Từ nghiên cứu cơ bản về Trí não và Ý thức, nghiên cứu về giấc ngủ và sự nhận thức, về vật lý lượng tử… chúng ta sẽ thấy những mối liên hệ thống nhất và chặt chẽ trong tổng thể trí tuệ, t
Trang 2CHƯƠNG 6: Sức mạnh của thuật thôi miên
CHƯƠNG 7: Thực tế kinh nghiệm nhận thức
Lời bạt
Ghi chú
Trang 3TS KAREN NESBITT SHANOR
TRÍ TUỆ NỔI TRỘI NHỮNG PHÁT HIỆN MỚI VỀ NHẬN THỨC
Bản quyền tiếng Việt © Công ty Sách Alpha
Chia sẻ ebook : http://downloadsach.com/
Follow us on Facebook : https://www.facebook.com/caphebuoitoi
NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Khám phá sức sáng tạo kì diệu của trí tuệ con người là một đề tài thu hút sự quan t}m đặc biệt của nhiều nhà khoa học Góp phần vào hành trình khám phá này là nghiên cứu khoa học được Tiến sỹ Karen Nesbitt Shanor tập hợp trong cuốn Trí tuệ nổi trội (The emerging mind) Cuốn sách là một tài liệu tham khảo giá trị sẽ mang đến cho bạn nhiều phát hiện thú
vị về bản thân mình với những hiểu biết sâu sắc về trí tuệ và ý thức Từ nghiên cứu cơ bản
về Trí não và Ý thức, nghiên cứu về giấc ngủ và sự nhận thức, về vật lý lượng tử… chúng ta
sẽ thấy những mối liên hệ thống nhất và chặt chẽ trong tổng thể trí tuệ, thể xác và tinh thần của con người Đ}y l{ một cuốn sách trong bộ s|ch AlphaEdu/Tư duy tập hợp nhiều cuốn sách về các chủ đề khác nhau giúp bạn đọc khám phá trí tuệ của bản thân mình và ứng dụng những khả năng đó v{o học tập cũng như công việc
Bộ s|ch Alpha Edu/Tư duy gồm những cuốn s|ch đề cập khá nhiều đến cách thức tư duy mới mẻ, chẳng hạn như ph|t triển toàn diện bằng c|ch tăng cường khả năng của mỗi người với nhiều loại hình thông minh của chính bản thân mình Với lối h{nh văn mạch lạc, sáng rõ, thu hút cùng ví dụ sinh động, các tác giả từ Thomas Armstrong đến Micheal Michako sẽ mang đến cho bạn đọc những ý tưởng giúp bạn khám phá nhiều c|ch để thông minh hơn, sáng tạo hơn, mạnh khoẻ hơn, nhạy cảm hơn, giao tiếp khéo léo hơn, sống hạnh phúc hơn, cảm thụ âm nhạc tốt hơn, quan s|t tinh tường hơn, yêu thiên nhiên hơn, sống có mục đích v{ đẹp hơn… Bộ s|ch cũng l{ tiếng nói góp phần xóa bỏ quan niệm có phần thiên lệch tồn tại từ lâu trong chúng ta quá coi trọng khả năng về logic toán học cũng như cách học máy móc và bám vào sách vở ở trong nh{ trường mà quên mất rằng con người cần phải phát triển hài hoà nhiều khả năng kh|c nữa
Việc thực hiện bộ sách này là một cơ hội quý báu giúp chúng tôi khám phá những kiến thức mới, c|ch tư duy mới và toàn diện hơn về trí tuệ con người Tuy nhiên, chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn bởi đ}y l{ một bộ sách có nhiều khái niệm mới nên quả thực rất khó tìm được những thuật ngữ tương đương trong tiếng Việt Vì thế nhiều khái niệm, chúng tôi chỉ
có thể chuyển ngữ tương đối nhằm cố gắng chuyển tải ý tưởng cơ bản của tác giả Có nhiều
Trang 5khái niệm dù đ~ cố gắng nhưng Ban biên tập bộ sách vẫn cảm thấy chưa ho{n to{n ưng ý Tuy vậy, chúng tôi vẫn mạnh dạn sử dụng những thuật ngữ này và rất mong nhận được đóng góp của bạn đọc gần xa, những dịch giả uyên thâm, có kinh nghiệm và nghiên cứu lâu năm về lĩnh vực này Mọi thư từ đóng góp xin vui lòng gửi v{o địa chỉ e-mail: publication@alpha-book.com hoặc thư về địa chỉ: Công ty Cổ phần Sách Alpha, số 16, ngõ 4/26 Phương Mai, Đống Đa, H{ Nội ĐT: 04.5771 538 - Fax: 04.5771 679
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách Trí tuệ nổi trội thuộc tủ sách AlphaEdu
Th|ng 7 năm 2007
CÔNG TY SÁCH ALPHA
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn những người đ~ cùng ho{n thiện cuốn sách Trí tuệ nổi trội: Các tiến sỹ Frank Putnam, Jayne Gackenbach, Deepak Chopra, John Spencer v{ Karl Pribram đ~ chia sẻ với tôi những kiến thức chuyên môn sâu sắc và những quan điểm sắc bén của họ Tôi sẽ không tìm được nhóm các nhà khoa học nào tận t}m hơn họ
Tiến sỹ John Spencer cũng mong muốn cảm ơn công trình nghiên cứu của Tiến sỹ Phạm T
K Phương trong chương Y học Thể xác - Tinh thần; còn Tiến sỹ Jayne Gackenbach muốn d{nh chương viết của b{ để tưởng nhớ Tiến sỹ Charles Alexander
Tôi cũng xin cảm ơn người đại diện tuyệt vời của tôi, Muriel Nellis, đ~ ủng hộ cho cuốn sách này Xin cảm ơn sự hỗ trợ quý báu của Jane Roberts; cảm ơn đội ngũ nh}n viên t{i năng của nhà xuất bản Renaissance Books, đặc biệt cảm ơn c|c biên tập viên Robin Cantor Cooke, Joe McNeely, Arthur Morey và Matthew Daley, những người đ~ hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thiện cuốn sách này
Gi|o sư triết học Roger Paden và Valerie Barr - một nhà khoa học thuộc Viện y học Quốc gia
- đ~ giúp đỡ tôi rất nhiều Ngoài những đóng góp về trí tuệ, họ còn là những người bạn trung th{nh (cũng như những người hướng dẫn tận tình của tôi tại Washington) Xin chân thành cảm ơn những khách hàng hiểu biết của tôi, những người đ~ cung cấp cho tôi hàng chồng sách và giấy tờ về các buổi tâm lý trị liệu của họ và đ~ h|o hức chờ đợi cuốn sách có tên là Trí tuệ nổi trội Xin cảm ơn những người kh|c đ~ giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành cuốn s|ch Đó l{: Anne Conover Carson, Judith Milon, Coach Nick Zoulias, Juris Jurjevics, Srimati Kamala và những con người tuyệt vời ở Trung tâm Ghandhi tại Washington, đó l{ William v{ Lorraine Dorgan, Ian v{ Connie Falconter, Dudley v{ Larry Doan, Kathy Kogok, Carlos Rivas, Tomasa Ruiz, Tshanda Tshimanga, Eric Pringle, Edi Ramirez, Rigo Cruz, Robyn và James Graney, Kenneth và Kim Cohen, Stacy và James Brennan, Mirna và Rogelio Molina, Lilian Kew, Sam Leven và Stephen Chang
Trang 7Trong quá trình viết cuốn s|ch n{y, tôi đ~ rất hân hạnh được gặp gỡ và làm việc với Gi|o sư George Farre, Josef Rauschecker và Jag Kanwal của trường Đại học Georgetown để chuẩn bị cho hội nghị quốc tế “C|c chương trình khoa học tri thức” được tổ chức năm 1999 với chủ
đề “Trí n~o v{ Sự giao tiếp”, vinh danh Tiến sỹ Pribram Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và cảm hứng sáng tạo của họ Trong lĩnh vực học thuật, tôi cũng muốn dành lời cảm ơn đến những người đ~ chỉ dẫn cho tôi trong nhiều năm qua, trong đó có c|c tiến sỹ Richard Atkinson, Melvin Gravitz, v{ tưởng nhớ các tiến sỹ Harold, Ruth Greenwald Cuối cùng và quan trọng hơn cả, mẹ tôi, Irene Van Horn và con trai tôi, Daniel Perry, thực sự xứng đ|ng được trao tặng huy chương vì sự kiên nhẫn và sự cảm thông sâu sắc của họ Bởi lẽ, để hoàn thành cuốn s|ch n{y, tôi đ~ không còn nhiều thời gian quý báu dành cho họ Tôi cũng muốn cảm
ơn David Cohen vì đ~ hết lòng ủng hộ tôi trong quá trình viết cuốn s|ch n{y Tôi cũng muốn tưởng nhớ tới anh tôi là Daniel Nesbitt và George Nesbitt - người cha thân yêu của tôi
T.S KAREN NESBITT SHANOR
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
“Có lẽ chẳng có giới hạn nào cho trí tuệ lo{i người ngoài các giới hạn do tự chúng ta nghĩ ra”
WILLIS HARMAN
CƯỠI TRÊN ÁNH SÁNG
Người ta nói rằng trong khi phát triển thuyết tương đối, Albert Einstein đ~ tưởng tượng mình đang cưỡi trên ánh sáng Phải chăng đ}y chỉ là một giai thoại lạ lùng về quá trình sáng tạo hay thực sự trí tuệ có khả năng kỳ diệu như vậy? Các nhà nghiên cứu tại nhiều trường đại học danh tiếng đ~ đưa ra bằng chứng khoa học cho thấy trí tuệ thậm chí còn l{m được nhiều hơn thế Thí dụ như c|c nghiên cứu tại trường Đại học Stanford đ~ chỉ ra rằng thông qua suy nghĩ, chúng ta có thể gây ảnh hưởng tới huyết áp và nhịp tim của một người ở cách
xa chúng ta.1 Còn các nhà khoa học tại trường Đại học Princeton đ~ chứng minh được quá trình trao đổi thông tin giữa hai người ở cách xa nhau hàng nghìn dặm
Hơn nữa, tốc độ ánh sáng không bắt kịp tốc độ siêu sáng của các hạt và sóng tiểu nguyên tử, các thực thể nhỏ hơn nguyên tử, là chất liệu cho trí thông minh và kiến thức mênh mông
Do đó, suy nghĩ của chúng ta có thể thách thức được giới hạn về không gian và thời gian Những gì chúng ta suy nghĩ l{ rất quan trọng Thực tế, nhiều nhà khoa học đ~ tin rằng suy nghĩ của chúng ta có ý nghĩa M{ tại sao lại không nhỉ?
