Bối cảnh thế giới và khu vực những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã đặt ra yêu cầu thúc đẩy hợp tác quốc tế, làm nảy sinh tính đa phương hóa, đa dạng hóa và sự điều chỉnh trong chính
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-***** -
NGUYỄN THỊ KIM MAI
QUAN HỆ VIỆT NAM – CZECH
(1993 – 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-***** -
NGUYỄN THỊ KIM MAI
QUAN HỆ VIỆT NAM – CZECH
(1993 – 2014)
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Giáo viên hướng dẫn:
TS TRẦN THỊ PHƯƠNG HOA
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Phương Hoa đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người
đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong hai năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban Chủ nhiệm và các Thầy, Cô khoa Quốc tế học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Kim Mai
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1 BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - CZECH
VÀ TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HAI NƯỚC 8
1.1 Bối cảnh phát triển quan hệ Việt Nam – Czech 9
1.2 Quan hệ Việt Nam – Czech trước năm 1993 12
1.3 Chính sách đối ngoại Việt Nam - Czech 18
1.3.1 Chính sách đối ngoại của Czech 18
1.3.2 Chính sách đối ngoại của Việt Nam 23
1.3.3 Hoạt động đối ngoại Việt Nam - Czech 27
Chương 2 QUAN HỆ VIỆT NAM – CZECH TRÊN CÁC LĨNH VỰC TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2014 31
2.1 Về chính trị, ngoại giao 31
2.2 Về kinh tế 38
2.3 Về an ninh, quốc phòng 47
2.4 Về văn hóa, giáo dục, xã hội… 49
2.5 Về viện trợ, hỗ trợ hợp tác phát triển 53
2.6 Về các lĩnh vực khác 56
Chương 3 THUẬN LỢI, THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG CỦA QUAN HỆ VIỆT NAM – CZECH TRONG THỜI GIAN TỚI 59
3.1 Thuận lợi 59
3.1.1 Kinh tế tăng trưởng và ổn định chính trị xã hội 59
3.1.2 Vị thế của hai nước trên trường Quốc tế 64
3.1.3 Bối cảnh quốc tế thuận lợi 71
3.2 Thách thức 74
3.3 Đề xuất một số biện pháp khắc phục, tăng cường nhằm phát triển, nâng tầm mối quan hệ giữa hai nước 76
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ
Chữ tiếng Anh, Czech, Pháp
Culturelle et Technique
Settlements
Cooperation
Recherche Nucléaire
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
States
co-operation and Development
của Liên Hợp quốc
The United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại ngày nay, quá trình toàn cầu hóa – quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ
và trở thành xu thế khách quan của toàn thế giới Trước sự thay đổi của tình hình thế giới và khu vực, không một quốc gia nào muốn phát triển thịnh vượng mà lại đóng cửa, không giao lưu với các nước bên ngoài
Thế giới ngày nay các quốc gia xích lại gần nhau hơn, trao đổi hợp tác với nhau nhiều hơn về mọi mặt Dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển, các nước đều ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Hội nhập quốc tế và khu vực là nhu cầu của các quốc gia bởi thực tế đã chứng minh, các nước muốn phát triển đồng bộ, tránh nguy cơ tụt hậu, kém phát triển thì phải tích cực chủ động, vượt qua những yếu tố bất lợi để phát triển Bối cảnh thế giới và khu vực những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã đặt ra yêu cầu thúc đẩy hợp tác quốc tế, làm nảy sinh tính đa phương hóa, đa dạng hóa và sự điều chỉnh trong chính sách ngoại giao của từng nước dựa trên nền tảng bảo vệ quyền lợi quốc gia để phát triển quan hệ bình đẳng với các quốc gia khác nhằm duy trì và củng cố
sự ổn định an ninh toàn cầu
Nhận thức rõ vai trò to lớn của hợp tác cùng phát triển nhằm tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định có lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đồng thời củng cố và nâng cao vị thế trên trường quốc tế Hơn nữa trước tác động của tình hình thế giới và khu vực, với mong muốn
“ là bạn với tất cả các nước” trong cộng đồng quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội vì mục tiêu hòa bình phát triển cũng như đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam đã và đang tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực Quan hệ Việt Nam - Czech không nằm ngoài quỹ đạo đó
Việt Nam và Czech đã có mối quan hệ truyền thống lâu đời Từ thế kỷ 18, trên con đường truyền giáo, nhiều giáo sỹ Czech đã đến vùng Đông Nam Á và gắn bó
Trang 7nước đầu tiên lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong hai cuộc kháng chiến giữ gìn độc lập dân tộc và cả trong hòa bình xây dựng ở Việt Nam, nhân dân Tiệp Khắc đã chia sẻ với nhân dân ta những tình cảm đoàn kết anh em và sự giúp đỡ vật chất quý giá Hiện tại có khoảng hơn sáu mươi nghìn công dân Việt Nam làm ăn, sinh sống trên các miền đất Czech Sau khi Czech gia nhập khối Cộng đồng Châu Âu, mối quan hệ giữa hai nước đứng trước những triển vọng mới, đa dạng hơn, linh hoạt hơn nhằm phù hợp với xu thế toàn cầu hóa trong quan hệ quốc tế
Nhìn lại quá khứ, tuy cách xa nhau về vị trí địa lý song Việt Nam – Tiệp Khắc
đã chính thức thiết lập mối quan hệ vào ngày 2/2/1950, đặt nền móng cho tình hữu nghị bền chặt và quan hệ tốt đẹp giữa hai nước sau này
Trải qua một thời gian dài với bao biến động, thay đổi của thế giới và khu vực, quan hệ Việt Nam - Czech không phải lúc nào cũng phát triển theo chiều hướng đi lên mà vẫn có những lúc chững lại Thế nhưng đó chính là quy luật cơ bản của sự phát triển Trải qua hơn 65 năm, quan hệ Việt Nam – Czech ngày càng được thắt chặt và bước vào giai đoạn phát triển tích cực
Ngày nay mối quan hệ Việt Nam - Czech đã đạt đến trình độ phát triển về cả
bề rộng lẫn bề sâu Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai nước không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Czech (1993- 2014) nhằm phát huy, đẩy mạnh các thế mạnh của hai bên và tìm ra giải pháp khắc phục khó khăn để quan hệ hai nước phát triển đi lên trong tương lai Đồng thời giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ này từ đó rút ra những kinh nghiệm góp phần xử lý tốt các mối quan hệ hợp tác khác giữa Việt Nam với các quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế chứ không riêng gì Czech
Do vậy nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam –Czech là việc làm hết sức cần thiết Trên thực tế, đã có một số bài chuyên nghiên cứu về một khía cạnh, một vấn
đề, một khoảng thời gian nhưng chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện mối quan hệ giữa hai nước từ năm 1993 đến năm 2014 Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn vấn đề “ Quan hệ Việt Nam - Czech (1993-2014)” làm
đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
Trang 8Tôi chọn đề tài “Quan hệ Việt Nam – Czech (1993 - 2014)” nhằm nghiên cứu sâu hơn mối quan hệ giữa hai nước với mốc lịch sử 1993 – năm mà Cộng hòa Czech chính thức là một quốc gia độc lập
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay, nghiên cứu “Quan hệ Việt Nam - Czech” đã trở thành mối quan tâm của nhiều tác giả, dịch giả và nhà xuất bản với một số bài viết công trình tiêu biểu đã được công bố như:
- Sách “Tiệp Khắc (CHXHCN), Hiến pháp nước CHXHCN Tiệp Khắc”, H: Sự thật,
- Sách “Các nước Đông Âu gia nhập liên minh Châu Âu và những tác động tới
Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Thuấn và Nguyễn An Hà, NXB Khoa học Xã
hội, 2005;
- Tạp chí “Quan hệ Cộng hòa Séc – Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI, tác giả Văn Ngọc Thành và Phạm Anh, Viện NC châu Âu (Viện KHXH Việt Nam): số 3 (90) – năm 2008;
- Bài viết “Chính sách nhập cư của Liên minh Châu Âu và của một số nước thành
viên mới Đông Âu, tác giả Nguyễn An Hà, Viện NC châu Âu (Viện KHXH Việt
Nam): số 3 (102) – năm 2009;
- Bài viết “Chính sách nhập cư của EU và của các nước EU mới tại Trung – Đông
Âu và tác động đến cộng đồng người Việt Nam tại BaLan, Séc và Hungary, tác giả
Hà Hoàng Hải, Viện NC châu Âu (Viện KHXH Việt Nam): số 3 (102) – năm 2009;
Trang 9- Bài viết “Vài nét về chính sách nhập cư của Cộng hòa Séc, tác giả Đặng Minh Đức, Viện NC châu Âu (Viện KHXH Việt Nam): số 5 (116) – năm 2010;
bối cảnh mới, tác giả Nguyễn An Hà, Viện NC châu Âu (Viện KHXH Việt
Nam): số 6 (117) – năm 2010;
Việt Nam, tác giả Martin Pelikan, Lukas Hlavaty, TC Cộng hòa Czech – Đối tác của các bạn 2005/2006 – năm 2005;
Các tài liệu này đã tìm hiểu quan hệ giữa Việt Nam – Czech trên nhiều lĩnh vực dưới tác động của bối cảnh thế giới và khu vực đồng thời làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ Việt Nam - Czech trong thời gian tới
Dù phong phú về số lượng và chủng loại song các tài liệu trên chưa nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, tổng thể mối quan hệ Việt Nam - Czech trong giai đoạn 1993 – 2014 Do vậy, trên cơ sở sử dụng và thừa hưởng ở một mức độ nhất định các ý kiến, các nguồn tư liệu, các nguồn tin thu thập được tôi đi vào phân tích, tổng hợp và đúc kết về mối quan hệ Việt Nam – Czech từ năm 1993 đến năm 2014
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình quan hệ Việt Nam-Czech (1993-2014) nhằm làm rõ bản chất của mối quan hệ này, phân tích những thuận lợi, thách thức, triển vọng Từ đó đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm đồng thời dự báo chiều hướng phát triển và đưa
