GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG CON ĐƯỜNG TÒA ÁN. THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế do Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng từ Đại hội VI (121986) đã đem lại những thành quả to lớn về kinh tế và xã hội. Song trong bối cảnh nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển đã khiến tranh chấp thương mại trở thành một hiện tượng khách quan tất yếu và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp. Khi những hoạt động này diễn ra sẽ không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh do nhiều nguyên nhân. Vì vậy, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh là điều cần thiết để đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh. Trong bối cảnh đang diễn ra cuộc cải cách tư pháp mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, có thể nói, Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại quan trọng và phổ biến nhất ở Việt Nam. Bên cạnh những ưu điểm bằng việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường Tòa án thì cũng không ít những nhược điểm của phương thức này khiến các doanh nghiệp băn khoăn khi lựa chọn giải quyết tại Tòa án như: thủ tục rườm rà, phức tạp, thời gian giải quyết kéo dài và việc bảo mật thông tin cũng không được bảo đảm. Tuy nhiên, Tòa án là cơ quan tài phán quốc gia, mang tính cưỡng chế nghiêm minh nên việc lựa chọn Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại vẫn là lựa chọn an toàn cho các doanh nghiệp. Nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý trong công tác xét xử của Tòa án, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại cần được thực hiện đúng đắn, kịp thời; góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và an ninh quốc gia. Đồng thời đây cũng là mối quan tâm của nhiều người trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay. Đó cũng chính là lý do em lựa chọn chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa án. Thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
NGUYỄN THỊ ANH TRÚC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG CON ĐƯỜNG TÒA ÁN THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH DOANH TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS HỒ XUÂN THẮNG
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 6 NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứucủa riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêutrong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Anh Trúc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo Trường Đại học Sài Gòn
đã tạo điều kiện để em được làm khóa luận tốt nghiệp, đặc biệt là các thầy cô khoaLuật với tri thức và tâm huyết vốn có đã truyền đạt kiến thức quý báu cho em trongsuốt thời gian học tập tại trường
Để hoàn thành được bài khóa luận tốt nghiệp này, cho phép em được bày tỏlời cảm ơn đến Tiến sĩ Hồ Xuân Thắng người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ emtrong suốt quá trình hoàn thành bài khóa luận
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện bài khóa luận một cách hoàn chỉnhnhất Nhưng vì hạn chế về vốn kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nên không thểtránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Em rất mongnhận được sự góp ý của các quý thầy cô để bài khóa luận của em được hoàn chỉnhhơn Đó sẽ là những hành trang quý giá giúp em hoàn thiện kiến thức của mình saunày
Cuối cùng, em xin gửi lời chúc đến các thầy cô Trường Đại học Sài Gòn,đặc biệt là các thầy cô khoa Luật luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công trongcuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC Trang
Lời cam đoan -i
Lời cảm ơn -ii
Mục lục -1
MỞ ĐẦU -3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG CON ĐƯỜNG TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Ở NƯỚC TA 1.1.Khái quát chung tranh chấp về kinh doanh, thương mại -5
1.1.1.Khái niệm, đặc điểm tranh chấp về kinh doanh, thương mại -5
1.1.2.Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại -7
1.2.-Vai trò của việc giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa án trong giai đoạn hiện nay - 9
1.3.Nguyên tắc cơ bản giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại -10
1.3.1.Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự - 10
1.3.2. -Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ - 11
1.3.3.Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật - 12
1.3.4.Nguyên tắc hòa giải - 12
1.4.Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại - 14
1.4.1.Thẩm quyền theo vụ việc - 14
1.4.2.Thẩm quyền theo cấp Tòa án - 16
1.4.3.Thẩm quyền theo lãnh thổ - 18
1.4.4.Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn - 19
1.5. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án cấp sơ thẩm - 20
1.5.1.Khởi kiện và thụ lý vụ án - 20
Trang 51.5.2.Hòa giải và chuẩn bị xét xử - 22
1.5.3.Phiên tòa sơ thẩm - 23
1.6. -Một số định hướng, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới -26
Chương 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2.1.Khái quát về Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh - 30
2.1.1.Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển - 30
2.1.2.Chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động -31
2.2. -Thực trạng giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân Quận 11 - 32
2.2.1.- - -Tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân Quận 11 từ năm 2011 đến nay - 32
2.2.2.Những khó khăn khi áp dụng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án Quận 11 - 37
2.3. Đánh giá chung về các ưu điểm, khuyết điểm trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân Quận 11 - 39
2.3.1.Nguyên nhân ưu điểm - 39
2.3.2.Nguyên nhân khuyết điểm - 39
2.4.- Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành và nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại - 41
2.4.1.Hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành - 41
2.4.2.Nâng cao hiệu quả xét xử - 44
KẾT LUẬN -48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO -50
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế do Đảng Cộng sản Việt Nam đềxướng từ Đại hội VI (12/1986) đã đem lại những thành quả to lớn về kinh tế và xãhội Song trong bối cảnh nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, hợp tác vàgiao lưu thương mại ngày càng phát triển đã khiến tranh chấp thương mại trở thànhmột hiện tượng khách quan tất yếu và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng vàphức tạp Khi những hoạt động này diễn ra sẽ không thể tránh khỏi những mâuthuẫn, tranh chấp phát sinh do nhiều nguyên nhân Vì vậy, việc giải quyết các tranhchấp phát sinh là điều cần thiết để đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnhcho các chủ thể kinh doanh
