THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI CỦA ADB VỀ TÁI ĐỊNH CƯ BẮT BUỘC VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ Tại dự án Thủy điện sông Bung 4 Người báo cáo chính Toàn bộ tác quyền ảnh trong báo cáo thuộc về V
Trang 1THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI CỦA ADB VỀ TÁI ĐỊNH CƯ BẮT BUỘC
VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ
(Tại dự án Thủy điện sông Bung 4)
Người báo cáo chính
Toàn bộ tác quyền ảnh trong báo cáo thuộc về VRN.
Trang 2Mục lục
Những từ viết tắt và đơn vị đo lường 5
Phần tóm tắt 6
1 Bối cảnh 7
1.1 Sông Bung và Mạng lưới Sông Ngòi Việt Nam 6
1.2 Dự án Thủy điện Sông Bung 4 và các dự án bổ trợ 6
2 Thiết kế và phương pháp tham vấn 7
2.1 Mục đích và kết quả mong đợi 7
2.2 Tổ chức tham vấn cộng đồng 8
2.3 Mẫu và chọn mẫu 9
2.4 Phương pháp thu thập thông tin 9
2.5 Những hạn chế của cuộc tham vấn 10
3 Những ghi nhận và thảo luận 10
3.1 Chính sách bảo trợ xã hội về tái định cư bắt buộc 10
3.2 Chính sách Bảo trợ Xã hội về Dân tộc Bản địa 26
3.3 Những khuyến nghị của cộng đồng 29
3.4 Những thách thức của dự án 31
3.5 Những quyết định của chính quyền địa phương 33
4 Kết luận và khuyến nghị 35
4.1 Kết luận 35
4.2 Khuyến nghị của đoàn khảo sát 36
5 Phụ lục 40
5.1 Danh sách đoàn tham vấn VRN 40
5.2 Lịch trình tham vấn cộng đồng 42
5.3 Tài liệu tham khảo 43
Trang 3Những từ viết tắt và đơn vị đo lường
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
Ang Đơn vị đo lường diện tích đất canh tác ở địa phương Khoảng 10 Ang = 1 Ha
BIC Trung tâm Thông tin Ngân hàng, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở ở Mỹ
BQL Ban Quản lý
CHF Canada Hunger Fund, một tổ chức phi chính phủ quốc tế, trụ sở ở Canada
CSRD Centre for Social Research and Development
Đ VND, Việt Nam Đồng, hay đồng, đơn vị tiền tệ 1USD = 22 000 VND
GAD Giới và Phát triển, một tiếp cận trong phát triển bình đẳng giới
Ha Hec-ta, đơn vị đo lường diện tích đất (canh tác) 1 Ha = 10 000m2
INGO Tổ chức phi chính phủ quốc tế
IPP Kế hoạch dân tộc bản địa (Indigenouse Peoples’ Plan)
JPRF Quỹ Giảm nghèo của chính phủ Nhật Bản (Japan Poverty Reduction Fund)
OSPF Văn phòng Chuyên viên Thúc đẩy Dự án Đặc biệt (Office of Special Project
Facilitator) - cấp giải quyết khiếu nại của người bị tác động của các dự án do ADB tài trợ, đặt tại Manila, Phi-lip-pin
PRA Tiếp cận nghiên cứu, tham vấn, đánh giá có sự tham gia của người dân
RDSC Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn
REMDP Kế hoạch tái định cư và phát triển dân tộc bản địa
SB4 Dự án Thủy điện Sông Bung 4
UBND Ủy ban Nhân dân, cơ quan chính quyền địa phương ở các cấp tỉnh, huyện, và xãVRN - Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam
WB Ngân hàng Thế giới
WARECOD Centre for Water Resource Conservation and Development
Trang 4Nhóm công tác VRN đã thu thập thông tin ở ba cộng đồng, Pa-dhy, Pa-rum B, và Thôn Hai, là những cộng đồng dân tộc Cơ-tu ở xã Zuoih thuộc huyện Nam Giang, là xã chịu ảnh hưởng lớn nhất của dự án thủy điện SB4 Các thôn được chọn phản ánh ba tiến trình của quá trình tái định cư và phục hồi sinh kế ở giai đoạn đã di dời, đang chuẩn bị di dời, và đang kiểm đếm để đền bù
Kết quả tham vấn cộng đồng có thể được tóm tắt như sau:
1 Những mối quan ngại của ADB về tác động của tái định cư bắt buộc đối với người dân là một thực tiễn đang xảy ra ở dự án thủy điện SB4 Cuộc di chuyển từ khu vực lòng hồ sang khu tái định cư thật sự là “không tự nguyện” Tâm trạng của hầu hết người dân là “lo lắng” Tiếng nói
chung ở cả ba thôn là “về sau này thì không biết lấy gì mà ăn!”
2 Sự thay đổi lớn về sinh kế theo hướng tiêu cực mà người dân tái định cư đang phải đối mặt do đất sản xuất ít và kém chất lượng Việc thay đổi sinh kế tác động mạnh mẽ tới vai trò của phụ
nữ trong sản xuất Chương trình tái định cư và phục hồi sinh kế của dự án thủy điện SB4 đã
nỗ lực nhiều nhưng vẫn chưa thể giải quyết vấn đề sinh kế của người dân
3 Đồng bào tái định cư cũng có thể phải đối mặt với việc cạnh tranh nguồn lực ở nơi ở mới Tình huống này chưa được tính đến trong Kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số, cũng như sổ tay chính sách và chế độ đền bù tái định cư của dự án
4 Rất nhiều người dân không bằng lòng với các kiểm đếm tài sản trên đất và các chế độ đền bù của dự án (nhiều tài sản trên đất không được kiểm đếm, sự mất giá đồng tiền chưa được tính đến, hỗ trợ vận chuyển không được thực hiện…) Điều này đi ngược lại với yêu cầu bảo trợ xã hội liên quan đến tái định cư bắt buộc của ADB là dự án phải đền bù các tổn thất tài sản trên đất và các hoạt động cải thiện khác với chi phí thay thế đầy đủ
5 Những bước giải quyết khiếu nại của Ban Quản Lý dự án đưa ra là khá dài dòng và khó khăn cho người dân tộc Cơ Tu thực hiện quyền khiếu nại của mình Điều này làm cho nguyên tắc
“dễ tiếp cận”, “dễ hiểu”, “phù hợp về văn hóa”, “không tốn chi phí” và “không phải trả thù lao” trong cơ chế khiếu nại của ADB là không khả thi
6 BQL dự án thủy điện Sông Bung 4 đã cung cấp thông tin về tái định cư, đền bù và phục hồi sinh kế bằng nhiều phương thức phù hợp Tuy nhiên nhiều thông tin liên quan vẫn chưa được ADB cập nhất kịp thời trên trang mạng của mình và các cập nhật chủ yếu bằng tiếng Anh
Trang 51 Bối cảnh
1.1 Sông Bung và Mạng lưới Sông Ngòi Việt Nam
Là một quốc gia có nhịp điệu phát triển cao được duy trì trong nhiều năm, nhu cầu về năng lượng của Việt Nam cũng gia tăng ở mức cao Một con đường để đáp ứng cơn khát năng lượng của Việt Nam là phát triển thủy điện Gần đây, ADB và WB đã bắt đầu cho chính phủ Việt Nam vay tiền
để phát triển thủy điện Điển hình là dự án thủy điện Trung Sơn (Thanh Hóa) do WB cung cấp tài chính và dự án thủy điện Sông Bung 4 (Quảng Nam) sử dụng vốn vay của ADB Cả hai dự án thủy điện này đều kích hoạt những chính sách bảo vệ quan trọng của các ngân hàng phát triển,
ví dụ chính sách dân tộc thiểu số, chính sách tái định cư không tự nguyện, và chính sách bảo vệ môi trường
Đã nhiều năm, Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN), một diễn đàn các tổ chức xã hội dân sự, đã quan tâm theo dõi và giám sát việc tuân thủ các chính sách bảo vệ của các tổ chức tài chính thế giới trong các dự án liên quan tới nguồn nước Năm 2008, thành viên của VRN, RDSC, và BIC đã tham vấn cộng đồng và thảo luận với ADB về việc thực hiện chính sách công bố thông tin ở dự án thủy điện Sông Bung 4 trong giai đoạn lập kế hoạch VRN cũng đã giám sát việc tuân thủ các chính sách bảo vệ của WB tại dự án thủy điện Trung Sơn năm 2010 và có những đóng góp quan trọng cho các nhà hoạch định và thiết kế dự án thủy điện cũng như các kế hoạch tái định cư và phục hồi sinh kế cho những người bị ảnh hưởng
Thực hiện mục tiêu chiến lược của mình, VRN theo dõi và giám sát độc lập việc thực hiện các chính sách bảo vệ của các tổ chức tài chính quốc tế ở các dự án thủy điện, VRN đã đề xuất dự án “Tăng cường sự tham gia của VRN trong giám sát các dự án ADB /WB về Nước và thủy điện ở Việt Nam”
và được Oxfam - Úc tài trợ Trong khuôn khổ dự án này, trong năm 2012, VRN tổ chức thực hiện giám sát chính sách an toàn của ADB ở dự án Thủy điện sông Bung 4
Hộp 1 Dự án Thủy điện Sông Bung 4
Mục tiêu của dự án là đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của Việt Nam về năng lượng một cách bền vững về môi trường và có sự tham gia về mặt xã hội Nội dung dự án bao gồm việc xây dựng dự án thủy điện Sông Bung 4 phù hợp với yêu cầu bảo trợ của ADB và phục hồi, cải thiện sinh kế của những người dân bị ảnh hưởng.
