ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN ---oOo--- Trần Thị Thương NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TẨY GIUN ĐỊNH KỲ KẾT HỢP VỚI BỔ SUNG VIÊN SẮT - AXIT FOLIC CHO PHỤ NỮ T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-oOo -
Trần Thị Thương
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TẨY GIUN ĐỊNH KỲ KẾT HỢP VỚI BỔ SUNG VIÊN SẮT - AXIT FOLIC CHO PHỤ NỮ TUỔI SINH SẢN Ở HAI HUYỆN
TRẤN YÊN VÀ YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-oOo -
Trần Thị Thương
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TẨY GIUN ĐỊNH KỲ KẾT HỢP VỚI BỔ SUNG VIÊN SẮT - AXIT FOLIC CHO PHỤ NỮ TUỔI SINH SẢN Ở HAI HUYỆN
TRẤN YÊN VÀ YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Ngô Đức Thắng
TS Trần Anh Đức
Hà Nội - 2014
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến TS Ngô Đức Thắng, Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương, TS Trần Anh Đức, Bộ môn Động vật Không xương sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội là hai người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn chân thành đến PSG.TS Tạ Thị Tĩnh, Viện Sốt rét –
Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương, chủ nhiệm dự án “ Phòng chống thiếu máu tại Yên Bái” đã cho phép tôi được sử dụng một phần số liệu trong dự án để hoàn thành luận văn Xin cám ơn các thầy cô giáo, anh chị và các bạn trong Bộ môn Động vật Không xương sống đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, tại Bộ môn Cám ơn các cá nhân và tập thể Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, các thầy cô trong Ban Chủ nhiệm khoa đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân yêu đã ở bên giúp đỡ, ủng hộ, động viên để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này
Học viên cao học
Trần Thị Thương
Trang 4ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát đặc điểm sinh học và dịch tễ học của giun đũa, giun tóc và
giun móc 3
1.2 Tác hại của giun đũa, giun tóc và giun móc đối với cơ thể người 7
1.3 Khái quát tình hình nhiễm giun ở Việt Nam 9
1.4 Biện pháp phòng bệnh và điều trị giun đũa, giun tóc, giun móc 14
1.5 Vai trò của sắt và mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu thiếu sắt với
tình trạng nhiễm giun 15
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM,THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.2 Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4 Các chỉ tiêu đánh giá 25
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 28
3.1 Tỷ lệ nhiễm các loại giun đũa, giun tóc và giun móc của phụ nữ tuổi
sinh sản trước và sau can thiệp ở hai huyện 28
3.2 Tỷ lệ thiếu máu (thiếu Hb), thiếu sắt (thiếu SF) ở phụ nữ tuổi sinh sản trước và sau can thiệp ở hai huyện 38
3.3 Hiệu quả của các biện pháp tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt axit-folic hàng tuần sau can thiệp 46
KẾT LUẬN 52
KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân vùng nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc 10
Bảng 1.2 Phân bố sắt trong cơ thể người 15
Bảng 2.1 Phân loại cường độ nhiễm giun đường ruột theo tiêu chuẩn của WHO 26
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm các loại giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản trước và
sau can thiệp 29
Bảng 3.2 Cường độ nhiễm các oại giun của phụ nữ tuổi sinh sản trước và
sau can thiệp ở hai huyện 33
Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm phối hợp các loại giun ở phụ nữ tuổi sinh sản trước và
sau can thiệp 36
Bảng 3.4 Mức độ thiếu máu trước và sau can thiệp của phụ nữ hai huyện 39
Bảng 3.5 Hàm ượng Hb trung bình trước và sau can thiệp 42
Bảng 3.6 Tỷ lệ thiếu SF huyết thanh và hàm ượng SF trung bình trước và sau
can thiệp của phụ nữ ở hai huyện 43
Bảng 3.7 Số thiếu máu có thiếu sắt trước và sau can thiệp 45