Khi chúng ta vận động vượt qua những giới hạn vật chất, một suy nghĩ - bao gồm các tần số năng lượng và sóng não, sẽ được giải thích sau này - có thể ảnh hưởng hay thậm chí là tạo
ra các hạt siêu nguyên tử Một ng{y n{o đó, c}u ch}m ngôn: “H~y cẩn thận với những gì bạn muốn, bạn có thể đ~ vừa gi{nh được nó” có thể được mở rộng thành lời cảnh b|o: “H~y cẩn thận với những gì bạn nghĩ, điều đó có thể vừa xảy ra” Ngay từ phát hiện đầu tiên, cuốn Trí tuệ nổi trội đ~ cố gắng để:
• kh|m ph| c|c th{nh phần v{ “c|c lớp” hấp dẫn của trí tuệ con người
Trang 9• nghiên cứu bản chất lượng tử của trí tuệ
• chỉ ra cách áp dụng một số các nghiên cứu mới nhất để cải thiện cuộc sống của chúng ta
Thập niên 90 của thế kỷ XX được coi là thập niên của trí tuệ Những phát hiện trong c|c lĩnh vực khác nhau cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin đ~ dẫn đến sự tiến bộ không ngừng trong quá trình tìm hiểu trí tuệ chúng ta (bạn sẽ thấy đó không chỉ đơn giản là hoạt động suy nghĩ) Những nghiên cứu mới nhất về vật lý, toán học, sinh học, hóa học và tâm lý học cho chúng ta thấy thực chất trí não chỉ là một phần nhỏ của trí tuệ, l{ nơi trung chuyển
và tiếp nhận về mặt vật chất, nếu bạn cần thì bộ não sẽ là những gì mang tính toàn diện và
V{i năm trước đ}y, tôi đ~ từng xây dựng một loạt bài diễn thuyết cho Viện Smithsonian với chủ đề “Trí n~o v{ Ý thức: Sự tiền duyệt cho thế kỷ XXI” Sự thành công vang dội v{ tính đại chúng của loạt bài thuyết trình đ~ tạo cảm hứng cho tôi viết nên cuốn sách này Các chuyên gia nổi tiếng nghiên cứu về nhiều lĩnh vực trí tuệ kh|c nhau đ~ chia sẻ những hiểu biết của
họ với c|c độc giả ngoại đạo - h{ng trăm người đ~ tò mò v{ phấn khởi trước những thông tin có thể ảnh hưởng tới cuộc sống của họ Có một chuyện kỳ lạ đ~ xảy ra trong suốt tám tuần lễ trình bày loạt bài diễn thuyết n{y đó l{ tất cả chúng tôi, người diễn thuyết cũng như người tham dự, đều là những người có giáo dục, say mê, thích thú v{ đôi lúc ngạc nhiên với những bài diễn thuyết v{ suy nghĩ thôi thúc chúng tôi trao đổi thông tin v{ ý tưởng
Trước khi trình bày bài thuyết trình đầu tiên trong loạt bài diễn thuyết về “Sự phát triển của Trí não và Ý thức”, tôi đ~ giới thiệu chương trình theo c|ch kh| đặc biệt Khi đèn trong thính phòng tối đi, tôi yêu cầu thính giả thư gi~n v{ nhắm mắt lại để nghe một truyện ngắn của Ed Young, người đ~ được trao tặng huy chương Caldecott Truyện kể về bảy con chuột
mù cùng đi tìm hiểu về một hiện tượng bí ẩn bên hồ Sáu con chuột đầu tiên bất đồng gay gắt về một Cái gì đó, bởi vì mỗi con khám phá một bộ phận khác nhau của vật đó Sau đó con chuột thứ bảy bắt đầu đi điều tra tìm hiểu Cô nàng chạy lên tới một bên của C|i gì đó v{ chạy xuống ở bên kia, chạy ngang qua phía đầu và chạy từ đầu nọ sang đầu kia Rồi cô nàng thốt lên: “[, giờ thì mình biết rồi C|i gì đó vững ch~i như một cái cột, mềm như một con
Trang 10rắn, rộng như một v|ch đ|, sắc như một c}y thương, có gió thổi như một cái quạt, dai như một sợi dây thừng Nhưng tóm lại, C|i gì đó l{… một con voi!”4
Bài học rút ra từ câu chuyện này là biết được từng phần có thể tạo ra một câu chuyện hay nhưng chỉ khi hiểu thấu đ|o to{n bộ thì mới suy xét đúng Tất nhiên, chuyện n{y được mô phỏng từ câu chuyện cổ về các anh mù và con voi Tôi vừa muốn nhấn mạnh rằng chúng ta sắp được nghe nhiều bài thuyết trình giới thiệu về các bộ phận khác nhau của “con voi” ý thức Tôi cũng vừa muốn sáng tạo ra một kinh nghiệm và phép ẩn dụ có liên quan mật thiết đến thính giả hơn l{ chỉ đơn giản đề cập đến một câu chuyện cổ nổi tiếng Sau đó, một nhà tâm lý học trong số thính giả hỏi tôi rằng có phải tôi đang cố gắng “rèn luyện” mọi người bằng bài tập này Mặc dù tôi không nghĩ đến việc ám chỉ quá trình rèn luyện thực sự mà ở
đó trí tuệ được điều chỉnh theo một cách thức n{o đó, nhưng tôi đ~ rất mong muốn tạo ra suy nghĩ cởi mở tới diễn giả và khuyến khích tính chủ động trong suy nghĩ v{ xem xét c|c quan niệm mới
Tôi cũng có thể giúp thính giả thư gi~n đôi chút v{ nhận thấy rằng trong khi họ đang nghe các bài thuyết trình của các nhà khoa học hàng đầu, họ không nên có cảm giác sợ hãi, bởi vì lĩnh vực trí tuệ và ý thức là chủ đề m{ ai trong chúng ta cũng đều là chuyên gia Bởi lẽ, bản thân chúng ta liên quan rất mật thiết với c|c lĩnh vực đó V{ lẽ dĩ nhiên đ}y cũng chính l{ mục đích của cuốn sách này Phần lớn sự phát triển mang tính cá nhân không ngừng diễn ra trong chúng ta l{ trên phương diện tinh thần Một số người có tầm nhìn xa trông rộng trong giới khoa học tin rằng chúng ta không chỉ đang tìm hiểu nhiều hơn về khả năng trí tuệ của mình, mà còn tin rằng trí tuệ của con người đang ph|t triển lên cấp độ cao hơn của trí thông minh và sự nhận thức Sự phức tạp của khoa học không còn đòi hỏi chúng ta phải trải nghiệm thế giới và bản thân chúng ta theo từng phần Thể xác, trí tuệ và tinh thần có thể được hòa nhập v{ được hiểu như một tổng thể toàn diện
TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁI TỔNG THỂ
Khi là một cô nhóc, đôi lúc tôi đ~ chạy như bay về nh{ để b|o cho gia đình tôi những mẩu tin tức thú vị Khi tôi kể xong câu chuyện, cha tôi thường đặt những câu hỏi mang tính trí tuệ và phê phán Nếu những câu trả lời của tôi không làm ông hài lòng, ông sẽ nhắc tôi lần
Trang 11sau phải “tìm hiểu toàn bộ câu chuyện” Sự ý thức về cái tổng thể rất quan trọng đối với tất
cả chúng ta Khi chúng ta chưa ho{n th{nh nhiệm vụ, chúng ta có xu hướng cảm thấy không được thư th|i v{ dễ cáu giận Sau khi hoàn tất công việc, chúng ta cảm thấy dễ chịu - thậm chí còn thấy như được tiếp thêm năng lượng Một số nhà lý luận cho rằng, khi chúng ta đạt được mục tiêu mong muốn, thực ra năng lượng tiềm ẩn đ~ xuất hiện
Việc sử dụng cả hai bán cầu não cung cấp cho chúng ta thêm nguồn vui để làm việc v{ cũng làm cho chúng ta cảm thấy khỏe hơn, giống như ta sử dụng cả hai tay để mang một vật nặng thay vì mang bằng một tay
Từ l}u, con người đ~ nhìn lên bầu trời bao la với lòng tôn kính và nể sợ Cái ý thức thắc mắc v{ tò mò xem chúng ta l{ ai v{ vũ trụ xung quanh chúng ta như thế n{o đ~ thôi thúc nhiều nhà khoa học, nhà triết học cùng nghiên cứu v{ đạt tới những tầm hiểu biết mới Còn đ}y lại
là việc những đứa trẻ làm một cách tự nhiên, nếu sự phát triển của nó không bị cản trở Khi chúng ta chấm dứt quá trình học hỏi, tìm hiểu và phát triển thì một c|i gì đó bên trong con người chúng ta đ~ chết Trong cuốn s|ch n{y, chúng tôi hướng tới sự tăng hiểu biết về cái tổng thể Mỗi sự cộng t|c đ~ giải quyết một phần quan trọng vấn đề khó khăn v{ những ý tưởng rộng mở sẽ được đưa ra ở mỗi chương
CỬA SỔ CỦA NHẬN THỨC, TẤM GƯƠNG CỦA TÂM HỒN
Mặc dù từ “trí tuệ” l{ một danh từ, nhưng đ|ng lẽ nó nên là một động từ vì nó bao giờ cũng năng động, tìm tòi để phát triển, hiểu biết và bằng c|ch n{o đó chạm được đến phần sâu thẳm và bất diệt Khoa học hiện đại đ~ đưa ra nhiều công cụ lý thú để tìm hiểu về trí tuệ vì khuynh hướng phát triển bẩm sinh đ~ kích thích v{ thôi thúc chúng ta phát triển - nổi trội lên Sóng não với các tần số kh|c nhau, c|c trường năng lượng thống nhất, c|c bước đột phá
và sự giao tiếp bốn, năm chiều là những ví dụ cho c|c lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong thế kỷ XXI Các cách thức tuyến tính trên quy mô lớn khi xem xét và trải nghiệm thế giới của chúng ta sẽ bị xáo trộn, thách thức v{ được cải tiến mạnh mẽ vì chúng ta hiểu hơn về những điều nhỏ nhặt nhất và ở các mức độ lớn nhất Chúng ta đ~ tiếp cận được các thuyết nói về những gì diễn ra ở cấp hạ nguyên tử, trái với những gì đa số chúng ta đ~ được học trong lĩnh vực khoa học nhiều năm qua Bạn cũng như tôi có thể được dạy rằng vật chất chia nhỏ
Trang 12thành các phân tử, các phân tử lại chia nhỏ thành các nguyên tử riêng lẻ Các nguyên tử trung bình có hạt nhân với một proton v{ neutron, v{ c|ch xa trung t}m l{ c|c đoạn chu kỳ năng lượng gọi là các electron Mặc dù vào thời điểm đó người ta chưa thể thấy được những đốm sáng mạnh này ngay cả khi nhìn bằng kính hiển vi tiên tiến nhất, chúng ta vẫn có thể dám chắc rằng electron thực sự tồn tại - bởi vì chúng ta có điện, phải không nào? Và, theo như b{i học thời đó, chúng ta có thể đo|n được vị trí tương đối của các electron này ở các khoảng cách cố định dựa trên loại nguyên tố chúng ta quan sát
Khoảng không gian rộng lớn chiếm trên 99% diện tích mỗi nguyên tử hầu như không có ý nghĩa gì Tuy nhiên, một số nhà khoa học hiện đại lại tin rằng khoảng không gian đó, khoảng không mà trong thế giới phương T}y chúng ta coi l{ một mớ vô dụng, lại rất có ý nghĩa Nó chính l{ năng lượng, sự hiểu biết và trên thực tế nó có thể là bản chất của ý thức Quan niệm mới mẻ này không phải l{ c|ch tôi đ~ được dạy để suy nghĩ về mọi vật
Chúng ta biết rằng năng lượng và vật chất liên tục biến đổi, cái này thành cái kia; và rằng năng lượng có nhiều dạng cũng như tần số Ngoài ra, vật lý lượng tử (chính x|c hơn l{ “cơ học lượng tử”) cho chúng ta thấy rằng ở cấp hạ nguyên tử, sự thay đổi diễn ra rất đột ngột Các hạt và các sóng có thể trở nên rất lộn xộn Khó có thể đo|n được chúng sẽ làm gì Chỉ bằng cách quan sát những thực thể nhỏ bé này chúng ta mới có thể thay đổi - hay thậm chí
là tạo ra chúng
Những người cộng tác trong cuốn s|ch n{y đều đ~ diễn thuyết tại Viện Smithsonian trong một loạt các bài về Trí não và Ý thức Trong số đó có cả chuyên gia về tâm thần học tại Đại học Stanford là David Spiegel Sự đóng góp của ông trong chương “Khả năng của thuật thôi miên” xuất phát từ loạt bài thuyết trình đó Sau khi xem xét qu| trình ph|t triển sự hiểu biết
về trí óc, Frank Putnam - một chuyên gia về tâm thần học thuộc Viện Y học Quốc gia và tôi đ~ ph|t hiện ra “C|c trạng thái của ý thức từ lúc mới sinh đến khi lên cõi niết b{n” Ph|t hiện n{y đ~ lý giải cách thức đứa trẻ phát triển ý thức về bản thân, lý giải được các nghiên cứu về đa nhân cách có thể cho chúng ta biết về các trạng thái thần kinh bình thường và nghiên cứu s}u hơn c|c vấn đề kh|c nhau như: trí nhớ, giới tính, thể thao, c|c t|c động của thuốc lên các trạng thái ý thức của chúng ta và cách thức tivi và máy tính ảnh hưởng đến trí tuệ chúng ta Chúng tôi chỉ ra cách mọi người trải qua những trạng thái ý thức khác nhau
Trang 13trong một ngày và cách chúng ta có thể tạo ra và sử dụng tốt hơn những trạng th|i n{y để trở nên khỏe mạnh Tiếp theo, Jayne Gackenbach chuyên gia về giấc mơ v{ giấc ngủ sẽ giới thiệu với chúng ta các mức độ trạng thái ý thức khác nhau khi ngủ, từ trạng thái ngủ mơ m{ đầu óc tỉnh táo, khi mà chúng ta có thể điều khiển giấc mơ của mình, đến các mức độ nhận thức sâu và giấc ngủ say hơn Deepak Chopra cố gắng giải thích chiều sâu của ý thức khi ông
áp dụng cả khoa học hiện đại và thần thoại Vedic cổ xưa (Thần thoại Vedic là bài tập Yoga cho Cơ thể - Trí tuệ - Tâm hồn do Mony Singh sáng tạo, thiết kế và viết ra) Và bởi vì phần sâu trong tâm hồn được coi là nguồn chữa bệnh nên một trong những người khởi xướng ra Phòng y học thay thế tại Viện y học Quốc gia, Tiến sỹ John Spencer v{ tôi đ~ kh|m ph| ra mối liên hệ giữa trí tuệ v{ cơ thể - ý thức và y học Thuật thôi miên, một cách tiếp cận các cấp độ sâu của ý thức, được nghiên cứu ở chương sau Tiếp sau đó, nh{ khoa học nổi tiếng Karl Pribram kết hợp những phát hiện mới nhất về khoa học thần kinh với sự khát khao mang ý nghĩa con người trong chương “Thực tế kinh nghiệm nhận thức” Sau cùng, chúng tôi kết luận bằng một sự tổng hợp mới hướng tới sự hiểu biết và sử dụng trí tuệ trong bình minh của thế kỷ XXI
Thông qua cuốn sách này, chúng tôi phát hiện ra được năng lực của ý thức sâu kín và cách thức khai thác nguồn năng lượng khổng lồ, tình yêu thương v{ sự thông thái Ý thức sâu kín được mọi người biết đến là phần trí tuệ sâu nhất
Nó được gọi với nhiều tên: quan sát viên giấu mặt, nh{ tư tưởng phía sau những suy nghĩ, trí tuệ điều h{nh, người chỉ huy, chứng nhân, khoảng không gian giữa những suy nghĩ, “đèn sáng, không ai ở nh{”, sự trống rỗng, siêu đơn tử, trí tuệ cao cấp hơn, ý thức, cái tôi, sự thông thái bên trong và thậm chí là tâm hồn
SỰ HÀI HÒA GIỮA KHOA HỌC VÀ TINH THẦN
Có những thời điểm ho{n to{n khó khăn v{ th|ch thức Khi chúng ta cảm thấy bị lấn át bởi nghiên cứu mới nhất, quan trọng là phải nhớ rằng các nhà khoa học và các nhà toán học xuất sắc nhất trên thế giới cũng cảm thấy như thế Tôi đ~ có vinh dự được tham gia một số hội nghị quốc tế do Karl Pribram tài trợ trong khoảng thời gian năm 1991 đến năm 1996 Tại đ}y, c|c nh{ khoa học h{ng đầu đến từ khắp nơi trên thế giới tề tựu lại để thảo luận, để
Trang 14suy nghĩ v{ chia sẻ những kiến thức về trí tuệ Hội nghị này có sự tham gia của một số tên tuổi như: Ilya Prigogine người đoạt giải Nobel hóa học, nhà vật lý Basil Hiley người đ~ nhiều năm cộng tác nghiên cứu với nhà vật lý đ~ mất David Bohm, nhà vật lý toán học Roger Penrose, triết gia khoa học John Searle và Mortimer Mishkin các chuyên gia nghiên cứu ký
ức tại Viện y học thần kinh Quốc gia Trong một bài thuyết trình về hệ thống thần kinh và logic mù mờ, tôi phải căng óc lên mới có thể hiểu được; hệ thống thần kinh của tôi lúc đó cảm thấy vô cùng mù mờ và thiếu logic Khi đó tôi nhìn sang phía ng{i Roger Penrose ngồi ở bàn bên và thấy ông cũng đang rất căng thẳng, trông chẳng khác gì một học sinh lớp một, ngồi trên mép ghế và một tay vò đầu bứt tai trong khi tay kia ghi chép như điên Tôi đ~ thấy Karl Pribram đôi lúc cũng lúng túng, mặc dù ông l{ người đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về trí tuệ từ nửa thế kỷ nay Cho nên, khi đọc cuốn sách này, bạn đừng cho rằng
có một ai đó thực sự hiểu hết mọi thứ Tất cả chúng ta đều căng óc ra v{ cố trả lời các câu hỏi muôn thuở đang được đưa ra để tranh luận trong các hội nghị khoa học Đó l{ c|c c}u hỏi như: Ta l{ ai? Tại sao ta lại có mặt ở đ}y? Liệu Chúa Trời có tồn tại ? Điều gì xảy ra với những ngôi sao ta thấy h{ng đêm? Liệu có sự sống ở hành tinh khác không? Liệu có một bộ phận n{o đó của chúng ta sẽ vẫn tiếp tục sinh tồn khi cơ thể vật chất của chúng ta đ~ chết? Trí tuệ sẽ vươn xa đến đ}u? Trí tuệ thực sự có thể làm những gì?