Sản phẩm chính của dự án là nhà máy thủy điện có công suất 156 MW và sinh kế của người dân bị ảnh hưởng được cải thiện một cách bền vững.
Ngân sách 267,3 triệu $, trong đó tiền vay của ADB là 196 triệu $.
Ngày phê duyệt 26 tháng 6 năm 2008
Cơ quan thực hiện: Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) Người liên hệ: Trương Thiết Hùng.
Nguồn: http://www.adb.org/projects/36352-013/details
1.2 Dự án Thủy điện Sông Bung 4 và các dự án bổ trợ
Dự án thủy điện Sông Bung 4 là một dự án thuộc loại thủy điện lớn, và có nhiều yếu tố cẩn trọng
Có ba chính sách bảo trợ xã hội của ABD được kích hoạt ở cấp độ A (có nghĩa là cần phải được xem xét và giám sát cẩn thận) Đó là chính sách về môi trường, chính sách tái định cư không tự nguyện
và chính sách dân tộc thiểu số Tài chính cho Dự án là một khoản tiền vay theo lãi suất thương mại
mà lần đầu tiên ADB đầu tư vào thủy điện ở Việt Nam (xem Hộp 1)
Trang 6Để hỗ trợ cho hợp phần phục hồi sinh kế, ADB dùng tài trợ của Quỹ giảm nghèo Nhật Bản để thực hiện việc cải thiện sinh kế của người dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của dự án SB4 Dự án này
do UBND tỉnh Quảng Nam thực hiện Để hỗ trợ cho dự án hoạt động, CHF - Quỹ Chống Đói nghèo Canada - một NGO quốc tế được tuyển để hỗ trợ UBND tỉnh thực hiện dự án này (xem Hộp 2).Cũng để hỗ trợ cho Ban Quản lý dự án thủy điện Sông Bung 4 (SB4HPMB) và Ban Quản lý và thực hiện chương trình tái định cư (RMIU- Resettlement Management Implementation Units), một khoản tài trợ 225 ngàn $ được ADB huy động từ Quỹ hỗ trợ kỹ thuật đặc biệt Sản phẩm của dự án này là đưa ra các khuyến nghị có hiệu quả và kịp thời về vấn đề tái định cư và đền bù; sự tham gia tích cực của người dân trong quá trình xây dựng và thực hiện các hoạt động di dời, kiểm đếm, và chương trình sinh kế, và đưa ra các báo cáo chuyên đề Dự án này chủ yếu là để tuyển một tư vấn quốc tế đặt ở Đà Nẵng 9 tháng và có 1 tháng ở Manila từ tháng 11-2011 đến hết 12-2012
Hộp 2 Dự án cải thiện sinh kế của những cộng đồng dân tộc thiểu số
Dự án cải thiện sinh kế của những cộng đồng dân tộc thiểu số dễ bị tổn thưởng chịu ảnh hưởng của dự án thủy điện SB4 ở tỉnh Quảng Nam/ “Livelihood Improvement of Vulnerable Ethnic Minority Communities Affected by the Song Bung 4 Hydropower Project in Quang Nam Province”.
Mục tiêu của dự án là cải thiện mức sống và giảm nghèo cho người dân bị ảnh hưởng của dự án thủy điện SB4, mà phần lớn (70%) là người nghèo và người dân tộc thiểu số dễ bị tổn thương sống ở vùng núi xa xôi hẻo lánh ở miền Trung Việt Nam.
Cơ quan thực hiện: UBND tỉnh Quảng Nam, Người liên hệ: Đinh Công Lệnh Năm duyệt 2008 Nguồn tài trợ: Quỹ Giảm nghèo Nhật Bản Số tiền tài trợ : 2 000 000 US$
Trong hoạt động của dự án này, tổ chức CHF (Canadian Hunger Foundation) được tuyển làm
tư vấn để giúp nâng cao năng lực cho Ban Quản lý và Ban Thực thi Tái định cư.
Nguồn tin: ADB, http://www.adb.org/projects/36352-042/details và
CHF: of-vulnerable-ethnic-minority-communities-affected-by-the-song-bung-4-hydropower-project-in- quang-nam-province-2009-2012
http://www.chf.ca/where-we-work/asia/vietnam/current-projects/427-livelihood-improvement-2 Thiết kế và phương pháp tham vấn
2.1 Mục đích và kết quả mong đợi
Mục đích của các cuộc tham vấn nằm trong chiến lược chung của VRN là “thực hiện vai trò giám sát, phản biện độc lập và vận động chính sách liên quan đến tài nguyên nước dựa vào hoạt động thực tiễn” để đóng góp cho chính phủ trong việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế xã
hội, có liên quan tới khai thác sử dụng tài nguyên nước hoặc sông ngòi, một cách bền vững về kinh
tế, xã hội và môi trường Cụ thể hơn, hoạt động này xem xét các yêu cầu bảo trợ xã hội của ADB, nhất là việc các chính sách liên quan tới tái định cư bắt buộc và chính sách dân tộc bản địa1 được tuân thủ như thế nào trong quá trình thực hiện kế hoạch tái định cư và phát triển dân tộc thiểu số (REMDP) ở dự án thủy điện Sông Bung 4
1 Trong tài liệu này, thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được dùng đồng nhất với hợp với thuật ngữ dân tộc bản địa
Trang 7Hoạt động này cũng quan tâm theo dõi việc thực hiện những hướng dẫn của ADB về cơ chế giải trình trách nhiệm (cơ chế khiếu nại) cũng như về thực hiện quan điểm giới và phát triển (GAD) trong các dự án phát triển.
