặc sẽ
có quyền lợi liên quan, kể cả lợi ích với người thân trong gia đình hay đồng nghiệptại doanh nghiệp Khi xảy ra trường hợp đó phải thông báo đầy đủ cho các bên liên
quan nhằm “ngăn ngừa xung đột lợi ích” (Quy tắc 6) Nếu xảy ra xung đột lợi íchgiữa doanh nghiệp nhà môi giới BĐS tham gia với khách hàng trong quá trình thực
hiện hợp đồng thì cần thông báo đấy đủ thông tin liên quan đến xung đột cho người
quản lý và khách hàng
Đặc biệt, những người hoạt động trong lĩnh vực BĐS cần phải “chấp hànhtốt các quy định về tài chính” (Quy tắc 9) Chuyên gia BĐS cần minh bạch trongvấn đề tài chính với khách hàng (chỉ nên nhận hoa hồng từ một bên trong giao dịch,
nếu nhận từ bên thứ hai trở lên cần có thoả thuận rõ ràng trong hợp
đồng)
Sau khi đã tiến hành trao đổi và thỏa thuận đầy đủ về các điều khoản cầnthiết, “mọi thỏa thuận với khách hàng phải được lập thành văn bản” (Quy tắc 13).Với một bản hợp đồng chặt chẽ, quy định đầy đủ quyền và lợi ích của các bên sẽđảm bảo cho quá trình tiến hành giao dịch diễn ra thuận lợi và đúng nguyên tắcđồng thời là cơ sở pháp lý buộc các bên tham gia hợp đồng phải thực hiện đầy đủnhững điều khoản như đã cam kết và là cơ sở để giải quyết những tranh chấp (cóthể) phát sinh khi tiến hành và sau khi hoàn thành giao dịch Vì vậy, trước khi tiếnhành ký kết, chuyên gia BĐS có trách nhiệm phải giải thích đầy đủ và công khai các