Khi x|c định tính lạc quan khoa học và khả năng của thời đại chúng ta, Karl Pribram đ~ nhắc nhở chúng ta rằng:
Đó l{ qu| trình tạo ra cuộc cách mạng trong tư tưởng phương T}y Khoa học và tôn giáo rõ r{ng đ~ trở nên mâu thuẫn từ thời của Galileo Mỗi phát minh khoa học mới và mỗi học thuyết phát triển từ đó cho đến tận bây giờ vẫn gây ra bất đồng ngày càng lớn giữa khoa học khách quan và các khía cạnh tâm linh chủ quan của bản chất con người Sự mâu thuẫn lên đến cực điểm vào cuối thế kỷ XIX: nhân loại buộc phải chọn lựa giữa Chúa Trời và Darwin; Freud đ~ chỉ ra rằng thiên đường v{ địa ngục trú ngụ bên trong chúng ta chứ không phải trong mối quan hệ của chúng ta với vũ trụ tự nhiên Những khám phá của khoa học thế kỷ XX… không phù hợp với khuôn mẫu này Những phát hiện khoa học mới đ}y v{ những kinh nghiệm t}m linh đ~ từng có lúc hòa hợp với nhau Đ}y l{ điềm tốt cho kỷ
Trang 15nguyên mới - khoa học có sự liên hệ với bản chất tâm linh của nhân loại sẽ có thể bỏ xa khoa học công nghệ của quá khứ trong việc đóng góp v{o sự phồn vinh của nhân loại
Trang 16CHƯƠNG 1: Trí não và Ý thức
TS KAREN SHANOR
“Việc quan t}m đến trí não không cần lý do trừ phi nó xuất phát từ sự tò mò muốn tìm hiểu tại sao chúng ta lại ở đ}y, chúng ta l{m gì ở nơi n{y v{ chúng ta sẽ đi đến đ}u.”
Nhà thần kinh học PAUL MACLEAN
KHỞI ĐẦU VỚI TRÍ NÃO
Trí n~o con người, thường được coi là ranh giới cuối cùng, sẽ có ảnh hưởng lớn tới công cuộc nghiên cứu khoa học trong thế kỷ XXI Khi chúng ta nghiên cứu s}u hơn về hoạt động của nó, chúng ta sẽ tạo được cầu nối liên kết giữa tinh thần và vật chất; các nhà nghiên cứu
về trí n~o cũng đ~ có manh mối để tạo sự liên kết giữa vật chất và tinh thần Các nghiên cứu đang được tiến hành về cách thức suy nghĩ của chúng ta ảnh hưởng tới thế giới xung quanh hay tới một nơi xa xôi n{o đó sẽ có thể khẳng định rằng suy nghĩ của chúng ta không chỉ thể hiện mà còn tạo ra được thực tế vật chất
Tuy trí não của một người trưởng thành chỉ nặng khoảng 3 - 4 pound (1 pound ≈ 0,454 kg) nhưng nó chứa trong đó h{ng trăm tỉ nơ ron, nếu trải dài ra thì chúng có thể kéo dài từ New York sang tận Boston
Chúng được sắp xếp một cách cực kỳ phức tạp đến nỗi mà một nh{ tiên phong trong lĩnh vực khoa học thần kinh hiện đại, Santiago Ramon y Cajal, đ~ cung kính ví những mạng lưới thần kinh sống động n{y l{ “những đôi c|nh đang vỗ của những con bướm bí ẩn trong tâm hồn”
Cho đến gần đ}y người ta vẫn nghĩ rằng toàn bộ tế bào não của chúng ta đều đ~ xuất hiện ngay từ khi chúng ta sinh ra Nhưng hiện nay, các nhà khoa học biết được rằng nếu chúng ta
Trang 17tiếp tục học hỏi và vận dụng tối đa trí n~o của chúng ta thì chúng ta sẽ có thể l{m tăng thêm c|c nơ ron của mình
Chúng ta càng hiểu rõ về trí não - phần vật chất của trí tuệ - bao nhiêu thì trí não sẽ càng có khả năng hoạt động như một nơi truyền đi v{ tiếp nhận tự nhiên, đọc và mã hóa thông tin giữa cơ thể chúng ta với thế giới bên ngoài
BỐ TRÍ GIAI ĐOẠN: VIỄN CẢNH LƯỢNG TỬ VÀ CỔ ĐIỂN
Trên phương diện lịch sử, các quan niệm về trí não và ý thức tương tự như c|c quan niệm của chúng ta về vũ trụ và bản th}n chúng ta Đặc biệt trong thế giới phương T}y, v{o thời của Decardes và Galileo thế kỷ thứ XVII, những quan niệm n{y đ~ thay đổi, chuyển từ những sự giải thích bí ẩn và mang tính tôn giáo truyền thống thành vấn đề trọng t}m đặc biệt quan trọng Decardes v{ Galileo đ~ vạch ra sự khác biệt rõ ràng giữa thế giới hữu hình
mà các nhà khoa học thời đó có thể nhìn thấy và mô tả được so với những lĩnh vực tâm linh, tinh thần khó nắm bắt hơn Qua nhiều năm, phạm vi giải thích khoa học đ~ tập trung vào những gì m{ năm gi|c quan có thể thực sự nhìn thấy và nắm bắt được Những gì nằm ngoài phạm vi trên bị loại bỏ, được coi là thiếu tính khoa học v{ do đó, hiểu theo nghĩa rộng, là
“không thực” Bản th}n vũ trụ và cuộc sống được nghiên cứu một cách tỉ mỉ thông qua luật vật thể hữu hình và luật nhân quả của Newton, như t|c động của quả bóng bi-a lên một quả khác (Vật lý cổ điển, như chúng ta gọi ng{y nay, được xây dựng trên những phát hiện và suy luận xuất sắc của Issac Newton) Nhưng vật lý Newton, mặc dù rất hữu ích trong nhiều loại hình nghiên cứu khoa học, cũng chỉ là một phần của câu chuyện Ngay cả bản thân Newton cũng đ~ gi|n tiếp đề cập đến vấn đề này vào cuối đời Ông viết:
Tôi không biết với thế giới tôi l{ ai; nhưng với riêng bản th}n tôi, dường như tôi chỉ là một cậu bé rong chơi trên b~i biển và thỉnh thoảng tự tiêu khiển bằng cách tìm kiếm c|c hòn đ| cuội nhẵn mịn hoặc các vỏ sò tuyệt đẹp, trong khi một đại dương sự thật bao la vẫn còn đó, tôi vẫn chưa kh|m ph| được.2
Trong vòng 300 năm qua, nhờ vật lý người ta đ~ hiểu hơn về c|i “đại dương sự thật” thông qua đó c|c học thuyết và các nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý lượng tử và nguyên tử với rất nhiều hoạt động v{ “c|c luật” kh|c nhau so với học thuyết cổ điển (của Newton) “Bước
Trang 18nhảy vọt” đ~ trở thành một thuật ngữ phổ biến và thực tế l{ đ~ minh chứng cho những gì
mà khoa học tìm ra, đó l{ phần lớn những thay đổi trong tự nhiên không diễn ra một cách trơn tru, liên tục mà rất đột ngột
Hầu hết những phương ph|p khoa học phương T}y hiện nay vẫn dựa trên vật lý cổ điển, chỉ nghiên cứu những gì trong lĩnh vực vật chất mà chúng ta nắm bắt, đo lường, kiểm so|t được bằng năm gi|c quan Đ}y l{ một phương ph|p thực nghiệm, có thể thực hiện được và đều nhờ cách tiếp cận n{y m{ chúng ta có được những phát hiện quan trọng Tuy nhiên, nếu chúng ta giới hạn việc nghiên cứu chỉ với một phương ph|p (ví dụ như chúng ta có xu hướng l{m như vậy trong lĩnh vực sinh học) thì phải chăng chúng ta đang tự hạn chế sự hiểu biết của chúng ta về vũ trụ ngày càng phức tạp và rối rắm? Rất nhiều lần tôi nhớ tới phép loại suy m{ tôi đ~ đọc được trong cuốn sách giáo khoa phổ thông khi còn niên thiếu Cuốn sách so sánh những gì con người chúng ta hiểu về vũ trụ với kinh nghiệm của một con kiến bé nhỏ bò trên bàn, gặp một ngón tay người v{ đầu thì cúi xuống nên chỉ nhìn thấy một phần nhỏ của móng tay v{ ngón tay nên đ~ coi đó l{ to{n bộ thực tế nhận thức Việc giới hạn bản thân chúng ta chỉ trong những lời giải thích của Newton về vũ trụ và về trí tuệ dường như đều rất thiển cận
Hơn nữa, phần lớn các nghiên cứu tập trung ở mức độ phân tử và tế b{o được nói đến như l{ phương ph|p giản hóa kiểm tra các bộ phận đặc biệt bằng cách tách nó ra khỏi kiến thức của hệ thống chung Nghiên cứu các phần trong một hệ thống là rất cần thiết và quan trọng, nhưng nếu chúng ta rút ra kết luận về toàn bộ hệ thống bằng cách rút xuống chỉ còn nghiên cứu một số phần trong tổng thể, thì dường như l{ chúng ta đ~ để mất đi một c|i gì đó Ví dụ như trong một nghiên cứu tỉ mỉ về bụi mặt trăng chỉ thu được một phần các thông tin cần thiết để hiểu về trọng lực hay cơ chế hoạt động của hệ mặt trời V{ thông thường thì một hệ thống tổng thể tiếp nhận những thuộc tính nhưng không rõ rệt ở mỗi phần - cái tổng thể không chỉ là sự kết hợp của các phần với nhau Ví dụ như một phân tử nước (H2O), hai nguyên tử hydro kết hợp với 1 nguyên tử oxy tạo thành 1 phân tử nước Còn nếu tách ra, những nguyên tử hydro và oxy riêng biệt này không ẩm ướt một chút nào
Cho đến bây giờ, một số nhà khoa học vẫn kiên quyết định nghĩa thế giới tổng thể bằng cách
đo lường các thành phần hữu hình v{ định nghĩa một trí tuệ tổng thể bằng cách nghiên cứu
Trang 19một phần của nó Nhà sinh vật học Francis Crick đ~ l{m như vậy khi ông khẳng định rằng chức năng tự nhiên của bản th}n nơ-ron thần kinh l{ cơ sở duy nhất của nhận thức và thậm chí của cả tâm hồn con người Crick đ~ không tính đến quan niệm về Chúa Trời hay phần hồn của con người khi ông nghiên cứu chức năng của trí n~o Ông cũng không đề cập đến những kiến thức khoa học về sự tương t|c giữa những hạ nguyên tử
Theo ông, cảm nhận của một số người về sự hoang đường của thiên nhiên không ngoài cảm giác sinh ra do chức năng tự nhiên của c|c nơ-ron đ~ đ|nh lừa chúng ta, khiến chúng ta nghĩ rằng có điều gì đó vượt ra ngo{i cơ thể vật chất của chúng ta Phương ph|p duy vật rõ ràng được tổng hợp lại trong câu nói của ông:
“Bản thân bạn, niềm vui và nỗi buồn của bạn ký ức và tham vọng của bạn, ý thức về đặc điểm cá nhân và ý muốn tự do, thực ra không gì khác là hành vi tập hợp đông đảo các tế bào thần kinh… Như Lewis Carroll’s Alice đ~ nhấn mạnh: “Bạn chẳng là gì cả, chỉ là một tập hợp c|c nơ ron m{ thôi.”3
Trong cuốn sách The Astonishing Hypothesis (Giả thuyết đ|ng kinh ngạc) để phát triển thêm cho khẳng định nêu trên, xuất bản năm 1994 của ông, Crick nói rằng có rất ít lý do để xem xét dù là vật lý lượng tử trong công trình nghiên cứu về não bộ, vì theo ông phần lớn những thông tin mà chúng ta cần đều đ~ được vật lý Newton cổ điển giải thích
Ngược lại, nhiều nhà khoa học lại tin rằng chúng ta phải vượt ra ngoài giới hạn của 5 giác quan tới mức độ lượng tử mới có thể hiểu được trí não và ý thức Các nhóm tham gia hội thảo khoa học (bao gồm những người đ~ nhóm họp lại tại Viện y học Quốc gia) tiếp tục nghiên cứu c|c phương ph|p ph|t triển vượt trội hơn khuôn khổ phương ph|p Newton cổ điển Hàng loạt các nghiên cứu liên ng{nh đ~ khẳng định rằng ngoài các quá trình phân tử
và tế bào vật chất Newton diễn ra trong não bộ và trong cả cơ thể, còn có các sóng dao động, rung động và hoạt động hạ nguyên tử mà chỉ có thể giải thích được bằng vật lý lượng tử Chúng ta có thể thấy các ví dụ tương tự xảy ra trong võng mạc mắt, trong cơ chế nghe và trong một số chức năng của bản thân não bộ C|c chương sau sẽ giải thích nhiều hơn về các hiện tượng này
