1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẬN DỤNG KHOA HỌC QUẢN TRỊ CÔNG TY NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA DOANH NGHIỆP

40 387 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 528,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù, QTCT có vai trò quan trọng rõ rệt đối với sức khỏe của doanh nghiệp và sự lành mạnh của xã hội nói chung, nhưng cho đến nay, bản thân khái niệm QTCT lại được định nghĩa không rõ

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU

-

VẬN DỤNG KHOA HỌC QUẢN TRỊ CÔNG TY NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA DOANH NGHIỆP MỤC LỤC I – MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY 2

1 Khái niệm và các vấn đề liên quan 2

2 Vai trò QTCT 7

2.1 QTCT tốt là yếu tố then chốt để có thế giới tài chính” phẳng” 7

2.2 QTCT tốt giúp thị trường vốn đạt được hiệu quả cao 8

2.3 QTCT tốt sẽ giúp cho công ty nâng cao khả năng tiếp cận vốn và hoạt động hiệu quả hơn 8

3 Sự phát triển của khoa học QTCT 10

3.1 Sự chuyển biến của QTCT từ quản trị theo sự thuận tiện sang quản trị theo sự hợp lý10 3.2 Sự phát triển của khoa học QTCT từ quản trị theo mục tiêu đến quản trị theo quá trình tiến tới ISO 13

4 Xu hướng mới 14

II – MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY 17

1 QTCT mẹ - con, bài học từ tập đoàn Enron - Mỹ 17

2 Triết lý QTCT Kaizen và sự thành công của Toyota – Nhật Bản 18

2.1 Triết lý quản trị doanh nghiệp Kaizen 19

2.2 Sử dụng triết lý Kaizen để thành công trường hợp của tập đoàn Toyota 23

III- VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM 24

1 Những hạn chế của QTCT ở Việt Nam hiện nay 24

1.1 Tổ chức bộ máy và phân chia quyền hạn trong doanh nghiệp 27

1.2 Công khai và minh bạch trong QTCT 30

1.3 Quản trị công tác kế toán, tài chính 31

1.4 Một số vấn đề QTCT khác 31

1.5 Nguyên nhân của tình trạng QTCT kém hiệu quả 33

2 Một số gợi ý giải pháp nhằm nâng cao ứng dụng QTCT ở Việt Nam 33

2.1 Về phía chính phủ, các cơ quan quản lý, các hiệp hội, các tổ chức 34

2.2 Về phía doanh nghiệp 35

2.3 Các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ QTCT 38

Trang 2

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 2

I – MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY

1 Khái niệm và các vấn đề liên quan

Khái ni ệm quản trị công ty

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khối doanh nghiệp cả về số lượng và quy mô, đặc biệt là sự ra đời của các công ty lớn, quản trị công ty (QTCT) đang ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà xây dựng pháp luật về doanh nghiệp1

QTCT trong tiếng Anh là “corporate governance” Từ “governance” có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là “lèo lái” Người ta hình dung công ty như một con tàu cần phải được lèo lái để đến bến thành công với thuyền trưởng và đoàn thuỷ thủ là những người điều hành công ty và người lao động

Nếu so sánh công ty như một chiếc bánh thì QTCT chính là cách thức để chiếc bánh đó không bị mất mát và trở nên to hơn, chất lượng hơn Tiêu chuẩn để đánh giá

hệ thống QTCT chính là việc tạo ra chiếc bánh to nhất có thể để sau đó phân bổ cho những người đầu tư nguyên liệu và những người trực tiếp làm bánh

Mặc dù, QTCT có vai trò quan trọng rõ rệt đối với sức khỏe của doanh nghiệp

và sự lành mạnh của xã hội nói chung, nhưng cho đến nay, bản thân khái niệm QTCT lại được định nghĩa không rõ ràng và có rất nhiều định nghĩa khác nhau về QTCT:

"QTCT là một lĩnh vực kinh tế học nghiên cứu cách thức động viên quá trình quản trị hiệu quả của các doanh nghiệp bằng việc sử dụng các cơ cấu động viên lợi ích, ví dụ hợp đồng, cấu trúc tổ chức và quy chế - quy tắc QTCT thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính, chẳng hạn, bằng cách nào người chủ sở hữu doanh nghiệp động viên các giám đốc mà họ sử dụng vận hành để đem lại lợi suất đầu tư hiệu quả hơn", Mathiesen (2002).2

"QTCT giải quyết vấn đề cách thức các nhà cung cấp tài chính cho doanh nghiệp đảm bảo quyền lợi của mình để có thể thu về lợi tức từ các khoản đầu tư của mình", Shleifer và Vishny (1997).3

“QTCT có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là quan hệ của một doanh nghiệp với các cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ của doanh nghiệp với xã hội ", Financial Times (1997)

Còn theo J Wolfensohn (6/1999), Cựu Chủ tịch World Bank, "QTCT nhắm tới mục tiêu thúc đẩy sự công bằng doanh nghiệp, tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm".4

1 Quản trị doanh nghiệp tốt: cơ sở cho phát triển bền vững, bản tin môi trường kinh doanh, Số 10(13) tháng 10/2005

2 Mathiesen, H., (2002), Managerial Ownership and Financial Performance, Ph.D dissertation, series 18.2002,

Copenhagen Business School, Denmark

3 Shleifer, Andrei, Vishny, R., (1997), "A Survey of Corporate Governance," Journal of Finance, 52 (2): p 737–783

Trang 3

Trong cuốn sách về QTCT của mình, Maw (1994) cho rằng "QTCT là chủ đề mặc dù được định nghĩa mờ nhạt nhưng xem như đối tượng, mục tiêu và thể chế để đảm bảo điều tốt đẹp cho cổ đông, nhân viên, khách hàng, chủ nợ và thúc đẩy danh tiếng, vị thế của nền kinh tế”.5

Trong khi đó, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), "QTCT là hệ

th ống người ta xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp Cấu trúc

QTCT ch ỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần

khác nhau có liên quan t ới doanh nghiệp như Hội đồng quản trị, Giám đốc, cổ đông,

và nh ững chủ thể khác có liên quan QTCT cũng giải thích rõ qui tắc và thủ tục để ra

các quy ết định liên quan tới vận hành doanh nghiệp Bằng cách này, QTCT cũng đưa

ra c ấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc".6

Như vậy, nói tóm lại, một cách chung nhất có thể hiểu “QTCT” là một hệ thống các cơ chế và quy định, thông qua đó, công ty được định hướng điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và những người điều hành công ty

Ở Việt Nam, trong Quyết định số 12 ngày 13/3/2007 của Bộ Tài chính, “QTCT” được định nghĩa: là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng

điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những

ng ười liên quan đến công ty

QTCT được xem xét trên hai khía cạnh quốc gia và doanh nghiệp Ở khía cạnh quốc gia, các định chế ảnh hưởng đến cách nhà đầu tư nhận thành quả từ đầu tư Quan trọng nhất là các điều luật quy định rõ quyền của nhà đầu tư và hiệu quả thực thi các điều luật này Ở cấp độ doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp cam kết chính sách công khai minh bạch tốt, thì người bên trong doanh nghiệp khó lợi dụng nhà đầu tư Chất lượng QTCT phụ thuộc vào cả 2 cấp độ, nghiên cứu cho thấy ở các nước mà thị trường tài chính yếu kém thì động lực đầu tư vào QTCT hạn chế Vì thế QTCT ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi thực sự yếu kém

Một câu hỏi đặt ra là tại sao QTCT ở các quốc gia lại khác nhau? Có nhiều giả thuyết, một trong số đó cho là do sự khác nhau về nguồn gốc thể chế luật pháp, đặc tính quốc gia,văn hóa, tôn giáo, từ đó ảnh hưởng đến quyền của cổ đông, quyền của chủ nợ, và thực thi quyền tư hữu Bên cạnh đó, trình độ phát triển của thị trường tài chính là một trong những nguyên nhân quan trọng Khi thị trường tài chính chưa phát triển, động lực cho các công ty và quốc gia đầu tư vào QTCT bị hạn chế

N ội dung QTCT

4 James D Wolfensohn, Financial Times, June 21, 1999

5 Maw, N., Horsell, Lord Lane of, M Craig-Cooper (1994), Maw on Corporate Governance, Darthmouth Press,

Aldershot, GB

6 OECD, 4/1999

Trang 4

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 4

QTCT xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhóm lợi ích, các thành viên khác nhau trong công ty, bao gồm các Cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát và những người liên quan khác của công ty như người lao động, nhà cung cấp (đặc biệt là nhà cung cấp tài chính) Đồng thời, QTCT cũng lập ra các nguyên tắc và quy trình, thủ tục ra quyết định trong công ty, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ, giảm thiểu những rủi ro không cần thiết cho công ty Đó

là những rủi ro liên quan đến hoặc có nguồn gốc từ những giao dịch với các bên có liên quan, những xung đột lợi ích tiềm năng và từ việc không có tiêu chuẩn rõ ràng hoặc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin và không minh bạch