ra một số giải pháp mang tính chất tham khảo nhằm thúc đẩy mối quan hệ này phát triển hơn trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Ở luận văn này, tôi phân tích bối cảnh quốc tế và khu vực để làm rõ các nhân
tố tác động đến quan hệ Việt Nam-Czech Tiếp đó đi vào tìm hiểu khái quát tình hình đất nước Việt Nam, Liên bang Nga để thấy được đường lối đối ngoại của hai nước trong quan hệ quốc tế, sự cần thiết phải thiết lập quan hệ hợp tác, coi trọng việc phát triển quan hệ của Việt Nam với Czech và các nước khác trên thế giới
Trang 10Tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Czech (1993-2014) là nền tảng, cơ sở để đi sâu nghiên cứu mối quan hệ này ở giai đoạn sau trên tất cả các lĩnh vực Từ đó rút ra một vài nhận xét về đặc điểm, bài học kinh nghiệm, triển vọng và một số kiến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Czech phát triển lên tầm cao mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Czech (1993-2014) trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị - ngoại giao đến văn hóa -giáo dục- xã hội, khoa học - kỹ thuật, an ninh quốc phòng, viện trợ- hỗ trợ phát triển, về những thành tựu đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Czech 2014) 1993 là năm Cộng hòa Czech trở thành quốc gia độc lập, 2014 là mốc cuối của thời gian nghiên cứu, có thể tiếp cận được các nguồn tài liệu
(1993-Không gian nghiên cứu: Luận văn tập trung tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng mối quan hệ Việt Nam - Czech (1993-2014) trên tất cả các lĩnh vực trong đó đi sâu vào các lĩnh vực chính như chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa – giáo dục, an ninh quốc phòng từ đó dự báo triển vọng phát triển của quan hệ Việt Nam - Czech trong thời gian tới Tuy nhiên luận văn cũng đề cập đến bối cảnh của thế giới và khu vực cũng như mối quan hệ Việt Nam - Czech ở giai đoạn trước đó nhằm hiểu hơn
về cơ sở phát triển của mối quan hệ này
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quan hệ quốc tế Chủ nghĩa duy vật lịch sử là mấu chốt trọng tâm để phân tích, đánh giá
và giải quyết các vấn đề, sự kiện liên quan đến tiến tình phát triển của quan hệ Việt Nam - Czech
Trang 115.2 Phương pháp nghiên cứu
Với các nguồn tài liệu thu thập được trong sách báo, các tạp chí, trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận Mác Lenin, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic kết hợp với việc phân tích, tổng hợp, hệ thống lại các vấn đề theo trình đã diễn ra
6 Đóng góp của luận văn
Hiện tại, mối quan hệ Việt Nam - Czech đã phát triển về cả bề rộng lẫn bề sâu
Do vậy, đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa hai nước không chỉ có ý nghĩa khoa học
mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Luận văn đã tập hợp, lựa chọn và xử lý một khối lượng tư liệu lớn, rời rạc để dựng thành một bức tranh tổng thể, toàn diện về mối quan hệ giữa Việt Nam và Czech từ năm 1993 đến năm 2014, do đó đây có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho những ai có nhu cầu tìm hiểu quan hệ giữa Việt Nam và Czech
Ở một mức độ nhất định, Luận văn đã mang lại một cách nhìn chân thực, tổng thể về quan hệ Việt – Czech (1993-2014) Từ đó tích cực phát huy và đẩy mạnh các lợi thế của mỗi bên cũng như tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế để đưa quan hệ Việt Nam - Czech phát triển theo chiều hướng đi lên Nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Czech (1993-2014) tạo cơ sở đề nhận thức đúng đắn về mối quan hệ này, rút ra những kinh nghiệm góp phần giải quyết tốt các mối quan hệ khác nhằm phát triển và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do khả năng có hạn, nguồn tài liệu còn tản mạn nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi sai sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Trong chương này nêu bật cơ sở phát triển của quan hệ Việt Nam – Czech, quan hệ
hệ truyền thống tốt đẹp của hai nước giai đoạn trước năm 1993 và tổng quan chính sách đối ngoại – hoạt động động đối ngoại Việt Nam – Czech
Trang 12Chương 2: Quan hệ Việt Nam - Czech trên các lĩnh vực (1993 - 2014)
Phân tích cụ thể, nêu dẫn chứng về các hoạt động tích cực nhằm phát triển mối quan
hệ Việt Nam trên các lĩnh vực như chính trị- ngoại giao, kinh tế, an ninh-quốc phòng, văn hóa- giáo dục – xã hội, viện trợ-hỗ trợ phát triển và các lĩnh vực khác Chương 3: Thuận lợi, thách thức và triển vọng quan hệ Việt Nam – Czech trong thời gian tới
Phân tích và đánh giá những thành tựu và hạn chế, thuận lợi và thách thức để từ đó
đề xuất ý kiến nhằm khắc phục, rút kinh nghiêm và có giải pháp tích cực để mối quan hệ giữa hai nước phát triển hơn nữa trong thời gian tới
Trang 13Chương 1 BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - CZECH
VÀ TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HAI NƯỚC
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới từng bước có những chuyển biến to lớn, tác động tới quan hệ quốc tế, tác động tới từng nước, từng khu vực và
cả trật tự thế giới Chiến tranh lạnh với thế đối đầu hai phe TBCN - XHCN, toàn bộ các mối quan hệ quốc tế bị chi phối bởi thế đối đầu đó Trong những năm 1947-
1949, ở Đông Âu trong đó có Tiệp khắc đã hoàn thành công cuộc cách mạng dân chủ nhân dân và bắt đầu bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới được hình thành từ châu Âu sang châu Á, phát triển mạnh mẽ và làm cho lực lương so sánh trên thế giới thay đổi có lợi cho CNXH Những thành tựu xây dựng CNXH trong những năm 50 - 60 đã thu hút sự chú ý của thế giới và tác động tới chiều hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Ảnh hưởng của CNXH ngày càng lớn, CNXH là chỗ dựa tin cậy của phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Chủ nghĩa tư bản không còn là một hệ thống duy nhất chi phối nền chính trị thế giới Một trong những thắng lợi ngoại giao của Việt Nam sau Cách mạng tháng tháng năm 1945, đó
là cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam ngày càng được sự đồng tình ủng hộ của thế giới, với thiện chí hoà bình, tháng 1/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước Tiệp Khắc là một trong bốn nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Trung Quốc: 18/1/1950, Liên Xô: 30/1/1950, Triều Tiên: 31/1/1950) Cơ quan đại diện của Tiệp Khắc tại Việt Nam chính thức khai trương hoạt động ngày 30/12/1954 và sau đó một năm, Đại sứ quán Việt Nam tại Praha cũng được mở cửa
Từ đây, Cách mạng Việt Nam thoát khỏi thế bị bao vây, cô lập Cuộc kháng chiến chống Pháp có thêm hậu phương mới là các nước xã hội chủ nghĩa Mối quan hệ hữu nghị bền chặt Việt Nam và Czech hình thành trong bối cảnh như vậy
Trang 141.1 Bối cảnh phát triển quan hệ Việt Nam – Czech
Cộng hòa Czech, một đất nước hào hoa và tươi đẹp nằm ở trung tâm châu Âu Đây là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng cho nhiều cảnh quan thiên nhiên
kỳ thú và những dấu ấn văn hóa lịch sử độc đáo Từ sự hùng vĩ của núi non, sông suối và những thung lũng mênh mang hay những khu vườn quốc gia nguyên sinh cho đến những công trình văn hóa kiến trúc cổ kính (12 địa điểm đã được Unesco công nhận là di sản thế giới) Tất cả đã làm nên một nước Czech thơ mộng và quyến
rũ, một điểm đến tuyệt vời giữa lòng châu Âu
Đây là đất nước có diện tích tương đối nhỏ với mật độ dân cư lý tưởng nhưng lại làm ngỡ ngàng và cuốn hút bởi vẻ đẹp thiên nhiên mê đắm với những con người hiền hòa, nồng hậu và chăm chỉ, níu chân hàng triệu du khách mỗi khi có dịp ghé thăm Một đất nước vẫn giữ được nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc riêng biệt mà vẫn hòa quyện với nền văn hóa đa sắc màu chung của châu Âu, với ngôn ngữ Czech nhẹ nhàng, với đồng tiền Korun nhiều mệnh giá bằng giấy và kim loại được tiêu dùng song cùng đồng Euro
Đứng vị trí 117/193 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, diện tích của Czech chỉ bằng khoảng 1/4 diện tích của Việt Nam (66/193), dân số Czech chỉ bằng
(1)
Cộng hòa Czech (tiếng Czech: Česká republika) là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu Cộng
hòa Czech giáp Ba Lan về phía bắc (biên giới dài 779km), giáp Đức về phía tây (biên giới dài 810km), giáp Áo về phía nam (biên giới dài 452km) và giáp Slovakia về phía đông (biên giới dài 265km) với diện tích 79000 km2 Thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia là Prague (Praha), với hơn 1,3 triệu dân cư ngụ tại đây Dân số của Czech là 10,6 triệu người với thành phần: 81,3% người Czech; 13,2% người Moravia; 3% người Slovak; 0,6% người Ba Lan; 0,5 người Đức; 0,3% người Digan; cộng đồng người Việt là dân tộc thiểu số thứ 14 tại Czech Ngôn ngữ chính là tiếng Czech Cộng hòa Czech trong Xếp hạng quốc tế: đứng thứ 21/52 về diện tích tại châu Âu, xếp thứ 79 trên 221 quốc gia và vùng lãnh thổ về dân số; xếp hạng 30/177 quốc gia về Chỉ số Phát triển Con người; xếp thứ 40/180 quốc gia về GDP; xếp thứ 35/180 quốc gia về thu nhập bình quân đầu người; xếp hạng 5/168 quốc gia về chỉ số tự do báo chí; xếp hạng 37/157 quốc gia về chỉ
số tự do kinh tế Czech là thành viên đầy đủ của Liên minh châu Âu.[76]
Trang 15tích, dân số nhưng Czech có những chỉ số khác rất ấn tượng, hấp dẫn mà Việt Nam mong muốn có được mối quan hệ tốt đẹp để hợp tác và phát triển lâu dài