Đợt tham vấn này đi tìm lời giải cho câu hỏi được đặt ra là:
“Yêu cầu bảo trợ xã hội của ADB về tái định cư bắt buộc và dân tộc thiểu số được thực hiện như thế nào trong quá trình thực hiện kế hoạch tái định cư, phục hồi sinh kế và phát triển dân tộc thiểu số cho các cộng đồng dân tộc người Cơ-tu ở khu vực lòng hồ của dự án thủy điện Sông Bung 4”
Kết quả từ hiện trường giúp đưa ra những khuyến nghị cho chính quyền địa phương và BQL SB4
về việc thực hiện kế hoạch này, cũng như rút ra những bài học chung về việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội ở những dự án thủy điện có yêu cầu tái định cư bắt buộc
tế đến từ các cơ quan khác nhau (danh sách đoàn tham vấn có nêu trong Phụ lục)
Để chuẩn bị cho công tác hiện trường, các thành viên của đoàn đã tham gia một hội thảo tập huấn
về “Chính sách bảo trợ xã hội của các tổ chức tài chính quốc tế” do VRN tổ chức tại Huế Trong hội thảo này, các tham dự viên đã nắm cụ thể hơn về các chính sách ADB, làm quen với tiếp cận PRA trong giám sát chính sách bảo trợ xã hội, và đã lập một kế hoạch thực địa cho hoạt động giám sát việc thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội ở dự án thủy điện Sông Bung 4 (SB4) Các thành viên đoàn tham vấn cũng đã tiếp xúc với hai thành viên của cộng đồng người Cơ-tu ở vùng lòng hồ để tìm hiểu bước đầu về những ảnh hưởng của dự án thủy điện SB4
Cuộc tham vấn lần thứ 2 của VRN
Chuyến đi thực địa lần 2 diễn ra từ ngày 23 đến 25 tháng 8 năm 2012 có mục đích xem xét việc thực hiện những đề xuất của đoàn công tác sau khi đã tổ chức đối thoại với ADB và các nhà quản lý dự
án thủy điện SB4 Chuyến đi này cũng nhằm bổ sung thông tin cho chuyến đi thứ nhất qua tham vấn với các nhà quản lý, mà chuyến đi trước chưa có điều kiện gặp, bằng các phương pháp thu thập thông tin định tính có sự tham gia của cộng đồng Đoàn công tác đã gặp gỡ và phỏng vấn những nhà quản lý dự án, chính quyền cơ sở (cấp huyện và xã), lãnh đạo và nhân dân các cộng đồng bị ảnh hưởng trong điều kiện thời tiết mưa lũ, nhiều đoạn đường trơn lầy xe ô-tô không đi qua được Nước sông Bung dâng cao khiến việc lội sông để tới Pa-rum 2, là một thôn bị ảnh hưởng của dự án thủy điện, không thể thực hiện được như dự kiến
2 Xem tại www2.adb.org/ /Safeguard-Policy-Statement-June2009-vn.pdf
Trang 82.3 Mẫu và chọn mẫu
Trong đợt Tham vấn I, Đoàn đã tới thăm và thu thập thông tin là ba cộng đồng, Pa-dhy, Pa-rum
B, và Thôn Hai3, là những cộng đồng dân tộc Cơ-tu4 ở xã Zuoih thuộc huyện Nam Giang, là xã chịu ảnh hưởng lớn nhất của dự án thủy điện SB4 Các thôn được chọn phản ánh ba tiến trình của quá trình tái định cư và phục hồi sinh kế ở giai đoạn đã di dời, đang chuẩn bị di dời, và đang kiểm đếm
để đền bù Thôn Hai là cộng đồng đã di dời, và đang tái định cư và phục hồi sinh kế Thôn Pa-dhy
là cộng đồng đang trong quá trình đền bù, người dân đang giám sát việc xây dựng khu vực tái định
cư Thôn Pa-rum B là thôn đang kiểm đếm và áp giá đền bù và chuẩn bị di dời
Đoàn tham vấn đã gặp gỡ và thảo luận rộng rãi với người dân ở cả ba thôn với tổng số người tham vấn lên tới 110 người Ở mỗi thôn, đoàn tổ chức ít nhất ba cuộc phỏng vấn nhóm, trong đó có một nhóm gồm toàn bộ là nữ, và các nhóm khác là hỗn hợp Tại hai thôn Pa-rum B và Thôn Hai, quy mô nhóm thảo luận là từ 8-12 người, nhưng có trường hợp ở thôn Pa-dhy, nhóm thảo luận đông tới 29-
30 người Mẫu cho các phỏng vấn bán cấu trúc được lựa chọn chủ đích với các lãnh đạo cộng đồng
và người dân bị ảnh hưởng của dự án thủy điện Tổng số mẫu phỏng vấn bán cấu trúc và phỏng vấn sâu là 12 người Cơ cấu mẫu được mô tả trong Bảng 1
Bảng 1 Mẫu thu thập thông tin đợt 1 Phương pháp thu thập tin Thôn Pa-dhy Thôn Hai Thôn Pa-rum B Tổng
Trong chuyến đi thứ 2, đoàn khảo sát đã tới hai thôn Parum B và Thôn Hai Đoàn đã gặp và phỏng vấn với 17 người, trong đó có 3 nữ Những người đã gặp và tham vấn còn có cán bộ của Ban quản lý
Dự án Thủy điện Sông Bung 4, chính quyền huyện Nam Giang và xã Zuoih, cũng như những người
bị ảnh hưởng, bao gồm lãnh đạo các thôn và người dân bị ảnh hưởng ở thôn Pa-dhy và Thôn Hai.Tại Thôn Hai, dự án cải thiện sinh kế đã có một cuộc tập huấn về kỹ thuật trồng chuối cho nhân dân trong thôn vào ngày mà đoàn khảo sát tới thôn Cuộc tham vấn được thực hiện sau khi người dân đã học xong lớp trồng chuối
2.4 Phương pháp thu thập thông tin
Với tiếp cận định tính, các kỹ thuật thu thập thông tin đa dạng đã được sử dụng, như thảo luận nhóm tập trung (có dùng thẻ bìa màu, hoặc giấy to để ghi chép), phỏng vấn bán cấu trúc về quá trình đền bù tái định cư và phục hồi sinh kế, “kể chuyện” với các thành viên cộng đồng, và hội thảo nhỏ Đoàn cũng áp dụng phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập thông tin từ lãnh đạo cộng đồng, UBND xã, cán bộ dự án của tổ chức Canada Hunger Fund (CHF)- một tổ chức INGO có trụ sở ở Canada, đang thực hiện hợp phần phục hồi sinh kế theo nguồn Quỹ Giảm nghèo của chính phủ Nhật Bản (Japan Poverty Reduction Fund- JPRF)
Đoàn cũng áp dụng các kỹ thuật quan sát và thu thập thông tin bằng hình ảnh Các điểm quan
3 Từ năm 2011, Thôn Hai được tách khỏi xã Zuoih và về mặt hành chính được sát nhập vào xã T’pơ
4 Nhiều tài liệu dân tộc học dẫn tên gọi tộc người này là Ka-tu
Trang 9sát là khu vực công trường, hiện trường các khu tái định cư mà người dân đã tới ở, khu tái định
cư đang được xây dựng, các khu vực sinh hoạt ở làng chưa di dời Đoàn cũng quan sát một số hoạt động của dự án, ví dụ hoạt động tư vấn dự án tham vấn Ban Giám sát Cộng đồng tại khu tái định
cư đang được xây dựng cho thôn Pa-dhy Đoàn cũng quan sát một cuộc làm việc của Ban tái định cư với lãnh đạo cộng đồng và dân cư thôn Pa-rum B Và đoàn đã nghỉ một đêm trong làng để có cảm nhận về cuộc sống ở cộng đồng
Các nhóm hình thành để thảo luận chi tiết theo những chủ đề sau:
• Y tế, nước sạch, điện, văn hóa
• Nơi sinh sống ở khu tái định cư
• Sinh kế ở khu tái định cư
• Trồng trọt và chăn nuôi, khuyến nông
Hai câu hỏi chủ chốt trong các cuộc thảo luận nhóm tập trung là:
1 Những điểm mà người dân hài lòng ở nơi tái định cư, với quá trình tái định cư và ổn định cuộc sống?
2 Những điểm người dân chưa chưa hài lòng? Và những đề nghị?
Dữ liệu thu thập từ hiện trường được thẩm định chặt chẽ bằng nhiều phương thức Kết quả thảo luận nhóm được ghi trên giấy to để người tham gia có thể kiểm tra chéo về các thông tin được cung cấp Các cuộc thảo luận nhóm ở thôn Pa-rum B được báo cáo trước toàn cuộc họp (với 59 người tham gia) để kiểm định Cũng để kiểm định thông tin, một số thảo luận được nhóm lập theo giới nữ, và nhóm lãnh đạo thôn
2.5 Những hạn chế của cuộc tham vấn
Báo cáo tham vấn có những hạn chế chung của phương pháp định tính được áp dụng trong tham vấn Là một tham vấn độc lập, một số hạn chế cũng xuất phát từ chỗ chưa tiếp cận được với nguồn tài liệu của dự án, ví dụ như các báo cáo tiến độ và đánh giá kế hoạch tái định cư và phát triển dân tộc thiểu số của của Ban quản lý dự án cũng như của CHF Đoàn tham vấn cũng không có điều kiện tiếp cận để phỏng vấn cơ quan tư vấn cho dự án là CHF Có thể nói, những ghi nhận và phát hiện của cuộc tham vấn phản ánh nhiều hơn từ góc nhìn của những người bị ảnh hưởng do di dời, dân tộc Cơ-tu, nam giới và nữ giới
3 Những ghi nhận và thảo luận
3.1 Chính sách bảo trợ xã hội về tái định cư bắt buộc
Trích “Yêu cầu bảo trợ số 2 Tái định cư bắt buộc (Chính sách bảo vệ xã hội của ADB)
1 Kinh nghiệm của ADB cho thấy tái định cư bắt buộc trong các dự án phát triển, nếu không giảm nhẹ có thể làm nảy sinh những nguy cơ nghiêm trọng về mặt kinh tế, xã hội
và môi trường: hệ thống sản xuất bị phá hủy; người dân phải đối mặt với nguy cơ bần cùng hóa khi tài sản dùng để sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi; người dân phải di chuyển chỗ ở đến những môi trường mà kỹ năng sản xuất của họ có thể không còn phù hợp, và cạnh tranh nguồn lực trở nên gay gắt hơn; các thể chế cộng đồng và mạng lưới xã hội bị suy yếu; người thân họ hàng bị phân tán; bản sắc văn hóa, thẩm quyền theo truyền thống và cơ hội giúp đỡ lẫn nhau bị giảm sút hoặc không còn nữa Do vậy, ADB tìm cách tránh tái định cư bắt buộc
Trang 10Những mối quan ngại của ADB về tác động của tái định cư bắt buộc đối với người dân là một thực tiễn đang xảy ra ở dự án thủy điện SB4 Ở khu vực dự án, hệ thống sản xuất bị phá hủy, nguồn thu nhập cũ bị mất đi Tại khu tái định cư, kỹ năng sản xuất cũ của người dân TĐC có thể không còn phù hợp và cạnh tranh nguồn lực trở nên gay gắt hơn.