Trong bối cảnh đang diễn ra cuộc cải cách tư pháp mạnh mẽ nhằm đáp ứngnhu cầu phát triển của xã hội, có thể nói, Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấpkinh doanh, thương mại quan trọng và phổ biến nhất ở Việt Nam Bên cạnh những
ưu điểm bằng việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường Tòa án thì cũngkhông ít những nhược điểm của phương thức này khiến các doanh nghiệp bănkhoăn khi lựa chọn giải quyết tại Tòa án như: thủ tục rườm rà, phức tạp, thời giangiải quyết kéo dài và việc bảo mật thông tin cũng không được bảo đảm Tuy nhiên,Tòa án là cơ quan tài phán quốc gia, mang tính cưỡng chế nghiêm minh nên việclựa chọn Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thươngmại vẫn là lựa chọn an toàn cho các doanh nghiệp
Nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý trong công tác xét xử của Tòa án, việcgiải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại cần được thực hiện đúng đắn, kịpthời; góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như đảmbảo môi trường kinh doanh lành mạnh và an ninh quốc gia Đồng thời đây cũng làmối quan tâm của nhiều người trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển như hiệnnay Đó cũng chính là lý do em lựa chọn chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp về kinhdoanh, thương mại bằng con đường Tòa án Thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dânQuận 11, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của bài khóa luận là nhằm tìm hiểu rõ thêm phần lýluận, sự cần thiết phải có một hệ thống pháp luật thống nhất và chặt chẽ để giải
Trang 7quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở nước ta Thông qua chuyên đề, emmuốn mô tả một “bức tranh” cụ thể về thực trạng cũng như việc áp dụng pháp luật
về việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân Quận 11
Từ đó, thấy được những ưu điểm và nhược điểm của quy định pháp luật hiện hành
và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật giải quyết tranhchấp về kinh doanh, thương mại
3 Phạm vi nghiên cứu
Giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại là vấn đề rộng lớn, có thểnhìn nhận đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu củachuyên đề tốt nghiệp, em không nghiên cứu toàn bộ các vấn đề giải quyết tranhchấp về kinh doanh, thương mại mà chỉ tập trung nghiên cứu giải quyết tranh chấp
về kinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa án; thực tiễn áp dụng tại Tòa ánnhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2011 đến nay và một số kiếnnghị hoàn thiện
4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cảicách tư pháp, văn bản điều chỉnh mối quan hệ các chủ thể tham gia trong kinhdoanh thương mại Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài còn dựa trên một số phươngpháp nghiên cứu chuyên ngành luật như: phân tích-tổng hợp, so sánh-logic, thống
kê số liệu, đánh giá, khảo sát thực tiễn…
5 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củabài khóa luận được trình bày theo hai chương, gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mạibằng con đường Tòa án theo pháp luật hiện hành ở nước ta
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tạiTòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2011 đến nay và một sốkiến nghị hoàn thiện
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG CON ĐƯỜNG TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT HIỆN
HÀNH Ở NƯỚC TA 1.1 Khái quát chung tranh chấp về kinh doanh, thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp về kinh doanh, thương mại
Khái niệm
Con người với bản tính tự nhiên là luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích cho mìnhnên đôi khi dẫn đến sự xung đột với lợi ích của người khác hoặc lợi ích của cộngđồng Do vậy, tranh chấp tồn tại như một điều tất yếu Chừng nào con người cònđược thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân thì chừng đó còn có những xung đột về lợi ích.Theo Triết học Mac-Lê nin, mâu thuẫn là quy luật chung của xã hội, là nguồn gốc,
là động lực của sự phát triển Mâu thuẫn luôn luôn tồn tại như một tất yếu tự nhiêntrên mọi lĩnh vực của xã hội, tạo nên sự phát triển của xã hội Tranh chấp là nhữngxung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn và từ những lợi ích riêng Tuynhiên, mâu thuẫn và tranh chấp lại tạo nên những phát triển của xã hội, góp phầnxây dựng xã hội ngày càng hiện đại, văn minh
Khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được đề cập trong LuậtThương mại từ ngày 10/5/1997, theo văn bản này thì tranh chấp thương mại là tranhchấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng tronghoạt động thương mại Nhưng thực tế, cùng với sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạchhóa sang cơ chế thị trường và sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thì thuậtngữ tranh chấp kinh doanh, thương mại không chỉ bó hẹp là những tranh chấp nhưLuật Thương mại 1997 đã xác định mà nó còn bao hàm nhiều loại tranh chấp khácphát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại diễn ra trong bối cảnh nền kinh tếthị trường cùng với thời kỳ hội nhập như hiện nay Các tranh chấp phát sinh từ hợpđồng kinh tế và hoạt động tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động mua bántrái phiếu, cổ phiếu được coi là các tranh chấp kinh tế, được điều chỉnh chủ yếu bởiPháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 Tình trạng này đã được cải thiện một cách đáng
kể sau nỗ lực cải cách về tư duy pháp lý lớn vào năm 2005 Kết quả là cho ra đời BộLuật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005, bãi bỏ Pháp lệnh hợp đồngkinh tế năm 1989 đã thống nhất về cách điều chỉnh hợp đồng Bộ Luật Dân sự có
Trang 9vai trò như đạo luật gốc, điều chỉnh tất cả các quan hệ dân sự, lao động, kinh doanh,thương mại, hôn nhân gia đình; Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã thốngnhất thủ tục giải quyết tranh chấp nếu xảy ra đối với tất cả các quan hệ này Nhưvậy, có một số khái niệm cần làm rõ trước khi làm rõ khái niệm tranh chấp kinhdoanh, thương mại.