Czech là một nước nghèo tài nguyên (chỉ có than đá, than nâu, quặng sắt, cao lanh, cát làm thuỷ tinh…trữ lượng nhỏ) nhưng có nền tảng nền công nghiệp từ những thế kỷ trước, Czech rất có lợi thế trong phát triển ngành công nghiệp, đưa lĩnh vực này trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng khoảng 40% toàn bộ nền kinh tế, trong đó phải kế đến các lĩnh vực nổi bật như sản xuất ô tô, luyện kim, khai thác mỏ, sản xuất máy móc công cụ thiết bị, hóa dầu, ô tô, thiết bị y tế, nhiệt điện, thủy điện, chế biến lương thực, thực phẩm, pha lê và bia
Czech duy trì chính sách đối ngoại rộng mở, ưu tiên hội nhập sâu với các nước trong khu vực đồng thời mở rộng với các nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam Hai quốc gia ở hai châu lục Âu, Á nhưng lại có mối quan hệ đặc biệt hữu nghị, nồng ấm và thân tình Có lẽ xuất phát bởi sự tương đồng về lịch sử và ý chí độc lập dân tộc: Czech và Việt Nam đều trải qua thời kỳ phong kiến, xảy ra những cuộc xung đột giai cấp, thực hiện nhiều cuộc khởi nghĩa chống áp bức cho nhân dân, chuyển đổi các hình thức nhà nước…và cùng là thành viên trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa (những năm trước 1993)
Hiểu về lịch sử Czech, chúng ta cũng hiểu được một phần lịch sử châu Âu Thế kỷ thứ 6, người Slav đến định cư vùng lãnh thổ Czech ngày nay Nửa đầu thế
kỷ thứ 9 ra đời đế chế Đại Moravia, nhà nước đầu tiên của tổ tiên những người Czech và Slovakia Thế kỷ thứ 10 Đế chế này sụp đổ Vùng Slovakia bị đế chế Hung thôn tính, vùng Czech trở thành trung tâm của quá trình hình thành nhà nước độc lập sau này Từ giữa thế kỷ 12 đến thế kỷ 14 là giai đoạn phồn thịnh của quốc gia phong kiến Czech, trong đó có triều đại vua Charle Đệ tứ nổi tiếng Các thế kỷ sau đó, chế độ phong kiến áp bức, hà khắc và bất công đã làm bùng nổ nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân, tiêu biểu nhất là phong trào cải cách Jan Hus đầu thế kỷ
15 Những cuộc xung đột giai cấp liên tục diễn ra đã làm cách tân chế độ phong kiến; các mối quan hệ tư bản từng bước hình thành Giới tư sản dân tộc ngày càng đấu tranh quyết liệt để giành quyền chính trị, đỉnh cao là cuộc cách mạng dân chủ tư
Trang 16quân chủ Áo – Hung Khi đế quốc này tan rã, họ đã nhân cao trào cách mạng lúc đó
để nắm quyền, lập ra nước Cộng hoà Tiệp Khắc ngày 28/10/1918 Hiệp ước Munich (1939) lại chia Tiệp Khắc thành xứ bảo hộ Czech và nhà nước “Độc lập” Slovakia thân phát xít Đức Sau giải phóng (5/1945), hai nhà nước này sáp nhập thành một quốc gia tổ chức theo chế độ tập quyền Mùa xuân 1968, các lực lượng cải cách trong Đảng Cộng sản Tiệp Khắc (KSC) lên nắm quyền lãnh đạo, đã quyết định tổ chức lại Tiệp Khắc theo hình thức liên bang (28/10/1968) Việc Đảng Cộng sản Tiệp Khắc mất quyền lãnh đạo và thay đổi thể chế chính trị sau cuộc “cách mạng nhung” (11/1989) đã tạo tiền đề cho sự kết thúc giai đoạn 74 năm chung sống của hai dân tộc Czech và Slovakia
Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc li khai ôn hòa đã diễn ra, Tiệp Khắc lại
tách thành hai quốc gia độc lập là Czech và Slovakia[76] Từ đây Czech thực hiện
chuyển đổi theo hướng xây dựng thể chế dân chủ nghị viện, kinh tế thị trường và
thượng viện (Senát) bao gồm 81 ghế Tại Czech có 14 khu vực bầu cử tương ứng
với 14 khu vực hành chính của cả nước
Trong quan hệ quốc tế, quan hệ với các nước lớn thường được chú trọng Czech không phải là nước lớn nhưng mối quan hệ giữa Việt Nam và Czech là đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với Việt Nam cả trong thời chiến và thời bình Việt Nam
và Tiệp Khắc (nay là CH Czech) xây dựng mối quan hệ trên cơ sở lịch sử khá vững chắc Tiệp Khắc luôn trân trọng cuộc đấu tranh anh hùng của Việt Nam vì độc lập và sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam phục hồi nền kinh tế bị tàn phá do chiến tranh
Sau những biến động của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, những thay đổi tại Tiệp Khắc vào tháng 11 năm 1989, nước Cộng hòa liên bang Czech và Slovakia tách ra vào ngày 01/01/1993, Czech tuyên bố mong muốn phát triển quan hệ với Việt Nam Việt Nam đã công nhận Czech ngay sau khi ra đời và cả hai quốc gia đều duy trì đại diện ngoại giao của mình ở cấp đại sứ Sự kiện này đánh dấu một trang mới trong quan hệ bang giao giữa hai quốc gia[42]
Trang 17Czech không ngừng cung cấp viện trợ phát triển cho Việt Nam Mặc dù khối lượng viện trợ phát triển của Czech không lớn so với viện trợ của các nước phát triển khác nhưng nó cũng nói lên sự sẵn sàng trợ giúp của Czech đối với Việt Nam trở thành một đất nước châu Á hiện đại
Trong hợp tác kinh tế - thương mại với Việt Nam, Czech nhận thấy thị trường Việt Nam là thị trường tiêu thụ triển vọng các sản phẩm cơ khí và các sản phẩm khác như: động cơ diezen, các nhà máy thủy điện và nhiệt điện, các nhà máy bia, máy công cụ hay các sản phẩm thủy tinh, pha lê, thiết bị điện lực, thiết bị thiêu chất thải rắn của bệnh viện, các trạm làm sạch nước thải, kỹ thuật y tế, các thiết bị máy móc phục vụ ngành mỏ Czech nhập khẩu nguồn nguyên liệu quan trọng của Việt Nam như: cà phê, gạo, cao su, đay, đậu tương và an-tra-xit…Nâng cao thị phần xuất khẩu của Czech sang Việt Nam là chủ đề trọng yếu trong việc phát triển quan
hệ với Việt Nam là nước mà Czech ưu tiên quan tâm
Vai trò quan trọng trong quá trình hiểu biết lẫn nhau và xích lại gần nhau hơn giữa hai nước là các tổ chức phi chính phủ, Hội hữu nghị Czech - Việt, Hội hữu nghị Việt - Czech, Hội người Việt Nam tại Cộng hòa Czech, Phòng Thương mại công nghiệp Czech - Việt, Hội Thương mại đầu tư Czech - Việt, các Câu lạc bộ của Việt Nam tại Czech…Không quên sự đóng góp của cộng đồng người Việt tại Czech, một bộ phận di sản tốt đẹp của quan hệ truyền thống, là những thành viên đang tham gia tích cực vào việc phát triển trao đổi thương mại và kinh tế và là nguồn xúc tác trong quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Czech và Việt Nam Nhờ có họ
mà Việt Nam, một đất nước khác biệt về văn hoá, vị trí địa lý cách xa nhau hàng vạn cây số lại trở nên gần gũi, thân thương với nước Czech
1.2 Quan hệ Việt Nam – Czech trước năm 1993
Có thể nói đây là giai đoạn tình cảm nồng thắm nhất, sâu sắc nhất trong quan
hệ hữu nghị Việt Nam - Tiệp Khắc Việt Nam đã tiếp nhận sự viện trợ lớn nhất, ưu tiên từ Tiệp Khắc từ thời kỳ chiến tranh đến thời kỳ đổi mới, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với sự giúp đỡ quý báu và chân thành của Chính phủ và nhân dân Tiệp Khắc
Trang 18Trước năm 1950 (Việt Nam và Tiệp Khắc thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 2/2/1950), Chính phủ và nhân dân Tiệp khắc đã ủng hộ công cuộc giành Độc lập của nhân dân Việt Nam với sự giúp đỡ chân tình, hiệu quả về kinh tế cũng như gửi
cả chiến sĩ quốc tế giúp Việt Nam Năm 1956, đào tạo chuyên gia Việt Nam tại Tiệp Khắc cho ngành cơ khí và công nghiệp nhẹ và trong khuôn khổ viện trợ quốc tế giành cho Việt Nam bị chiến tranh huỷ hoại đã có 100 trẻ em được sang Tiệp Khắc Sau khi Việt Nam đánh bại thực dân Pháp xâm lược và bắt đầu công cuộc tái thiết đất nước, Czech đã dành cho Việt Nam nhiều sự giúp đỡ chí tình mà nhân dân VN không bao giờ có thể quên được Một trong những công trình mang ý nghĩa biểu tượng cho tình hữu nghị giữa hai nước do Tiệp Khắc viện trợ giai đoạn này là Bệnh viện hữu nghị Việt – Tiệp (1958) tại thành phố Hải phòng Từ một bệnh viện quy
mô nhỏ mà quân đội Pháp đã dùng để khám chữa bệnh chủ yếu cho lính viễn chinh Pháp, sau khi rút quân, thực dân Pháp đã mang đi hầu hết các trang thiết bị, chỉ còn lại cơ sở vật chất nghèo nàn, sập sệ Chính phủ Tiệp Khắc đã cử đoàn chuyên gia sang trợ giúp, khảo sát, thiết kế xây dựng lại thành bệnh viện khang trang, hiện đại
và đổi tên thành Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp như ngày nay Để công trình được triển khai nhanh chóng, kịp thời đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho quân và dân Việt Nam lúc bấy giờ, Chính phủ và nhân dân Tiệp Khắc đã dành cho Việt Nam tình cảm và sự trợ giúp vô cùng to lớn, nhiều nhà máy, xí nghiệp của Tiệp Khắc đã lao động hết công suất thậm chí làm thêm ngoài giờ để cung cấp những nguyên vật liệu xây dựng cùng những trang thiết bị quý đủ để trang bị cho bệnh viện trở thành bệnh viện đạt tiêu chuẩn như ở Tiệp Khắc thời điểm đó Nhiều cán bộ, chuyên môn
y tế liên tục được đào tạo hoặc là tại chỗ hoặc là tại Czech Điều đáng chú ý là trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp vẫn tiếp tục nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của chính phủ Czech bằng những gói tài trợ hết sức
có ý nghĩa để bệnh viện phát triển ngày một hiện đại, xứng đáng là công trình mang
ý nghĩa biểu tượng cho tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước
Đầu những năm 1960, bắt đầu có sinh viên Việt Nam sang Tiệp Khắc du học Ngày 15/3/1961, Bản hiệp định được ký kết với nội dung Tiệp Khắc sẽ giúp Việt
Trang 19công nghiệp như: nhà máy sản xuất chất chịu lửa, thuộc da, đóng giầy, ướp lạnh Bản hiệp định này đã khẳng định tình hữu nghị anh em đặc biệt giữa Tiệp Khắc và Việt Nam
Cột mốc cơ bản trong việc người Việt Nam nhập cư sang Tiệp Khắc là năm