Trang 20Qu| trình trao đổi hóa học v{ tích điện liên đới cổ điển trong phạm vi các khoảng không gian (khớp thần kinh) giữa c|c nơ-ron có thể được so sánh với các mạch điện - truyền tải thông tin trong phạm vi khu vực được kiểm soát Chúng ta có thể so s|nh sơ đồ mạch điện này với sơ đồ mạch điện của một máy thu thanh mà chúng ta cắm vào một ổ điện trên tường Một m|y thu thanh cũng có thể tiếp sóng và tần số c|c chương trình kh|c nhau từ không trung Mỗi nơ-ron làm nhiệm vụ tương tự - giống như phần vật chất của máy thu thanh tiếp nhận tần số vô tuyến; quá trình này diễn ra ở mức độ lượng tử tổng thể (vì thế không bị hạn chế ở một mạch điện hay một dây thần kinh tự nhiên) Trong một nghiên cứu g}y xôn xao dư luận tại Trung tâm nghiên cứu khoa học Quốc gia ở Paris năm 1999, Francisco Varela đ~ chỉ ra rằng thời khắc mà chúng ta nhận thức mạnh mẽ về khái niệm trí não tổng thể, thì đ}y có thể là một khả năng lượng tử (Điều này khiến tôi liên tưởng đến hình ảnh “bóng đèn” bật sáng trên đầu các nhân vật hoạt hình để thể hiện khi chúng nảy ra một sáng kiến)
Như Tiến sỹ Priham sẽ trình bày chi tiết hơn trong chương VII, Priham tin rằng vị trí các nơ-ron tiếp nhận và xử lý thông tin lượng tử tổng thể này là một khu vực giống như một mạng lưới hình cây nằm gần khớp thần kinh - khoảng trống giữa hai nơ-ron Tương tự như một mạng nhện mỏng manh trước làn gió nhẹ nhất, mạng hình cây cho thấy nó thích hợp với những rung động hạ nguyên tử và những thay đổi trong năng lượng tinh tế nhất Một c|ch để hiểu được sự khác nhau giữa các mạch thần kinh và mạng lưới mà bắt được rung động mức lượng tử đó l{ những gì diễn ra trong quá trình chúng ta nói chuyện điện thoại Những rung động do giọng nói (lượng tử trong tự nhiên) được truyền v{o dòng điện, rồi từ dòng điện di chuyển trong đường dây kiểu tuyến tính giống như l{ sự liên lạc từ nơ-ron tới nơ-ron
Roger Penrose và Stuart Hameroff chỉ ra vị trí tương tự cho sự tương t|c giữa mức lượng tử
và cổ điển của hoạt động giữa các tế bào trong phạm vi các ống siêu nhỏ, các cấu trúc hình ống nhỏ bé trong c|c nơ-ron tại khu vực hình cây Những ống nhỏ được c|ch ly n{y dường như hướng dẫn cho những gì diễn ra bên trong tế b{o Người ta cho rằng chúng có những đặc tính giống thạch anh - tương tự như quan niệm về một máy thu thanh
Trang 21Phương ph|p Newton v{ phương ph|p lượng tử bổ sung và ảnh hưởng lẫn nhau Thông tin lượng tử - thông tin hình th{nh cơ sở của nhận thức, chuyển thành các tính chất vật lý ở cấp
độ phân tử hoặc lớn hơn v{ cũng xảy ra qu| trình ngược lại: Thông tin được truyền từ môi trường và hỗn hợp lượng tử trong vũ trụ, được biến đổi v{ được mã hóa bằng một cách nào
đó trong n~o bộ và trong toàn bộ cơ thể của chúng ta, sau đó được sử dụng v{ lưu trữ Ngược lại, những suy nghĩ v{ cảm xúc của chúng ta lại được mã hóa thành thông tin hạ nguyên tử Thông tin này sẽ được truyền đi trong môi trường, giống như sóng vô tuyến, cả trong khu vực và tới cả những vị trí xa tuỳ thuộc vào tần số và khả năng của máy phát Các nhà khoa học mới chỉ bắt đầu hiểu được cách thức diễn ra của hiện tượng này thông qua việc nghiên cứu những sự thay đổi kh|c nhau, c|c lĩnh vực quang phổ và các pha sóng - sử dụng công nghệ cắt cạnh để khám phá ra các lý thuyết và các vấn đề lâu nay vẫn đề cập đến
về trí não
CÁC MÔ HÌNH LỊCH SỬ VỀ TRÍ TUỆ
Có thể nói rằng Rene Decartes đ~ s|ng tạo ra khái niệm về trí tuệ ngay từ đầu thế kỷ XVII Trước đó, c|c triết gia đ~ nói đến trí tuệ thay cho tâm hồn (phần có thể hoạt động hợp nhất với cơ thể, đặc biệt hệ thần kinh tự trị), hay thay cho nguyên nhân (của sự tồn tại cái chết tự nhiên của con người ở một số học thuyết), trí óc, tinh thần và các khái niệm khác, với mong muốn cố gắng giải thích về thế giới và vai trò của chúng ta trong thế giới đó Chẳng hạn như người Hy Lạp cổ đại đ~ chia thế giới thành các vật thể sống và các vật vô tri Mỗi thực thể sống, theo cách chúng nhìn nhận thế giới, đều có linh hồn Nhưng chính Descartes lại vật chất hóa, gọi tên và coi trí tuệ như ý thức và sự nhận thức của chúng ta Câu nói nổi tiếng của ông “Cogito, ergo sum” (Tôi nghĩ l{: Tôi có nhận thức), chính vì thế tôi có thể được coi như một sự lý giải cho quá trình tự nhận thức, sự tách biệt cá nhân và sự đặc biệt của con người.4
Descartes cũng tin rằng trí tuệ là siêu hữu hình, nằm ngo{i cơ thể của chúng ta Trí não vật chất chắc chắn không phải là phần suy nghĩ trong chúng ta, vì l{m sao m{ một thứ tinh tế như những suy nghĩ v{ nhận thức của chúng ta lại có thể bị tập trung vào các mô và các khe nứt bao bọc thô sơ trong hộp sọ được Trên thực tế, ông coi trí não vật chất như một loại
Trang 22thiết bị tản nhiệt, có thể làm mát dịu dòng m|u đ~ bị nóng lên tại các bộ phận khác của cơ thể
Descartes tin rằng có sự khác biệt rõ rệt giữa trí n~o v{ cơ thể Quan niệm về sự khác biệt của ông còn tiếp tục cho đến ngày nay khi mà, ví dụ như chúng ta coi sức khỏe tâm thần tách biệt với sức khỏe thể chất Theo Descartes, trí não liên hệ với các bộ phận khác của cơ thể thông qua các tuyến tuyến tính nằm trong não bộ v{ trong văn hóa phương Đông được gọi l{ “con mắt thứ ba” Descartes tin rằng tuyến này giống như một trái bóng tròn có các lỗ trên đó v{ bằng cách này hay cách khác nối kết trí não với cơ thể vật chất, cơ học.5 Mãi cho đến khi các nhà khoa học có thể “mổ xẻ” cơ thể thì người ta mới biết được rằng trí não có mối liên hệ trực tiếp hơn với suy nghĩ
CÁC BÀI HỌC VỀ GIẢI PHẪU NÃO BỘ Ở THẾ KỶ XVIII
Ở phương T}y, sự nối kết n{y được khởi xướng với công trình nghiên cứu của nhà vật lý người Đức, Franz Joseph Gall Vào cuối thế kỷ XVIII, ông đ~ nghiên cứu chi tiết về chức năng não bộ con người Gall phát hiện ra rằng chất xám là thành phần hoạt động cần thiết trong não bộ và phần mà ông gọi là chất trắng cung cấp phần lớn mô liên kết Ông cũng nhận định một cách chính xác mỗi khu vực khác nhau của não bộ chịu trách nhiệm riêng biệt Tuy vậy, mọi người đ~ hiểu nhầm học thuyết của Gall cho rằng một số hình dạng của sọ có tương quan với các nét tính cách và kết quả là sự ra đời của bộ môn n~o tướng học, một sự thích thú kỳ cục gây nhiều tranh cãi về những chỗ gồ ghề trên hộp sọ Giống như trò chơi ưa thích trong nhà của ho{ng đế và giới quý tộc Đức, bộ môn n~o tướng học đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự quan tâm và tài trợ để nghiên cứu về não bộ Cho dù danh tiếng của một nhà khoa học xuất sắc như Gall đ~ bị lu mờ do ông bị liên tưởng với bộ môn não tướng học nhưng kết quả của các công trình nghiên cứu của ông về trí n~o đ~ khích lệ quá trình phục hưng c|c nghiên cứu và các học thuyết xung quanh não bộ và trí tuệ
Nhiều năm qua, những học thuyết n{y đ~ ph|t triển theo dòng c|c quan điểm văn hóa liên tục thay đổi về sự thực Thí dụ, c|c sơ đồ v{ tư tưởng trước đ}y về quá trình làm việc của não bộ thực chất đ~ cho thấy c|c b|nh răng trong đầu của chúng ta Những quan niệm hóa mang tính cơ học về não bộ, xuất phát từ việc Descartes định rõ các hoạt động của cơ thể,
Trang 23đ~ th{nh hình v{ phản ánh niềm say mê lớn lao của chúng ta đối với m|y móc, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp
ĐIỆN VÀ NÃO BỘ
Khi người ta tìm ra điện, não bộ - trí tuệ bắt đầu được nhận biết như một hiện tượng điện Chúng ta biết được rằng những xung lực thần kinh chạy dọc theo các dây thần kinh, vượt qua các khe, hay còn gọi là các khớp thần kinh giữa các dây giống như hoạt động của sóng điện Sự tích điện này kết hợp với những thay đổi hóa học trong tế bào thần kinh và xung quanh các dây và diễn ra qu| trình đảo cực xảy ra Sau này, chúng ta tìm hiểu được rằng những thay đổi, trong quá trình phân cực v{ trong dòng điện chúng sinh ra này có thể đo được bằng c|c điện cực được đặt trên da đầu Sau đó một máy ghi điện n~o đồ (EEG) sẽ ghi lại trên một mảnh giấy các sóng não hoặc các biến đổi điện thế của xung lực thần kinh trong não bộ Thường thì máy EEG sẽ ghi nhận tất cả các mẫu sóng n~o kh|c thường nào có liên kết với c|c điều kiện như chứng động kinh, khối u não, hay chứng đột quỵ, hoặc chứng chết n~o (thường ám chỉ “sóng n~o” - trái lại với những tần số v{ dao động có liên quan tới các hoạt động thần kinh khác hay còn gọi l{ “sóng nhận thức” - thường suy luận quá trình và tần số điện này) Tuy vậy, sự phức tạp của não bộ và việc máy EEG không có khả năng ph|t hiện ra hướng của các xung lực thần kinh vẫn còn khiến chúng ta chưa tìm ra lời giải đ|p cho rất nhiều câu hỏi quan trọng
ĐIỆN SINH HỌC VÀ LỰC ĐIỆN TỪ
Cũng v{o thời gian Gall đang tập trung nghiên cứu về giải phẫu não bộ tại Đức thì một người Italia tên là Luigi Galvani (1737-1798) đ~ ph|t hiện lực điện sinh học, hiện tượng hoạt động điện ở thực vật v{ động vật Các học thuyết liên quan đến điện đ~ được đề xuất tại chuyên khoa trị liệu thực hiện nhưng nhiều học giả (chủ yếu là các nhà vật lý) nhìn nhận chúng với th|i độ ngờ vực v{ đôi khi còn phản đối kịch liệt vì cho rằng chúng chỉ là trò lừa bịp Galvani, một nhà vật lý thực nghiệm đầy kinh nghiệm đồng thời là một gi|o sư giải phẫu tại trường Đại học Bologna, đ~ nhận dạng được sự kết cấu điện của c|c cơ v{ d}y thần kinh, mà ông gọi l{ “điện động vật” Trong gi|o trình Sinh học I, hầu hết chúng ta đều thực
Trang 24hiện lại một số thí nghiệm của Galvani khi chúng ta mổ xẻ các con ếch và quan sát chân chúng giật lại do xung điện chạy qua thân chúng
Các phát hiện của Galvani đ~ mở ra một trong những cuộc tranh cãi lý thú trong lịch sử khoa học Đối thủ chính của ông là nhà vật lý người Italia Alessandro Volta (1745-1827), người sáng chế ra pin volta - loại pin điện đầu tiên, và thuật ngữ vol được lấy từ tên ông Volta nêu ra một diễn giải khác cho những phát hiện của Galvani Ông cho rằng điện không
có sẵn trong cơ thể sống, mà là kết quả của sự tiếp xúc giữa hai kim loại khác nhau Thật không may là công trình nghiên cứu quan trọng của Galvani đ~ l|i trệch hướng trong gần 40 năm bởi vì đa số các nhà khoa học vào thời đó đ~ đứng về phía Volta
Một phạm vi nghiên cứu và tranh luận khác là bản thân hiện tượng từ tính Học thuyết về trọng lực và lực hấp dẫn thế kỷ XVII của Newton đ~ được nhiều bộ óc vĩ đại vào thời của ông và các thế hệ sau nghiên cứu và thí nghiệm C|i ý tưởng hấp dẫn rằng một c|i gì đó hay một ai đó có thể bị ảnh hưởng bởi công trình khoa học được tiến hành từ xa cũng giống như c|c trò chơi trong nh{ “được thí nghiệm” trong giới quý tộc châu Âu Khái niệm “từ tính động vật” được phổ biến vào thế kỷ XVIII nhờ Franz Mesmer người được biết đến với công trình nghiên cứu tiên phong về sự thôi miên Kiến thức khoa học ng{y c{ng tăng cuối cùng đ~ phục hồi được phần lớn những gì mà Galvani, Mesmer và những người kh|c đ~ đưa ra về thuộc tính nam ch}m điện của các mô sống cũng như trí n~o