Cụ thể hơn, nhìn vào hoạt động của công ty, có thể thấy có một số giao dịch giữa

công ty và một số đối tượng nhất định có thể gây thiệt hại cho công ty và cổ đông, vì vậy QTCT đặc biệt nhằm vào điều chỉnh các giao dịch như: Khi công ty cho những người có liên quan (thành viên HĐQT, ban giám đốc, cổ đông lớn…) vay mượn; công

ty vay mượn của những người có liên quan; công ty đứng ra bảo lãnh cho những người có liên quan; công ty bán tài sản cho những người có liên quan; công ty mua tài sản từ cổ đông; công ty ký hợp đồng với các bên có liên quan; công ty bán cổ phần cho cổ đông với giá thấp hơn giá thị trường; công ty mua lại cổ phần từ cổ đông với giá cao hơn giá thị trường; khi có gian lận trong chuyển nhượng tài sản của công ty; khi những người quản lý công ty nhận tiền hoa hồng

Bên cạnh đó, những vấn đề như cung cấp thông tin về tình trạng chung và tình trạng tài chính của công ty, vấn đề thủ tục đưa ra các quyết định quan trọng trong công ty cũng cần được điều chỉnh một cách rõ ràng trong khuôn khổ của QTCT

Nói tóm lại, các chủ đề chính trong QTCT gồm có:

• Công khai và minh bạch thông tin;

• Xử lý mâu thuẫn quyền lợi giữa người quản lý doanh nghiệp, hội đồng quản trị và cổ đông khác;

• Xử lý mâu thuẫn giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số;

• Vai trò của quản trị viên độc lập, các tổ chức kiểm toán độc lập;

•Chính sách đãi ngộ với các nhà quản lý;

• Thủ tục phá sản doanh nghiệp;

• Quyền tư hữu;

• Việc thực thi các điều khoản luật và hợp đồng

M ục đích của QTCT

Mục đích chính của QTCT cần được xác định là để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu

tư cổ đông và đảm bảo hài hoà giữa các nhóm lợi ích trong công ty Các quy định của QTCT chủ yếu liên quan đến Hội đồng quản trị, các thành viên Hội đồng quản trị và ban giám đốc chứ không liên quan đến việc điều hành công việc hàng ngày của công

ty QTCT tốt sẽ có tác dụng làm cho các quyết định và hành động của ban giám đốc

Trang 5

thể hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư cổ đông và những người có lợi ích liên quan

Phân bi ệt “QTCT” và “Quản trị kinh doanh”

Cần phân biệt rõ khái niệm QTCT (corporate governance) và quản trị kinh doanh (business management) Quản trị kinh doanh là điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do Ban giám đốc thực hiện QTCT là một quá trình giám sát

và kiểm soát được thực hiện để bảo đảm cho việc thực thi quản trị kinh doanh phù hợp với lợi ích của các cổ đông QTCT nghĩa rộng còn hướng đến đảm bảo quyền lợi của những người liên quan, không chỉ là cổ đông mà còn bao gồm cả các nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước

QTCT được đặt trên cơ cở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông…), nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của HĐQT, sự điều hành của ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động, mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi Rõ ràng, cần phải có một cơ chế để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất

QTCT tập trung xử lý các vấn đề thường phát sinh trong mối quan hệ ủy quyền trong công ty, ngăn ngừa và hạn chế những người quản lý lạm dụng quyền và nhiệm

vụ được giao sử dụng tài sản và cơ hội kinh doanh của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của bản thân hoặc của người khác, hoặc làm thất thoát nguồn lực do công ty kiểm soát

Nói gọn lại, QTCT là mô hình cân bằng và kiềm chế quyền lực giữa các bên liên quan của công ty, nhằm vào sự phát triển dài hạn của công ty

Trang 6

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 6

- Cơ chế bên trong: bao gồm (i) Cổ đông và Đại hội đồng cổ đông, (ii) Hội đồng quản trị và các nhà quản lý công ty, (iii) Các hệ thống kiểm soát nội bộ và (iv) Chế độ lương, thưởng và khuyến khích khác

- Cơ chế bên ngoài: bao gồm (i) các loại thị trường (thị trường vốn, nhà cung cấp, nhân viên, khách hàng, chủ nợ) và (ii) pháp luật và sự điều tiết của nhà nước QTCT cần phối hợp hài hoà cơ chế bên trong và bên ngoài, trong đó, có thể nhấn mạnh nhiều hơn đến cơ chế nội bộ hơn là cơ chế thị trường để QTCT có hiệu quả Trên cơ sở 2 cơ chế này, nhiều mô hình QTCT đã được áp dụng trên thế giới, tuy nhiên có thể xếp vào hai nhóm chính:

- Mô hình định hướng cổ đông: Mô hình thiên về cổ đông, phổ biến ở các nước

Anh, Mỹ coi công ty là công cụ để các cổ đông tối đa hoá lợi ích của mình

- Mô hình qu ản trị đa bên: Mô hình này thường thấy ở các nước Châu Âu và Nhật Bản, tuy nhiên cũng xuất hiện ở nhiều công ty thành công của Mỹ Mô hình này thừa nhận quyền lợi của công nhân, người quản lý, nhà cung cấp, khách hàng và cộng đồng.8

Lịch sử QTCT

Tại các nước phát triển, khi nói đến việc điều khiển công ty thì có ba lĩnh vực:

(i) Luật công ty: ấn định cơ cấu quyền lực trong công ty Đó là trách nhiệm và

quyền hạn của đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc và ban kiểm soát Dựa theo đó, các công ty lập ra bản điều lệ cho công ty mình

(ii) Quản lý công ty (management): Là việc quản lý và điều hành kinh doanh

trong một doanh nghiệp Quản lý công ty gồm có: lập kế hoạch, tổ chức, tìm tài

nguyên, lãnh đạo, chỉ huy cùng kiểm soát công ty

Nhìn lại lịch sử phát triển của quản trị trên thế giới, ta có thể tóm tắt như sau Thoạt đầu, mọi doanh nghiệp đều được quản lý theo kiểu thuận tiện Đặc trưng của kiểu quản lý này là công việc được giao theo niềm tin đặt vào từng người nhất định; chủ doanh nghiệp toàn quyền thay đổi thể thức làm việc và do đó doanh nghiệp không

có những nề nếp nhất định và không có văn bản Cách này phù hợp và hữu hiệu cho các doanh nghiệp nhỏ, vài ba chục người

Khi doanh nghiệp lên đến cả trăm người thì kiểu quản lý kia không còn hữu hiệu

và người ta phải chuyển sang kiểu quản trị theo khoa học Đặc điểm của cách này là công việc được thực hiện bởi các đơn vị trong doanh nghiệp sắp xếp theo sự hợp lý,

họ làm theo những thủ tục nhất định, được ghi vào văn bản Mọi người, kể cả chủ doanh nghiệp, đều phải làm theo

Cách quản lý này đã hợp lý hóa tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, thúc đẩy chuyên môn hóa và tập trung hóa sản xuất Khi nó đã hoàn chỉnh, người ta đẩy nó lên

8 Phạm Trí Hùng, QTCT và kiểm soát xung đột, góc tiếp cận của các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam,

http://www.vmi.edu.vn, 23/11/2008

Trang 7

cao hơn để làm cho chất lượng của các đợt hàng sản xuất khác nhau đều giống nhau

Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO ra đời từ đó

Đây là kiểu quản lý tiên tiến Kể từ sau năm 2000, khi thương mại điện tử phát triển, thì quản lý tiên tiến được nâng cao lên một bước nữa, gọi là e-management Đó

là trình độ quản lý hiện đại của thế kỷ 21

(iii) QTCT (Corporate governance) : Mới xuất hiện từ khoảng năm 1985 đến

nay Nó là một quá trình hay thủ tục về giám sát và kiểm soát được thực hiện để bảo đảm cho việc thực thi QTCT phù hợp với lợi ích của các cổ đông (Parkinson 1994) Khuôn mẫu của QTCT ở các nước không khác nhau nhiều tuy không có một khuôn

mẫu chung mà phần lớn được quyết định theo cơ cấu sở hữu của công ty

Luật công ty của mỗi nước làm cho các điểm đặc thù về QTCT khác nhau; nhưng tất cả có một khuynh hướng là quy tập về những tiêu chuẩn chung dựa trên các nguyên tắc tổng quát sau đây:

• Sự độc lập của các thành viên hội đồng quản trị và việc giám sát hữu hiệu của họ;

• Chịu trách nhiệm với các cổ đông;

• Minh bạch và công bố thông tin; và

• Bảo vệ quyền lợi của cổ đông nắm vốn ít.9

Ngày nay, hầu hết quy định và đề xuất thông lệ tốt nhất về QTCT của các nước được xây dựng trên cơ sở chính là những bài học từ khủng hoảng tài chính châu Á

năm 1997

Tại Mỹ, sự sụp đổ của Tập đoàn Enron cuối năm 2001 đã làm nền tảng cho sự ra đời của Đạo luật Sarbanes-Oxley, trong đó quy định những yêu cầu để có được quy trình QTCT tốt

Tại châu Âu, các nước cũng đã xây dựng cho mình những quy định tương tự Đạo luật Sarbanes-Oxley của Mỹ, nhưng ở mức độ nới lỏng hơn

Trong khi đó, nhiều nước ở khu vực Viễn Đông, trên cơ sở các nguyên tắc do Vương quốc Anh ban hành, mỗi nước tự sửa đổi và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế của nước mình

2 Vai trò QTCT

2.1 QTCT tốt là yếu tố then chốt để có thế giới tài chính” phẳng”

Nếu tất cả các quốc gia có QTCT tốt, doanh nghiệp có thể có lực lượng nhà đầu

tư đa dạng Quy mô doanh nghiệp không còn giới hạn trong nguồn lực của người bên trong, doanh nghiệp có thể lớn hơn, có thể đầu tư hiệu quả hơn và tiêu dùng sẽ bớt

9 Nguyễn Phú Anh Tuấn, Corporate governance: QTCT đại chúng, http://my.opera.com, 18/7/2008

Trang 8

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 8

biến động hơn Bởi vậy, QTCT tốt là yếu tố then chốt để có thế giới tài chính

“phẳng”

Theo Thomas Friedman, quá trình toàn cầu hoá đã loại bỏ những trở ngại đã ngăn cản doanh nghiệp và cá nhân cạnh tranh trên toàn cầu trước đây Sự cạnh tranh này cải thiện phúc lợi xã hội không chỉ bằng cách đảm bảo hàng hoá được sản xuất nhiều hơn với giá rẻ hơn mà còn giúp người tiêu dùng tiếp cận nhiều hàng hoá mới và chất lượng hơn Sự thật thì thế giới chưa thực sự “phẳng” như mô tả của Friedman Một trong những thị trường được xem là "phẳng" hơn các thị trường khác đó là thị trường tài chính Các nhà kinh tế cho rằng suất thu lợi biên (marginal profit) từ vốn ở từng quốc gia khác nhau, vốn sẽ tràn về nơi có lợi nhuận biên cao hơn Hiện nay, những rào cản đã giảm dần, tuy nhiên vốn vẫn không chảy về các quốc gia đang cần như chúng ta nghĩ Thực tế, trong những năm qua, nguồn vốn dường như dồn về

Mỹ và các nước phát triển hơn là dồn về các thị trường đang phát triển

Điều gì khiến cho vốn không chảy về nơi cần, thế giới tài chính không được

“phẳng”? Câu trả lời chính là QTCT yếu kém đã nghẽn đường quốc gia đang phát triển tiếp cận lợi ích của toàn cầu hóa Khi QTCT yếu, doanh nghiệp được thị trường đánh giá thấp, và năng lực huy động thêm vốn để tài trợ kế hoạch của doanh nhân bị hạn chế Vì thế, ở các nước đang phát triển quy mô doanh nghiệp sẽ rất nhỏ và khả năng tăng trưởng cũng yếu ớt.10

Đồng 100 đôla đầu tư ở Việt Nam có thể hiệu quả hơn đầu tư ở Mỹ, nhưng nhà đầu tư lại không đem vào Việt Nam mà đem vào Mỹ đơn giản vì ở Mỹ họ được đảm bảo sinh lợi từ đầu tư cao hơn và an toàn hơn QTCT yếu kém ngăn cản nhà đầu tư nhận thành quả đầu tư của mình đầy đủ

2.2 QTCT tốt giúp thị trường vốn đạt được hiệu quả cao

Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là ở những nền kinh tế đang phát triển Vai trò của nó bao gồm cả việc tài trợ cho việc đầu tư của doanh nghiệp, tăng cường việc điều hành doanh nghiệp và cung cấp các thông tin đầy

đủ hơn, rõ ràng hơn ra công chúng Tuy nhiên, mức độ quan trọng của thị trường này đến đâu phụ thuộc rất nhiều vào việc hoạt động quản trị của doanh nghiệp được tăng cường đến đâu, hay nói cách khác, thị trường vốn có tác động qua lại thế nào đối với các hoạt động QTCT Thiếu các hoạt động QTCT, thị trường vốn không thể hoạt động với hiệu quả.11

2.3 QTCT tốt sẽ giúp cho công ty nâng cao khả năng tiếp cận vốn và hoạt

động hiệu quả hơn

Những nghiên cứu mới đây của McKinsey & Company, Credit Lyonnais Securities Asia, và Ngân hàng Thế giới cho thấy có tương quan chặt chẽ giữa việc thực hiện QTCT với giá cổ phiếu và kết quả hoạt động của công ty nói chung Theo

10 QTCT trong thế giới phẳng, http://www.royal.vn

11 http://mfo.mquiz.net

Trang 9

đó, quản trị tốt sẽ mang lại hiệu quả cao cho nhà đầu tư, nhiều lợi ích hơn cho các thành viên khác trong công ty Kết quả là các nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao hơn cho cổ phiếu của những công ty quản trị tốt Các ngân hàng cũng sẵn sàng cho vay, thậm chí với lãi suất thấp hơn, vì quản trị tốt làm giảm khả năng các khoản vay được

sử dụng không đúng mục đích và tăng khả năng công ty trả các khoản vay đầy đủ và đúng hạn Ngược lại, quản trị không tốt thường dẫn đến những hậu quả xấu, thậm chí phá sản công ty Sự sụp đổ của một số công ty lớn trên thế giới (như Enron, Tyco International, Daewoo, WorldCom) hay những vụ bê bối ở các Tổng công ty nhà nước lớn của Việt Nam như PetroVietnam, VNPT, SEAPRODEX đều có nguyên nhân sâu xa từ việc thực hiện QTCT không tốt.12

Xu hướng phát triển hiện nay của các doanh nghiệp là sự chuyển đổi từ công ty tư nhân hoặc công ty Nhà nước sang công ty cổ phần và đại chúng nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư Từ QTCT kiểu gia đình với người chủ kiêm giám đốc điều hành (CEO) trước đây sang QTCT đại chúng, đang và sẽ xuất hiện nhiều vấn đề phải giải quyết

Một vấn đề đang được bàn luận nhiều hiện nay là liệu quá trình cổ phần hóa có làm thay đổi QTCT hay không Tuy nhiên, vai trò của QTCT không chỉ thể hiện ở tại thời điểm thay đổi mà cả sau khi thay đổi Nói cách khác, cổ phần hóa sẽ cơ cấu lại sở hữu doanh nghiệp, nhưng QTCT sẽ kiểm soát một cơ cấu mới theo cách làm gia tăng hiệu quả của doanh nghiệp Song, QTCT không đơn giản như là một điều lệ hay qui định của doanh nghiệp – nó bao gồm tất cả những cách thức kiểm soát các mâu thuẫn giữa các bên tham gia doanh nghiệp

Chính vì vậy, QTCT đặc biệt quan trọng đối với các công ty đại chúng Hiểu một cách đơn giản nhất, đây là các công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; công ty có cổ phiếu được niêm yết tại một Trung tâm giao dịch chứng khoán Nét đặc trưng của các công ty đại chúng là có sự tham gia của nguồn vốn từ bên ngoài với nhiều nhà đầu tư, do đó đặt ra yêu cầu QTCT như là yếu tố khác biệt với vấn đề quản

lý công ty (management)

QTCT đại chúng là một hệ thống thông qua đó công ty được định hướng, điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và những người điều hành công ty Nói cách khác, để công ty tồn tại và phát triển, phải có sự dẫn dắt, điều hành của HĐQT, ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi Do vậy, cần phải có một cơ chế điều hành và kiểm soát công ty để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát HĐQT, kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao

Khi bỏ vốn vào công ty, nhà đầu tư quan tâm đến việc mình sẽ thu được gì và có

gì đảm bảo cho khoản đầu tư đó Nếu đem tiền cho vay với hợp đồng vay nợ, người ta biết chắc chắn mình sẽ được trả nợ hay sẽ có quyền đòi nợ Còn nếu đầu tư mua cổ phiếu, nhà đầu tư đại chúng chỉ có các cổ phiếu với cổ tức phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty, không có quy định cụ thể về mức và thời gian chia cổ tức cho cổ

12 Quản trị doanh nghiệp tốt: cơ sở cho phát triển bền vững, bản tin môi trường kinh doanh, Số 10(13) tháng 10/2005

Trang 10

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 10

đông Trong công ty đại chúng luôn có sự tách biệt giữa quyền sở hữu - quyền điều hành, và nhà đầu tư hiểu rằng sẽ có ai đó đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến giá trị của khoản đầu tư của họ Nhà đầu tư chỉ còn biết hy vọng rằng những người ra quyết định - người quản lý công ty sẽ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, trong đó có nghĩa vụ phải thận trọng, nghĩa vụ trung thành

Ở đây nổi lên vai trò của QTCT như một công cụ, như một đảm bảo để nhà đầu

tư có thể kiểm soát, có thể tin tưởng rằng, những người quản lý công ty sẽ không đưa

ra những quyết định có lợi cho chính mình và bất lợi cho nhà đầu tư QTCT được hiểu như một quy trình, một tiêu chuẩn chung về hành vi, thay thế cho các nghĩa vụ cụ thể của hợp đồng vay nợ Nếu QTCT không đem lại nhiều bảo đảm cho nhà đầu tư, họ sẽ trả giá thấp cho cổ phần của công ty đó

3 Sự phát triển của khoa học QTCT

3.1 Sự chuyển biến của QTCT từ quản trị theo sự thuận tiện sang quản trị theo sự hợp lý

Ở các nước có nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp do tư nhân lập nên và mối quan tâm hàng đầu của họ là lợi nhuận Do vậy, mặc dầu QTCT lúc đầu phát triển theo sự thuận tiện, nhưng về sau nó từ từ chuyển sang sự hợp lý vì vấn đề chính của chủ doanh nghiệp là làm sao gia tăng năng suất lao động

- Adam Smith trước cuộc cách mạng công nghiệp đã quan sát và ghi lại việc phân công trong sản xuất Nhưng vào lúc này, kỹ thuật quản trị còn rất đơn sơ Người

ta tin rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp là do trời sinh ra chứ không thể đào tạo mà

có Đến cuối thế kỷ XIX, công nghiệp phát kiến mạnh làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp và tạo ra nhu cầu phải hiểu biết các nguyên do tiềm ẩn chi phối hoạt động của người lao động Điều đó dẫn tới sự phát triển các kỹ thuật quản trị

- Frederick Taylor, ở Mỹ, là người đầu tiên thiết lập lý thuyết về quản trị và chủ trương áp dụng phương pháp khoa học để phân tích công việc Ông xem xét từng động tác của người thợ, đếm thời gian, đưa ra ý niệm "đơn vị công việc cơ bản" và khoán việc

- Frank và Lilian Gilbreth, giáo sư Mỹ, nghiên cứu các cử động để phân tích công việc và tìm cách làm gia tăng hiệu quả

- Henry L.Gant, phụ tá của Taylor, nghĩ ra sơ đồ Gant để ấn định thời gian thực hiện công việc và làm cơ sở cho việc thưởng công

- Henri Fayol, kỹ sư Pháp, nêu lên sự khác biệt giữa cấp giám sát và cấp quản trị

và do đó làm gia tăng tầm quan trọng của việc quản trị Theo ông, việc quản trị bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát Ông cũng đưa ra 14 nguyên tắc quản trị và tất cả những điều này ngày nay vẫn được áp dụng

Những tác giả trên đã tạo nên Phái cổ điển Các sáng kiến của họ cùng sự ứng dụng chúng diễn ra trong khoảng những năm 1930 Phái cổ điển chú trọng vào công

Trang 11

việc làm của người thợ Họ cải tiến được cách làm việc nhưng cũng làm người thợ mệt mỏi, chán chường vì công việc đơn diệu Thợ phản ứng bằng cách nghỉ việc Để ngăn chặn, các chủ doanh nghiệp thuê chuyên gia tìm nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục Do việc này, một trường phái khác xuất hiện và tập trung vào việc cải thiện điều kiện làm việc của người thợ Họ nghiên cứu hành vi và tâm lý của người thợ, đó là Phái hành vi

Một người nổi tiếng trong phái này là Elton Mayo, giáo sư người Úc Ông chủ trương muốn gia tăng hiệu quả của người thợ thì phải chú ý đến khía cạnh nhân sinh của công việc Khác với Phái cổ điển chú trọng vào công việc và chủ trương dùng biện pháp thưởng, phạt để gia tăng năng suất, Phái hành vi quan tâm đến việc đối xử với người thợ Để phân biệt hai phái này, Douglas M Mc Gregor, giáo sư Mỹ, đã gọi

lý thuyết của Phái cổ điển là X, của Phái hành vi là Y và đề nghị các nhà quản trị chú trọng đáp ứng các đòi hỏi tâm lý của người lao động

Trong thế chiến thứ II, vì phải sản xuất để đáp ứng nhu cầu chiến tranh, các chuyên gia quân sự Mỹ đã đưa khoa học vào quản lý và thực thi trên diện rộng Họ cho rằng có thể hữu hiệu hóa tổ chức và làm gia tăng sản lượng bằng các phương pháp khoa học và sử dụng mô hình toán học Nguời tiêu biểu cho phái này là Herbert Simon, giáo sư Mỹ

Như vậy là đã có ba trường phái về quản trị học và đến lúc này có thêm một phái thứ tư Phái này chủ trương không nhất thiết phải làm theo một phái nào mà thấy cái nào hay nhất thì dùng, sau khi đã phân tích tình hình, nêu lên vấn đề, tìm ra giải pháp, cân nhắc các chọn lựa Thực hiện rồi sẽ đánh giá và sửa đổi, nếu cần

Những trường phái này hiện diện từ nước Mỹ trong các thời kỳ khác nhau, trong khi, vào cuối thập niên 1950, Nhật Bản nổi lên như là một cường quốc kinh tế Nguời Nhật có cách QTCT của họ Cách đó đã được nghiên cứu ớ Mỹ, và người ta gọi lý thuyết quản trị của người Nhật là thuyết Z Lý thuyết này nhấn mạnh vào việc ra quyết định theo sự đồng thuận của tùng nhóm và quan tâm đến thành quả của từng nhóm chứ không dựa trên cá nhân

Những lý thuyết trên lần lượt được đưa vào các trường Đại học và tạo nên môn QTCT từ đầu những năm l950 QTCT lúc đầu nhắm vào hiệu quả sản xuất nhưng sau

đó, do nhu cầu của các doanh nghiệp, nó được mở rộng sang các lĩnh vực khác như tiếp thị, quản trị tài chính… Người Mỹ đi đầu trong việc ứng dụng các nghiên cứu về quản trị vào thực tiễn rồi từ đó lan sang các nước khác Hệ thống kiến thức, kỹ năng QTCT ban đầu chỉ nhằm giải quyết các vấn đề thực tế của các doanh nghiệp, sau đó

nó mới trở thành một ngành học Nhìn chung, đây là một quá trình sống động: thực tế làm nẩy sinh nhu cầu nghiên cứu - kết quả, nghiên cứu biến thành lý thuyết - lý thuyết được áp dụng trở lại vào thực tế, được bổ sung theo yêu cầu của thực tế và được đem

áp dụng trở lại

Để thực hiện, các doanh nghiệp thường lập ra các quy định nội bộ bao gồm:

Trang 12

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 12

(l) Sơ đồ tổ chức Doanh nghiệp: xác định các bộ phận khác nhau trong Doanh nghiệp và được ấn định theo sự hợp lý

(2) Mô tả công việc theo các chức vụ khác nhau: xác định nội dung của từng công việc ở trong Doanh nghiệp

(3) Thể thức điều hành tiêu chuẩn (SOP13): ấn định cách thức giao tiếp giữa các

bộ phận khác nhau khi thực hiện các công việc nằm trong chức năng của mỗi bộ phận (4) Chính sách Doanh nghiệp: ấn định những vấn đề lớn áp dụng chung trong Doanh nghiệp như cho vay tiền mua nhà, mua chứng khoán, giao thiệp với bên ngoài