1973, khi ấy đoàn đại biểu chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sang thăm Tiệp Khắc để hội đàm về việc có khoảng mười đến mười hai nghìn công dân Việt Nam sang học nghề Các hiệp định được ký kết trong khoảng thời gian 1973-1974, 1979-1980 đã tạo điều kiện cho khối lượng lớn công nhân, học sinh học nghề, sinh viên và thực tập sinh sang học Vào nửa đầu những năm 80 của thế kỷ trước, số lượng công dân Việt Nam tại Tiệp Khắc là khoảng ba mươi nghìn người Nửa sau của những năm 1980, số lượng này giảm dần và đến năm 1990, Hiệp ước giữa hai nước đã kết thúc[56]
Cùng với những gói viện trợ về y tế, chính phủ của Tiệp Khắc cũng luôn ưu ái dành cho Việt Nam sự trợ giúp quý báu để phát triển các ngành công nghiệp mà Tiệp Khắc có thế mạnh Công ty cổ phần khóa Việt Tiệp đã ra đời trong hoàn cảnh như thế Được thành lập năm 1974 với tên gọi ban đầu là Xí nghiệp khóa Hà Nội trong bối cảnh đất nước còn chưa hoàn toàn giải phóng nên doanh nghiệp đã gặp rất nhiều khó khăn, song đơn vị này đã may mắn được nước bạn Tiệp Khắc trang bị toàn bộ dây chuyền sản xuất và sau hơn hai năm thi công xây dựng, năm 1976 chiếc khóa mang thương hiệu Việt Tiệp đầu tiên đã ra đời như một thương hiệu thể hiện
sự đoàn kết, gắn bó keo sơn giữa Việt Nam và Tiệp Khắc
Những dấu ấn trong quan hệ giữa hai nước còn hiện hữu một cách bền vững bởi những công trình mang biểu tượng hữu nghị giữa hai quốc gia vẫn luôn khắc sâu trong tâm khảm của nhân dân hai nước như Cung Văn hóa hữu nghị Việt Tiệp
do Hội đồng Trung ương các công đoàn Tiệp Khắc trao tặng công nhân lao động Việt Nam và thành phố Hải Phòng, Cung Thiếu nhi Hà Nội… Đây là món quà hết sức có ý nghĩa để các tầng lớp nhân dân có điều kiện tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao, vui chơi giải trí và phục vụ những sự kiện chính trị quan trọng của thành phố và của quốc gia
Trang 20Trong những năm tháng chiến tranh giành thống nhất hai miền Nam Bắc, Chỉnh phủ và nhân dân Tiệp Khắc luôn động viên tình thần đối với nhân dân Việt Nam khi trong tháng 3/1975, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Tiệp Khắc đã phát biểu khẳng định sự ủng hộ đối với nhân dân Việt Nam Ngày 6/6/1975 tại Praha Việt Nam và Tiệp Khắc ký Kế hoạch hợp tác y tế do đồng chí Hoàng Đình Cầu, Thứ trưởng Bộ Y tế và đồng chí Xtipan, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Y tế Tiệp Khắc nhằm giúp Việt Nam về thuốc men, trang thiết bị, dụng cụ y tế phục vụ cho việc tái thiết đất nước
Giai đoạn này, Việt Nam đang tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế, xây dựng lại đất nước sau chiến tranh trong điều kiện khó khăn mọi mặt: khó mở rộng quan hệ với các nước không thuộc hệ thống XHCN, Cộng đồng châu Âu – EC cắt viện trợ cho Việt Nam, đối mặt với cuộc xâm lược vũ trang của Trung Quốc…Bất chấp những điều đó, Chính phủ và nhân dân Tiệp Khắc vẫn một lòng ủng hộ và đồng hành cùng Việt Nam Cụ thể, ngày 9/2/1979 tại Hà Nội, đồng chí Đoàn Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước và đồng chí Bộ trưởng Karen Lov, Trưởng Đoàn đại biểu Hợp tác khoa học và kỹ thuật Tiệp Khắc
đã ký Nghị định thư của khóa họp lần thứ 13 của Tiểu ban Hợp tác khoa học và kỹ thuật Việt Nam – Tiệp Khắc
Luôn là những người bạn anh em, phản đối những việc làm phi nghĩa, ngày 20/2/1979 Ban Chấp hành T.Ư Đảng CS và Chính phủ Tiệp Khắc ra Tuyên bố sự căm phẫn sâu sắc, lên án cuộc xâm lược vũ trang do Trung Quốc tiến hành chống Việt Nam
Ngay sau đó, ngày 22/2/1979, Đoàn đại biểu Hội đồng Trung ương Các công đoàn Tiệp Khắc do đồng chí Karen Hopman, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành T.Ư Đảng CS Tiệp Khắc; Chủ tịch Hội đồng Trung ương Các công đoàn Tiệp Khắc dẫn đầu đã thăm và làm việc tại Việt Nam Đồng chí Trường Chinh tiếp Đoàn Hai
bên đã ký Bản thỏa thuận về sự hợp tác giữa Tổng Công đoàn Việt Nam và Hội
đồng Trung ương Các công đoàn Tiệp Khắc (được ký bởi đồng chí Nguyễn Văn
Linh, Ủy viên BCT T.Ư Đảng và đồng chí Karen Hopman)
Trang 21Tình cảm chân thành, hữu nghị dường như được tiếp nối một cách tự nhiên đến các thế hệ trẻ hai nước Trong tháng 5/1979, 1,5 triệu đội viên Đội thiếu niên tiền phong Tiệp Khắc theo lời kêu gọi của Trung ương Đoàn và Trung ương Đội, tiến hành nhiều hoạt động sôi nổi và hành động cụ thể để giúp đỡ thiếu nhi Việt Nam, khắc phục hậu quả do chiến tranh xâm lược của Trung Quốc gây ra Chuyến thăm hữu nghị một số nước xã hội chủ nghĩa anh em của Đoàn đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh do đồng chí Đặng Quốc Bảo dẫn đầu từ 24/4 đến 24/5/1979 theo lời mời của Ban Chấp hành trung ương Đoàn thanh niên Tiệp Khắc - Đức -Hungari - Bungari - Ba Lan - Mông Cổ là một minh chứng cụ thể
Trong lĩnh vực ngoại giao, Hiệp định lãnh sự Việt Nam – Tiệp Khắc đã ký ngày 14/02/1980 cho thấy mối quan hệ hữu nghị luôn được hai nước quan tâm ở mọi lĩnh vực
Hiệp định Tương trợ Tư pháp và Pháp lý (Về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc) đã được ký kết ngày 12/10/1982 tại Praha mà đại diện của Việt Nam là đ/c Phan Hiền, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đại diện của Tiệp Khắc là đ/c Antonin Kaspar, Bộ trưởng Tư pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc, với mong muốn phát triển tốt đẹp mối quan hệ anh em giữa hai Nhà nước và nhân dân hai nước, trên tinh thần hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện cho các quan hệ pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa hai nước
Các hoạt động thể hiện tình cảm hữu nghị gắn bó diễn ra ở Việt Nam trên các lĩnh vực trong giai đoạn này: Nhân kỷ niệm lần thứ 75 ngày sinh của đồng chí Gustav Husak, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTW Đảng CS Tiệp Khắc, ngày 9/1/1988 Chủ tịch HĐNN đã gửi điện chúc mừng Cũng trong tháng này, Hội hữu nghị Việt Nam – Tiệp Khắc tổ chức lễ ra mắt Câu lạc bộ hữu nghị Việt - Tiệp; Ngày 22/2/1988, Thành ủy, UBND, UBMTTQ Việt Nam thành phố Hải phòng đã tổ chức mít –tinh trọng thể kỷ niệm lần thứ 40 ngày thắng lợi của Cách mạng tháng hai Tiệp Khắc (25/2/1948-25/2/1988) Tháng 3/1988, Tiệp Khắc mở triển lãm đâu tiên về đồ trang sức Jablonex tại thành phố HCM giúp cho người dân tiếp cận với sản phẩm
Trang 22truyền thống của Tiệp Khắc; Ngày 31/05/1988, Nữ nghệ sĩ dương cầm Tiệp Khắc Jinda Krampérova sang Việt Nam biểu diễn
Thực hiện đường lối đổi mới mà Đại hội VI đề ra, Việt Nam đã đưa nền kinh
tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Để có thể phát triển, Việt Nam cần phải có các nhà đầu tư, vì thế tháng 12/1987 Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài, thể hiện chính sách khuyến khích rộng rãi đối với các nhà kinh doanh nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Và năm 1989, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, mở rộng tìm kiếm bạn hàng quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và các nhà đầu
tư nước ngoài làm ăn tại Việt Nam
Từ sau năm 1990, sau khi Tiệp Khắc chuyển đổi thể chế chính trị và nền kinh
tế, nhiều học sinh, sinh viên, lao động học nghề và công nhân người Việt đã ở lại và hình thành cộng đồng người Việt Nam tại Cộng hòa Czech và ngày càng đông đảo Bối cảnh thế giới đã diễn ra những thay đổi cơ bản Chiến tranh lạnh đã kết thúc, hình thái thế giới đa cực, hệ thống các nước XHCN tan rã… Czech và Việt Nam cũng không là ngoại lệ Sự chuyển biến trong quan hệ quốc tế, xu thế hòa bình
và hợp tác, xu thế quốc tế hóa đời sống chính trị, kinh tế - xã hội diễn ra nhanh chóng, mạnh mẽ và đã trở thành thiết yếu đối với mọi quốc gia Xu thế này đòi hỏi sự hội nhập ngày càng sâu rộng của các quốc gia vào đời sống quốc tế, đặc biệt là kinh tế Các tổ chức quốc tế và khu vực ra đời: các khu vực mậu dịch tự do, các liên minh thuế quan, thị trường chung, diễn đàn quốc tế và các hiệp định thương mại tự do FTA; vừa là kết quả của xu thế này vừa là phương tiện để thúc đẩy và thực hiện quá trình hội nhập của các quốc gia Các quốc gia cần phải điều chỉnh chính sách đối ngoại sao cho không đi ngược lại xu thế chung của thời đại, trong đó chú trọng tăng cường hợp tác song phương và đa phương, liên kết hợp tác của các nước trên thế giới Giai đoạn này đã phản ánh mối quan hệ hiếm có trong quan hệ quốc tế, Tiệp Khắc đã giúp đỡ Việt Nam với sự nhiệt thành, vô tư, quý báu bằng tinh thần và vật chất tối đa nhất có thể Chính phủ và nhân dân Tiệp Khắc ủng hộ, trân trọng và ngưỡng mộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chính nghĩa, giành độc lập dân tộc
Trang 231.3 Chính sách đối ngoại Việt Nam - Czech
1.3.1 Chính sách đối ngoại của Czech
Thủ tướng Czech có quyền quyết định các vấn đề đối nội và đối ngoại Mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại của Czech là nhằm bảo vệ quyền lợi dân tộc trong bối cảnh một châu Âu thống nhất, ổn định, thịnh vượng và một thế giới hòa bình, hạnh phúc Czech phấn đấu cho việc tạo ra môi trường quốc tế hướng vào việc phát triển hợp tác chính trị và kinh tế, loại bỏ những nguy cơ, đe dọa xung đột, chiến tranh trước hết bằng các phương pháp chính trị và hòa bình
Trong quan hệ quốc tế, Czech xuất phát từ vị thế của một quốc gia dân chủ,