3.1.1 Hệ thống sản xuất chuyển từ du canh sang định canh
Cuộc di chuyển từ khu vực lòng hồ sang khu tái định cư thực sự là “không tự nguyện” Tâm trạng của hầu hết những người đã gặp trong các thảo luận nhóm và phỏng vấn là “không có gì vui với việc
di dời” Điều này có thể hiểu được khi người dân phải từ bỏ nơi mà họ đã có lựa chọn và xây dựng trong một quá trình lâu dài cho sinh kế, đặc biệt khi mà họ phải chuyển đến nơi sinh sống mới có nhiều điều thua kém về “nguồn lực tài nguyên/vốn tự nhiên”
Đoàn tham vấn nhận thấy sự thay đổi lớn về sinh kế mà người dân tái định cư đối mặt là sự chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp từ du canh sang luân canh do hạn chế về diện tích đất sản
xuất nông nghiệp ở khu vực tái định cư Sự thay đổi này được thể hiện ở thông báo số 95/TB-UBND
của UBND Quảng Nam 5 , 15/4/2010 (xem Hộp 3) Thực chất đây là sự chuyển đổi từ phương thức
sản xuất nông nghiệp “đốt rẫy làm nương” (phương thức sản xuất truyền thống của người dân tộc thiểu số ở miền núi) sang định canh (phương thức canh tác chủ yếu của người Kinh ở đồng bằng)
Hộp 3 Thông báo số 95/TB-UBND của UBND Quảng Nam, 15/4/2010
1 Về đất sản xuất, đất ở
- Đề nghị Ban quản lý dự án thủy điện sông Bung 4 (chủ đầu tư) phối hợp với địa phương và các
cơ quan liên quan tiếp tục khảo sát cụ thể về diện tích đất ở và đất sản xuất để đảm bảo điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân ở các khu tái định cư Trong đó,
+ Đất ở và đất vườn: đảm bảo diện tích 1000m2/hộ,
+ Đất sản xuất: tiếp tục khảo sát, nghiên cứu và lựa chọn các phương án tối ưu để tăng diện tích đất sản xuất (đất lúa và hoa màu) đảm bảo mỗi hộ được bố trí trên 1,5ha đất sản xuất tại chỗ (đất trong khu tái định cư) và được sử dụng đất sản xuất ở nơi ở cũ và các khu vực lân cận
để luân canh sản xuất.
* Đất ở và đất sản xuất chỉ được khảo sát, bố trí ở những khu vực rừng sản xuất và đất khác (không sử dụng rừng phòng hộ để bố trí đất sản xuất và đất ở).
2 Các tuyến đường
- Yêu cầu UBND huyện Nam Giang có văn bản báo cáo UBND tỉnh và thông báo chủ đầu tư
về việc xác định mở tuyến đường đi lại của người dân từ thôn Công Dồn đến thôn Pa-dhy hay tuyến đường từ thôn Pa -dhy đến cầu sông Bung.
- Thống nhất mở tuyến đường (7km) từ Khu Tái định cư Thôn Hai về lòng hồ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại đánh bắt của người dân.
Ở khu vực làng cũ, chiến lược sinh kế của các hộ gia đình là du canh trên những mảnh đất rộng (tới hàng chục hec-ta) được luân phiên canh tác theo phương thức “đốt rẫy làm nương” rất thân
5 Kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Đinh Văn Thu, tại cuộc họp về một số vấn đề liên quan đến Dự án
“Cải thiện sinh kế cộng đồng các dân tộc bị ảnh hưởng bởi dự án thủy điện Sông Bung 4” trong cuộc hợp với lãnh đạo UBND huyện Nam Giang, Ban quản lý dự án JFPR 9120-VIE tỉnh, đại diện ADB, Ban quản lý dự
án thủy điện Sông Bung 4, tư vấn CHF
Trang 11thiện với môi trường và ít tốn chi phí đầu tư Sau một số vụ mùa, đất được nghỉ để tự phục hồi và sau khoảng 4 năm người dân quay lại canh tác trên mảnh đất ban đầu, mà không phải bỏ phân (xem Hộp 4).
Sang khu tái định cư, diện tích đất nông nghiệp để sản xuất chỉ còn 1,5 hec-ta và theo người dân thì không thể canh tác theo kiểu du canh bền vững được Nhiều loại đất sản xuất khác cũng bị thu hẹp đáng kể, cụ thể như diện tích vườn của người dân bị thu hẹp từ một vài hec-ta sang chỉ còn 600m2 Nhiều nguồn thu từ trồng trọt hoa màu ở vườn cũng bị mất tương ứng, ví dụ như boong-boong, chuối, tà-vạc
Nguồn lực đất dùng để chăn nuôi, gồm cả nuôi cá, cũng giảm mạnh ở khu mới tới tái định cư Bãi chăn thả là một tài nguyên quan trọng để chăn nuôi trâu bò, là một nguồn thu quan trọng của người dân, được người dân ở các cuộc thảo luận ở thôn Hai cho biết là không còn, và đây là thách thức lớn với nhiều hộ có tới hàng chục con bò nuôi kiểu quảng canh Với nhiều gia đình, nguồn thu
từ nuôi cá nước ngọt, là một nguồn thu quan trọng cũng đã bị mất Các nguồn thu khác như cá tự nhiên, lâm sản ngoài gỗ như mây và rau rừng, cũng bị mất hoặc sút giảm
Hộp 4 Sức ép thay đổi sinh kế từ “du canh” sang “định canh”
Nhà tôi chuyển đến khu tái định cư mới từ năm 2011 và được đền bù 1,9 tỉ đồng Cả nhà có 5 khẩu, tổng diện tích đất ở thôn cũ là 7,5 hec-ta Trong đó, 6,1 hec-ta ở vùng ngập và 1,4 hec-
ta ở vùng không ngập Khi kiểm đếm thì diện tích nhà là 500m2, vườn là 2 hec-ta Chúng tôi trồng cây boong boong được đền bù 3 triệu cho một cây chưa có trái và 6 triệu đồng cho một cây đang có trái; và cây tà vạc Gia đình chúng tôi có đất rừng tự nhiên để trồng cây lâu năm
Có đất trồng cây hàng năm như lúa nương, đậu ở tại thôn, có ao để nuôi cá Nguồn thu của gia đình thì từ trái cây, như boong boong là thu nhập nhiều nhất, rồi chuối Còn hoa màu thì có đậu phụng là cho thu nhiều nhất, rồi bắp, lúa Ao cá cũng là nguồn thu nhập nhiều nhất Gia đình còn nguồn thu lớn là đi đánh bắt cá ở sông, vì có khi bắt được con cá tới 45kg Ngoài ra có đất
để chăn bò, heo, gà vịt Ở thôn cũ thích hơn, sang đây hết tiền rồi không biết lấy gì ăn.
Nguồn: Biên bản Kể chuyện S3 Nam, Cơ-tu, Thôn Hai.
Ở chỗ cũ, chúng tôi sống bằng du canh Cứ mỗi năm nhà tôi phát được hơn 10 ang 1 rẫy Nhà tôi
có 4 cái rẫy như thế, tổng cộng là có khoảng 40 ang Chúng tôi trồng trọt luân phiên nhau trên những cái rẫy này Nhờ làm như vậy nên chúng tôi không cần phải sử dụng phân bón Sang đây đất ít và bên dự án người ta hướng dẫn chúng tôi sử dụng phân bón nhưng chúng tôi không quen và không thích sử dụng phân bón của người Kinh.
Hiện tại, tôi đi săn thú trong rừng, còn vợ tôi ở nhà không có việc gì để làm Ở chỗ cũ đất rộng thì 2 vợ chồng chúng tôi cùng làm rẫy Sang đây chúng tôi chỉ được cấp 1 hec-ta đất Đất này dốc và chất lượng xấu (không giàu chất dinh dưỡng) Đất bên làng cũ tốt hơn nhiều Đất ở đây, rau trồng mấy tháng chưa lên, phải mua rau của người Kinh.