Và cả nguyên tắc xử lý khi có vấn đề nảy sinh,…

(5) Các quy định đối với nhân viên: xác định quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động (6) Các quy định khác như: thủ tục kế toán, mua bán hàng hoá…

Khi soạn những quy định này, người ta áp dụng những nguyên tắc và lý thuyết QTCT thích hợp với mục tiêu kinh doanh của Doanh nghiệp mình Nhờ các quyển cẩm nang này, việc quản trị tại một doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở hợp lý Người chủ đưa vào đó những hoài bão của mình, từ đó tạo nên triết lý kinh doanh của Doanh nghiệp, ấn định cách cư xử của các nhân viên với nhau, cách giải quyết công việc, từ đó tạo ra văn hóa doanh nghiệp Điều cần nhấn mạnh là tính chất cơ bản của QTCT là sự hợp lý Nó làm cho những công việc cùng tính chất được xếp chung với nhau dễ dàng vào một bộ phận, ấy là sự tập trung hóa, làm mãi một loại công việc thì trở thành chuyên môn, ấy là quá trình chuyên môn hoá, khi đã chuyên môn hóa rồi thì người ta dùng cơ chê, dùng máy móc thay cho người, đó là quá.trình tự động hóa Mô hình quản lý doanh nghiệp dựa trên sự thuận tiện rất khó, nếu không phải là không thể tạo ra được những quá trình như vậy

Nhờ các quy định cụ thể, khi doanh nghiệp mở rộng và trở thành Doanh nghiệp

mẹ với nhiều doanh nghiệp con đẻ trên nhiều lãnh thổ khác nhau thì họ vẫn giữ được

nề nếp điều hành của Doanh nghiệp mẹ Tất nhiên khi Doanh nghiệp con ở các nơi khác nhau thì các quyển cẩm nang cũng được điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh địa phương, nhưng chỉ là đổi cách thực hiện chứ không đổi nguyên tắc, triết lý, văn hóa Doanh nghiệp

Khi các thể thức đã được thiết lập trong những Doanh nghiệp con thì việc thi hành chúng được Doanh nghiệp mẹ kiểm tra theo định kỳ Người chủ cử chuyên viên đi kiểm soát Theo kỳ hạn, họ tìm xem các thể thức điều hành ở Doanh nghiệp con có được làm đúng theo cẩm nang không Có hai loại: kiểm tra việc điều hành và kiểm tra tài chính Mục đích là xem có làm đúng theo quy định hay không; chứ không phải chờ đến khi có sai sót, hay có đơn tố cáo Chính nhờ các cuộc kiểm tra này, các Doanh nghiệp trong hệ thống có được hoạt động giống nhau, khiến cho từ Doanh nghiệp mẹ người ta có thể hoạch định chiến lược kinh doanh cho toàn hệ thống, đến mỗi Doanh nghiệp con

13Standard operating procedures

Trang 13

3.2 Sự phát triển của khoa học QTCT từ quản trị theo mục tiêu đến quản trị theo quá trình tiến tới ISO

Với việc thay đổi từ quản trị theo sự thuận tiện, tới quản lý theo mục tiêu, tới quản lý theo quá trình, người ta giải quyết được vấn đề hữu hiệu và hiệu quả của sản xuất Tuy nhiên, do yêu cầu khách hàng, họ phải cạnh tranh và phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm, không chỉ đạt mà còn phải gia tăng chất lượng Nói gì thì nói, muốn làm tăng chất lượng thì trước hết phải giữ cho cái hiện có không tụt xuống, như thế nghĩa là hàng sản xuất ngày hôm nay ít nhất vẫn phải có chất lượng như món hàng đó giao cách đây nửa năm Khởi đầu nhưng món hàng dễ gây nguy hiểm như máy bay,

vũ khí, người ta đặt ra yêu cầu đạt và duy trì chất lượng Sau đó yêu cầu này được mở rộng ra cho các loại hàng hóa khác Và để làm việc này thì các tiêu chuẩn về chất lượng đã được đặt ra và ISO chính thức ra đời năm 1987 Nội dung chính thức của nó

là “xây dựng hệ thống chất lượng và phòng ngừa” Cách làm của nó là: đạt chất lượng đòi hỏi và giữ không cho giảm sút trong những lần sản xuất khác nhau

Đặc điểm của quản trị doanh nghiệp theo ISO gồm: Thứ nhất, đưa ra một cách nhìn khác về việc sản xuất Nó coi việc sản xuất không chỉ thuần túy là những động tác chân tay, sản lượng mà thêm vào đó mục đích của công việc, cái mà công việc phải đạt với, và được gọi là chất lượng Đấy là triết lý của ISO Thứ hai, chất lượng chắc chắn không chỉ phục vụ người sản xuất mà còn phục vụ người tiêu dùng Từ yêu cầu thực tế này, ISO dưa triết lý của mình vào trong quá trình sản xuất và đến tận từng người ISO nhận việc sản xuất không còn theo từng xí nghiệp riêng lẻ mà theo một quá trình đi từ người cung cấp nguyên liệu, đến người sản xuất và cuối cùng là người tiêu dùng Do đó nó thay đổi QTCT từ quản trị theo mục tiêu (làm cái gì, bao nhiêu) sang quản trị theo quá trình Triết lý mới hành động mới thì phải có sách mới, ISO gọi sách này là sổ tay chất lượng Số này ghi tóm tắt thủ tục và quy trình thực hiện, nêu rõ trách nhiệm từng người, từng bộ phận

Bảng 1 dưới đây trình bày sơ lược diễn tiến của cách thức, hay mức độ, quản trị kinh doanh của các nước phát triển trên thế giới từ trước đến nay Đại thể có bốn trình

độ từ thấp đến cao là: (l) quản trị theo sự thuận tiện, vốn đã và sẽ tồn tại muôn đời (2) quản trị theo khoa học, ra đời khoảng năm 1910 và hoàn thiện vào cuối thập kỷ 1950 (3) quản trị tiên tiến, ra dời khoảng năm 1985, tiêu biểu là ISO (4) quản trị hiện đại từ

1990 trở đi Các trình độ quản trị do các doanh nghiệp tạo nên theo từng thời điểm, tùy quy mô phát triển của họ và chỉ sau khi đã hội đủ một tập hợp gồm các yếu tố là đáp ứng yêu cầu của thị trường, được các lý thuyết điển chế hóa, và có các phương tiện mới hỗ trợ

Bảng 1: Sự phát triển của các phương thức QTCT

Yêu cầu - Cách mạng công Tiết kiệm lao Quản lý chất - “Khách hàng là thượng

Trang 14

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 14

- Hawthome (phái hành vi)

- Peter Drucker (quản trị hiện đại)

- Douglas Mc Gregor

Phương

tiện

- SX dây chuyền

- Chuyên môn hóa, tự động hóa

- Máy điện toán, Internet

- Giá vận chuyển giảm

-Hợp lý hóa sản xuất

-Lập cơ cấu ( tuyến- nhân viên-ma trận)

-Ngân sách -Kiểm tra nội

bộ

-Kiểm toán bên ngoài

- Phân chia sản xuất

- Ngân hàng, bảo hiểm

- Tái cơ cấu tổ chức

- (1) Nâng vai trò của nhân viên làm trực tiếp

- (2) Đơn giản thủ tục

- Tái cơ cấu sản xuất

- Tổ chức lại quanh một số thể thức về mua sắm hàng, tiếp thị và phân phối

- Tăng lợi nhuận bằng giảm chi

- Tăng lợi nhuận bằng tăng thu ( Mua bán/sáp nhập doanh nghiệp)

- Quản trị trí thức: phổ biến thông tin đến từng người

Ngu ồn: Tổng hợp tài liệu

Có vài điểm xin nhấn mạnh là các trình độ quản trị cổ điển và hiện đại vẫn tồn tại và đan xen nhau ở các nước, không có cách nào hay hoặc dở hơn cách nào,

mà mỗi cách tùy thuộc vào quy mô lao động và thị trường mà doanh nghiệp theo đuổi Vấn đề là khi doanh nghiệp đạt đến hay muốn có một quy mô nhất định nào

đó thì phải có cách quản trị phù hợp Một điều quan trọng là phải đi từ cách này đến cách kế tiếp cao hơn, chứ không thể "đốt giai đoạn" vì trong QTCT có tâm lý con người, và họ ngại thay đổi tuy nhiên có thể rút ngắn từng giai đoạn nhờ kinh

nghiệm đã có

4 Xu hướng mới

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nổ ra năm 2008 với việc sụp đổ của những thành trì kinh tế tài chính vững chãi nhất của thế giới cùng