ổn định về chính trị, kinh tế và xã hội tại Trung Âu, luôn theo đuổi không chỉ lợi ích của riêng mình, mà còn tiếp nhận phần trách nhiệm về sự phát triển châu Âu và cả cộng đồng quốc tế Czech kế tục tất cả những gì tích cực từ vị thế quốc tế của nước Tiệp Khắc trước đây Tầm quan trọng cơ bản để tăng cường và đứng vững trên vị thế quốc tế là việc Czech là thành viên của khối NATO và EU Trong khuôn khổ các tổ chức quan trọng này hay thông qua các tổ chức đó, đất nước Czech đã được
mở ra những con đường mới để quán triệt những lợi ích của mình[14,tr.212]
Môi trường quốc tế mà Czech đang thực hiện chính sách đối ngoại của mình
là kết quả của sự tác động hai chiều của hàng loạt nhân tố - các nước có chủ quyền, nhóm các quốc gia với mức độ hòa nhập khác nhau trong các tổ chức, cơ quan quốc
tế và còn cả những chủ thể phi quốc gia, các tổ chức phi chính phủ cho đến các nhóm ảnh hưởng không minh bạch và không tuân thủ các qui định trong quan hệ quốc tế, kể cả những nhóm tội phạm có tổ chức và các tổ chức khủng bố Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, sau sự tan rã của thế giới hai cực và do những biến cố của môi trường an ninh, của những quá trình toàn cầu hóa theo chiều sâu, tự do hóa kinh
tế thế giới, sự phụ thuộc của các quốc gia ngày càng tăng và sự phát triển khoa học
và kỹ thuật ngày càng nhanh hơn, thì sự hợp tác đa phương trong khuôn khổ các tổ
chức quốc tế và các nhóm liên kết ngày càng có ý nghĩa lớn hơn[14,tr.213]
Về nguyên tắc chính sách đối ngoại, Czech kế tục di sản và các giá trị của
nền văn minh châu Âu Czech phấn đấu sao cho các quan hệ quốc tế được xây dựng
Trang 24vẹn lãnh thổ của các quốc gia Czech thực hiện hợp tác quốc tế trên nguyên tắc cùng
có lợi[14,tr.214]
Về phương thức thực hiện, Czech thực hiện các mục tiêu chính sách đối
ngoại của mình bằng việc phát triển các quan hệ song phương tốt đẹp với các nước láng giềng và các nước khác, bằng sự hợp tác nhiều mặt, trong khuôn khổ các nhóm liên kết và các tổ chức quốc tế, chú trọng các lợi ích an ninh và kinh tế trong quan
hệ, đồng thời áp dụng nghiêm ngặt những tiêu chuẩn trong lĩnh vực môi trường sống phù hợp với những cam kết quốc tế và yêu cầu của luật pháp quốc gia
Việc gia nhập EU và sau đó là hoạt động với vai trò nước thành viên đã tạo
ra sự thay đổi cơ bản về vị thế của Czech tại châu Âu, đồng thời, với sự tham gia với đầy đủ tư cách của Czech trong tất cả các cơ quan của EU là những điều kiện mới và cũng là những nhiệm vụ nặng nề đối với công tác ngoại giao và cả hệ thống quản lý của Czech[14,tr.214]
Czech coi sự hợp tác với các nước láng giềng ở mức song phương, đa phương và khu vực là đặc biệt quan trọng Czech tiếp tục hợp tác chặt chẽ với các quốc gia nhóm Visegrat và các nhóm Trung Âu khác cũng trải qua sự chuyển đổi chính trị và kinh tế tương tự và là thành viên của các cơ cấu Âu châu - Đại Tây Dương và châu Âu
Quan hệ Czech – Slovakia là quan hệ trên mức thông thường, Czech hướng vào việc tiếp tục củng cố quan hệ hợp tác đôi bên, vừa ở mức song phương, vừa ở mức khu vực, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế mà Cộng hòa Czech luôn quan tâm Czech tiếp tục tăng cường hợp tác với Ba Lan trên nền tảng quan hệ láng giềng truyền thống Thể hiện cụ thể là hợp tác trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở trong giao thông, phát triển các quan hệ văn hóa
Czech phát triển toàn diện với CHLB Đức Trong chính sách của mình, Czech cho rằng: quan hệ Czech – Đức phải định hướng vào tương lai chung trong châu Âu thống nhất, trên cơ sở đối tác trong EU Cơ sở cho quan hệ láng giềng hiện đại vẫn sẽ là Tuyên bố Czech - Đức từ năm 1997 và Hiệp ước về quan hệ láng giềng thân thiện và hợp tác hữu nghị từ năm 1992
Trang 25Trong quan hệ với Áo và Hungari, Czech xuất phát từ mong muốn có quan
hệ láng giềng tốt, định hướng vào tương lai chung trong EU Czech sẽ tăng cường hợp tác mang tính xây dựng trong mọi lĩnh vực, kể cả hợp tác thương mại và biên giới, hạ tầng giao thông, bảo vệ môi trường…
Sau các nước Visegrat (V4) gia nhập EU, sự hợp tác trong khuôn khổ nhóm V4 cũng vẫn tiếp tục tồn tại Một trong mối ưu tiên của Czech là tăng cường và phát triển hợp tác biên giới với tất cả các nước Visegrat Czech cũng sẽ ủng hộ hợp tác V4 với các nhóm khu vực khác (Benelux hay Hội đồng phương Bắc) và với các nước mong muốn hợp tác
Trong môi trường an ninh NATO, Czech với tư cách người bảo vệ các quan
hệ Âu Châu – Đại Tây Dương, mong muốn tiếp tục tăng cường hợp tác NATO và
EU và hoạt động của các tổ chức này trong lĩnh vực chính trị - an ninh Cùng với các thành viên khác của NATO và EU, Czech góp phần vào việc đàm phán các hiệp định cụ thể, đảm bảo sự hợp tác và phối hợp chặt chẽ của hai tổ chức này trong việc phòng chống và khắc phục khủng hoảng[14,tr.215]
Trong quan hệ NATO với Liên bang Nga và Ukraina, Czech ủng hộ nỗ lực của NATO vì sự hợp tác rộng hơn và sâu hơn với Liên bang Nga, Ukraina Trong lĩnh vực hợp tác an ninh với Nga, Czech sẽ xuất phát từ Cương lĩnh thành lập NATO - Liên bang Nga, Tuyên bố Rôma tháng 5/2002 và từ các nhóm hợp tác đã được nêu ra trong khuôn khổ Hội đồng NATO - Liên bang Nga Czech sẽ ủng hộ chính sách mở cửa của NATO và sẽ hợp tác với tất cả các quốc gia muốn là thành viên của NATO, và tùy theo điều kiện, nhu cầu, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về tiếp cận và tác động trong NATO
Czech tham gia tích cực trong cuộc chiến chống khủng bố, cùng với nỗ lực triệt thoái khủng bố, nhấn mạnh sự hợp tác quốc tế với định hướng lâu dài vào các hình thức chống tội phạm quốc tế có tổ chức, buôn bán trái phép chất gây nghiện,
vũ khí, buôn người, tham nhũng và mọi hình thức tài trợ cho khủng bố Trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế và hiệp ước Liên Hợp Quốc, Czech tham gia mạnh
mẽ các quá trình chính trị nhằm dần dần giảm vũ khí hạt nhân và thực hiện được
Trang 26việc cấm hoàn toàn các vũ khí hóa học và sinh học Czech coi Hiệp ước về các lực lượng có vũ khí thông thường tại châu Âu ngay từ ngày mới ra đời là sự đóng góp
cơ bản vì một châu Âu thống nhất và an toàn hơn Czech sẵn sàng ký Hiệp ước ngay sau khi hoàn tất mọi cam kết chính trị của Liên bang Nga đã được thông qua tại Hội nghị cấp cao OSCE tại Istanbul năm 1999
Trong quan hệ với các nước châu Á và Thái Bình Dương, Czech quan tâm đến sự cân bằng và hài hòa với chính sách được áp dụng tại khu vực này trong khuôn khổ EU Chính sách châu Á của Czech là sẽ nỗ lực kế tục truyền thống trong quan hệ lâu dài giữa Czech với khu vực này Trong hợp tác kinh tế, Czech tập trung vào các nước thành viên Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), trong lĩnh vực chính trị tham gia vào khuôn khổ đa phương Gặp gỡ Á-Âu (ASEM)
Czech đã dành sự quan tâm đặc biệt cho sự phát triển các quan hệ hữu nghị, liên minh chặt chẽ với Mỹ và Canada Czech mong muốn mở rộng hợp tác kinh tế với sự có mặt của các dự án đầu tư của Mỹ và Canada tại Czech và Trung Âu[14,tr.215-219]
Czech phát triển các quan hệ song phương và đa phương với các quốc gia châu Á, Phi, Úc và Mỹ La-tinh trên cơ sở hợp tác song phương cùng có lợi, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Czech sẽ quan tâm đến các khả năng thương mại và đầu tư tại các nước mà Tiệp Khắc trước đây đã có quan hệ kinh tế phát triển và nơi có nhiều cán bộ chuyên gia đã theo học đại học và trung học tại Czech
Tại Trung Cận Đông và Bắc Phi, chính sách đối ngoại của Czech là theo đuổi cách tiếp cận tích cực đối với các nước trong khu vực Czech tiếp tục ủng hộ
sự sắp xếp hòa bình tại Cận Đông để đảm bảo an ninh, chính trị và kinh tế của cả khu vực Czech quán triệt chính sách của EU nhằm tăng cường an ninh và hợp tác với vùng Biển Đông Czech ủng hộ tất cả các bước hợp tác nhằm loại bỏ nguy cơ của vũ khí hủy diệt hàng loạt và các chế độ độc tài trong khu vực này
Czech coi việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế là một trong những sứ mệnh chủ yếu của Liên Hợp Quốc Vì vậy, Czech sẽ ủng hộ những bước đi hướng vào việc tăng cường uy tín, hiệu quả và khả năng hoạt động của Liên Hợp Quốc
Trang 27trong việc dàn xếp và phòng chống các xung đột, giải quyết khủng hoảng, viện trợ nhân đạo và khôi phục sau xung đột Czech quán triệt việc thực hiện các mục tiêu
trong Tuyên ngôn thiên niên kỷ và nhằm đảm bảo sự tiếp cận công bằng trong toàn
cầu hóa, phù hợp với các kết quả của các hội nghị quốc tế lớn (Doha, Monterrey, Johanesburg…)
Đối với các tổ chức kinh tế tài chính quốc tế, Czech tham gia vào hoạt động của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng quốc tế nhằm khôi phục và phát triển, cũng như các tổ chức khác của Nhóm Ngân hàng thế giới Czech dành sự quan tâm tối đa cho sự hợp tác với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tích cực thúc đẩy quá trình tự do hóa mọi hình thức thương mại thế giới, chú trọng vào các dịch vụ và nông nghiệp và phấn đấu nhằm thỏa thuận được những điều kiện dẫn đến thành lập khung thương mại đa bên, có lợi cho tất cả các thành viên tổ chức và chú trọng việc thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết của các thành viên WTO Czech quan tâm hợp tác với tổ chức du lịch thế giới, tích cực góp phần vào việc phát triển và ủng hộ du lịch quốc tế nhằm phát triển kinh tế tại các nước thành viên Czech ủng hộ các hoạt động của WTO, trước hết trong lĩnh vực thống kê, nâng cao chất lượng dịch vụ, đào tạo và tài chính