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt: “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có mâu thuẫn, bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lực giữa các bên” 1
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” 2
Luật Thương mại năm 2005: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động mục đích sinh lợi khác” 3
Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp kinh doanh, thương mại thì Giáotrình Luật Thương mại 2 của trường Đại học Luật Hà nội cũng đưa ra quan điểm vềtranh chấp thương mại: Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hayxung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạtđộng thương mại
Như vậy, khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại là những mâu thuẩn,bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quanđến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại nhằm mục đích sinh lợi Và có thểđịnh nghĩa một cách ngắn gọn như sau: “Tranh chấp kinh doanh, thương mại lànhững mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thểtham gia các quá trình của hoạt động kinh doanh, thương mại”
Đặc điểm
Từ những phân tích trên có thể thấy tranh chấp kinh doanh, thương mại làcác tranh chấp bao hàm các đặc điểm sau:
Thứ nhất, tranh chấp kinh doanh, thương mại liên quan trực tiếp đến lợi ích
kinh tế và thường gắn liền với tài sản có giá trị lớn Khác với tranh chấp dân sự,tranh chấp kinh doanh, thương mại thường có giá trị lớn, mức độ ảnh hưởng đến
1 Từ điển Tiếng Việt (1999), NXB Thanh Hóa, tr 1233.
2 Khoản 16, Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
3 Khoản 1, Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.
Trang 10hoạt động sản xuất kinh doanh rất lớn thậm chí có thể tác động tới hoạt động của cả
hệ thống kinh doanh của nền kinh tế Do đó, việc giải quyết thỏa đáng, nhanh gọn,hiệu quả, kịp thời tranh chấp thương mại là yêu cầu hết sức cần thiết
Thứ hai, chủ thể của các hoạt động phát sinh tranh chấp thường là chủ thể
kinh doanh có tư cách thương nhân hoặc tư cách nhà kinh doanh Những người này
có tâm lý mong muốn xác định quan hệ ổn định, lâu dài trên cơ sở hợp tác, tin cậylẫn nhau
Mỗi bên đều có mục đích tối đa lợi ích kinh tế khi tham gia các quan hệ kinhdoanh và trong quan hệ này, nghĩa vụ của chủ thể này là quyền tương ứng của chủthể kia Vì thế các tranh chấp phát sinh sẽ đe dọa ảnh hưởng xấu đến mục đích vàhiệu quả hoạt động của các doanh nhân trong điều kiện lợi ích kinh tế của các bênphụ thuộc, ảnh hưởng lẫn nhau
Thứ ba, tranh chấp kinh doanh, thương mại nảy sinh trực tiếp từ các quan hệ
kinh doanh và luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh Đó là hệ quả phát sinh từquan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc giữa các bên liên quan với chủthể kinh doanh trong quá trình tiến hành các mục đích nhằm mục đích sinh lợi
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại
Khái niệm
Có thể nhận thấy, mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh, thương mại vừamang tính xung đột vừa hợp tác Vì thế, khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìmcách nhanh chóng để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn này để sớm đưa hoạt độngkinh doanh, sản xuất của mình trở lại bình thường ổn định Giải quyết tranh chấpkinh doanh, thương mại theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cách thức, phươngpháp hay các hoạt động để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột, nhằm khắc phục
và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cácbên, duy trì trật tự kinh tế, xã hội Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thươngmại được tiến hành khi có ít nhất một bên cho rằng mình có quyền lợi hợp pháp bịbên kia xâm phạm và có yêu cầu được giải quyết Kết quả là các quyền và nghĩa vụcủa các bên được xác định lại hoặc mâu thuẫn hay xung đột giữa các bên được dunghòa thông qua phán quyết của Tòa án đứng ra giải quyết tranh chấp
Trang 11Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm 4 Đó là quyền tự do trong lựa chọn hình thức tổ chức kinh tế, lựa chọn
ngành nghề, quy mô và cả lựa chọn phương thức giải quyết các tranh chấp phát sinhtrong quá trình hoạt động kinh doanh Tùy vào điều kiện kinh doanh cũng nhưmong muốn khác nhau của các chủ thể, họ sẽ lựa chọn phương thức giải quyết tranhchấp phù hợp nhất với mình Ở Việt Nam hiện nay, các tranh chấp kinh doanh,thương mại được giải quyết bằng con đường Tòa án chiếm tỷ lệ lớn Giải quyếttranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp do
cơ quan xét xử của Nhà nước thực hiện theo một thủ tục pháp lý chặt chẽ, nhằmtuyên một bản án hay quyết định về vụ tranh chấp Ở nước ta việc giải quyết tranhchấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án sẽ tuân theo quy định của Bộ Luật Tốtụng dân sự
Đặc điểm
Thứ nhất, Tòa án là cơ quan tài phán nhân danh Nhà nước để giải quyết tranh
chấp Do đó, phán quyết của Tòa án được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡngchế nhà nước