Bảng 3.8 Đánh giá hiệu quả sau can thiệp bằng thuốc tẩy giun và bổ sung viên sắt hàng tuần cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện 48
Bảng 3.9 Sự thay đổi của tỷ lệ nhiễm giun móc, thiếu máu, thiếu sắt và thiếu máu thiếu sắt theo thời gian sau can thiệp 49
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1.Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Trấn Yên 19
Hình 2.2.Sơ đồ các xã nghiên cứu của huyện Yên Bình 20
Hình 2.3 Trứng giun đũa 25
Hình 2.4 Trứng giun tóc 25
Hình 2.5 Trứng giun móc 25
Hình 3.1.Tỷ lệ nhiễm các loại giun trước và sau can thiệp ở hai huyện 30
Hình 3.2 Cường độ nhiễm giun chung trước và sau can thiệp 34
Hình 3.3 Tỷ lệ nhiễm phối hợp các loại giun ở hai huyện 37
Hình 3.4.Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ ở hai huyện trước và sau can thiệp 40
Hình 3.5.Tỷ lệ thiếu Ferritin của phụ nữ ở hai huyện trước và sau can thiệp 44
Hình 3.6.Tỷ lệ thiếu máu có thiếu sắt ở hai huyện trước và sau can thiệp 45
Hình 3.7.Sự thay đổi tỷ lệ nhiễm giun móc, tỷ lệ thiếu máu, tỷ lệ thiếu sắt và
tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt 50
Trang 7v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Hb:
HSHQ:
Hemoglobin
Hệ số hiệu quả
VSR – KST – CT TƢ: Viện Sốt Rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ƣơng WHO: Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 81
MỞ ĐẦU
Giun đũa, giun tóc và giun móc là các loại giun truyền qua đất gặp phổ biến
ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhất à các nước đang phát triển liên quan chặt chẽ đến nghèo đói, vệ sinh môi trường thấp kém và chăm sóc Y tế còn khó khăn Tình trạng nhiễm giun truyền qua đất gây nhiều tác hại thầm lặng và lâu dài tới sức khỏe con người, thậm chí nó còn là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến tử vong Những hậu quả tức thời hay lâu dài của tình trạng nhiễm các loại giun truyền qua đất có thể gây ra cho mọi lứa tuổi và không chỉ cho một thế hệ như gây thiếu máu, thiếu dinh dưỡng, còi cọc, chậm phát triển về thể chất và trí tuệ ở trẻ em, gây thiếu máu, thiếu sắt ở phụ nữ đặt biệt là phụ nữ tuổi sinh đẻ và đang mang thai
Việt Nam à nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu…,chính vì vậy tỷ lệ nhiễm các loại giun truyền qua đất khá phổ biến với sự khác nhau giữa các vùng, các miền và các đối tượng, cao nhất ở miền Bắc và ở nông dân trồng rau màu
Yên Bái là một tỉnh thuộc miền núi Tây Bắc, cách Hà Nội 180 km có điều kiện kinh tế vẫn còn nghèo, trình độ dân trí còn thấp, tình trạng vệ sinh môi trường chưa tốt: vẫn còn tập quán dùng phân tươi, không dùng bảo hộ ao động khi tiếp xúc với phân và đất…Đây à những điều kiện thuận lợi cho sự lan truyền và phát triển bệnh giun truyền qua đất Được sự tài trợ của Đại học Melbounre - Australia, năm
2005 Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương (VSR – KST –CT TƯ đã hợp tác với Đại học Melbounre – Australia và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thực hiện nghiên cứu đánh giá hiệu quả và tính khả thi của việc áp dụng chương trình bổ sung viên sắt– axit folic hàng tuần và tẩy giun định kỳ một năm 1 ần cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 16 đến 45 tuổi tại tỉnh Yên Bái Để đánh giá hiệu quả sau sáu năm can thiệp bằng tẩy giun với Albendazole một năm một lần và bổ sung viên
sắt-axit folic hàng tuần Chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả của việc
tẩy giun định kỳ kết hợp với bổ sung viên sắt-axit folic cho phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện Trấn Yên và Yên Bình, tỉnh Yên Bái” với 3 mục tiêu sau :
Trang 92
1 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại hai huyện Yên Bình và Trấn Yên, tỉnh Yên Bái sau can thiệp bằng thuốc tẩy giun định kỳ một năm một lần kết hợp với bổ sung viên sắt-axit folic hàng tuần