Czech quan tâm đối thoại với Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), tích cực khai thác khuyến nghị của tổ chức này Với việc gia nhập EU, Czech đồng thời trở thành thành viên Ngân hàng đầu tư châu Âu (EIB) Điều này liên quan đến việc tiếp tục khai thác các điều kiện thuận lợi về tài chính để phát triển các lĩnh vực xã hội và hạ tầng cơ sở
Czech nhấn mạnh việc sử dụng tối ưu các điều kiện do gia nhập vào EU Ngoại giao kinh tế cũng sẽ hướng vào việc làm phong phú chính sách kinh tế của chính phủ từ những ý tưởng môi trường bên ngoài
Trong khả năng của mình, Czech tiếp tục góp phần vào việc hình thành và thực hiện chiến lược phát triển quốc tế, Czech coi viện trợ phát triển là công cụ quán triệt quyền con người và các giá trị dân chủ[14,tr.219-222]
Trang 28Viện trợ phát triển (VTPT) và viện trợ nhân đạo (VTNĐ) vẫn sẽ là một bộ
phận không tách rời trong chính sách đối ngoại của Czech và về mặt tài chính cũng như tổ chức sẽ được thực hiện phù hợp với nguyên lý được áp dụng tại các nước phát triển Czech sẽ dành VTPT trên cơ sở song phương và cả trong khuôn khổ các
tổ chức quốc tế (Liên Hợp Quốc, OECD…) và EU[14,tr.222]
Chính sách đối ngoại của Czech hướng vào việc đảm bảo giới thiệu có mục
đích và hiệu quả đất nước Czech tại nước ngoài Trong đó sẽ chú ý việc kết hợp các
khía cạnh văn hóa, kinh tế, du lịch và các khía cạnh khác và sử dụng nhiền hơn các phương tiện và kỹ thuật thông tin mới
Trong việc phát triển quan hệ với kiều bào và bè bạn của Czech ở nước ngoài, Czech chú ý đến tính đặc thù của từng cộng đồng và tổ chức, cố gắng tạo điều kiện cho các kiều bào có thể tham gia ở mức rộng hơn sinh hoạt chính trị của
xã hội Czech[14,tr.222-223]
1.3.2 Chính sách đối ngoại của Việt Nam
Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, Việt Nam phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng sâu sắc và toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội Từ những năm 1980, những thay đổi diễn ra không chỉ bên trong Việt Nam mà còn ở cả phạm
vi khu vực và thế giới đã mở ra những triển vọng mới cho quan hệ quốc tế rộng mở
và hiệu quả giữa Việt Nam và các đối tác Thay đổi lớn nhất trong thời gian đó là quyết định thực hiện chính sách đổi mới mà Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức thông qua năm 1986, đổi thay từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt là quan hệ đối ngoại Năm 1995, Việt Nam đã trở thành thành viên ASEAN, ASEM năm 1996, APEC năm 1998, WTO năm 2007 và Ủy ban không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc 2008[29,tr.12]
Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam ra đời trong bối cảnh chưa bao giờ thế giới lại có nhiều chuyển biến to lớn như vậy Trật tự hai cực Yalta hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt Liên Xô, thành trì của phe XHCN tan rã kéo theo sự sụp đổ của chế độ chính trị theo mô hình Xô Viết của các nước Đông Âu Bức tường Berlin chia rẽ hai nước Đức và là biểu tượng của Chiến
Trang 29tranh lạnh cũng không còn nữa Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa và các thách thức an ninh phi truyền thống lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia Đó chính là một trong những yếu tố bên ngoài tác động quan trọng đến chính sách đối ngoại của Việt Nam
Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1986 -1991 đã đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong đổi mới tư duy, cách thức tiếp cận để xem xét các vấn đề thời đại, tình hình thế giới, giải quyết tổng thể các vấn đề trong nước nằm trong bối cảnh quốc tế và thời đại để xử lý những diễn biến mau lẹ, những biến đổi bên ngoài, phục vụ mục tiêu đổi mới và phát triển đất nước Mục tiêu chính là phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ gìn hòa bình ở Đông Dương, góp phần giữ gìn hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ hữu nghị với tất cả các nước Thấy được tầm quan trọng của ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị, trong đó ngoại giao kinh tế phải được ưu tiên hàng đầu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài để đẩy mạnh cải cách và đổi mới kinh tế, đồng thời nỗ lực tham gia vào các tổ chức và diễn đàn kinh tế để học hỏi kinh nghiệm
Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1991-1996 là bước tiếp nối và nâng cao của giai đoạn trước Tư tưởng đổi mới nhận thức về các vấn đề an ninh và phát triển thể hiện trong Nghị quyết 13 (1988) đã được cụ thể hóa qua chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa đối ngoại, đặc biệt thể hiện trong quyết định gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ (11/07/1995) “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước”[29,tr.87]
Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1996-2000: “Việt Nam muốn
là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.” Mục tiêu chiến lược của chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn này là “ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nước phát triển
và các trung tâm kinh tế chính trị trên thế giới, đồng thời luôn luôn nâng cao tinh thần đoàn kết anh em với các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ
Trang 30Latinh và Phong trào Không liên kết.” Việt Nam cũng sắp xếp các đối tác quan hệ theo thứ tự ưu tiên là các nước láng giềng và khu vực, các nước lớn, các nước bạn
bè truyền thống và các tổ chức quốc tế và khu vực mà Việt Nam là thành viên Theo
đó nhấn mạnh đến bốn nội dung cơ bản: Một là, tạo dựng và củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hai là, ra sức tranh
thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi góp phần vào công cuộc phát triển đất nước,
mở rộng hợp tác kinh tế Đây là nhiệm vụ trọng tâm của ngoại giao Việt Nam thời
kỳ đổi mới Ba là, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Thực hiện
đường lối độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, trong giai đoạn này Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 167 nước thuộc tất cả các châu lục và lần đầu tiên trong lịch sử có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, các ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc (ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU…), phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN…Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị cấp cao Cộng đồng các nước có
sử dụng tiếng Pháp năm 1997 và đặc biệt Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 năm
1998 Ngoại giao đa phương là một điểm sáng trong hoạt động ngoại giao thời đổi
mới Bốn là, chủ động tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2001-2005: Việt Nam đã tăng cường và tích cực thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, trong đó chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và giữ vững
an ninh, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là hai nhiệm vụ then chốt “ Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và Chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới”.[29,104]
Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX (01/2004) đã chỉ rõ nhiệm vụ trong nửa nhiệm kỳ còn lại của Đại hội IX về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là “chủ động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc
Trang 31tế đa phương, song phương nước ta đã ký và chuẩn bị tốt các điều kiện để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)” [106,tr.86]
Mục tiêu chung của chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2006-2010
đã được Đảng CS Việt Nam xác định là: “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
tự chủ, hòa bình hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.” [107,tr.112]
Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 2011-2015 thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, đối tác tin cậy
và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế Điểm mới trong phương châm đối ngoại của Đại hội XI là “hội nhập quốc tế” và “thành viên có trách nhiệm”[82]
Với những đường lối và chủ trương đó, Việt Nam đã xác định các chính sách
cụ thể đối với từng đối tác Trong đó, Việt Nam coi các nước láng giềng và khu vực
là các đối tác ưu tiên hàng đầu, các nước EU và châu Á- Thái Bình dương ngày càng có vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
Liên minh châu Âu là nơi tập trung nhiều nước lớn với trình độ phát triển cao và là một trong những trung tâm chính trị - kinh tế hàng đầu thế giới Vì thế, khi tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác châu Âu, cả song phương lẫn đa phương sẽ giúp Việt Nam không những khai thác được nguồn vốn, công nghệ, thị trường…phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà còn thu hút được sự quan tâm của các nước lớn, các tổ chức kinh tế - chính trị khác trên thế giới trên cơ sở lợi ích của mỗi nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Các đối tác châu Âu luôn giữ vị trí trọng điểm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
Trang 323.1.3 Hoạt động đối ngoại Việt Nam - Czech
Czech ưu tiên hội nhập vào cơ cấu châu Âu và là thành viên EU từ tháng 5/2004 Với tư cách thành viên đầy đủ của EU, Czech tích cực tham gia xây dựng