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các
quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng
Thứ ba, bằng hình thức Tòa án, tranh chấp có thể được xem xét và giải quyết
qua nhiều cấp (sơ thẩm, phúc thẩm) và có thể thông qua thủ tục xem xét lại bản án(giám đốc thẩm hoặc tái thẩm) theo quy định của pháp luật mà nhiều khi không phụthuộc vào ý chí của các đương sự
Thứ tư, Toà án xét xử theo nguyên tắc công khai Điều này xuất phát từ bản
chất của hoạt động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì công lý đã được luật phápquy định, xã hội thừa nhận Mặt khác, hoạt động xét xử công khai của Tòa án còn
có tác dụng giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của người dân và răn đe, cảnh cáonhững hành vi vi phạm pháp luật
Thứ năm, Tòa án giải quyết các tranh chấp theo nguyên tắc xét xử tập thể và
quyết định theo đa số Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án gồm một Thẩm phán và haiHội thẩm nhân dân Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử có thể gồm haiThẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Phiên xử sơ thẩm các vụ án kinh doanh,
4 Điều 13 Hiến pháp năm 2013.
Trang 12thương mại phải luôn có Hội thẩm nhân dân tham gia cùng với Thẩm phán Hộithẩm ngang quyền với Thẩm phán.
1.2 Vai trò của việc giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa án trong giai đoạn hiện nay
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động kinh doanh,thương mại ngày càng đa dạng và không ngừng phát triển trong tất cả mọi lĩnh vựcsản xuất, thương mại, dịch vụ, đầu tư Vấn đề lựa chọn phương thức giải quyếttranh chấp trong kinh doanh, thương mại phải được các bên cân nhắc, lựa chọn phùhợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan
hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp.Chính vì vậy, một trong các phương thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacác bên, đảm bảo các quan hệ kinh doanh được ổn định, lành mạnh và phát triển làphương thức khởi kiện đến Tòa án theo thủ tục tố tụng
Việc giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại bằng con đường Tòa
án trong giai đoạn hiện nay là phù hợp, phổ biến và gần gũi đối với các nhà doanhnghiệp Tòa án là cơ quan giữ vị trí trung tâm, chủ động tiến hành các hoạt động tốtụng Sản phẩm cuối cùng mà Tòa án đưa ra là phương án giải quyết tranh chấp chocác bên Để có thể nhìn nhận đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranhchấp, cần đánh giá đúng việc giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại bằngcon đường Tòa án có những vai trò quan trọng sau:
+ Bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, giải tỏa sự nặng nề vềtâm lý, duy trì và củng cố quan hệ hợp tác giữa các bên tranh chấp
+ Đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể trong kinh doanh, giữa các côngdân trước pháp luật; góp phần thiết lập sự công bằng, giữ gìn trật tự, kỷ cương phápluật Bởi Tòa án là thiết chế sinh ra để bảo vệ pháp luật và các quyền tự do kinhdoanh, nó bám rễ vào lòng xã hội, là sự cầu viện công lý cần thiết của các nhàdoanh nghiệp
+ Giải quyết tranh chấp là điều kiện để tạo dựng môi trường kinh doanh lànhmạnh, đảm bảo quyền tự do của công dân
+ Thông qua việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, đánh giá được việc ápdụng pháp luật trong thực tiễn kinh doanh, thương mại; chỉ ra những bất cập địnhhướng cho việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động kinh doanh, thương mại; tạo hành
Trang 13lang pháp lý cho hoạt động kinh tế phát triển theo đúng mong muốn của nhà nước
1.3 Nguyên tắc cơ bản giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại
Tòa án là cơ quan thực thi quyền tư pháp trong bộ máy nhà nước và việcthực thi quyền lực này lại ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu và các giá trị của côngcuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; Tòa án là nơi thể hiện sâu sắcnhất bản chất của Nhà nước và nền công lý của chế độ, đồng thời thể hiện chấtlượng hoạt động và uy tín của cả hệ thống tư pháp trong nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Do đó, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn củamình, Tòa án nhân dân cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc, thủ tục do luật phápquy định để đảm bảo hiệu quả xét xử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bêntham gia, đảm bảo vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý xã hội
1.3.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự
Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự bắt nguồn từ nguyên tắc bảo đảmquyền tự do kinh doanh Theo nguyên tắc này các bên tranh chấp trong hợp đồngkinh doanh, thương mại hoàn toàn có quyền tự quyết định có đưa vụ việc ra xét xửtại Tòa án hay không Tức là các bên đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện,yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc Tòa án chỉ thụ lý vụ việc khi cóđơn khởi kiện và chỉ giải quyết trong phạm vi khởi kiện đó Trong quá trình Tòa ángiải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầukhởi kiện nếu sự thay đổi đó không trái với pháp luật và đạo đức xã hội5