2 Xác định tỷ lệ thiếu máu, thiếu sắt của phụ nữ tuổi sinh sản ở hai huyện Yên Bình và Trấn Yên, tỉnh Yên Bái sau can thiệp bằng thuốc tẩy giun định
kỳ một năm một lần kết hợp với bổ sung viên sắt- axit folic hàng tuần
3 Đánh giá hiệu quả sau sáu năm can thiệp bằng thuốc tẩy giun định kỳ
một năm một lần kết hợp với bổ sung viên sắt-axit folic hàng tuần
Trang 103
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát đặc điểm sinh học và dịch tễ học của giun đũa, giun tóc và giun móc
Mặc dù không thấy những vết tích gì của giun truyền qua đất trong những tầng địa chất cổ xưa và trong các hóa thạch do cấu tạo của cơ thể giun sán không bền vững, không tồn tại được lâu, nhưng vẫn có thể coi giun sán là những ký sinh trùng có lịch sử xuất hiện rất sớm ngay từ khi sơ khai hình thành trái đất và các sinh vật trên trái đất [34]
Đặc điểm sinh học của giun đũa, giun tóc và giun móc
Giun đũa, giun tóc và giun móc đều thuộc ngành Giun tròn (Nematoda) [1]
Giun đũa (Ascaris lumbricoides)
Loài A lumbricoides là loài giun lớn ký sinh ở ruột người, không có môi
trung [1] Giun đũa trưởng thành có màu trắng sữa hoặc hơi hồng, con cái có kích thước 20-25cm x 0,5-0,6cm, con đực có kích thước 15-17cm x 3-4 cm Cơ thể chia thành ba phần : Đầu, thân và đuôi Bên trong cơ thể giun trưởng thành có cơ quan tiêu hóa: ba môi phía đầu giun đũa là bộ phận định hướng, hướng giun đến những vùng có thức ăn Tiếp theo môi giun là một ống tiêu hóa bao gồm thực quản, ruột, hậu môn, giúp giun đũa có khả năng hút chất dinh dưỡng của ruột người Cơ quan sinh dục của giun đũa cái gồm: tử cung, hai ống dẫn trứng, buồng trứng và hai vòi trứng Hai vòi trứng gần đến lỗ sinh dục thì tập trung thành âm đạo và đổ ra lỗ sinh dục cái ở một phần ba trước của thân giun Cơ quan sinh dục đực là một ống tinh hoàn gồm một ống nhỏ, cuộn như cuộn len dần dần ống này to dần ên, à nơi chứa tinh trùng, để đưa ra ỗ phụt tinh ở lỗ hậu môn, ngoài ra còn có hai gai sinh dục chìa
ra ngoài dùng để cố định giun cái trong lúc giao hợp Cơ quan tuần hoàn, bài tiết của giun đũa rất đơn giản [2]
Trang 1154
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1 Bộ môn Ký sinh trùng- Đại học Y Hà Nội (2001), “Giun đũa, giun tóc, giun
móc”, Ký sinh trùng y học, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr.127-152
2 Bộ môn ký sinh trùng - Đại học Y Hà Nội ( 2006), Bài giảng ký sinh trùng Y
học, Nhà xuất bản Y học tr.73-100
3 Bộ môn sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng – Học viện Quân Y (1998),
“Phương pháp xác định số ượng trứng giun ở phân”, Kỹ thuật xét nghiệm ký
sinh trùng y học, Hà Nội, tr.73-74 và 93-95
4 Cabrea B.D (1987), “Các kỹ thuật xét nghiệm thường quy và đặc biệt”, Hội
thảo về phòng chống một số bệnh giun sán chủ yếu ở Việt Nam, Bộ Y tế/
WHO, Hà Nội (15- 21/10/1987), tr.20-25
5 Lê Đình Công (1998), “Tình hình bệnh giun sán hiện nay và dự án phòng
chống các bệnh giun sán ở Việt Nam”, Tài liệu tập huấn đánh giá dịch tễ học
và phòng chống các bệnh giun sán, Hà Nội (tháng 10/1998), tr.14-17
6 Cấn Thị Cúc và nnk (1998), “Tình hình nhiễm giun đũa, tóc, móc trong nhân
dân làm nông nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh điều tra năm 1995 – 1996”, Thông
tin phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, VSR- KST- CT TƯ,
(2), tr.72-79
7 Nguyễn Văn Chương (2013), “Tình hình nhiễm giun móc/mỏ và hiệu quả điều trị của Albendazol và Mebendazole tại bốn điểm của bốn tỉnh Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đăk Lăk”, Tạp chí phòng chống các bệnh sốt
rét và các bệnh ký sinh trùng, VSR- KST- CT TƯ, số 4-2013, tr.4-5
8 Đỗ Trung Dũng (2011), “Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất và thiếu máu
ở phụ nữ tuổi sinh sản tại một số điểm của Lào, Campuchia và Việt Nam”,
CTKH, Tập II, Ký sinh trùng – Côn trùng Y học, VSR- KST- CT TƯ, Nhà