Trong nhiều thập kỷ qua, c|c m|y điều hòa nhịp tim đ~ được sử dụng để điều chỉnh dòng điện chạy trong tim Vào những năm 1970, khi những tiến bộ trong công nghệ y học được đưa v{o cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) - giới y học gọi là tạo ảnh cộng hưởng từ - người ta lại hướng sự quan t}m đến sự t|c động qua lại phức tạp trong lĩnh vực điện từ ba chiều liên tục dao động Lĩnh vực này kết hợp hiểu biết của chúng ta về các thành phần điện của não
bộ với mô hình tạo ảnh ba chiều v{ đem lại sự thừa nhận cuối cùng về các ảnh hưởng của các lực từ xung quanh não bộ
Gần đ}y, người ta đ~ đưa ra một ví dụ về những loại lực này khi các nhà nghiên cứu tìm thấy các phần tử duy nhất với chất lượng từ tính trong tuyến yên, đó chính c|i tuyến mà có thể bạn vẫn nhớ Descartes coi nó như l{ sự liên hệ giữa cơ thể v{ trí n~o Cơ quan nhỏ bé
Trang 25nhưng rất quan trọng n{y, cơ quan nối giữa phần thành sau của tâm thất thứ ba hay lỗ hổng của não và nằm ở khu vực trán giữa hai mắt, sản sinh ra hoóc-môn melatonin Hoóc môn này kết hợp theo nhiều cách với một số nhịp sinh học, gồm có c|c dao động cơ thể hàng ngày và những thay đổi theo mùa, cũng như c|c qu| trình l}u d{i như sự xuất hiện hoặc tiến triển của tuổi dậy thì Melatonin còn được biết đến với tác dụng điều chỉnh các quá trình sinh học kh|c nhau có liên quan đến sự điều chỉnh sinh lý võng mạc, giấc ngủ, mạch máu, qu| trình trao đổi chất, lọc gốc tự do và hệ thống miễn dịch
Ngoài việc ghi lại cách thức điện từ trường xung quanh chúng ta ảnh hưởng đến tuyến tùng, các nhà khoa học đang tiếp tục các nghiên cứu phức tạp để tìm ra cách thức chính xác mà tuyến nhỏ bé n{y điều chỉnh não bộ và hệ thần kinh, cách thức nó kiểm soát rất nhiều các chức năng cơ bản của cơ thể, cách thức c|c suy nghĩ của chúng ta can thiệp vào, thậm chí còn điều khiển quá trình này
Các nhà khoa học cũng đang quay lại v{ hướng sự tập trung vào việc tìm hiểu cách thức các suy nghĩ v{ trạng thái của chúng ta thực sự ảnh hưởng đến lực từ trường bên trong và xung quanh chúng ta Ví dụ, v{o th|ng t|m năm 1998, tại Hội nghị khoa học thần kinh và vật lý quốc tế tổ chức tại Helsinki, người ta tuyên bố rằng trong khi dòng điện một chiều từ não người trong quá trình ngủ sâu với chuyển động mắt không nhanh là rất thấp thì từ não những người tập luyện yoga hay những người luyện thiền lại xuất hiện sự tích điện cao Những phát hiện này có thể minh chứng cho tuyên bố từ lâu của những người luyện thiền
và những người tập luyện yoga rằng những sự rèn luyện này thực sự l{m tăng sinh khí cho chúng ta và tiếp thêm năng lượng cho chúng ta
Do các ảnh hưởng của nó lên các kiểu ngủ và các nhịp sinh học xuất hiện khoảng một lần một ngày, việc bổ sung melatonin có tác dụng tăng cường một cách tích cực các kiểu ngủ, và ngăn chặn hoặc chống chọi lại tình trạng mệt mỏi sau chuyến bay dài Nhiều nghiên cứu khoa học đ~ khiến cho melatonin ng{y c{ng được biết đến với giá trị như một phân tử chống ung thư
Th|ng 6 năm 1997 tại Hội nghị toàn thế giới về điện và từ trong sinh học và y học được tổ chức tại Bologna, Italia, rất nhiều người đ~ b{y tỏ sự quan t}m đến việc melatonin tự nhiên
Trang 26trong các hệ thống của chúng ta đang bị giảm mạnh do những ảnh hưởng của bản thân công suất điện, trong đó có tần số của c|c điện từ trường, và ánh sáng nhân tạo can thiệp vào giấc ngủ của chúng ta
Rõ ràng rằng Benjamin Franklin đ~ đúng khi ông tuyên bố rằng “đi ngủ sớm và dậy sớm l{m cho con người khỏe mạnh, gi{u có v{ khôn ngoan” Mặc dù kế hoạch của phần lớn mọi người không cho phép họ đi ngủ vào lúc mặt trời lặn và thức dậy cùng với chim muông, nhưng chúng ta có thể cố gắng tạo ra môi trường ngủ tốt nhất có thể, trong đó giảm thiểu các nguồn sóng điện từ - mà ti vi là một ví dụ - và giữ cho phòng càng tối càng tốt Thú vị là việc luyện thiền được coi là một h{nh động kích thích tuyến tùng và giúp tạo ra được đủ lượng melatonin cần thiết
MÁY TÍNH VÀ TRÍ THÔNG MINH NHÂN TẠO
Việc phát minh ra máy tính vào những năm 1950 đ~ cung cấp cho ta c|c hướng suy nghĩ khác về chức năng khoa học của não bộ Các nhà khoa học đ~ cố gắng liên hệ giữa một số kiểu máy tính với cách thức hoạt động của não Thuyết nhị nguyên phân nhỏ tất cả các hoạt động thành hai thành phần đơn giản, đ~ được sử dụng l{m cơ sở cho rất nhiều máy tính và đưa ra một lý giải n{o đó cho c|c hướng suy nghĩ Tuy nhiên, tính chất nhiều hướng của não
bộ cho thấy nó đ~ vượt quá giới hạn của hệ nhị nguyên
Trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX, người ta đ~ tạo ra các tiến bộ lý thú với máy tính mô phỏng mạng lưới thần kinh trong não bộ, quá trình xử lý tương đương, c|c th{nh phần của
hệ thị giác, một số lượng lớn các hệ hóa học và sinh học Nhờ vào sự bùng nổ công nghệ và thông tin, những người ủng hộ trí thông minh nhân tạo khăng khăng rằng trong một thế kỷ nữa hoặc sớm hơn (một số người cho rằng chắc chỉ 30 - 40 năm nữa), máy tính sẽ có thể l{m được mọi việc m{ trí n~o con người có thể làm Một nhà khoa học về m|y tính đ~ miêu
tả trí não của chúng ta chỉ đơn giản như “m|y tính bằng xương bằng thịt”
Ng{i Roger Penrose đ~ phản đối kịch liệt trong cuốn sách bán chạy nhất của ông, cuốn The Emperoe’s New Mind (Trí tuệ mới của Ho{ng đế), được New York Times mô tả l{ “nằm trong số những cuốn sách khoa học lý thú và sáng tạo nhất được xuất bản trong vòng 40 năm qua”, Penrose đ~ x}y dựng cách thức chống đối mạnh mẽ giả thuyết cho rằng máy tính
Trang 27có thể sao chép lại trí não Một trong những lý lẽ ông đưa ra dựa trên định lý Godel được một nhà toán học người Australia tên l{ Kurt Godel ph|t minh ra v{o năm 1931 Kurt đ~ tranh luận rằng con người phải có c|ch đ|nh gi| một thuật toán hay chỉnh sửa thuật toán
đó nếu có sai sót Một thuật to|n, như nhiều người có thể nhớ lại từ các tiết học toán, là quy luật hay thủ thuật m|y móc được sử dụng để giải quyết các vấn đề Phép chia dài là một ví
dụ đơn giản Nếu người thực hiện một phép chia d{i theo như quy luật m{ hơi có chút sai sót thì người đó vẫn tiếp tục tính toán mà không nhận ra rằng họ đang đi sai hướng Có điều
gì đó vượt ra ngoài quy luật máy móc, một c|i gì đó để điều khiển và giữ cho quá trình đi đúng hướng Penrose cũng lập luận tương tự rằng nếu trí não chỉ là cỗ máy tự bảo vệ và rất khó khăn để làm các phép tính Nói cách khác, trí não là một cái máy tính, thì trí não sẽ không có c|ch gì để vượt qua khỏi giới hạn bản th}n nó v{ đ|nh gi| được sự chính x|c Đưa
ra lý lẽ này theo một c|ch hơi kh|c, người ta trích dẫn câu nói của Penrose như sau: “Định
lý của Godel ám chỉ rằng nếu trí não hay não bộ hoạt động theo những quy luật có sẵn như một cái máy bạn có thể sẽ luôn phải bỏ qua những quy luật n{y v{ như thế là bạn đ~
bị mâu thuẫn”.8
Ngày nay, ngay cả những người m|y được xử lý bằng m|y điện toán thông minh nhất cũng không thể tìm ra cách xếp các hình khối như một đứa trẻ hai tuổi có thể l{m Đ}y chỉ là một nhiệm vụ và có vẻ kh| đơn giản đối với một người trưởng thành có kinh nghiệm, và ngay cả đối với phần lớn những đứa trẻ đ~ qua giai đoạn chập chững biết đi Còn rất nhiều bài học của cuộc sống cần phải học để xếp được những hình khối đó Đa số người m|y đều cố xếp từ trên xuống Nhưng như thế không hiệu quả Cho nên, rõ ràng có một bài học của cuộc sống
đó l{ sự nhận thức về lực hấp dẫn
Nếu chúng ra rất thông minh thì tại sao chúng ta lại không sáng chế ra người máy giúp làm việc nhà nhỉ? Bởi vì việc n{y được coi là công việc không cần đến trí não? Nghiêm túc mà nói, những việc mà máy tính có thể làm vẫn dựa trên cách thức con người hướng dẫn nó và thông tin m{ con người c{i đặt trong nó Liệu một máy tính có thực sự cảm nhận được tình yêu thương? Cảm thụ được một bức tranh đẹp? Có ý chí tự do? Không kể đến sự ưa thích của chúng ta đối với R2D2 (Còn được gọi là R2 hay Artoo, là một nhân vật hư cấu trong loạt phim Star Wars) và những năng lực giống như con người mà nó có, thì một người m|y được
Trang 28xử lý bằng điện toán có thể biết âu yếm như thế nào? Máy tính có thể thực sự nổi bật so với chúng ta tới chừng nào? Trên thực tế, các nhà tâm lý học đ~ chỉ ra rằng những người dành nhiều thời gian trên Internet đang ng{y c{ng trở nên cô đơn v{ phiền muộn Về mặt tình cảm ý tưởng máy tính có thể suy nghĩ như con người đ~ bị bác bỏ kịch liệt v{ người ta cho rằng máy tính không bao giờ có thể có cảm xúc, hay khả năng cảm thụ Chúng cũng không được c{i đặt để giải thích “qualia” (ở đ}y “qualia” được hiểu l{ đặc tính, thuộc tính của các cảm nhận thuộc cảm giác, giác quan) của một c|i gì đó - sự cảm nhận cá nhân về độ đỏ của m{u đỏ, hay sự đau đớn của nỗi đau Subash Kak, một gi|o sư công t|c tại khoa Điện và Kỹ thuật máy tính thuộc Đại học bang Louisiana, tranh luận rằng máy móc không bao giờ là bản sao trí n~o con người và không bao giờ biết nhận thức vì chúng không và không thể được lập trình để có thể hiểu các vật biểu tượng bên trong (c|c hình dung m{ con người có trong não của họ) trong việc giải quyết các vấn đề Chúng cũng không có khả năng tham gia vào những hoạt động mà ngày càng có mối liên hệ với quá trình xử lý trí thông minh lượng
tử trong trí n~o con người - cái cốt lõi của trí thông minh Kak phát biểu:
Cơ học lượng tử là một học thuyết về c|i “to{n thể” v{ dưới ánh sáng của sự thật rằng mắt
có phản ứng với c|c photon đơn lẻ - một sự phản ứng cơ học lượng tử - và trí não tự coi bản thân nó là một thể thống nhất, người ta có thể hy vọng áp dụng ý tưởng này vào việc nghiên cứu bản chất trí n~o v{ trí thông minh”
Kak tiếp tục cho rằng sẽ không thể khiến cho máy móc có khả năng xử lý tổng thể, có khả năng tự tổ chức hay các kiểu liên kết
Nói tóm lại, công trình nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực máy tính và trí tuệ nhân tạo làm tăng thêm sự hiểu biết của chúng ta về rất nhiều các thành phần của trí n~o nhưng chúng ta lại không thể bắt đầu c{i đặt cho máy tính tính cởi mở trong suy nghĩ v{ nhận thức của chúng ta Cuối cùng, làm sao mà bạn có thể tạo ra một máy tính mà hiểu được chính bản th}n nó được?