Đây nguyên tắc cơ bản nhất trong tố tụng vụ án kinh doanh, thương mại.Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của cácchủ thể Quyền tự do kinh doanh không có nghĩa là các cá nhân, tổ chức khi thamgia kinh doanh có thể làm bất cứ điều gì cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của mình,
mà khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh các bên đều phải tuân theo
5 Điều 5 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 14những quy tắc nhất định của pháp luật Khi tranh chấp xảy ra, Tòa án chỉ tham giagiải quyết nếu đương sự có yêu cầu Cá nhân, pháp nhân theo thủ tục do pháp luậtquy định có quyền khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại để yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Chính vì vậy, trong nguyên tắc tôn trọngquyền tự định đoạt của đương sự, quyền khởi kiện có thể coi là quan trọng nhất Bởitheo quy định thì Tòa án chỉ thụ lý, giải quyết các tranh chấp này nếu có đơn khởikiện, đơn yêu cầu của các đương sự; nếu đương sự không khởi kiện thì Tòa ánkhông có thẩm quyền giải quyết Có thể thấy, việc tranh chấp có được đưa ra Tòa ángiải quyết hay không là sự lựa chọn của các chủ thể Và việc thực hiện quyền nàycủa đương sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúcthẩm mà còn được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án,quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
1.3.2 Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ 6
Chứng minh và chứng cứ là yếu tố cốt lõi trong pháp luật tố tụng, mọi hoạtđộng tố tụng đều tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thuthập và đánh giá chứng cứ Về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu haynhững gì có thật được cơ quan thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định củapháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn các vụ án, tranh chấp
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các tranh chấptrong kinh doanh, thương mại Khác với giải quyết các các vụ án hình sự, giải quyếtcác vụ án tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì Tòa án không tiến hành điều tra
mà đương sự phải cung cấp chứng cứ, Tòa án chỉ xác minh, thu thập chứng cứ trongnhững trường hợp nhất định7 Việc quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, trong trường hợp đương sự không thể tựmình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán mới tự mình thu thậpchứng cứ hoặc trong các trường hợp các mà pháp luật có quy định Theo đó, đương
sự được phép yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứcung cấp chứng cứ cho mình để giao nộp cho Tòa án8
6 Xem thêm Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định về
“Chứng minh và chứng cứ”.
7 Điều 6 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
8 Điều 58 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 15Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng
cứ tạo cơ sở giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ tranh chấp, đồng thời nângcao tinh thần trách nhiệm của các đương sự trong hoạt động tố tụng dân sự, cụ thể làtrong tố tụng án kinh doanh, thương mại Đây là một nguyên tắc đặc thù của tố tụngkinh doanh, thương mại, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia trong việc bảo vềlợi ích của chính mình trước các xâm hại
1.3.3 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc pháp lý
cơ bản của luật pháp nước ta Theo đó, quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ
bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp 2013: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”9 Quyền này đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp
luật, trong đó có Bộ Luật Tố dụng dân sự: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà
án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình” 10
Khi tham gia tố tụng dân sự, các đương sự bình đảng về quyền và nghĩa vụtrong việc thực hiện các hành vi tố tụng Trước Tòa án sẽ không phân biệt đối xửgiữa các bên tranh chấp theo hình thức tổ chức, hình thức sở hữu hay thành phầnkinh tế Các chủ thể có quyền ngang nhau trong việc đưa ra yêu cầu và phản đối yêucầu của bên kia đều có nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợicủa mình Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việctạo nên một môi trường pháp lý bình đẳng cho tất cả các chủ thể kinh doanh, bất kểđịa vị pháp lý của họ, đồng thời khuyến khích tạo sự phát triển, đa dạng hóa cácquan hệ kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường
1.3.4 Nguyên tắc hòa giải
Nguyên tắc hoài giải theo quy định của pháp luật nước ta là một nguyên tắcquan trọng và là nguyên tắc bắt buộc trong tố tụng dân sự, xuất pháp từ quyền tựđịnh đoạt của đương sự và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo vệ quyền lợi của
9 Điều 16 Hiến pháp năm 2013.