Sống chỗ cũ sướng hơn, có đủ cái để ăn Nếu chúng tôi trồng rau màu trên đất này mà thấy không lên được thì chúng tôi sẽ trồng keo; và chúng tôi sẽ về rẫy cũ (mất 1 tiếng đi lại) để làm, trồng lúa, trồng rau Tất cả những người dân làng cũ của chúng tôi đều về đây hết rồi Ai cũng đang có tâm trạng rất lo lắng như chúng tôi “không biết rồi sau này sẽ làm gì để kiếm tiền mà sống”.
Nguồn: Biên bản Kể chuyện S1 Nam, Cơ-tu, Thôn Hai.
Trang 12Không chỉ bị giảm mạnh về số lượng, đất canh tác ở khu vực tái định cư còn giảm về chất lượng Thông tin này được xác nhận qua cuộc thảo luận nhóm Các phỏng vấn nhóm và phỏng vấn cá nhân
hộ gia đình đều ghi nhận ý kiến của người dân là đất sản xuất ít hơn so với làng cũ, xấu hơn, có độ dốc cao, thiếu nước6, chất đất không phù hợp cho trồng lúa
Hộp 5 Những thay đổi về chăn nuôi và làm vườn
ở khu mới tái định cư tại Thôn Hai
Ở làng mới, đất chăn thả vật nuôi chưa có, trong khi làng cũ, chúng tôi có cả khoảng không bao la có thể thả rong bò, gà Mỗi hộ có ít nhất 1-2 con bò, thậm chí 50-100 con bò Bò ở thôn
cũ không mang về đây được vì đường chật hẹp, không vận chuyển được, và về đây không có chỗ thả Gia súc ở làng cũ thì sống khỏe mạnh nhưng khi mang về đây thì bị dịch chết hết (do chật hẹp) Ở đây, cái gì cũng phải bỏ tiền ra mua Đặc biệt thức ăn phải mua với giá đắt đỏ: thịt heo tới 150.000đ/kg, thịt gà tới 140.000/kg Sau này tiêu hết tiền đền bù rồi ko biết lấy gì mà ăn đây!
Ở đây, dân phải mua rau để ăn hàng ngày Làng cũ có rau rừng nhưng làng mới không có rau
gì ăn Ở làng mới mỗi hộ được cấp trung bình 20m2/hộ đất trồng rau, có hộ nhiều hơn, có hộ ít hơn phụ thuộc vào khả năng làm của hộ Lúc đầu mua giống về trồng, rau lên rất đẹp nhưng cứ lụi dần, lụi dần, không mọc lên được “Đến củ sả là giống dễ sống nhất mà cũng không mọc nổi.“ Nguồn: Phỏng vấn nhóm nam nữ ở Thôn Hai
Sự tham gia và bình đẳng giới
Việc thay đổi sinh kế tác động mạnh mẽ tới vai trò của phụ nữ trong sản xuất Phỏng vấn nhóm và phỏng vấn bán cấu trúc trong chuyến đi hiện trường lần 1 cho thấy (xem Hộp 6), trong cộng đồng ở làng cũ, người phụ nữ có vai trò chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp, và nhờ đó họ có vị trí đặc biệt cao trong cộng đồng Cơ-Tu Với sự co hẹp về đất sản xuất, phụ nữ mất đi điều kiện tham gia lao động nông nghiệp, và một phần lớn thời gian của họ chuyển sang dệt vải, may áo - một loại hình không đem lại kinh tế trực tiếp cho gia đình
Hộp 6 Thay đổi vai trò giới trong sản xuất nông nghiệp với phụ nữ Cơ-tu
Nơi ở mới của chúng tôi hiện nay là do Ban quản lý dự án lựa chọn Sang đây, mỗi hộ được phân một ít đất phía sau nhà, đất đai ở nơi đây rất dốc và không tốt, không giàu chất dinh dưỡng so với nơi ở cũ Ngày xưa, ở làng cũ, hàng ngày vợ đi đãi vàng, chồng đi săn bắt Vào mùa làm rẫy thì
cả 2 vợ chồng cùng đi làm Nhưng sang đây đất đai thì cằn cỗi, lại ít Vợ chồng chỉ làm vài hôm
là hết Mới sang, nên chúng tôi cũng mới chỉ ổn định nhà cửa, vợ không biết làm gì nên ở nhà.
Ở nơi ở cũ vì do đất rộng, việc nhiều nên phụ nữ không có thời gian để dệt quần áo, sang đây không có việc để làm nên phụ nữ ở nhà thì họ tranh thủ dệt quần áo Có thời gian nên vợ tôi dệt nhiều hơn, ở đây chúng tôi đều rất thích mặc đồ thổ cẩm tự dệt vì đó là trang phục truyền thống của chúng tôi Áo quần dệt ra chủ yếu dùng để mặc không đủ để bán vì dệt rất lâu.
Nguồn: Biên bản Kể chuyện S1 Nam, Cơ-tu, Thôn Hai Hai vợ chồng, sinh 4 lần, 2 con đã chết.
6 Theo kiến thức bản địa, ở nơi nào mà cây chuối không mọc là dấu hiệu của vùng thiếu nước, thiếu độ ẩm
Ở chỗ đất như vậy, việc trồng lúa nói chung sẽ khó khăn
Trang 13Ban QL dự án có một kế hoạch phát triển bình đẳng giới ở vùng dự án SB4 Trong các cuộc tham vấn của Đoàn, phụ nữ tỏ ra là những người tích cực và chủ động tham gia các cuộc thảo luận Số phụ nữ tham gia các cuộc thảo luận không ít hơn nam giới Tuy nhiên, không thấy phụ nữ tham gia các nhóm người thảo luận hay đàm phán với cán bộ của BQL dự án như ở thôn Pa-rum B, hoặc trong các Ban Giám sát Cộng đồng ở thôn Pa-dhy.
Cuộc tham vấn lần 2 cũng có thêm bằng chứng về quan tâm giới trong quá trình thực hiện chương trình tái định cư và phục hồi sinh kế của dự án thủy điện SB4 Các thành viên các Ban phát triển thôn bản cũng như các ban giám sát cho biết các ban được tổ chức với số thành viên
nữ được chú ý hơn Với các vị trí mà dự án hỗ trợ tạo ra, như thú y thôn hoặc y tế thôn thì luôn
có 1 nam và một nữ tham gia Ban Phát triển Một thành viên Ban cho biết: “Trước đây Ban phát triển chỉ gồm trưởng thôn, bí thư chi bộ, phụ nữ, y tế thôn - 1nam Khi có dự án thì Ban
có đưa thêm các thành phần như khuyến nông - 2 người, khuyến ngư - 2 người, y tế thôn- 1 nữ Những người tham gia Ban phát triển là những người tình nguyện Họ không nhận được bất
cứ một khoản phụ cấp nào Họ là những người đại diện cho dân và làm việc, phục vụ, đảm bảo quyền lợi cho người dân của thôn mình”
Khi tham vấn, lãnh đạo các thôn đều cho biết, ngoài Ban Phát triển, dự án còn hình thành một Ban Giám sát Cộng đồng để kiểm tra các hoạt động của dự án Trưởng ban Giám sát (là công an thôn) ở Thôn Hai cho biết, Ban có 14 người (7 nam và 7 nữ) được dân bản bầu từ các thành viên là lãnh đạo các tổ chức trong thôn như Trưởng thôn, công an thôn, Mặt trận, Chi hội phụ nữ, Chi hội Nông dân, Đoàn Thanh niên Ban Giám sát có trách nhiệm đi kiểm tra các hoạt động của dự án, ví
dụ xây nhà hành chính, làm cầu trong thôn, san lấp mặt bằng ở khu tái định cư, làm đường trong thôn, thi công hệ thống nước sạch tự chảy, phân chia lô đất giữa các hộ gia đình, lấy đủ định mức 15 m3 được phép để làm nhà Ban Giám sát được phụ cấp khi thực hiện nhiệm vụ giám sát của mình.Việc quản lý và sử dụng sổ tiết kiệm được thực hiện theo quan điểm giới với hai người cùng đứng tên, và cần có sự thỏa thuận của hai bên khi rút tiền Trong một số hộ gia đình, việc sổ tiết kiệm
về đền bù và về hỗ trợ sinh kế được giao cho hai người giữ cũng phản ánh bình đẳng giới trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm
Qua các thảo luận về đền bù, về chương trình sinh kế và phát triển thôn bản, có thể ghi nhận là các thôn không có một kế hoạch phát triển thôn bản rõ ràng Người dân trong bản và lãnh đạo thôn bản không biết rõ ràng và có hệ thống về những đầu vào dự kiến trong năm, những hoạt động và kết quả mong đợi, cũng như những mục tiêu mà những kết quả đó hướng tới Điều này hạn chế tính chủ động của cộng đồng trong việc thực hiện cũng như giám sát hoạt động của dự án
3.1.2 Cạnh tranh nguồn lực ở miền đất tới
Đồng bào tái định cư cũng có thể phải đối mặt với việc cạnh tranh nguồn lực ở nơi ở mới Các nhóm thảo luận ở Thôn Pa-rum B cho biết, nơi họ sắp di cư tới là khu vực mà người từ nơi khác tới đang làm ô nhiễm môi trường nước do khai thác vàng, và có những nguồn tài nguyên như mây, bị tận thu theo kiểu hủy diệt Một số vùng có nước làm ao cá cũng bị các hộ nơi khác chiếm
cứ Điều này, có nghĩa là khi di chuyển, cộng đồng thôn Pa-rum B lại đứng trước một cuộc cạnh tranh về tài nguyên, mà chưa rõ kết quả thế nào, và diễn biến sẽ ra sao Tình huống này chưa được tính đến trong Kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số, cũng như sổ tay chính sách và chế độ đền bù tái định cư của dự án
Trang 14Hộp 7 Cạnh tranh nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên
• Địa bàn đã chia cho thôn rồi, nhưng dân đồng bằng đến khai thác vàng gây ô nhiễm nước, thải các loại hóa chất độc hại ra môi trường Ở khu mới, người Kinh và người Thái tới làm vàng, bà con sợ ô nhiễm môi trường nước dùng sinh hoạt, chỗ có sông suối mà có làm vàng thì nhiễm độc rồi.