CÁC TIA LASER VÀ ẢNH BA CHIỀU
Các tiến bộ khoa học trong công nghệ laser và khả năng chụp ảnh ba chiều trong những năm 1970 đ~ cho chúng ta một kết luận logic khác về các công trình tổng quát về não bộ
Trang 29Trong một ảnh ba chiều, mỗi mảnh thực chất đ~ chứa thông tin của toàn bộ bức ảnh Được tạo ra từ việc tách các tia laser, một ảnh ba chiều có những đặc điểm rất hấp dẫn Ví dụ như ảnh ba chiều về quả t|o trông đúng y như quả t|o, nhưng một ảnh ba chiều chỉ là một sự thể hiện bằng mắt thường với ánh sáng và không có tính chất vật lý Bạn có thể đưa ngón tay bạn xuyên qua hình quả t|o trông như thật đó V{ kỳ lạ hơn nếu ảnh ba chiều về quả táo bị cắt ra làm hai thì sẽ xuất hiện hai quả táo Cắt bức tranh làm bốn sẽ có bốn quả táo, và cứ tiếp tục như vậy, với mỗi quả táo tạo ra này sẽ bớt đi một số chi tiết so với quả táo gốc Hình ảnh ba chiều về não bộ phản ánh những phát hiện từ hàng thập kỷ qua của Karl Pribram, thực chất của những phát hiện n{y như sau: Rất nhiều trong số các quá trình của não bộ là
ba chiều và ở dạng tổng thể chứ không phải là những đường vạch, các kiểu giao thoa sóng liên kết v{ c|c bước sóng n{o đó v{ ngược lại năng lượng sẽ liên kết thông tin lượng tử Với mức độ như vậy, thông tin được truyền đi trong hệ thống v{ được xử lý nhanh hơn nếu nó
di chuyển theo lộ trình chu vi tự nhiên từ nơ-ron đến nơ-ron Ngày nay, một số nhà khoa học đ~ khẳng định rằng trí n~o con người không chỉ giới hạn ở vấn đề chất x|m trong đầu chúng ta; mọi tế b{o trong cơ thể, mọi sự kết hợp chức năng đều chứa c|c đặc tính của cái tổng thể Ngay cả ngón chân cái của chúng ta cũng có một số suy nghĩ v{ có thể có cảm xúc - theo như c|c t{i liệu phát hiện dưới đ}y về sự kết hợp của hai hay nhiều acid amin tạo thành chuỗi thần kinh, các phân tử của cảm xúc
CÁC TIẾN BỘ TRONG LĨNH VỰC PHÂN TỬ CHỨNG MINH BẢN CHẤT LƯỢNG TỬ, TỔNG THỂ CỦA NÃO BỘ
Thập kỷ vừa qua đ~ có nhiều tiến bộ đ|ng kể trong lĩnh vực phân tử khi các nhà khoa học x|c định được rằng các chất trung chuyển hóa học đ~ tạo ra sự tiếp xúc giữa c|c nơ-ron thần kinh và hệ thần kinh trung ương với các tế b{o kh|c trong cơ thể Từ sau khi người ta x|c định được sứ giả thần kinh hay vật truyền tín hiệu thần kinh đầu tiên v{o năm 1921, có hơn 70 sứ giả thần kinh đ~ được phân tích Tiếp theo đó, rất nhiều loại thuốc đ~ được sản xuất để củng cố, ngăn chặn hay bằng c|ch n{o đó điều chỉnh những hóa chất tự nhiên này của não bộ Đồng thời, một lần nữa chúng ta nhận ra rằng chúng ta không thể tách rời trí não ra khỏi cơ thể Hệ miễn dịch của chúng ta bị ảnh hưởng và có ảnh hưởng ngược lại với các tác nhân sinh hóa này
Trang 30Sự kết hợp của hai hay nhiều acid amin tạo thành chuỗi thần kinh, một nhóm khác của vật chất dựa trên amino acid, được coi là bằng chứng cho c|c cơ sở sinh hóa của nhận thức Tiến sỹ Candace Pert, nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực kết hợp acid amin thành chuỗi thần kinh v{ c|c cơ quan thụ cảm của chúng trong thời gian ở Viện y tế quốc gia, đ~ giải thích trong cuốn s|ch g}y xôn xao dư luận của bà, cuốn Mole-cules Emotion (Các phân
tử cảm xúc), về cách thức c|c suy nghĩ v{ cảm nhận của chúng ta (dù chúng ta hạnh phúc, buồn chán hay tức giận) huy động những hóa chất nhất định trong cơ thể Các sứ giả sinh hóa trao đổi thông tin “một c|ch thông minh” qua cơ thể để sắp xếp vô số hoạt động có hoặc không có nhận thức Nó giống như mỗi chúng ta sở hữu một “bộ n~o di động” ngay lập tức chỉ dẫn v{ điều khiển thông tin mà thông tin này lại ảnh hưởng ngược lại hệ miễn dịch, cảm giác sung mãn và cách thức chúng ta tiếp xúc với thế giới Do rất nhiều các sứ giả thần kinh
và những sự kết hợp acid amin thành chuỗi này là các acid amin phổ biến được tìm thấy khắp cơ thể, chúng ta có thể nói chắc chắn rằng não bộ v{ suy nghĩ của chúng ta không bị hạn chế ở vấn đề chất x|m trong đầu chúng ta
Mọi tế b{o trong cơ thể đều thực hiện một loại suy nghĩ n{o đó Mọi tế b{o trong cơ thể bằng c|ch n{o đó đều có những cảm xúc Chúng đều phản ứng lại các chất kích thích bên trong và bên ngoài Ví dụ như người ta đ~ ph|t hiện rằng các sự kết hợp acid amin thành chuỗi thần kinh tập trung trong đường ruột, do đó phản ứng “ruột” của chúng ta l{ có căn
cứ khoa học Chúng ta càng tìm hiểu thì chúng ta càng hiểu rõ hơn về các lực kết hợp khắp
cơ thể trong hoạt động, ngay cả ở mức độ phân tử
Trong phạm vi lĩnh vực sinh hóa n{y, người ta đ~ ph|t hiện ra một hiện tượng gây sốc nhằm khẳng định học thuyết lượng tử của sự thay đổi và sự liên lạc và có liên hệ trực tiếp với các lực suy xét trong não bộ và hệ thần kinh Trong các kiểu cơ cấu cổ xưa hơn, những thay đổi - đặc biệt l{ c|c dao động và sự nhiễu loạn của các hiện tượng tự nhiên - được xem là dấu hiệu của sự rắc rối Xét cho cùng, trong vật lý cổ điển, định luật thứ hai về nhiệt động lực học v{ định luật về entropy đ~ cho thấy rõ rằng những áp suất và sự gẫy vỡ trong một hệ thống sẽ dẫn đến sự phân rã và sự thoái hóa của hệ thống đó Tuy nhiên, nhà vật lý hóa học người Bỉ l{ Ilya Prigogine người đ~ từng gi{nh được giải Nobel năm 1977 bỗng nhiên chứng minh rằng áp suất của sự thay đổi trên thực tế tạo ra nhiều hơn c|c hiện tượng cao cấp và
Trang 31có khả năng thích ứng Trong công trình nghiên cứu các amin (một phần của acid amin cấu tạo nên các bộ phận của cơ thể chúng ta), Prigogine đ~ chứng minh rằng các hệ thống hóa học rải r|c hay “tản mạn” thực sự có thể khôi phục ở mức cao hơn của bản thân tổ chức để đ|p lại c|c đòi hỏi của môi trường C|c cơ thể sống có khả năng phản ứng đối với sự rối loạn (trạng thái không cân bằng) bằng cách làm mới cuộc sống, phát triển thành các kiểu trình tự sắp xếp cao cấp hơn v{ mới mẻ hơn
Prigogine chỉ ra rằng quá trình tiếp xúc diễn ra ngay cả trong các dung dịch hóa học hữu cơ, tạo ra các trình tự sắp xếp Trong c|c đồng hồ hóa học (các phản ứng hóa học được tính thời gian) m{ Prigogine đ~ tiến hành nghiên cứu, sự pha trộn ngẫu nhiên của phân tử có thể khiến các phân tử trở nên phối hợp được với nhau Chẳng hạn như tại một điểm nhất định, dung dịch màu xám sẫm sẽ bắt đầu có phản ứng và chuyển sang m{u đen, sau đó th{nh m{u trắng Trong những đồng hồ hóa học, tất cả phân tử phản ứng h{i hòa v{ đồng thời thay đổi đặc tính hóa học của chúng Điều đ|ng ngạc nhiên là mỗi phân tử dường như biết các phân
tử khác sẽ l{m gì ngay lúc đó, dù ở khoảng cách khá xa nhau.10
Acid amin có phản ứng và liên lạc với nhau ở cấp độ lượng tử, minh chứng cho một ví dụ về
sự đột phá khi cấu trúc phân rã liên lạc qua những khoảng rộng lớn v{ thay đổi với tốc độ nhanh hơn tốc độ |nh s|ng (nhanh hơn nhiều so với khi diễn ra trên lộ trình máy móc của quá trình giao tiếp của trí não) Rất nhiều trường hợp rõ ràng diễn ra ở các cấp độ nhỏ hơn
sự liên kết giữa c|c nơ-ron thần kinh trong não bộ và thiết lập rồi phản ứng lại môi trường với tốc độ và tần số vô cùng lớn vượt xa những gì trong học thuyết thần kinh được đơn giản hóa (Xuất phát từ hỗn hợp hữu cơ, c|c acid amin n{y ở mức độ n{o đó đ~ tạo thành một thể thống nhất để chuẩn bị cho sự khởi nguồn của cuộc sống) C|c amin được Prigogine nghiên cứu giống với các amin trong não bộ có vai trò điều khiển cảm xúc và dẫn dắt suy nghĩ của chúng ta Đối với cấu trúc bị phân rã, hiện tượng môi trường làm nhiễu loạn trạng thái cân bằng của các hệ thống đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra các hình thức sắp xếp mới
Ví dụ như sự ph| c|ch thường mở đầu cho tính sáng tạo Người có cùng suy nghĩ n{y l{ Frank Putnam, đồng tác giả của chương viết tiếp theo Từ các nghiên cứu của riêng ông và những người khác về các trạng thái nhận thức kh|c nhau, ông đ~ đưa ra kết luận rằng thường có sự tương quan trực tiếp giữa sự phá cách và tính sáng tạo Những gì mà
Trang 32Prigogine phát hiện chắc chắn tạo ra khuôn khổ cho các khả năng mới trong việc đối phó với sức ép của môi trường và cung cấp thêm bằng chứng cho hoạt động ở cấp độ lượng tử trong lĩnh vực hóa sinh
THÔNG TIN: KHOA HỌC, LÝ THUYẾT VÀ QUÁ TRÌNH XỬ LÝ (MỘT CÁI MÓC CÓ THỂ TREO ĐƯỢC CẢ VŨ TRỤ TRÊN ĐÓ)
Hiện nay, người ta đang giải thích phần lớn những sự tác động lẫn nhau của các hệ thống nhất định và sự giao tiếp nói chung bằng học thuyết thông tin Nhà nhân loại học, tâm lý học Gregory Bateson định nghĩa thông tin l{: “Sự khác biệt tạo nên sự khác biệt”11 Tôi còn nhớ tôi đ~ kinh ngạc như thế nào khi biết rằng thông tin được ghi lại trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến năm 1981 đ~ vượt quá tất cả c|c thông tin được ghi lại trước đó trong suốt lịch sử nhân loại Hãy thử tưởng tượng chúng ta đ~ bổ sung thêm được bao nhiêu thông tin v{o năm 1981!!! Đa số trong chúng ta cảm thấy bị phiền phức với sự bùng nổ thông tin Nếu những tờ báo ở trên bàn của bạn, hay sự xâm nhập của thông tin đại chúng vào cuộc sống của bạn, hay những khả năng dường như vô hạn của Internet không thuyết phục được bạn
về lượng thông tin quá tải mà bạn phải tiếp nhận, thì h~y đợi cho đến khi bạn nhận được thư r|c trong hòm thư như mọi ngày!