xuất bản Y học, Hà Nội, tr.64-73
Trang 1255
9 Dự án phòng chống giun sán (1998), Tài liệu tập huấn đặc điểm dịch tễ,
bệnh học, điều trị và kỹ thuật chẩn đoán trong phòng chống một số bệnh giun sán chính ở Việt Nam (tài liệu dành cho cán bộ Y tế tuyến tỉnh), Bộ Y
tế, Hà Nội
10 Nguyễn Văn Đề (1995), Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun móc và hiệu quả
một số thuốc điều trị giun móc ở ba vùng canh tác thuộc huyện đồng bằng miền Bắc Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Khoa học Y dược, Đại Học Y Hà Nội
11 Đinh Thị Phương Hoa (2013), Tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu và hiệu quả
bổ sung viên sắt hàng tuần ở phụ nữ 20 -35 tuổi tại huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang, Luận án tiến sỹ Dinh Dưỡng, Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia
12 Học viện Quân Y ( 2008), Ký sinh trùng và côn trùng Y học, Nhà xuất bản Y
học Hà Nội
13 Nguyễn Mạnh Hùng, “Công tác phòng chống giun sán giai đoạn 2006-2010
phương hướng thực hiện chương trình phòng chống bệnh giun sán
2011-2015”, CTKH, Tập II, Ký sinh trùng – Côn trùng Y học, VSR- KST- CT TƯ,
Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.7-9
14 Nguyễn Văn Khá và nnk (2007), “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học nhiễm giun sán đường ruột ở 3 tỉnh Tây Nguyên Thử nghiệm giải pháp can thiệp ở
một số địa bàn”, Kỷ yếu công trình NCKH 2001-2006, VSR- KST-CT Quy
Nhơn, Nhà xuất bản Y học,tr.424 - 431
15 Nguyễn Công Khẩn và nnk (2000), “Bổ sung sắt hàng tuần cho phụ nữ 15-
35 tuổi, một giải pháp bổ sung dự phòng có hiệu quả và có thể áp dụng mở
rộng”, Tạp chí Y học Thực hành, số 5, tr.381
16 Hoàng Thị Kim và nnk (1998), “Những kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét- Ký sinh trùng- côn trùng trung ương về đặc điểm dịch tễ, chẩn đoán điều
trị và phòng chống các bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam”, Hội thảo quốc
gia phòng chống các bệnh giun sán 1998- 2000 và đến 2000, Hà Nội, 7- 8
tháng 7 năm 1998
Trang 1356
17 Hoàng Thị Kim và nnk (1998), “Những kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét
Ký sinh trùng Côn trùng trung ương về đặc điểm dịch tễ, chẩn đoán, điều trị
và phòng chống các bệnh giun truyền qua đất ở Việt Nam", Thông tin
phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, VSR- KST- CT TƯ,
(2), tr.9-19
18 Hoàng Thị Kim và nnk (1998), “ Tình hình nhiễm giun truyền qua đất ở Việt Nam và hiệu quả một số biện pháp phòng chống”, Phương pháp xét nghiệm
phân chẩn đoán của các bệnh giun sán”, Tài liệu tập huấn: “ Đánh giá dịch
tễ học và phòng chống các bệnh giun sán”, Viện SR-KST-CT TƯ, Hà
Nội/WHO, tr.26-30 và 49-53
19 Hoàng Thị Kim và nnk (2003), “Thí điểm phòng chống các bệnh giun truyền qua đất cho học sinh một trường tiểu học Ninh Bình năm 1999-2000”,
Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, VSR-KST-CT
TƯ, Hà Nội, số 4, tr.74-83
20 Phạm Trung Kiên (2003), Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp
cộng đồng đến bệnh tiêu chảy và nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ dưới 5 tuổi tại xã Hoàng Tây, Kim Bảng Hà Nam, Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học
Y Hà Nội
21 Cao Bá Lợi (2011), “ Một số đặc điểm nhiễm giun móc/mỏ và thiếu máu do
thiếu ferritin ở nữ công nhân ba nông trường chè tỉnh Phú Thọ và hiệu quả
can thiệp điều trị đặc hiệu 2007 – 2009” CTKH, Tập II, Ký sinh trùng – Côn
trùng Y học, VSR- KST-CT TƯ, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.37-44
22 Trần Xuân Mai (1995), “Giun hình ống”, Ký sinh trùng Y học, Giáo trình
Đại học, Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế, TP Hồ Chí Minh, tr.120-129
23 Trần Xuân Mai (1999), “Giun móc”, Ký sinh trùng Y học, Nhà xuất bản Y
học, Hà Nội, tr.187-191