• Ở khu mới, những người nơi khác đang khai thác tận thu gỗ và cây các loại như mây Mai này không còn mây cho chúng tôi làm đâu.
• Thôn Parum A họ chiếm những khu có nước để làm ao cá hết cả rồi.
Nguồn: Phỏng vấn của các nhóm ở thôn Pa-rum B
3.1.3 Đền bù về đất và tài sản trên đất
Đất sản xuất là một tài sản quan trọng của người dân tộc Cơ-tu, đặc biệt đất rẫy có nhiều chức năng quan trọng trong việc hỗ trợ duy trì cuộc sống (xem Hộp 2) Việc kiểm đếm và đền bù đã và đang được thực hiện ở Thôn Hai, bà con dân bản đã về khu ở mới và ổn định cuộc sống
Trích Yêu cầu bảo trợ xã hội số 2 Tái định cư bắt buộc
7 Đối tượng phải di dời trong vùng dự án có thể xếp vào ba loại (i) những người có
quyền pháp lý chính thức toàn bộ hoặc một phần đối với khu đất bị mất, (ii) những
người mất toàn bộ hoặc một phần đất mà họ chiếm giữ, không có quyền pháp lý
chính thức đối với khu đất đó, song được quyền yêu cầu sử dụng khu đất đó và
được pháp luật thừa nhận; và (iii) những người mất một phần hoặc toàn bộ phần
đất mà họ chiếm giữ, không có quyền pháp lý chính thức đối với khu đất và cũng
không được pháp luật thừa nhận là có quyền yêu cầu sử dụng đất đó Các yêu cầu
tái định cư bắt buộc áp dụng cho cả ba loại đối tượng phải di dời này
8 Bên vay/ khách hàng phải cung cấp đất và công trình trên đất thay thế ở mức độ
vừa đủ và phù hợp hoặc đền bù bằng tiền mặt với chi phí thay thế đầy đủ cho đất
và các công trình mà người dân bị mất, đền bù đủ cho các công trình bị thiệt hại
một phần, và hỗ trợ di dời, nếu thích hợp, cho những đối tượng được mô tả trong
đoạn 7(i) và 7(ii) trước khi họ di dời Đối với những đối tượng được mô tả trong
đoạn 7(iii), bên vay/ khách hàng phải đền bù cho họ về tổ thất tài sản trên đất, như
nhà ở, và các hoạt động cải thiện khác trên đất, với chi phí thay thế đầy đủ Các
đối tượng nêu trong đoạn 7(iii) chỉ được hưởng những quyền lợi trên nếu họ chiếm
giữ phần đất hoặc công trình trong vùng dự án trước ngày quy định đủ điều kiện
được hưởng chế độ hỗ trợ tái định cư
Trang 15Ở thôn Pa-rum B, việc kiểm đếm và định giá đang diễn ra trong quá trình đoàn tham vấn có mặt ở hiện trường Ở thôn này, dân bản không đồng ý với cách kiểm đếm đất đai và tài sản trên đất như cây cối, và các công trình phụ Nhiều người nói rằng họ sẽ không di dời, nếu không được kiểm đếm
và đền bù thỏa đáng
Người tham gia tất cả các cuộc thảo luận nhóm trong thôn đều cho rằng, phần đất đai mà họ đang khai thác phía trên vùng ngập nước không được đo đếm, và không được định giá để đền bù; và họ không bằng lòng với điều này Dân làng thôn Pa-rum B cho rằng đây là một điều không công bằng
mà dự án thủy điện Sông Bung 4 làm với họ, vì họ cho biết, với Thôn Pa-rum A, thì vùng đất canh tác trên mức ngập của dân làng được kiểm đếm, định giá và đền bù Theo một cuộc phỏng vấn nhóm, diện tích canh tác vùng trên ngập của các hộ gia đình rộng gấp nhiều lần so với vùng dưới mức ngập nước và được kiểm đếm để đền bù (xem Bảng 2)
Bảng 2 Diện tích được và không được kiểm đếm của một số hộ thôn Pa-rum B
với Tư vấn thi công
khu tái định cư với
sự thúc đẩy của
CHF, cơ quan tư vấn
của dự án.
Trang 16Về tài sản trên đất, các nhóm phỏng vấn ở Pa-rum B cho biết họ không đồng ý với việc không đền bù các công trình phụ Dân bản trong một cuộc phỏng vấn nhóm nói: “Họ trừ số tiền đền bù về ao cá, chuồng
bò, chuồng gà Trước đây họ hứa đền bù nhưng giờ lại không tính nữa Họ chưa giải trình tại sao.”Các cuộc phỏng vấn nhóm và phỏng vấn cá nhân cũng xác nhận là người dân không bằng lòng với các kiểm đếm tài sản trên đất vườn hoặc rẫy Một người dân cho biết “họ chỉ kiểm đếm cây lớn, như cây mít, cam, ổi, tà-vạc, tà-boong, nhãn, chôm chôm Nhiều cây khác không đếm như cây quế, các loại cây làm củi, như tà-lắt, a-ti, thơ-lăng Cỏ trồng như cỏ voi cũng không được tính Họ nói diện tích ít mà trồng cây nhiều thế thì họ bớt cây.”
Hộp 8 Đất rẫy có nhiều chức năng trong hệ thống đảm bảo cuộc sống
Đất rẫy là một nguồn cung cấp quan trọng cho dân bản về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu đan lát và gỗ Trên rẫy, người Cơ- tu trồng cây lương thực như khoai và ngô Rẫy là nơi trồng nhiều các loại rau cung cấp cho gia đình Cây ăn trái được trồng phổ biến là dứa, chuối, lon- boon, cam quýt, ổi, nhãn Cây làm đồ giải khát (loai đồ uống có độ cồn nhẹ) phổ biến là tà - vạc Cây nguyên liệu đan lát có lồ-ô, tre nứa, và mây Cây lấy gỗ thường gặp là keo, sầu đông (xoan) Mít là cây đa chức năng, ăn trái, làm rau, làm gỗ, cũng được trồng rất phổ biến Rẫy cũng là nơi cung cấp cây làm củi là chất đốt nấu ăn, chiếu sáng buổi tối và sưởi ấm vào mùa đông của người Cơ-tu.
Nguồn: Biên bản phỏng vấn cá nhân P10.