Đồng thời, trong vài thập kỷ qua, thuật ngữ “thông tin” đ~ đem lại cho chúng ta một mối liên
hệ chung để liên lạc giữa các ngành khác nhau, có thể kể tên một số như t}m lý học, vật lý học, sinh vật học, hóa học, ngôn ngữ học, xã hội học, phân tích các hệ thống, kinh doanh, nh}n văn, thư viện và các khoa học máy tính Khoa học thông tin cố gắng tăng cường sự hiểu biết về cách thức m{ thông tin được sinh ra, lưu trữ v{ được chuẩn bị sẵn s{ng để sử dụng Chúng ta nói về “lý thuyết thông tin” với những quy tắc và lý thuyết nhất định n{o đó (như kh|i niệm “phản hồi”) Những quy tắc và lý thuyết này thực sự là rất hữu ích đối với bất kỳ nghề nghiệp hay ngành học nào
Theo như c|ch ph}n chia vật chất hay phi vật chất (bởi vì thông tin mang cả hai tính chất này) của Descartes thì thông tin không bị hạn chế Chẳng hạn, nhờ định nghĩa của Bateson
về thông tin l{: “Sự khác biệt tạo ra sự khác biệt”, thông tin có thể là sự khác biệt giữa một con người với một cốc trà bốc hơi nóng đặt trên b{n trước mặt người đó v{ sự khác nhau
Trang 33giữa cái cốc (thể rắn), trà (một thể lỏng), hơi nước (thể khí) Vì thế, hình thái vật chất hay phi vật chất, trạng thái rắn, lỏng hay khí không phải là tiêu chí cần thiết trong học thuyết thông tin, thông tin không bị giới hạn về thời gian hay không gian Có một sự khác biệt giữa một người phụ nữ và một tách trà vào ngày thứ Tư v{ ng{y thứ Hai (thời gian) và có vẻ như cũng kh|c biệt như thế cho dù họ ở Hawaii hay ở Alaska (không gian) Do đó có thể nói rằng, thông tin l{ lượng tử chứ không thể như định nghĩa cổ điển bởi vì nó không phải là vật chất trong tự nhiên và không bị giới hạn bởi sự khác biệt về không gian/thời gian Hơn nữa, giống như trong vật lý lượng tử, thông tin có thể thay đổi tuỳ thuộc v{o người theo dõi
Những cảm xúc là nội dung có tính chất truyền đạt thông tin được trao đổi thông qua hệ thần kinh, với rất nhiều hệ thống, cơ quan v{ tế bào tham gia trong quá trình Giống như thông tin, các cảm xúc lan truyền giữa hai phần trí n~o v{ cơ thể, cũng giống như sự kết hợp của hai hay nhiều acid amin tạo thành chuỗi v{ c|c cơ quan nhạy cảm của chúng trong lĩnh vực vật lý v{ cũng giống như những cảm giác mà chúng ta cảm nhận được và gọi là cảm xúc trong lĩnh vực phi vật chất, v.v… Thông tin… l{ phần bị mất cho phép chúng ta vượt qua được sự tách biệt giữa trí n~o v{ cơ thể như theo quan điểm của Descartes, vì như định nghĩa, thông tin không thuộc về phần trí n~o cũng không thuộc về phần tinh thần, mặc dù
CÁC PHÉP ẨN DỤ HIỆN ĐẠI V[ “C\C LỚP” TRÍ N^O
Trang 34Các phép loại suy kh|c nhau đ~ được sử dụng để giải thích sự phức tạp của trí não Một cách
ẩn dụ là củ hành với nhiều lớp vỏ thể hiện cho rất nhiều các cấp độ trí tuệ của mỗi người Chúng ta cũng biết rằng những lớp trí n~o thường mâu thuẫn với nhau Ví dụ, như ở một người hút thuốc, một mặt trạng thái nhận thức có thể muốn giữ thói quen hút thuốc, trong khi đó mặt khác lại rất muốn từ bỏ thói quen này Những sự mâu thuẫn này tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau có ảnh hưởng đến cách thức hoạt động của phương ph|p chữa bệnh bằng thôi miên để giúp cho một ai đó ngừng hút thuốc Thường thì sự thôi miên sẽ hiệu quả nhất khi được kết hợp với tâm lý trị liệu để giúp một người hút thuốc nhận ra và xoá bỏ những suy nghĩ chống đối (và các lớp mâu thuẫn) của trí não Ví dụ khi người ta làm cho một khách hàng nhận thức được việc cô ta tin thuốc lá làm cho cô cảm thấy dễ chịu l{ suy nghĩ sai lầm vì nicotin là một chất kích thích, thì cô ta có thể sẽ từ bỏ suy nghĩ: “Nhưng, tôi cần hút thuốc để cảm thấy dễ chịu khi tôi bị căng thẳng” Suy nghĩ n{y sẽ can thiệp v{o suy nghĩ ngược lại “Tôi muốn bỏ thuốc l|”
Một phép ẩn dụ về trí não khác là dàn nhạc giao hưởng, với các nhạc cụ và âm thanh khác nhau, với những khả năng du dương v{ s|ng tạo khác nhau Nhà tâm thần học John Beahrs, tác giả của cuốn Unity and Multiplicity (Sự thống nhất và sự sinh sôi nảy nở), viết rằng:
… giống như to{n bộ cơ thể, dàn nhạc là một thể phức tạp với cá tính của riêng nó Cũng giống như bất kỳ cơ quan đa tế bào hay nhóm xã hội n{o, nó được tạo nên bởi nhiều bộ phận, hay các nhạc cụ trong dàn nhạc, mỗi chiếc có nhân dạng v{ c| tính đơn nhất của riêng chúng, nhưng tất cả hợp lại thì không chỉ có lợi cái tổng thể mà còn có lợi cho từng thành phần Mặc dù âm nhạc được tạo ra hoàn toàn bằng các bộ phận hợp th{nh, không đơn thuần là một b{i to|n đại số, nó được nối kết với nhau v{ được tổ chức bởi tập thể l~nh đạo Trong dàn nhạc của trí não, bên trong mỗi chúng ta đều tồn tại cùng nhận thức và thậm chí
có khi còn góp phần tạo nên bản chất của c|i cơ thể cố kết, với một người chỉ huy - người không chơi nhạc - nhưng l{ người đứng đầu.13
Một phép loại suy ít quen thuộc hơn được nhà thần kinh học Richard Restak đưa ra trong cuốn sách The Brain: The last Frontier (Trí não: Biên giới cuối cùng) của ông Là một công dân của bang Washington, Restak đ~ so s|nh (không ngạc nhiên gì) trí não với chính quyền
- có tính quyết định và ảnh hưởng rộng khắp m{ không có cơ sở quyền lực trung ương,
Trang 35đúng hơn l{ một sự ảnh hưởng tốt đẹp lẫn nhau của nhiều tác nhân kích thích và các phản ứng Sự ưu tiên, tính chọn lọc, sự phân biệt đối xử và dữ liệu trí nhớ được đưa v{o đều liên tục t|c động lẫn nhau, mà không có dấu hiệu vật chất, hữu hình nào về cách thức việc này diễn ra
Khi xem xét các học thuyết cũng như nghiên cứu hiện đại về trí tuệ - não bộ, chúng ta có thể kết luận rằng não bộ là trạng th|i lượng tử đầu tiên - các phần tử hạ nguyên tử chờ đợi để được phát huy tiềm năng ở bên trong và bên ngoài thể vật chất Và trí não của chúng ta, một tiềm năng năng lượng dao động, cũng chờ đợi những suy nghĩ của chúng ta, tiếp nhận từ một thế lực cao hơn để kết hợp chúng lại th{nh ý nghĩa, phương hướng và thậm chí cả các
sự việc tự nhiên! Trong vòng 20 năm, một người trung bình có thể hình thành trí tuệ và nhận thức theo phương ph|p lượng tử này, nhận ra tính hạn chế do cùng chức năng của
“mớ nơ-ron”, chỉ như ng{y hôm nay chúng ta lấy làm thích thú với một bức tranh về não bộ thế kỷ XIX mô tả c|c b|nh răng
Cuộc cách mạng công nghệ chắc chắn đ~ giúp chúng ta hiểu hơn về trí não và các quá trình suy nghĩ Nhiều năm qua, chúng ta tiến hành thêm những cuộc khảo sát tỉ mỉ thông qua các electron trên não bộ (ví dụ như bằng m|y EEG thông thường hay m|y ghi điện não) với các phương ph|p kỹ thuật hình ảnh không bị tr{n lan như phương ph|p chụp X quang phát ra pozitron (PET) v{ phương ph|p hình ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI) dựa trên sự tương t|c chặt chẽ giữa hoạt động thần kinh, sự tiêu thụ năng lượng và dòng máu cục bộ Ví
dụ như trong phương ph|p chụp X quang PET, chúng ta có thể nhìn thấy những vùng trên n~o có liên quan đến các quá trình nhất định, như những sự việc đặc biệt trong ký ức hay khi chúng ta nói chuyện, màu sắc trở thành vật chỉ thị Tại những vùng trên não có chức năng nghĩ ra từ ngữ có thể xuất hiện m{u đỏ sáng, biểu thị dòng m|u tăng v{ đang có c|c hoạt động diễn ra trên vùng n~o đó, hay m{u v{ng biểu thị là ít diễn ra các hoạt động hơn khi chủ thể nói ra từ đó Những sự khảo sát và khám phá này quả thật rất lạ lùng Trước kia, đ}y được coi là một lĩnh vực không thể hiểu được thì giờ đ}y n~o bộ và trí tuệ của con người trở th{nh t}m điểm chú ý của khoa học ở thế giới phương T}y, buộc chúng ta phải nghĩ đến chính khái niệm ý thức
THẤU HIỂU VỀ Ý THỨC
Trang 36Khi nói đến ý thức có nghĩa l{ chúng ta đang nói đến điều gì về thế giới? Thuật ngữ này được đưa ra b{n t|n, thường với rất nhiều sắc thái thậm chí ở cả những người sử dụng thuật ngữ chính xác nhất Cũng giống như phép loại suy của Restak đ~ coi trí n~o như một
hệ thống mơ hồ cố hữu, không khu biệt, không đụng chạm, sự nhận thức đòi hỏi chúng ta phải dựa nhiều hơn trên c|c kh|i niệm Trên thực tế, rất nhiều nền văn hóa truyền thống phương Đông coi Ý thức (với chữ cái Y viết hoa) như l{ nguồn trí tuệ v{ t{i năng
Ở phương T}y, c|c nh{ khoa học theo truyền thống đ~ có khuynh hướng coi ý thức như l{
sự nhận thức Một trăm năm trước, nhà tâm lý học William James đ~ nêu ra một yếu tố thu hút nhiều hơn sự chú ý: chúng ta tập trung chú ý v{o c|i gì nghĩa l{ chúng ta có ý thức ở một thời điểm nhất định Đương nhiên quan điểm phân tâm học của Freud về ý thức ám chỉ một núi băng trôi, với trí não có ý thức ở trên mặt nước và phần không có ý thức và tiềm thức sâu thẳm thì chìm bên dưới Nếu chúng ta sử dụng một định nghĩa đơn giản về ý thức
để thấu hiểu về cái mà chúng ta gọi là ý thức thì hiển nhiên sẽ xuất hiện những câu hỏi Nhận thức về c|i gì? Ai hay c|i gì đang trải qua quá trình nhận thức? Còn khi chúng ta nhìn nhận các khái niệm về vật lý lượng tử, bản thân sự nhận thức thậm chí có thể còn sinh ra nhiều thứ hơn để nhận thức, hay ít nhất bằng c|ch n{o đó nó điều chỉnh đối tượng của sự nhận thức Vì thế chúng ta càng nghiên cứu, c{ng điều tra thì chúng ta càng tăng thêm sự hiểu biết và sự x|c định của chúng ta về ý thức Mỗi người cộng tác trong cuốn s|ch n{y đều đưa ra một định nghĩa về ý thức dựa trên những nghiên cứu và kinh nghiệm của riêng họ