Trang 15

những dư chấn tác động lên mọi ngõ ngách của nền kinh tế toàn cầu đã buộc các nhà lãnh đạo, các doanh nghiệp và giới phân tích phải suy nghĩ lại về mô hình QTCT của mình

Trong năm 2009 vừa qua, lãnh đạo của một số tập đoàn đa quốc gia cùng nhiều học giả kinh tế, tài chính, quản trị đã gặp nhau qua các hội nghị “phê bình và tự phê bình” vì sự sụp đổ của một số mô hình QTCT mà chính họ là những “kẻ hành động”

Đó là sự thái quá khi đặt mục tiêu kiếm thật nhiều tiền bằng bất cứ giá nào và xem thường những giá trị nhân văn Ở các tập đoàn khổng lồ đó, số phận nhân viên được xem như những con số “thống kê” lạnh lùng, trong tình huống khó khăn, họ là con tốt thí trên bàn cờ kinh doanh Quyết định này của các ông chủ tập đoàn thường được thị trường chứng khoán “vỗ tay” vì nghĩ rằng sẽ đạt hiệu quả kinh tế và hệ quả là cổ phiếu của tập đoàn đó sẽ được ưa chuộng và giá cổ phiếu tăng cao Xuất phát từ việc không tôn trọng người lao động nên càng lúc ban lãnh đạo doanh nghiệp càng xa rời thực tế, không biết sử dụng thông tin của 99,9% con người trực tiếp sản xuất và “trực cảm” được thực tế về các cơn bão lớn sắp đến

Chính Alan Greenspan, nguyên Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, trong một lần điều trần trước thượng viện vào tháng 8/2008, phải thừa nhận sai lầm là đã quá tin tưởng vào những chủ tịch điều hành các tập đoàn khổng lồ và nhất là tin vào giới ngân hàng rằng họ tự biết cách bảo vệ cổ đông và bảo vệ tài sản của tổ chức mình Học thuyết quản trị từ nửa cuối thế kỷ 20 đã bộc lộ những mặt hạn chế của nó: (i) Tại các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, người chủ “hữu hình” ngày xưa không còn, thay vào đó là “những người chủ vô hình”, những người được thuê “làm chủ” Những người này quản trị và điều hành công ty mà không phải bỏ vốn của mình

ra để kinh doanh, chính bởi vậy họ có xu hướng hành động thiếu cẩn trọng;

(ii) Sự ra đời của thị trường chứng khoán với tình trạng đầu cơ, nghĩa là chỉ nhắm vào lãi ngắn hạn, dù đâu đó vẫn còn một số nhà đầu tư nhắm đến lãi trung hạn

và dài hạn

(iii) Khẩu hiệu “sự hoàn hảo” trở thành phản tác dụng với hình ảnh của các chủ tịch điều hành vô trách nhiệm Tính đạo đức kinh doanh đã biến mất khi hình ảnh của Bernard Madoff, người lãnh đạo “hoàn hảo” trong 40 năm, chấm dứt cuộc đời kinh doanh trong lao tù và 50 tỉ đô la cháy rụi

Ngay cả tính “đổi mới” cũng dẫn đến những thảm kịch nếu chỉ nhằm vào mục đích lấy “lãi” ngắn hạn Khủng hoảng tín dụng nhà đất tại Mỹ là một minh chứng rõ ràng nhất Đến bây giờ những học giả về toán kinh tế, tài chính đã bắt đầu công nhận rằng “lý thuyết toán xác suất làm cho các cổ phiếu, tín dụng thứ cấp không còn rủi ro

do phân tán các rủi ro thật nhỏ và đưa đi khắp thế giới để khó có một tác động cộng hưởng”, đã được xây dựng trên những giả định sai lầm cơ bản về toán học

Học thuyết quản trị cũ được xây dựng trên những tiêu chí thuần kinh tế Gần đây, người ta bắt đầu thảo luận, suy nghĩ đến việc xây dựng một học thuyết mới về

Trang 16

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 16

quản trị mà một điểm cốt lõi là trách nhiệm Điều này là cần thiết nhằm điều chỉnh sự thái quá của những tiêu chí, những chuỗi giá trị hiện đang được áp dụng chỉ xoay quanh việc phục vụ quyền lợi kinh tế/tài chính của cổ đông chủ thể đem vốn bằng tiền mặt

Mặt khác, học thuyết quản trị mới không thể không dựa trên nền tảng giá trị đạo đức Đối với những nhà quản trị, đặc biệt là những nhà quản trị lớn của các tập đoàn khổng lồ, thì chính giá trị tinh thần, đạo đức mà họ có mới không đưa họ đi đến những sai lầm khốc liệt

Ba đức tính: trách nhiệm, tôn trọng, đạo đức được nói nhiều trong học thuyết mới về quản trị thật ra không có gì là mới lạ Các phẩm chất này đã được các nền triết học Đông Tây xây dựng, biện luận cả ngàn năm nay Đó là những phẩm chất của con người, của nhân loại mà ba thập niên cuối của thế kỷ 20, các nhà lãnh đạo kinh tế, tài chính, QTCT thường quên đi

Cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, trong một chừng mực nào đó, là hệ quả của sự thái quá, giáo điều của học thuyết quản trị xây dựng trên những nền tảng giá trị

“đồng tiền” và dựa trên mục tiêu “lợi nhuận là chính” Sự tập trung tư bản, quyền lợi vật chất vào một số nhỏ, cực nhỏ gây ra sự mất thăng bằng của mối tương quan xã hội Sai lầm xuất phát từ một nhóm người nhưng lại làm cho cả nghìn, cả tỉ người điêu đứng

Ai cũng biết là các nền kinh tế đều phải bị “điều tiết” bởi những khủng hoảng có tính định kỳ Nhưng tính khốc liệt của nó không thể xảy ra nếu không có bàn tay con người, đặc biệt là những con người không có tính trách nhiệm, tôn trọng, đạo đức

Mô hình doanh nghiệp qua 100 năm, 200 năm đã hoàn toàn thay đổi Trước đây, một doanh nghiệp thường là vài người, vài chục người hoặc nhiều lắm là trăm người (mô hình doanh nghiệp “gia đình”) Nhưng bước sang thế kỷ 21, quy mô doanh nghiệp không phải là hàng trăm người mà là hàng nghìn, hàng vạn thậm chí hàng triệu người Và với cuộc khủng hoảng toàn cầu, con số chịu ảnh hưởng đó còn lớn hơn nhiều Tính lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp không thể không thay đổi để vượt khủng hoảng và để phát triển mạnh và bền vững khi khủng hoảng đã được chế ngự Một số lãnh đạo doanh nghiệp và học giả quản trị đang nỗ lực xây dựng một học thuyết quản trị mới dựa trên nền tảng trách nhiệm, tôn trọng, đạo đức để phục vụ con người và xã hội, và từ đó mang lại hiệu quả kinh tế Chỉ khi ba tính trách nhiệm, tôn trọng, đạo đức được làm rõ thì những tính “hoàn hảo”, “đổi mới” mới có một cuộc sống mới và lại sẽ được sử dụng một cách có hiệu quả như là sách lược quản trị, phát triển các doanh nghiệp

Thiết nghĩ học thuyết mới về QTCT, nếu biết đặt con người vào vị trí trung tâm,

có thể là hướng đi mới cho các nhà lãnh đạo đưa doanh nghiệp vượt khủng hoảng và đón đầu một cách tốt đẹp vận hội mới khi khủng hoảng qua đi.14

14 Nguyễn Công Phú, Đã đến lúc thay đổi cách quản trị, http://www.thesaigontimes.vn - 28/8/2009

Trang 17

II – MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY

1 QTCT mẹ - con, bài học từ tập đoàn Enron - Mỹ

QTCT tốt (chứ không phải cơ cấu sở hữu tốt) là nền tảng cho sự phát triển lâu dài của các doanh nghiệp lớn Các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp gia đình ở nhiều nước trên thế giới đã đạt được thành công lớn trong dài hạn nhờ hệ thống QTCT tốt Đồng thời, QTCT kém, thiếu minh bạch đã là nguyên do dẫn tới phá sản của nhiều công ty cổ phần lớn ở Mỹ và Tây Âu

Trên thế giới, đề tài QTCT đại chúng đã trở thành vấn đề thời sự toàn cầu sau nhiều vụ bê bối mới đây, như vụ Công ty Enron, Công ty WorldCom ở Mỹ, vụ Công

ty Vivendi ở Pháp, vụ Công ty Parmalat ở Ý

Điển hình như vụ Enron, chỉ trong vòng 1 năm, giá vốn của tập đoàn này trên thị trường chứng khoán trị giá 60 tỉ USD, giảm đến 80% Người ta tranh luận rất nhiều và nguyên nhân có thể do yêu cầu về tính minh bạch trong công bố thông tin, cách thức kiểm soát hoạt động của ban giám đốc cũng như những đòi hỏi và quyền lợi của nhà đầu tư