Trong các cuộc thảo luận nhóm, người dân bản cũng đề cập tới vấn đề mất giá đồng tiền chưa được tính đến để điều chỉnh giá đền bù Giá cả ở địa phương cũng tăng lên, ví dụ, giá cả dịch vụ vận chuyển tăng khi cùng một lúc có nhiều gia đình cần dùng dịch vụ vận chuyển để chuyên chở tài sản Ý kiến trong một cuộc thảo luận là “Bên dự án hứa với thôn là giá cả lên thì giá đền bù sẽ lên, nhưng thực tế giá cả lên rồi nhưng lại không tăng giá đền bù”
Trích Yêu cầu Bảo trợ xã hội số 2 của ADB Tái định cư bắt buộc
10 Mức đền bù nhà ở, đất và các tài sản khác bị thu hồi phải được tính theo giá thay thế đầy đủ Việc tính giá thay thế đầy đủ phải dựa trên những yếu tố sau: (i) giá thị trường hợp lý; (ii) chi phí giao dịch; (iii) lợi ích sinh ra; (iv) chi phí thay đổi và phục hồi; (v) các khoản thanh toán thích hợp khác, nếu có Khi không có các điều kiện thị trường hoặc chỉ mới đang hình thành, bên vay/ khách hàng phải tham vấn ý kiến của những người bị di dời và dân cư sở tại để có đủ thông tin về các giao dịch đất đai gần đây; giá trị từng loại đất, quyền sở hữu đất, sử dụng đất, xu hướng trồng trọt và sản lượng, đất sẵn có trong vùng dự án và khu vực, và các
Ở Pa-rum B, người dân cho rằng có sự không công bằng trong kiểm đếm và áp giá giữa các thôn, do vậy họ có một số phản ứng trong việc thực hiện di dời Một nhận định được các nhóm nêu ra nhiều lần là tuy cùng một mức sống hay sinh kế, người dân bản ở Thôn Hai và Pa-rum A được đền bù với mức cao hơn nhiều so với chính Pa-rum B Thành viên ở một cuộc thảo luận nhóm cho biết: “Mức đền bù nhỏ nhất ở hai thôn kia là 400 triệu đồng, còn ở Pa-rum B thì chỉ là 100 triệu đồng Nhiều
hộ có mức đền bù dưới 200 triệu đồng” Khi được hỏi, 34% số người tham dự cuộc họp thôn Pa-rum
B cho biết họ được biết mức đền bù của họ là dưới 200 triệu đồng Nhiều người cho biết mức đền bù
mà họ mong đợt ít nhất là một tỷ đồng, vượt xa con số được áp giá và thông báo
Trang 17Do không đồng ý với kết quả kiểm đếm và đền bù, dân bản Pa-rum B đang có những biểu hiện không hợp tác đầy đủ với BQL dự án Một người dân cho biết “cán bộ đã ba lần mang ba-rem (bảng kiểm đếm và áp giá) tới nhà Gươl, nhưng gia đình tôi không đồng ý cả ba lần Lần sau họp, bà con chúng tôi không tới nữa” Ở một cuộc thảo luận nhóm ở thôn Pa-rum B, các thành viên cho biết “Bà con hiện nay đang chống đối, quyết không ký vào biên bản di dời”.
Ở Thôn Hai, trong cuộc tham vấn lần 2, đại diện Ban giám sát cho biết, hầu hết các hộ trong thôn
đã về tái định cư và đại đa số (52 hộ) các hộ đã làm xong nhà và hoàn thiện, chỉ còn 5 hộ đang làm
dở dang Theo Ban giám sát, hầu hết các hộ hài lòng với mức đền bù và số tiền đền bù Các hộ đã được nhận 1,5 Ha đất rẫy một hộ để bắt đầu canh tác Trong sinh kế mới, việc trồng lúa nước là một loại hình sản xuất mới được dự án giới thiệu mà người dân còn chưa quen, và nguồn nước tưới cho ruộng lúa nước vẫn chưa ổn định Lãnh đạo thôn và Ban giám sát cũng cho biết một số dự kiến ban đầu vẫn chưa được thực hiện như sóng điện thoại di động Lãnh đạo thôn phản ánh việc dự án chưa hỗ trợ di chuyển mồ mả của thôn, khi dân làng đã hoàn tất việc di dời làng Lời hứa của dự án
về cấp cho mỗi hộ một con bò vẫn chưa được thực hiện Lãnh đạo thôn cũng đề xuất ý kiến của dân bản đề nghị dự án làm đường về bản cũ để chuyên chở đồ đạc tài sản
Trong số 72 hộ dân cư thôn Pa-dhy, ông trưởng thôn cho biết hầu hết (ước là 80%) số hộ hài lòng với cách kiểm đếm, và mức đền bù của dự án, nhưng có khoảng 20% số hộ không hài lòng với mức đền
bù Có một thành viên của một hộ gia đình cho biết họ chưa nhận tiền đền bù vì chưa hài lòng, và theo thành viên này, còn 4 hộ khác cũng không nhận tiền đền bù do họ không bằng lòng với cách kiểm đếm và mức đền bù Tuy nhiên, ở góc nhìn người dân, sự chấp nhận của người dân không phải hoàn toàn tự nguyện, mà do có “sức ép” từ phía nhà quản lý (xem Hộp 9)
Hộp 9 Tham vấn khi kiểm đếm và đền bù
Sợ bị mất hết, nhưng vẫn không nhận mức giá đền bù
Theo mức đền bù làm nhà được thông báo là “mỗi gia đình từ 2 - 4 khẩu: 140 triệu, gia đình từ 4 -6 khẩu: 147 triệu” thì tổng số tiền gia đình tôi được đền bù là 300 triệu đồng Theo gia đình chúng tôi
số tiền được đền bù này không đủ để di chuyển và làm nhà mới Gia đình tôi vẫn chưa ký đồng ý với giá đền bù vì mức như vậy là quá thấp Có 3 gia đình nữa cũng chưa đồng ý ký vì cùng một lý do
Đó là gia đình A Viết La, B’nuoch Tông, T’ngôn Thiết Những gia đình khác trong thôn đã ký đồng
ý với mức đền bù ở vùng đất ngập nước vì họ sợ sẽ bị mất hết nếu không ký khi nghe anh D và anh
S ở Ban QLDA nói là nếu dân làng không ký thì họ “sẽ mất tất cả, họ chẳng có gì nữa”.
Nguồn: Biên bản phỏng vấn N2: Nữ, 23 tuổi, thôn Pa-hdy.
Nhận mức giá đền bù vì sợ mất hết?
Mặc dù tôi còn nhiều thắc mắc và không hài lòng với số tiền được đền bù vì nó quá ít nhưng tôi
đã ký nhận số tiền đền bù Vì tôi sợ nếu tôi không ký nhận thì tôi sẽ mất 500 triệu Anh X, cán
bộ dự án có giải thích cho tôi nhưng mà tôi không hiểu được.
Nguồn: Biên bản phỏng vấn N2: Nam, 46 tuổi, thôn Pa-dhy.
Tất cả mọi người đều rất không hài lòng vì phần đất chưa ngập không được kiểm đếm và không được đền bù Như gia đình tôi, nếu chuyển sang khu ở mới ở làng tái định cư thì phần rẫy chưa ngập của gia đình sẽ cách xa nhà từ 6 - 7 km, gia đình tôi sẽ không làm gì được vì nó quá xa
Mẹ tôi không biết đi xe máy nên không thể đi xa để làm rẫy.
Nguồn: Biên bản phỏng vấn Nx: Nữ, 23 tuổi, thôn Pa-dhy.
Trang 18Đền bù và hệ quả
Trong chuyến tham vấn thứ hai, đoàn khảo sát ghi nhận những tác động quan trọng của việc đền
bù Sau khi nhận tiền đền bù, người dân tái định cư có một nguồn thu lớn từ tiền lãi tiết kiệm gửi ngân hàng Tính trung bình, với mức lãi tiết kiệm là 11%/tháng của Ngân hàng Nông nghiệp áp dụng từ tháng 5 năm 2012, số tiền lãi tiết kiệm này có thể lên tới 1,4 triệu đồng/khẩu/tháng khi mỗi hộ rút 300 triệu đồng để làm nhà Một số hộ gia đình được phỏng vấn cho biết họ đã rút lãi tiết kiệm trong quý đầu, và số tiền lãi tới 20 triệu đồng cho ba tháng (xem Hộp 10)
Bảng 3 Thu nhập từ lãi tiết kiệm sau khi đã làm nhà
Giả định mức tiền rút làm nhà là 300 triệu đồng/hộ
Thôn Hộ Khẩu thườngBồi Hỗ trợ Tổng, triệu đồng Mức tiền/hộ Lãi NH/Tháng/khẩu
Nguồn: Tính theo số liệu từ báo cáo của Trung tâm Phát triển Quỹ đất
Với một lượng tiền mặt và một khoản thu nhập lớn từ lãi gửi tiết kiệm (xem Bảng 3), dân bản ở các cộng đồng tái định cư có nhiều lựa chọn Một số người cho biết họ đã đầu tư buôn bán nhỏ trong thôn Có trường hợp được báo cáo là có người dân bản đã mua nhà ở đô thị Có một người cho biết
ý định đầu tư của mình vào việc nuôi cá, nuôi gà và nuôi bò Nói chung, việc triển khai đầu tư vào nông nghiệp chưa thấy người dân bản báo cáo rộng rãi trong cuộc tham vấn này, một phần do bà con dân bản đang bận với việc di dời, làm nhà ổn định chỗ tái định cư; và một phần do đất sản xuất mới giao có diện tích nhỏ và chưa khai phá ổn định
Hộp 10 Tiết kiệm từ tiền đền bù gửi ngân hàng - một nguồn thu quan trọng của gia đình
Gia đình tôi thấy hài lòng với số tiền được đền bù Tổng số tiền được nhận là 700 triệu đồng
Số tiền này chúng tôi nhận một ít bằng tiền mặt, số còn lại thì tại thời điểm nhận tiền có mặt của Ngân hàng nên gia đình tôi theo lời khuyên của Ban quản lý dự án nên chuyển thẳng vào ngân hàng Số tiền gửi ở Ngân hàng thì được chia làm 3 cuốn sổ, trong đó vợ tôi giữ 2 cuốn (1 sổ
200 triệu, 1 sổ 250 triệu) và tôi giữ 1 cuốn (hơn 100 triệu) Khi đi rút tiền thì Ngân hàng luôn luôn yêu cầu là phải có vợ và chồng cùng đi Vừa rồi, gia đình tôi vừa rút tiền lãi của ba tháng được 20 triệu.