và thực thi chính sách chung của EU Czech chủ trương phát triển quan hệ đa dạng với các nước ở các khu vực khác của thế giới Tại châu Á, Czech chú ý tới quan hệ với các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và một số nước có quan hệ lâu năm trong đó có Việt Nam Việt Nam luôn coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt với các nước bạn truyền thống ở khu vực Trung Đông Âu, trong
đó Czech là một ưu tiên
Trước đây, Tiệp Khắc đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ nhiệt tình, sự giúp
đỡ quý báu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng đất nước, đã giúp Việt Nam đào tạo nhiều cán bộ khoa học – kỹ thuật và công nhân lành nghề Sau năm 1993, Czech vẫn luôn coi trọng quan hệ với Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các nước ưu tiên phát triển quan hệ nhiều mặt, nhất là quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư trên cơ sở mới bình đẳng, cùng có lợi Cùng với việc thành lập Ủy ban liên chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại, hai nước đã ký nhiều Hiệp định quan trọng, tạo khung pháp lý cho sự hợp tác nhiều mặt trong điều kiện
mới Khóa họp thứ nhất Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam - Czech ngày14/10/1998
tại Hà Nội không phải là sự khởi đầu mà là sự tiếp tục mối quan hệ hợp tác song
phương vốn có từ lâu giữa hai nước Czech và Việt Nam Phiên họp thứ hai của Ủy
ban liên Chính phủ Việt Nam – Czech về hợp tác kinh tế và thương mại được tiến
hành tại Praha vào giữa tháng 11/1999 và Khóa họp lần thứ ba tổ chức vào tháng
11/2001
Mối quan hệ hữu nghị lịch sử của Việt Nam và Czech được thể hiện một cách tích cực thông qua việc đối thoại chính trị sâu rộng và các hoạt động song phương trên nhiều lĩnh vực Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối hỗ trợ Czech tăng cường quan
hệ với ASEAN và các nước thành viên của khối Hai nước hài lòng về khuôn khổ pháp lý hiện có giữa và nhất trí ủng hộ việc hoàn thiện khuôn khổ này trên các lĩnh vực cùng quan tâm nhằm thúc đẩy hơn nữa hợp tác giữa hai nước Hiệp định về
Trang 33Chuyển giao người bị kết án tù, Hiệp định về Chống tội phạm và Hiệp định về Hợp tác trên các lĩnh vực Văn hóa, Giáo dục, Khoa học, Thanh niên và Thể thao giữa hai nước sẽ sớm được ký kết Sự hợp tác hiện tại giữa các cơ quan chức năng chống tội phạm, ma túy sẽ được tăng cường
Việt Nam và Czech có cùng quan điểm là tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư và cùng khẳng định sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu thị trường, tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinh doanh trên các lĩnh vực hai bên có thế mạnh hoặc làm chủ công nghệ cao, tăng cường hợp tác đổi mới trên các lĩnh vực khoa học và công nghệ
Sang đầu thế kỷ XXI, quan hệ Việt Nam - Czech đã dần chuyển hướng sang hình thái hợp tác kinh tế thương mại đôi bên cùng có lợi đáp ứng lợi ích nguyện vọng của hai quốc gia Mặc dù chính sách thương mại của Czech trở thành một phần của chính sách thương mại EU nhưng vẫn còn rất nhiều khả năng hợp tác Czech - Việt về kinh tế và công nghệ Vì vậy, năm 2003 Czech đã có sáng kiến ký kết Hiệp định mới song phương về hợp tác kinh tế, bao gồm hợp tác trong những lĩnh vực đặc thù mà hai bên cùng quan tâm Người Czech có câu: “Không nên chê trời tối mà hãy tìm cách bật đèn lên cho sáng” ý muốn nói Czech chủ động trong
việc tìm kiếm đối tác để hợp tác phát triển và Thủ tướng Vladimír Špidla (2003)
nhấn mạnh Việt Nam là nước bạn bè gần gũi nhất của Czech ở châu Á
Czech là một thành viên của hiệp hội quốc tế giúp đỡ các nước đang phát triển, trong khuôn khổ của hiệp hội này Czech hợp tác rất chặt chẽ với các tổ chức quốc tế khác như UNDP (Tổ chức Phát triển của Liên hiệp quốc), Ngân hàng thế giới và một số các tổ chức quốc tế khác Việt Nam đánh giá cao viện trợ phát triển song phương của Czech dành cho Việt Nam và đề nghị mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực công nghệ môi trường, trồng rừng, quản lý chất thải, thích ứng với biến đổi khí hậu, cấp thoát nước, y tế cộng đồng, đào tạo nhân lực, cải cách hệ thống bảo hiểm và xây dựng bệnh viện
Czech và Việt Nam nhất trí tăng cường trao đổi kinh nghiệm và hợp tác tại các diễn đàn quốc tế, bao gồm cả những diễn đàn về các vấn đề an ninh khu vực và
Trang 34quốc tế, chống khủng bố, biến đổi khí hậu; xem xét ủng hộ lẫn nhau ứng cử vào các
tổ chức quốc tế Hai bên cũng nhất trí tiếp tục đóng góp cho việc duy trì hòa bình,
ổn định trong khu vực và trên thế giới; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế
Trên cơ sở mối quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống tốt đẹp giữa hai nước, Czech sẽ tiếp tục ủng hộ nỗ lực của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác
và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) Phía Czech đã hoàn tất các thủ tục nội bộ cần thiết để Hiệp định khung về Đối tác và hợp tác (PCA) có hiệu lực Hai nước cùng có ý kiến ủng hộ việc sớm hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (FTA)[108]
Việt Nam cảm ơn chính quyền và nhân dân Czech đã tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam sinh sống, làm việc và kinh doanh tại Czech Phía Việt Nam đánh giá cao việc Czech công nhận các công dân Czech gốc Việt là một nhóm dân tộc thiểu số (ngày 3/7/2013), điều này thể hiện sự phát triển tích cực và năng lực hội nhập của cộng đồng người Việt, tạo nền tảng vững chắc để cộng đồng đóng góp tích cực hơn nữa cho sự phát triển của Czech cũng như cho việc tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước
Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Czech ngày càng sâu sắc và mở rộng trên nhiều lĩnh vực Điểm nhấn trong quan hệ Việt – Czech là hợp tác về thương mại Czech xác định Việt Nam là 1 trong 12 đối tác hàng đầu về quan hệ thương mại trên thế giới Việt nam cũng xác định Czech là 1 đối tác quan trọng, là cửa ngõ để Việt Nam vào EU Hai nước quan tâm mở rộng đầu tư và tăng cường hợp tác kinh
tế thương mại song phương, quyết định hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hai nước trong việc hợp tác đôi bên cùng có lợi theo các quy định của WTO
Việt Nam và Czech tăng cường sự tin tưởng lẫn nhau và làm sâu sắc thêm sự hợp tác thiết thực trên mọi lĩnh vực là phục vụ lợi ích toàn xã hội của hai nước và góp phần tạo dựng môi trường quốc tế hòa thuận Hai nước sẵn sàng phát triển sự hợp tác sẵn có cũng như tăng cường các cuộc trao đổi và các mối quan hệ khác ở
Trang 35cấp địa phương và các tổ chức phi chính phủ, nhất là trong các lĩnh vực bảo vệ môi trường, khoa học, văn hóa, giáo dục, thể thao, y tế và du lịch Việt Nam và Czech nhận rõ tầm quan trọng của sự hợp tác trong khuôn khổ các diễn đàn EU – Việt Nam, EU - ASEAN, ASEM, Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác nhằm bảo đảm sự ổn định và an ninh trên thế giới, cam kết ngăn chặn sự nóng lên của khí hậu toàn cầu, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống lại tội phạm có tổ chức…[76]
Czech là một nước có vị trí quan trọng ở châu Âu và đã trở thành đối tác song phương hàng đầu của Việt Nam ở EU Vì thế, Czech luôn là một ưu tiên trong chính sách ngoại giao song phương của Việt Nam Chính sách của Việt Nam là tăng cường và mở rộng hơn nữa quan hệ với Czech nói riêng và với EU nói chung để nhằm triệt để khai thác những thế mạnh và sự giúp đỡ của những đối tác này đối với quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam
Trang 36Chương 2 QUAN HỆ VIỆT NAM – CZECH TRÊN CÁC LĨNH VỰC
TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2014
Giai đoạn 1993-2014 quan hệ Việt Nam và Czech có những bước phát triển tích cực cả về bề rộng lẫn chiều sâu, trên mọi lĩnh vực: quan hệ chính trị, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hóa - xã hội - giáo dục, viện trợ - hỗ trợ phát triển,
2.1 Về chính trị, ngoại giao
Trao đổi đoàn cấp cao giữa Czech và Việt Nam ngay trong năm Czech trở
thành Quốc gia độc lập là biểu hiện sinh động mối quan hệ giữa hai nước, kế thừa giá trị tích cực của quá khứ và bước vào giai đoạn mới - giai đoạn phát triển tích cực cả về bề rộng lẫn chiều sâu: ngày 10/5/1993, Đoàn Ngoại giao nước ta do Thứ trưởng Lê Mai dẫn đầu đã thăm chính thức Czech, Đoàn đã hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Czech Josef Zieleniec, Thứ trưởng thứ nhất A.Vondra, Chủ tịch Phòng Công nghiệp – Thương mại, Chủ tịch Phòng Kinh tế Czech; Cũng trong năm 1993, Thứ trưởng Lao động và Xã hội Czech Vaslav Dostál thăm làm việc tại Việt Nam Đáp lại tình cảm chân thành và nhận lời mời của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, Bộ trưởng Ngoại giao Czech Josef Zieleniec và phu nhân thăm chính thức Việt Nam từ ngày 14-16/4/1994 Đây là chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên của Bộ trưởng Ngoại giao Czech Bộ trưởng Josef Zieleniec nhấn mạnh trên cơ
sở tận dụng những lợi thế sẵn có, vận dụng hợp lý và năng động những điều kiện đã thay đổi ở mỗi nước, hai nước có thể thúc đẩy sự hợp tác đôi bên cùng có lợi trong nhiều lĩnh vực
Hai năm sau đó, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Văn Ngạnh đã thăm Czech
từ ngày 11-12/12/1996, đã có cuộc trao đổi ý kiến, hội đàm với Thứ trưởng thứ nhất
Bộ Ngoại giao Czech Alexandr Vondra, Thứ trưởng Ngoại Giao Cyril Svoboda về các phương hướng, biện pháp nhằm thúc đẩy sự hợp tác về nhiều mặt trong bối cảnh mới và tăng cường thông tin, tiếp xúc, phối hợp trên các vấn đề cùng quan tâm tại LHQ, các tổ chức và diễn đàn quốc tế