Với một lịch sử ngắn ngủi, Enron nhanh chóng trở thành một công ty đa quốc gia hùng mạnh trong lĩnh vực năng lượng Enron đã trở thành công ty lớn thứ bảy của Mỹ

và có lúc là công ty năng lượng hàng đầu thế giới Công ty có hoạt động ở hơn 30 quốc gia trên thế giới Lĩnh vực hoạt động chính của công ty đã mở rộng dần từ vận chuyển và phân phối khí đốt sang buôn bán xăng dầu và khí đốt, xây dựng các nhà máy điện và cung cấp điện Trên con đường phát triển và mở rộng lĩnh vực hoạt động, việc kinh doanh của Enron ngày càng mang thêm nhiều rủi ro

Từ năm 1985 đến cuối năm 2001, giá cổ phiếu của công ty liên tục tăng lên Cao điểm là vào tháng 10/2001, giá cổ phiếu của công ty đã tăng hơn gấp đôi trong vòng chỉ một năm Đây cũng chính là thời điểm manh nha của khủng hoảng

Ngày 26/10/2001, công ty lần đầu tiên thừa nhận đã lỗ hàng trăm triệu USD trong một quý Ngay trong tháng 12 năm đó, công ty tuyên bố phá sản, khiến cho hàng nghìn người bị mất việc làm và "xóa xổ" tài khoản hưu trí trị giá hàng tỷ USD của các nhân viên

Phép màu nào đã đưa Enron nhanh chóng lên đỉnh cao như một công ty năng lượng lớn nhất thế giới? Đó là câu chuyện về công ty mẹ - con Đáng tiếc đây cũng là chính phép màu đã đưa Enron đến diệt vong

Một công ty có thể mở ra một hay nhiều công ty con "dưới bóng" của mình Công ty con dựa uy công ty mẹ để được vay vốn, để thắng thầu, để xây dựng thương hiệu Công ty mẹ sử dụng công ty con để huy động vốn, để hứng chịu những hợp đồng đầy rủi ro, để giấu bớt những trách nhiệm nợ của mình, làm cho báo cáo tài chính "đẹp đẽ" hơn Ngay cả những hợp đồng mua đi bán lại giữa mẹ và con cũng tạo ra doanh thu và lợi nhuận để báo cáo

Trang 18

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 18

Với cách đó, Enron đã tạo ra hơn 900 công ty con, chủ yếu nằm ở những nước

dễ dãi nhất về luật kế toán Tất cả hệ thống nhằm che giấu lỗ lãi và rủi ro, trong khi đó lại phóng đại lợi nhuận và tài sản Hệ thống lại được thiết kế bởi các chuyên gia tài chính rất tài giỏi, và được bảo đảm bởi một trong 5 đại gia ngành kiểm toán của thế giới: Arthur Andersen

Chính sự yếu kém trong hoạt động QTCT cộng với mục tiêu lợi nhuận mù quáng

bỏ qua đạo đức kinh doanh đã gây nên sự sụp đổ của tập đoàn này

Sau vụ sụp đổ của công ty Enron tại Mỹ, được xem là hậu quả của QTCT yếu kém và lệch lạc, hàng loạt kiến nghị xuất phát từ vụ này và nhằm làm tăng sức mạnh của QTCT đã được đệ trình lên Sở Giao dịch Chứng khoán New York ngày 6/6/2002, bao gồm:

1 Bắt buộc các công ty niêm yết phải có đa số thành viên HĐQT là độc lập

2 Phải định nghĩa rõ hơn thế nào là một thành viên HĐQT “độc lập” Ví dụ, một thành viên độc lập không được có quan hệ vật chất với công ty Một nhân viên cũ cho đến năm năm sau khi thôi việc mới được vào HĐQT công ty

3 Trao thêm quyền cho các thành viên HĐQT độc lập này để họ thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và kiềm chế Ban Giám đốc một cách hiệu quả hơn; yêu cầu họ có những phiên họp thường kỳ ở cấp điều hành không có ban giám đốc hiện diện; đồng thời, yêu cầu các thành viên HĐQT độc lập chỉ định và tiết lộ công khai danh tính của thành viên HĐQT sẽ chủ tọa các phiên họp này, nhằm tạo điều kiện cho một thành viên HĐQT độc lập làm đối trọng với quan chức điều hành cao nhất: Giám đốc điều hành (CEO) của công ty

4 Yêu cầu các công ty niêm yết phải có một ủy ban tiến cử/QTCT gồm toàn thành viên HĐQT độc lập để xem xét việc bổ nhiệm những người mới vào HĐQT và định hình cơ chế quản trị của công ty Tương tự, bộ phận phụ trách về lương và các khoản thù lao cho công ty cũng phải gồm toàn thành viên HĐQT độc lập

5 Gia tăng quyền lực và trách nhiệm của Ban kiểm soát và công ty kiểm toán,

kể cả giao cho họ quyền quyết định thuê mướn hay sa thải các kiểm toán viên độc lập,

và phê duyệt bất kỳ quan hệ phi kiểm toán đáng kể nào với các kiểm toán viên độc lập

6 Các công ty niêm yết phải công bố công khai và đầy đủ những nguyên tắc QTCT của mình, bao gồm các tiêu chuẩn về năng lực, trách nhiệm, mức thù lao của thành viên HĐQT, v.v

7 Yêu cầu các công ty niêm yết thực hiện cũng như công bố thông tin về một bộ qui tắc hành vi cũng như đạo đức kinh doanh áp dụng cho các thành viên HĐQT, các quan chức và nhân viên của công ty

2 Triết lý QTCT Kaizen và sự thành công của Toyota – Nhật Bản

Trang 19

2.1 Triết lý quản trị doanh nghiệp Kaizen

Kaizen là một thuật ngữ của người Nhật, nghĩa là liên tục (“kai”) cải tiến (“zen”) Kaizen được hiểu là hoạt động cải tiến liên tục với sự tham gia của mọi người nhằm cải thiện không ngừng môi trường làm việc, cuộc sống mỗi cá nhân Khi áp dụng ở nơi làm việc, Kaizen đòi hỏi sự cam kết và nỗ lực liên tục của mọi người, các cán bộ quản lý cũng như mỗi cán bộ công nhân viên Kaizen là những cải tiến nhỏ thực hiện từng bước trong một thời gian dài Thực tế, các công ty Nhật thường chú trọng thực hiện Kaizen hoặc chương trình có sự tham gia của nhân viên vì các chương trình này nằm trong tầm kiểm soát của các cán bộ quản trị Kaizen ít tốn kém hơn là đầu tư mới, nó nâng cao chất lượng công việc, nó ghi nhận sự tham gia của nhà QTCT, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và giảm chi phí hoạt động

Kaizen không phải là một công cụ, không phải là một kỹ thuật mà là triết lý quản trị Kaizen không đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng yêu cầu sự cam kết và nỗ lực ở mọi cấp của doanh nghiệp (đặc biệt là cấp lãnh đạo) Các yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động Kaizen bao gồm: Cam kết của lãnh dạo cao nhất, vai trò của cán bộ quản lý các phòng ban, tổ, nhóm, sự nỗ lực tham gia của mọi người, việc triển khai cải tiến được thực hiện liên tục, hàng ngày Các nguyên tắc khi áp dụng Kaizen gồm:

Th ứ nhất, định hướng khách hàng: Sản xuất và cung cấp dịch vụ theo định hướng thị trường và đáp ứng nhu cầu của khách hàng là nguyên tắc bất biến hàng đầu trong quản trị kinh doanh hiện đại Trong Kaizen cũng tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc này Mặc dù các công cụ Kaizen chủ yếu tập trung vào cải tiến và quản trị chất lượng sản phẩm, nhưng mục tiêu cuối cùng là phục vụ khách hàng, gia tăng lợi ích sản phẩm