10 Điều 8 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 16công dân; giúp các bên giải quyết mâu thuẫn một cách ổn thỏa, góp phần hạn chế
thiệt hại không đáng có do hậu quả của các tranh chấp gây ra Hòa giải “là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” 11 , hay hòa giải “là việc dàn xếp thiện chí giữa các bên tranh chấp với sự trợ giúp của bên thứ ba” 12 Hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự trong việc giải quyết vụ
án Hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, được thực hiện nhằm mục đích phát huytruyền thống đoàn kết, tương trợ giữa các bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng caokết quả giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại Đồng thời, làm tốthòa giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của Nhà nước, hạn chếnhững khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp
Theo nguyên tắc này, khi có tranh chấp kinh doanh, thương mại xảy ra, trướchết các bên tự tiến hành hòa giải với nhau Khi không tự hòa giải được, các bên mớiyêu cầu cơ quan Tòa án can thiệp Nhưng khi đã yêu cầu cơ quan Tòa án can thiệp,các đương sự vẫn có thể tiến hành hòa giải dưới sự hướng dẫn, công nhận của Tòa
án Chỉ khi hòa giải không thành Tòa án mới đưa vụ việc ra xét xử Hơn nữa, tạiphiên tòa, Thẩm phán cũng tạo điều kiện để cho các bên tranh chấp hòa giải đượcvới nhau13 Khi hòa giải, Tòa án phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của đương
sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực bắt buộc các đương sự phảithỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình Ngoài ra, Tòa án không được hòagiải những vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước;những vụ án phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội14 Nếu ởhoàn cảnh không thể tiến hành được hoà giải Toà án có quyền xét xử mà không cầnthực hiện hoà giải giữa các bên khi: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ hai lần mà vẫn
cố tình vắng mặt Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì các lý do chínhđáng Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vidân sự (Điều 182 Bộ Luật Tố tụng dân sự)
1.4 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại
Việc xác định đúng thẩm quyền của cơ quan giải quyết là điều cần thiết tronghoạt động tố tụng nói chung và tố tụng kinh doanh, thương mại nói riêng Theo quy
11 Từ điển Tiếng Việt (1999), NXB Thanh Hóa, tr 528.
12 conciliation.html vào ngày 30/4/2016.
http://www.vie-publique.fr/decouverte-institutions/jus-tice/fonctionnement/modes-alternatifs/qu-est-ce-qu-13 Điều 10 Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
14 Điều 181 Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 17định của Bộ Luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền của Tòa án về giải quyết các tranhchấp kinh doanh, thương mại được phân định như sau:
1.4.1 Thẩm quyền theo vụ việc
Thẩm quyền theo vụ việc là việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấpkinh doanh, thương mại thuộc cơ quan nào: cơ quan quản lý cấp trên, tòa dân sự haytòa kinh tế Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định thẩm quyền giải quyết các tranh chấpkinh doanh, thương mại bao gồm những tranh chấp về kinh doanh, thương mại vànhững yêu cầu về kinh doanh, thương mại
Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa Tòa án15:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: muabán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê,thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằngđường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằngđường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác;đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Bộ Luật Tố tụng dân sự đã mở rộngcác tranh chấp về kinh doanh, thương mại sang cả tranh chấp về quyền sở hữu trítuệ và chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau đều có mục đíchlợi nhuận là một loại tranh chấp kinh doanh, thương mại
Theo quy định tại Khoản 4, Điều 25 Bộ Luật Tố tụng dân sự, tranh chấp vềquyền sở hữu trí tuệ cũng thuộc loại tranh chấp về dân sự Do đó, để phân biệt tranhchấp về quyền sở hữu trí tuệ là tranh chấp về dân sự hay tranh chấp về kinh doanh,thương mại thì phải dựa vào tiêu chí mục đích lợi nhuận của tranh chấp “Đối vớicác tranh chấp quy định tại Khoản 2, Điều 29 của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì khôngnhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cánhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại; nếuchỉ có một bên có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận, thì
15 Điều 29 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 18tranh chấp đó là tranh chấp về dân sự quy định tại khoản 4 Điều 25 của Bộ Luật Tốtụng dân sự16”.