Nguồn: Biên bản phỏng vấn Nx: Nam, Pa-dhy.
Trang 19Chính sách của ADB yêu cầu sự tham vấn cả trong quá trình thực hiện chương trình sinh kế Đoàn khảo sát ghi nhận có những trường hợp được báo cáo về chi tiêu không tạo thu nhập, có thể làm giảm mạnh tài sản của hộ gia đình do thiếu thông tin, ví dụ về mức lạm phát hay mức mất giá của đồng tiền Nhiều gia đình được biết là làm nhà có giá trị cao hơn (có khi gấp hai lần) so với mức tiền được đền bù làm nhà Những khoản đầu tư cho đồ dùng gia đình đắt tiền cũng được ghi nhận qua phỏng vấn và quan sát như TV, tủ lạnh, xe máy có giá trị, bếp ga Nhiều người già
lo lắng về cách chi tiêu của thanh niên, trong khi sinh kế của gia đình họ chưa hình thành và ổn định (xem Hộp 11) Cách chi dùng cho mục tiêu phi sản xuất hoặc phục hồi sinh kế có thể làm giá trị của nguồn tài sản của dân bản có thể suy giảm nhanh chóng so với giá trị ban đầu Điều này đặc biệt đáng quan tâm khi mà giá trị đồng tiền đang giảm nhanh (trong năm 2012 lạm phát được chính phủ ước là 8%/năm)
Hộp 11 Tiền mặt có được do đền bù và xu hướng tiêu dùng
Từ khi có tiền đền bù từ dự án, trong gia đình cũng có một số thay đổi Tuy tiền chúng tôi đã gửi hết ở ngân hàng nhưng hàng đợt chúng tôi cứ lấy tiền lãi nên cũng có một khoản tiền nho nhỏ
để chi dùng Vừa rồi, chúng tôi cũng có được hơn 20 triệu đồng tiền lãi Số tiền đó tôi cho người
em đang gặp khó khăn hơn 10 triệu Còn lại thì để cho vợ đi chợ ăn uống hoặc mua đồ lặt vặt trong gia đình chứ cũng chưa mua tài sản gì lớn thêm trong nhà.
Từ ngày người dân được đền bù tiền thì mỗi khi có khách thay vì mời uống rượu Chà Và thì người ta mời nhau bia Trước đây không có tiền để mua, mà có mua thì cũng không có ai bán
Nguồn: Phỏng vấn số Nx: Thôn Pa-dhy, Nam.
Ở một góc độ khác, có thể thấy Ngân hàng nông nghiệp trong một thời gian ngắn đã huy động và quản lý phần lớn tài sản của dân bản các cộng đồng tái định cư với số tiền có thể lên tới 200 tỷ đồng Nói khác đi, Ngân hàng cũng là một bên hưởng lợi từ dự án
Việc đền bù trong quá trình tái định cư cũng bộc lộ phần nào bức tranh về sự chênh lệch về mức độ
“thịnh vượng” trong thôn Lãnh đạo thôn cho biết, hộ được đền bù nhiều nhất trong thôn Pa-dhy là
ở mức 2,7 tỷ đồng, nhiều gấp 13,5 lần so với hộ được đền bù ở mức thấp nhất là 200 triệu đồng Ở Thôn Hai (xã Tà-pơ), mức độ chênh lệch có thấp hơn, hộ thịnh vượng nhất có tiền đền bù gấp 6 lần
hộ ít nhất Cụ thể, theo Ban giám sát cộng đồng, hộ được đền bù nhiều nhất là 1,2 tỷ đồng (có 4 hộ như vậy trong thôn), và hộ được đền bù ít nhất là 200 triệu đồng
3.1.4 Phục hồi sinh kế trong kế hoạch tái định cư
Qua thảo luận nhóm ở các thôn, có thể thấy Dự án đã thực hiện nhiều biện pháp phục hồi sinh kế
Về chăn nuôi, ngoài các cuộc tập huấn kỹ thuật, dự án đã đào tạo mỗi thôn một thú y viên (nhóm tham vấn chưa có điều kiện tìm hiểu hoạt động và tác động của đội ngũ này), các gia đình được cấp
Trang 20bò, heo để chăn nuôi Dự án cũng thử nghiệm phát triển đàn gà gia đình Các hộ gia đình được hỗ trợ về trồng trọt, như trồng các loại hoa màu trên vườn hoặc rẫy, như đậu đỗ các loại, và trồng rau trong vườn gia đình Để chuẩn bị sản xuất, các hộ gia đình được hỗ trợ phát rẫy Một số lớp dạy nghề phi nông nghiệp cũng đã được thực hiện Người dân ở các thôn bản đề cao nhiều hoạt động của dự
án về phục hồi sinh kế, nhất là các lớp tập huấn về nông nghiệp Người dân cũng đề đạt nhiều ý kiến để hoàn thiện quá trình phục hồi sinh kế
Các cuộc thảo luận nhóm cho thấy những điều người dân mong đợi dựa trên các thông tin về phục hồi sinh kế được công bố “bằng lời” hoặc trên văn bản không được hoặc chưa được thực hiện Người dân than phiền trong các cuộc thảo luận nhóm về những lời hứa chưa được thực hiện bao gồm: các khoản tiền trả cho công “phát rẫy”, “dọn vườn rau gia đình”, cấp giấy chứng nhận sử dụng đất Cam kết về cấp chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi trong “chính sách và chế độ đền bù tái định cư”, nhưng chưa được thực hiện
Hình 3 Trích nội dung kế hoạch Tái định cư và phát triển dân tộc thiểu số
Việc phổ biến chính sách đền bù tỏ ra có sai lệch thông tin Trong tài liệu về chính sách đền bù có nêu mỗi hộ được cấp một con trâu hoặc bò, nhưng không có đề cập đến cấp lợn Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận nhóm, người dân lại nói “dự án hứa cấp mỗi hộ một con trâu, bò và một con lợn” mà đến nay vẫn chưa được thực hiện Những hiểu nhầm về chính sách đền bù có thể dẫn đến sự không tin tưởng và căng thẳng trong cộng đồng nếu không được kịp thời phát hiện, nhất là khi bảng kê những lời hứa không thực hiện khá dài (xem Hộp 12)
Hộp 12 Mong đợi và những lời hứa chưa thực hiện
• Trong khi dự án trả tiền cho các thôn kia rất nhanh, tiền đền bù chỉ trả trong 1 lần; tại Thôn Hai, tiền đền bù trả tới 3 - 4 lần Lần sau cùng, người dân được báo là sẽ nhận tiền vào tháng
3 năm 2012; nhưng đến tháng 5 người dân cũng chưa nhận được.
• Dự án đã phân chia cho người dân mỗi hộ 600m2 vườn để trồng rau sau tái định cư, kèm theo điều kiện là hỗ trợ tiền cho dân nếu họ tự dọn vườn Đến nay, người dân đã dọn xong vườn nhưng chưa có tiền hỗ trợ.
• Con đường về làng cũ chưa được dự án tu sửa, do đó người dân không thể vận chuyển các vật liệu cũ đến khu tái định cư để phục vụ cho việc xây nhà Vì vậy việc xây nhà phụ thuộc rất nhiều vào người ngoài địa phương cũng như chiếm một lượng lớn trong phần tiền đền bù của người dân