để tối đa hoá sự hài lòng của khách hàng Người hưởng lợi cuối cùng chính là khách hàng nên bất cứ hoạt động nào không làm tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm và không

ngừng nâng cao sự thoả mãn của khách hàng thì đều bị loại bỏ

Th ứ hai, liên tục cải tiến: Theo Kaizen, hoàn thành công việc không có nghĩa là

kết thúc công việc mà chỉ là hoàn thành ở giai đoạn này trước khi chuyển sang một giai đoạn kế tiếp Nguyên tắc này đã cải tiến thói quen của nhân viên thường thường chuyển sang một công việc mới khác ngay sau khi thành công một nhiệm vụ nào đó Các tiêu chuẩn kỹ thuật, mẫu mã sản phẩm và chi phí hiện tại sẽ không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trong tương lai Nếu chúng ta tập trung cải tiến sản phẩm hiện tại thì sẽ hiệu quả hơn rất nhiều, ở cả góc độ chi phí lẫn thời gian so với việc sản xuất ra một sản phẩm mới Vì vậy quá trình cải tiến sản phẩm dịch vụ cần được lập kế hoạch và thực hiện một cách liên tục, rõ ràng

Th ứ ba, xây dựng “văn hoá không đổ lỗi”: Đây là một thuật ngữ khoa học quản

trị doanh nghiệp hiện đại đã được nhiều học giả và các nhà quản trị doanh nghiệp lớn nghiên cứu và áp dụng thành công Đi vào chi tiết thì có rất nhiều vấn đề nghiên cứu bên trong một thuật ngữ khoa học quản trị này Trước hết cần xây dựng phương châm làm việc là “lỗi thì do tôi, thành công do tập thể”, quy trách nhiệm đúng đắn và phù hợp cho từng cá nhân và mỗi cá nhân phải chiụ trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ đã được tổ chức giao; đặc biệt không nên đổ lỗi cho người khác trong phạm vi trách

Trang 20

CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu 20

nhiệm cá nhân đó Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trong tập thể của mình, chứ không nên “đá bóng” ra cơ quan khác

Th ứ tư, thúc đẩy môi trường văn hoá mở: Sự cởi mở được coi là một điểm mạnh

để nhân viên sửa chữa sai sót nhanh nhất Xây dựng một môi trường văn hoá mở, văn hoá không đổ lỗi, nhân viên trong công ty dám nhìn thẳng vào sai sót, chỉ ra các điểm yếu và yêu cầu đồng nghiệp hay lãnh đạo giúp đỡ Thật sai lầm nếu mỗi nhân viên đều coi kiến thức là của riêng mình Nhà quản trị cần xây dựng tốt hệ thống thông tin quản lý nội bộ, trong đó các kênh thông tin cần hỗ trợ đắc lực để nhân viên chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm giữa các bộ phận, giữa đồng nghiệp, nhân viên với lãnh đạo và ngược lại trong toàn công ty

Th ứ năm, phương pháp làm việc theo nhóm: Tạo dựng các nhóm làm việc hiệu quả là một phần quan trọng trong cấu trúc của doanh nghiệp Mỗi nhóm cần được phân quyền hạn nhất định Trưởng nhóm là người biết bao quát, nắm rõ nhiệm vụ, yêu cầu và có khả năng tập hợp, biết đánh giá và sắp xếp phù hợp năng lực các thành viên để triển khai dự án hiệu quả Từng nhân viên cần nỗ lực phối hợp để xây dựng danh tiếng cho nhóm đạt kết quả tốt, hiệu quả và liên tục cải tiến Kết thúc nhiệm vụ, mỗi nhóm cần đánh giá, xếp hạng thành viên, tôn trọng uy tín và cá tính của mỗi thành viên

Th ứ sáu, quản trị theo chức năng chéo: Theo nguyên tắc này, các dự án được lập

kế hoạch và thực hiện trên cơ sở sử dụng nguồn lực kết hơp từ các bộ phận, phòng ban trong công ty, kể cả tận dụng nguồn lực ngoài doanh nghiệp

Th ứ bảy, nuôi dưỡng “quan hệ hữu hảo”: Người Nhật thường không thích kẻ

thù hay những quan hệ đối đầu, không khuyến khích cá nhân làm việc thực dụng chỉ coi trọng một yếu tố kết quả công việc Người Nhật cũng không phù hợp với văn hoá

đổ lỗi mà họ luôn duy trì văn hoá tập thể rất tốt, đảm bảo sự đồng nhất trong công ty

Họ thường đầu tư nhiều vào các chương trình đào tạo kỹ năng giao tiếp cho nhân viên, đặc biệt là các khoá đào tạo dành cho những người quản lý và lãnh đạo, bởi lẽ

đó là những người có trách nhiệm cao nhất đảm bảo cho quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin một cách tốt đẹp nhất Nhiều người phương tây khi gia nhập các công ty của Nhật đã sững sờ ngạc nhiên khi nhận thấy rằng các công ty ở đây thường dành quỹ thời gian khổng lồ để đào tạo theo các chương trình như vậy, nhưng kết quả còn bất ngờ hơn khi người ta phát hiện ra đó chính là một khoản đầu tư để tạo dựng niềm tin cho nhân viên luôn có lòng trung thành và cam kết làm việc lâu dài trong công ty

Th ứ tám, ý thức kỷ luật tự giác: Ý thức kỷ luật tự giác là một trong các nguyên

tắc quan trọng trong triết lý Kaizen

Th ứ chín, thông tin đến mọi nhân viên: Thông tin là một yếu tố đầu vào quan trong hàng đầu trong quá trình sản xuất, kinh doanh hiện đại; thông tin từ nhà quản trị đến nhân viên cần đảm bảo các yếu tố kịp thời, chính xác, đầy đủ, đúng đối tượng Nhân viên cần hiểu được mục tiêu, yêu cầu khi người quản trị giao nhiệm vụ, có trách

Ngày đăng: 09/07/2016, 04:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. A Survey of Corporate Governance, Shleifer, Andrei, Vishny, R., (1997), Journal of Finance, 52 (2): p. 737–783 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Survey of Corporate Governance
Tác giả: A Survey of Corporate Governance, Shleifer, Andrei, Vishny, R
Năm: 1997
4. “Corporate governance” là cái gì?, Nguyễn Phú Anh Tuấn, http://my.opera.com, 18/7/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Corporate governance” là cái gì
5. Corporate governance: QTCT đại chúng, Nguyễn Phú Anh Tuấn, http://my.opera.com, 18/7/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate governance: QTCT " đạ"i chúng
7. Đã đến lúc thay đổi cách quản trị, Nguyễn Công Phú, http://www.thesaigontimes.vn - 28/8/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ã " đế"n lúc thay " đổ"i cách qu"ả"n tr
10. Nhận diện rủi ro thông tin trong đầu tư chứng khoán, Hương Giang, Tạp chí Ngân hàng, số 21/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh"ậ"n di"ệ"n r"ủ"i ro thông tin trong "đầ"u t"ư" ch"ứ"ng khoán
11. QTCT và kiểm soát xung đột, góc tiếp cận của các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam, Phạm Trí Hùng, http://www.vmi.edu.vn, 23/11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: QTCT và ki"ể"m soát xung "độ"t, góc ti"ế"p c"ậ"n c"ủ"a các doanh nghi"ệ"p hàng "đầ"u Vi"ệ"t Nam
14. Quản trị công ty đại chúng vấn đề và khuyến nghị, www.saga.vn 15. Quản trị công ty sau sự kiện Enron, Tan Cheng Han, www.fetp.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qu"ả"n tr"ị" công ty sau s"ự" ki"ệ"n Enron
12. QTCT trong thế giới phẳng, http://www.royal.vn Link
1. 8 phẩm chất của nhà quản lý hiện đại, TS. Vũ Thế Dũng, Đại Học Bách Khoa Tp. HCM Khác
3. Báo cáo thương niên doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
13. Quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam: Quy định của pháp luật và hiệu lực thực tế và vấn đề, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Khác
16. Quản trị doanh nghiệp thời khủng hoảng, Cao Bá Khoát, Tạp chí nhà quản lý, tháng 05/2009 Khác
17. Quản trị doanh nghiệp tốt: cơ sở cho phát triển bền vững, Bản tin môi trường kinh doanh, Số 10(13) tháng 10/2005 Khác
18. Sai lầm trong quản trị doanh nghiệp nhà nước, Hồ Hữu Hoành, Thời báo kinh tế Sài Gòn, số 34/2006 Khác
19. Thực thi và quản trị công ty tốt ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi, Erik Berglof – Stijn Claessens, The World bank research observer, vol 21 no1 2006 Khác
20. Một số nguồn khác trên báo, tạp chí và Internet Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: khoảng cách về quản trị ở Việt nam so với các nước phát triển - VẬN DỤNG KHOA HỌC QUẢN TRỊ CÔNG TY NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA DOANH NGHIỆP
Bảng 2 khoảng cách về quản trị ở Việt nam so với các nước phát triển (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w