Trang 37Mong muốn của Chính phủ Việt Nam trong việc tiếp tục phát triển quan hệ truyền thống Czech - Việt trong điều kiện mới, chuyến thăm của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam, đoàn cấp cao đầu tiên đã thăm Czech ngày 23/5/1997 có ý nghĩa to lớn, tạo đà nâng tầm quan hệ hợp tác phát triển giữa hai nước Vì vậy chỉ sáu tháng sau (25/11/1997), Chính phủ Czech đã cử Bộ trưởng Tài chính Czech Ivan Pilip thăm làm việc chính thức tại Việt Nam nhằm mục đích thúc đẩy mối quan hệ kinh tế - chính trị giữa hai nước, tìm kiếm những cơ hội tiến hành có hiệu quả việc trao đổi kinh tế - thương mại giữa Czech và Việt Nam
Tiếp nối là chuyến thăm chính thức Czech trong hai ngày 30/11 và 1/12/1998 của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm với mục đích tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực dựa trên những cơ sở vững chắc đã được xây dựng cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước Phó Thủ tướng đã hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao I.Kaval và Bộ trưởng Công thương Mirolav Grégr, trao đổi ý kiến với Thủ tướng M.Zeman, gặp Chủ tịch Hạ viện V.Klaus, Bộ trưởng Quốc phòng Vladimir Vetch và chào Tổng thống V.Havel
Sự quan tâm của Czech đến Việt Nam càng được khẳng định khi Thủ tướng Czech Miloš Zeman và Phu nhân thăm chính thức Việt Nam ngày 14-16/12/1999 Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Thủ tướng M.Zeman trong bối cảnh xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ Cùng đi với Thủ tướng Zeman và Phu nhân, có ông Pavel Mertlík, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính, ông Miloslav Hejnák, Bộ trưởng Công nghiệp và Thương mại, ông Marek Skolin, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Czech tại Việt Nam, ông Karen Bredina, Chánh Văn phòng Chính phủ, ông Libor Roucek, Phát ngôn viên của Chính phủ, ông Hynek Kmonícek, Thứ trưởng Ngoại giao, ông Karel Benda, Cố vấn của Thủ tướng, ông Jakub Karfík, Tổng Vụ trưởng Bộ Ngoại giao Kết quả tốt đẹp chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Zeman đã góp phần tạo thêm thuận lợi mới cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước
Quan hệ Việt Nam – Czech giai đoạn này đã có sự hướng đến hình thái hợp tác kinh tế thương mại đôi bên cùng có lợi đáp ứng lợi ích nguyện vọng của hai
Trang 38quốc gia Có thể thấy rõ điều đó qua các chuyến công cán của các vị bộ trưởng, thứ trưởng hai nước: ngày 21/4/2000 Thứ trưởng Ngoại giao Czech Hynek Kmonícek thăm làm việc tại Việt Nam; Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Văn Ngạch đã thăm
và tiến hành trao đổi ý kiến định kỳ Chính phủ Czech trong tháng 6/2001; Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao C Svoboda có chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam trong tháng 3/2003; Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phú Bình thăm và làm việc tại Czech trong tháng 6/2005; Đoàn Bộ Thương mại do Bộ trưởng Trương Đình Tuyển dẫn đầu thăm và làm việc tại Czech từ 10 đến 14/9/2005 với kết quả là Hiệp định hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Czech đã được ký kết; Bộ trưởng Tài Chính Vlastimil Tlustý có chuyến công tác tại Việt Nam tháng 11/2006; Thứ trưởng Bộ Môi trường Jan Dusik sang Việt Nam làm việc tháng 4/2007; Thứ trưởng thường trực Lê Công Phụng thăm, tham khảo chính trị trong tháng 3/2007 tại Czech
Một sự kiện quan trọng năm 2006 đó là chuyến thăm lần đầu của Tổng thống V.Klaus và là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của người đứng đầu Nhà nước Czech,
kể từ năm 1993 theo lời mời của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Tổng thống Czech Václav Klaus và phu nhân thăm chính thức Việt Nam trong tháng 9/2006 Chuyến thăm này đã mở ra một trang mới trong quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống giữa Việt Nam và Czech với mục đích cùng trao đổi ý kiến, nhằm tìm phương hướng và các biện pháp cụ thể để triển khai hợp tác trong các lĩnh vực đã được thỏa thuận và tăng cường sự hợp tác song phương trong bối cảnh mới, khi Việt Nam là thành viên ASEAN và Czech là thành viên EU, góp phần tích cực đẩy mạnh hợp tác Á - Âu Việt Nam thể hiện mong muốn củng cố và phát triển quan hệ với các nước bạn bè truyền thống và là biểu hiện sinh động của đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước Việt Nam: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
Hợp tác song phương Việt Nam - Czech ngày càng được củng cố khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm hữu nghị Czech ngày 12/9/2007 với mục đích tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Czech và Việt Nam nhất là trong
Trang 39lĩnh vực kinh tế - thương mại Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thông báo kết quả hội đàm với Thủ tướng M.Toponánek, những dự án và ý tưởng của Tổng thống trong chuyến thăm Việt Nam cuối 2006 được Chính phủ Việt Nam quan tâm, tạo điều kiện và được tích cực triển khai như Nhà máy xi-măng Phú Sơn, Nhà máy sản xuất bia ở Hà Nam Hai nước đã ký Tuyên bố chung, doanh nghiệp hai nước đã ký
07 hợp đồng kinh tế tổng trị giá 3,5 tỷ USD, hợp đồng lớn nhất trong số này là xây dựng nhà máy nhiệt điện trị giá 3 tỷ USD
Với mục đích mở rộng tiềm năng và mong muốn của hai nước, Thủ tướng Czech M Topolánek và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Czech thăm chính thức Việt Nam ngày 21 - 23/3/2008 đã làm gia tăng mạnh mẽ quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình và ổn định ở khu vực và trên thế giới
Hợp tác phát triển về mọi mặt được tăng cường bởi các chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo hai nước các năm tiếp theo: Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm thăm chính thức Czech từ ngày 16 đến 17/9/2010 nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, thúc đẩy nhanh việc triển khai các thỏa thuận hợp tác kinh tế đã ký kết, nhất là việc giải ngân nguồn vốn ODA của Czech cho Việt Nam; Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng có chuyến thăm
và làm việc tại Czech trong tháng 02/2011; Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Czech Karel Schwarzenber thăm và làm việc tại Việt Nam ngày 22/3/2012 với kết
quả là Nghị định thư sửa đổi Hiệp định vận tải hàng không Việt Nam –Czech được
ký kết; Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Alexandr Vondra (04/2012), Bộ trưởng Bộ Công
thương Martin Kuba (01/2013) đã thăm Việt Nam; Nhân dịp sang dự kỳ họp thứ tư
Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam-Czech, ngày 13/5/2014, Phó Thủ tướng Hoàng
Trung Hải đã tiếp Bộ trưởng Bộ Công thương Czech Jan Mládek, trao đổi thông tin
và khẳng định kỳ họp lần này sẽ góp phần tháo gỡ các rào cản, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hai bên tăng cường hợp tác trong thời gian tới, hai bên hoàn toàn có nhiều tiềm năng để nâng kim ngạch thương mại 2 chiều lên mức 1
tỷ USD trong thời gian tới
Trang 40Nổi bật đặc biệt với những chuyến thăm làm việc, trao đổi đoàn cấp cao giữa hai Đảng CS và hai Quốc hội hai nước thể hiện sự gắn bó sâu sắc, cùng chí hướng, lý tưởng, tin tưởng vào đường lối, chính sách chiến lược, trao đổi kinh nghiệm mà hai bên đã định hướng và quyết tâm thực hiện thông qua các Đoàn Đại biểu của hai nước đã có những chuyến công tác qua lại trong hơn 20 năm qua:
Trao đổi Đoàn cấp cao giữa Đảng CS Việt Nam và Đảng CS Czech Moravian: Việt Nam khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa
-dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong
đó coi trọng khôi phục và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước bạn bè truyền thống như Czech Đảng CS Việt Nam và Đảng CS luôn quan tâm đến nhau, trao đổi ý kiến, kinh nghiệm về các biện pháp tăng cường quan hệ giữa hai Đảng nhằm góp phần thúc đẩy quan hệ giữa hai nước Các chuyến thăm làm việc giữa hai Đảng được xúc tiến: Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Czech và Moravian do đồng chí Novák Vratislav dẫn đầu thăm và làm việc từ ngày 2 đến 5/7/1994; Trong hai năm, đồng chí M.Ransdov, Phó Chủ tịch làm Trưởng Đoàn Đại biểu Đảng CS Czech-Moravian đã có hai chuyến công tác tại Việt Nam ngày 17/2/1997 và ngày 29/9/1998; Đoàn đại biểu Đảng ta do đồng chí Phan Diễn, Ủy viên Bộ Chính trị, làm Trưởng đoàn đã hội đàm với Đoàn, thông báo khái quát về tình hình Việt Nam, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng CS Việt Nam và các Nghị quyết TƯ nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng chí M.Ransdov đánh giá cao kinh nghiệm của Đảng CS Việt Nam trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới ở Việt Nam và những thành tựu quan trọng mà nhân dân Việt Nam đã đạt được
Tham dự các Đại hội Đảng CS của hai nước thể hiện sự ủng hộ lẫn nhau về quan điểm, đường lối mà hai Đảng đã lựa chọn Đồng chí Nguyễn Văn Son, Ủy viên T.Ư Đảng, Trưởng ban Đối ngoại T.Ư làm Trưởng đoàn Đoàn đại biểu Đảng
ta đã dự Đại hội VI Đảng CS Czech-Moravian tổ chức ngày 15 - 16/5/2004 và Đại hội VII ngày 17 - 18/5/2008 tại Czech Đoàn đại biểu Báo Nhân Dân do đồng chí Thuận Hữu, Ủy viên T.Ư Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Chủ tịch Hội Nhà