Sự phát triển trong suy nghĩ của chúng ta về trí não và sự nhận thức không phải là một trường hợp tuyến tính Rất nhiều sự giải thích trước đ}y vẫn còn hiệu lực nhất định và không nên bị bài trừ giống như mốt thời trang của ng{y hôm qua; thay v{o đó, theo phương thức của Hegelian, chúng ta có thể tổng hợp từ c|c quan điểm dường như rất khác nhau này Quả là trí não có khía cạnh cơ học; nó thực sự có một hệ thống năng lượng lan tỏa; nó
bị ảnh hưởng v{ điều khiển bởi c|c nơ-ron và là hệ thống chủ đạo của những tương t|c v{ sáng tạo hóa học; người ta đ~ chứng minh là trí n~o có khuynh hướng tạo ảnh ba chiều; theo nhiều c|ch, trí n~o tương tự như m|y vi tính v{ tương tự như qu| trình xử lý thông tin Thậm chí theo một c|ch n{o đó hệ thống nhiều tầng lớp của n~o còn được so sánh với một chính phủ, một củ hành và một dàn nhạc giao hưởng và thậm chí còn hơn thế nữa Để khảo
Trang 37sát kỹ lưỡng các thành phần khác nhau của trí n~o v{ “c|c lớp” của não bộ, các nhà khoa học đang bắt gặp các hiện tượng rất lý thú - trong đó có cả hiện tượng được gọi l{ “kẻ quan sát giấu mặt”
George Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831), nhà triết học duy t}m người Đức, người đ~
có ảnh hưởng lớn đến triết học hiện đại, đặc biệt trong c|c lĩnh vực trí não và lý trí Hệ tư tưởng của ông đ~ b|c bỏ quan niệm coi nhân loại là các phần vật chất và tinh thần riêng rẽ tồn tại trong không gian và thời gian theo như quan điểm một thực thể hoàn chỉnh Theo quan niệm biện chứng nổi tiếng của ông, thì sau chính đề sẽ là phản đề; tiếp theo đó sự mâu thuẫn giữa chính đề và phản đề được kết hợp lại ở mức cao hơn th{nh một quan niệm mới, một sự tổng hợp
(Nguồn: Barnes v{ Noble, B|ch khoa to{n thư mới của Hoa Kỳ)
KẺ QUAN SÁT GIẤU MẶT
Năm 1975, c|c nh{ t}m lý học Ernest v{ Josephine Hilgard đ~ tiến hành một nghiên cứu khoa học mang tính bước ngoặt trong phòng thí nghiệm của họ tại Đại học Stanford Trong công trình nghiên cứu này, họ đ~ giải thích được sự tồn tại của cái mà sau này họ gọi với thuật ngữ “kẻ quan sát giấu mặt” Hai vợ chồng Hilgard đ~ cố gắng x|c định rằng dù một người bị thôi miên không có cảm gi|c đau v{ ai đ~ từng tiến hành các thí nghiệm khách quan của mình chứng minh được rằng người bị thôi miên không cảm thấy đau đớn, thì người đó vẫn có thể cảm nhận được sự đau đớn tại một bộ phận n{o đó trên cơ thể của họ
Họ yêu cầu đối tượng giơ một ngón tay lên nếu người đó thực sự cảm thấy đau đớn, người
đó đ~ giơ ngón tay lên Khi người ta yêu cầu được tiếp xúc với bộ phận n{o đó trên cơ thể
mà khiến cho ngón tay giơ lên, bộ phận đó có thể mô tả những gì thực sự diễn ra, cho dù đối tượng đ~ bị thôi miên và không nhận thức được bất kỳ nỗi đau đớn nào hay nhận ra bộ phận nào có cảm gi|c đau.14 Bộ phận mà có phản ứng đó, giờ đ}y thường được gọi là kẻ quan sát giấu mặt, chỉ ra thực tế được kiểm chứng như trường hợp một nhà khoa học khách quan - không quen thuộc đối với đối tượng - đ~ có thể thực hiện ngay khi ông đang ở trong thái tỉnh táo và không bị thôi miên
Trang 38Công trình nghiên cứu này của vợ chồng Hilgard, tiếp theo là rất nhiều các nghiên cứu khác, đ~ chỉ ra rằng cách dễ dàng nhất để nói chuyện với kẻ quan sát giấu mặt chỉ đơn giản là yêu cầu được nói chuyện với nó, như một người có thể gọi riêng một ai đó trong một nhóm Sau
đó, bộ phận này sẽ xuất hiện và trò chuyện Nhưng cũng có thể tiếp cận bộ phận này theo c|c c|ch kh|c, như thông qua một tín hiệu thôi miên và thậm chí còn dựa vào các trạng thái trong quá khứ khi đối tượng bị thôi miên Dường như trong lúc kẻ quan sát giấu mặt biết được cả về những trải nghiệm của nó và về đối tượng bị thôi miên, thì đối tượng bị thôi miên lại không hề biết gì về kẻ quan sát giấu mặt Đ~ xuất hiện một chướng ngại vật, đó l{ chứng quên một chiều, cũng giống như hiện tượng thường thấy ở bệnh đa nh}n c|ch Do đó,
kẻ quan sát giấu mặt dường như có ý thức, ý thức thực sự của riêng nó
Một ví dụ khác về một bộ phận bí ẩn n{o đó của trí não là khả năng kỳ lạ gọi l{ “khả năng nhìn của người mù” Một trong số nhà tâm lý học đ~ nghiên cứu về hiện tượng này, Lawrence Weiskrantz đ~ viết về bệnh nhân tên D.B của ông Bệnh nh}n n{y đ~ bị mù bên mắt trái sau khi cắt bỏ khối u Trong các thí nghiệm thị lực, D.B cho biết anh không thể nhìn thấy những t|c nh}n kích thích (như những đường kẻ ngang dọc) được đưa ra trước mắt trái của anh, tuy nhiên khi được yêu cầu đo|n xem đường kẻ là ngang hay dọc thì D.B hầu như đo|n không sai Sau nhiều lần thử nghiệm, Weiskrantz đ~ chỉ ra cách thức m{ người ta nói cho D.B biết l{ anh đ~ l{m tốt như thế nào:
Người ta hỏi anh: “Anh có biết l{ anh đ~ l{m rất tốt không?” Anh ta trả lời: “Không - vì tôi không nhìn thấy gì cả Tôi chẳng nhìn thấy c|i qu|i gì” “Anh có thể nói cho chúng tôi biết làm thế n{o m{ anh đo|n được - cái gì khiến anh nói rằng đường kẻ là ngang hay dọc?”
“Không, tôi không thể nói được vì tôi không nhìn thấy gì cả Tôi không biết” Cuối cùng, người ta hỏi anh: “Thế thực sự anh không biết l{ anh đo|n đúng?” Anh ta trả lời: “Không” vẫn với một th|i độ hoài nghi.15
Quay trở lại với câu hỏi lúc trước của tôi: “Sự nhận thức ở đ}u?” hay “Sự nhận thức là cái gì?” Mỗi chúng ta có rất nhiều mức độ nhận thức chúng khác nhau ở các thời điểm khác nhau Đôi khi ranh giới giữa các mức độ này là không rõ ràng, thông tin và sự nhận thức, có thể bị chia thành một số khu vực hoặc không Qua nhiều năm, những khu vực n{y được gọi với nhiều tên kh|c nhau, như bản ngã, các trạng thái, những kẻ quan sát giấu mặt, các hệ
Trang 39thống cơ cấu nhận thức v{ đa nh}n c|ch Người ta chỉ ra rằng trẻ con thường dễ tiếp cận các mức độ kh|c nhau n{y hơn người lớn Khi một đứa trẻ trưởng thành và phát triển cái tôi cá nhân, ở nó sẽ bắt đầu xuất hiện sự ngăn c|ch tự nhiên giữa các cấp độ này Những gì mà khi nhỏ chúng ta dễ dàng nhận thức thì khi trưởng thành chúng ta lại khó mà phát hiện ra Tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu về điều này khi chúng ta xem xét các trạng thái của nhận thức
và sự phát triển cái tôi cá nhân
TIẾN SỸ Y KHOA FRANK PUTNAM
Tôi có vinh dự được biết tiến sỹ Frank Putnam trong gần 20 năm qua Lần đầu tiên tôi được biết về Tiến sỹ Putnam, là thông qua công trình nghiên cứu xuất sắc của ông trong c|c lĩnh vực nghiên cứu về những tổn thương v{ rối loạn đa nh}n c|ch tại Viện tâm thần học Quốc gia, và thật vui khi biết rằng một nhà khoa học lỗi lạc như vậy lại cũng l{ người rất quan tâm đến người khác
Được đ{o tạo chuyên ngành về tâm thần học tại hai trường đại học l{ Đại học Yale v{ Đại học George Washington, Tiến sỹ Frank Putnam là tác giả của nhiều các báo cáo khoa học, các bài báo, là tác giả của các cuốn sách Diagnosis and Treatent of Multiple Personality Disorder (Chẩn đo|n v{ điều trị bệnh rối loạn đa nh}n c|ch) v{ cuốn Dissociation in Childrel and Ado-lescent: Adevelopmental Perspective (Sự tách biệt ở trẻ nhỏ và ở thanh thiếu niên: Một triển vọng phát triển) Ông được coi là chuyên gia quốc tế về các trạng thái nhận thức
Ông sống cùng vợ là Karen và hai con trai là Bethesda và Maryland
Trang 40CHƯƠNG 2: Các trạng thái nhận thức từ lúc sinh ra đến khi chết đi
BÁC SỸ Y KHOA FRANK PUTNAM VÀ TIẾN SỸ KAREN SHANOR
ÔI, TÔI ĐANG TRONG TÌNH TRẠNG GÌ THẾ NÀY: NHẬN ĐỊNH TRẠNG THÁI
Bạn đ~ bao giờ lâm vào tình trạng như thế n{y chưa? Bạn đang l|i xe dọc đường quốc lộ, có thể đang ng}n nga một điệu nhạc, nghĩ về những việc diễn ra ở cơ quan trong ng{y thì đột nhiên một cú phanh gấp diễn ra ngay trước mắt bạn trên đường cao tốc, suýt gây ra tai nạn Tim bạn bắt đầu đập nhanh, hơi thở của bạn thay đổi, sự việc vừa diễn ra và một cú va chạm đ~ có thể xảy ra sau sự việc đó khiến bạn cảm thấy lo lắng và vô cùng cảnh giác Thật là một
sự thay đổi tức thời! Bạn vẫn l{ “chính bạn”, nhưng bạn đang có những cảm gi|c, suy nghĩ
và có thể cả những h{nh động hoàn toàn khác Bạn đ~ có sự chuyển biến tức thời trong trạng thái nhận thức
“Trạng th|i” l{ kh|i niệm và là một thuật ngữ thường được sử dụng trong lĩnh vực tâm lý học và trong cuộc sống h{ng ng{y; chúng ta nói đến trạng thái của trí não, trạng thái nhận thức Nhưng chính x|c l{ chúng ta đang muốn nói đến điều gì khi đề cập đến trạng thái nhận thức, hay còn gọi là trạng thái nhận thức thay thế, hay như một số người gọi đó l{ trạng thái nhận thức luân phiên
Từ “trạng th|i” có nguồn gốc từ tiếng Latin status Trong tiếng Latin, từ n{y có nghĩa l{ tình trạng tồn tại Trong khi còn tồn tại rất nhiều nguồn thông tin và lý thuyết về các trạng thái trong c|c lĩnh vực nghiên cứu tr|i ngược nhau như: sinh học, hóa học, tâm lý học và vật lý học thì những nguồn thông tin và học thuyết này vẫn chưa được kết hợp hiệu quả Có lẽ khi chúng ta bước sang thế kỷ sau, chúng ta sẽ có thể kết hợp dữ liệu từ các ngành khoa học kh|c nhau để có hiểu biết toàn diện về các trạng thái nhận thức