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty Trường hợp này cócác dạng tranh chấp sau17:
+ Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty là các tranhchấp về phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty (thông thường phần vốngóp đó được tính bằng tiền, nhưng cũng có thể bằng hiện vật hoặc bằng giá trịquyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối vớimỗi công ty cổ phần; về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng vớiphần vốn góp vào công ty; về quyền được chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗtương ứng với phần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công ty đổi các khoản nợ hoặcthanh toán các khoản nợ của công ty, thanh lý tài sản và thanh lý các hợp đồng màcông ty đã ký kết khi giải thể công ty; về các vấn đề khác liên quan đến việc thànhlập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chứccủa công ty
+ Các tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau là các tranh chấpgiữa các thành viên của công ty về việc trị giá phần vốn góp vào công ty giữa cácthành viên của công ty; về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa cácthành viên của công ty hoặc về việc chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty củathành viên công ty đó cho người khác không phải là thành viên của công ty; về việcchuyển nhượng cổ phiếu không ghi tên và cổ phiếu có ghi tên; về mệnh giá cổphiếu, số cổ phiếu phát hành và trái phiếu của công ty cổ phần hoặc về quyền sởhữu tài sản tương ứng với số cổ phiếu của thành viên công ty; về quyền được chialợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công ty; về việc thanh lý tàisản, phân chia nợ giữa các thành viên của công ty trong trường hợp công ty bị giảithể, về các vấn đề khác giữa các thành viên của công ty liên quan đến việc thành
16 Mục 3.4 Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
17 Xem thêm Tiểu mục 3.5 Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 19lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chứccủa công ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định
Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết củaTòa án18:
- Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ
tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại Các yêu cầu như:
+ Chỉ định, thay đổi Trọng tài viên
+ Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
+ Hủy quyết định Trọng tài
+ Các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam cóquy định
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh
doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyếtđịnh kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hànhtại Việt Nam
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh,
thương mại của Trọng tài nước ngoài
- Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định 1.4.2 Thẩm quyền theo cấp Tòa án
Thẩm quyền theo cấp Tòa theo Điều 33 Bộ Luật Tố tụng dân sự là việc phânđịnh thẩm quyền của Tòa theo cấp của Tòa án, xem xét vụ án đó thuộc thẩm quyềnxét xử của Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh hay Tòa án nhân dân tối cao Theo quy địnhcủa Bộ Luật Tố tụng dân sự , thẩm quyền theo cấp Tòa được phân định như sau:
Tòa án nhân dân cấp huyện
Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọichung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩmnhững tranh chấp về kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinhdoanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: mua bán hàng hóa; cungứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng;
18 Điều 30 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 20tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ,đường thủy nội địa.
Nếu những tranh chấp trên có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cầnphải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết củaTòa án nhân dân cấp huyện
Đối với những yêu cầu về kinh doanh, thương mại, Tòa án nhân dân cấphuyện không có thẩm quyền giải quyết
Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọichung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩmnhững tranh chấp về kinh doanh, thương mại còn lại được quy định tại Điều 29,Điều 30, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấphuyện
Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể lấylên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp kinh doanh, thương mạithuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện như:
+ Vụ án có nhiều tình tiết tiết phức tạp
+ Vụ án cón nhiều đương sự ở trên địa bàn thuộc các huyện khác nhau và xanhau
+ Tòa án cấp huyện chưa có Thẩm phán để có thể phân công giải quyết vụ ánkinh doanh, thương mại, hoặc tuy có Thẩm phán để có thể phân công giải quyết vụ
án kinh doanh, thương mại, nhưng thuộc một trong các trường hợp phải thay đổiThẩm phán mà không có Thẩm phán khác để thay thế
Cũng theo sự phân cấp, Tòa án nhân dân cấp tỉnh phúc thẩm những vụ ánkinh doanh, thương mại mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luậtcủa Tòa án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng
Đối với những bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bịkháng nghị thì Uỷ ban Thẩm phán của Tòa án cấp tỉnh xem xét và giải quyết theotrình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnhgồm có Chánh án, Phó Chánh án và một số Thẩm phán (không quá 9 thành viên)của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các
Trang 21bản án quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị khángnghị.
Tòa án nhân dân tối cao
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tiến hành phúc thẩm những vụ án màbản án, quyết định sơ thẩm của Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị khángcáo, kháng nghị
Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ
án mà bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định củapháp luật tố tụng
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét theo trình tự giám đốcthẩm và tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật củaTòa án cấp dưới nhưng bị kháng nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao bao gồm Chánh án, các Phó Chánh án và và một số Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao (không quá 17 người)19
1.4.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ
Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn cótrụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩmnhững tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 Bộ Luật Tố tụngdân sự
Tuy nhiên, luật cũng cho phép các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhaubằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn
là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chứcgiải quyết những tranh chấp về kinh doanh, thương mại
Bên cạnh đó, luật cũng quy định Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyềngiải quyết những tranh chấp về bất động sản
1.4.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Trong thực tế, nếu chỉ xác định thẩm quyền của Tòa án theo cấp và theo lãnhthổ sẽ có trường hợp có nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền giải quyết vụ án Chính
vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, tạo điều kiện thuận
19 Xem Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24/11/2014.
Trang 22lợi cho nguyên đơn khi tiến hành khởi kiện, pháp luật còn quy định nguyên đơn cóquyền lựa cho Tòa án để yêu cầu giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây20:
+ Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn cóthể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn
có tài sản giải quyết
+ Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyênđơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giảiquyết
+ Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn cóthể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gâythiệt hại giải quyết
+ Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyênđơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giảiquyết
+ Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khácnhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giảiquyết
Như vậy, theo quy định tại Điều 36 thì trong một số trường hợp nhất định, cónhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết một tranh chấp kinh doanh, thương mại cụthể và nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong các Tòa án đó Để tránh có tranhchấp về thẩm quyền, thì Tòa án thuộc một trong các Tòa án có thẩm quyền mà nhậnđược đơn khởi kiện trước tiên của nguyên đơn, đã dự tính tiền tạm ứng án phí chonguyên đơn và nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí, cóthẩm quyền thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật
Sau khi thụ lý tranh chấp kinh doanh, thương mại nếu phát hiện việc giảiquyết tranh chấp không thuộc thẩm quyền của mình, thì Tòa án đã thụ lý phải raquyết định chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết, trong đócần nêu rõ lý do chuyển hồ sơ vụ án, đồng thời phải thông báo ngay cho nguyênđơn biết
Trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền thì do Tòa án cấp trên trựctiếp giải quyết, cụ thể như sau:
20 Điều 36 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 23+ Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện trong cùngmột tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
+ Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc cáctỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Toà án nhân dân cấptỉnh do Chánh án Toà án nhân dân tối cao giải quyết
1.5 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án cấp sơ thẩm
khi họ có đủ năng lực chủ thể, trong trường hợp họ mất năng lực hành vi, hoặc bịhạn chế năng lực hành vi thì quyền khởi kiện của họ được thực hiện thông quangười đại diện hợp pháp Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa ánbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị các chủ thể khác xâm phạm, thờihiệu để khởi kiện là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâmphạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Đối với các yêu cầu giải quyếttranh chấp kinh doanh, thương mại thì thời hiệu là một năm kể từ ngày phát sinhquyền yêu cầu Thời hiệu khởi kiện được hiểu là thời hạn mà chủ thể được quyềnkhởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Việc khởi kiện được thể hiện bằng đơnkhởi kiện (nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện) kèm theo các tài liệu, chứng
cứ để chứng minh và bảo vệ quyền lợi của mình
Đơn khởi kiện là hình thức biểu đạt yêu cầu của người khởi kiện đến Tòa ánnhằm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởikiện phải làm đơn khởi kiện Về hình thức, đơn khởi kiện phải được người khởikiện ký tên hoặc điểm chỉ nếu người khởi kiện là cá nhân; nếu cơ quan, tổ chức
Trang 24khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vàophần cuối đơn Về nội dung, đơn khởi kiện phải có các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện
+ Tên Toà án nhận đơn khởi kiện
+ Tên, địa chỉ của người khởi kiện
+ Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có
+ Tên, địa chỉ của người bị kiện
+ Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có
+ Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan
+ Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có
+ Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ vàhợp pháp
+ Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giảiquyết vụ án
- Thụ lý vụ án:
Thụ lý vụ án là việc Tòa án chấp nhận đơn của người khởi kiện và ghi vào sổthụ lý của Tòa án Thụ lý vụ án là công việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình tốtụng Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng vì nó đặt ra trách nhiệm của Tòa án phảigiải quyết các tranh chấp trong thời hạn luật định Khác với các vụ án hình sự, việcthụ lý vụ án được thực hiện sau khi có quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố
bị can; trong vụ án kinh doanh, thương mại thì việc thụ lý vụ án được thực hiện khi
có đơn khởi kiện của đương sự, yêu cầu của cơ quan tổ chức
Sau khi nghiên cứu đơn khởi kiện và các tài liệu có liên quan Tòa án sẽ tiếnhành thụ lý vụ án nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải của mình Để tiến hành thụ
lý vụ án, Tòa án sẽ dự định số tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiệnyêu cầu nộp tiền tạm ứng án phí
Sau đó, Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án, đồng thời thôngbáo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, đơn vị có liên quan và cho Viện kiểm sátcùng cấp biết
Khi nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kến của mình, bị đơn có quyền phản tốtrong một số trường hợp: yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của
Trang 25nguyên đơn; yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận mộtphần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn21; giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu củanguyên đơn có sự liên quan với nhau.
1.5.2 Hòa giải và chuẩn bị xét xử
Chuẩn bị xét xử là bước tiếp theo trong trình tự giải quyết các tranh chấpkinh doanh, thương mại sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án Đối với các vụ án tranhchấp về kinh doanh, thương mại thì thời hạn chuẩn bị xét xử là hai tháng kể từ ngàythụ lý vụ án Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thìChánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng khôngquá một tháng Nếu trong trường hợp trên mà phiên tòa không được mở trong thờihạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử vì có lý do chính đángthì thời hạn chuẩn xét xử được cộng thêm tối đa là một tháng nữa Trong thời gianchuẩn bị cho công tác xét xử, Tòa án tiến hành các công việc chủ yếu sau:
+ Một là, trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án
phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợinghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việcTòa án đã thụ lý vụ án
+ Hai là, Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ Theo đó, Tòa án có quyền yêu
cầu đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ, hoặc cung cấp những vấn đề cần thiết.Yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân cung cấp bằng chứng có ý nghĩa choviệc giải quyế vụ án; yêu cầu người làm chứng trình bày những vấn đề cần thiết;xác minh tại chỗ tình hình vụ án; trưng cầu giám định, yêu cầu cơ quan chuyên mônđịnh giá hoặc lập hội đồng định giá tài sản có tranh chấp
+ Ba là, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự có thể thỏa thuận với
nhau về việc giải quyết vụ án Hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong giai đoạnchuẩn bị xét xử đối với Tòa án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc khôngtiến hành hòa giải được (Điều 181, Điều 182 Bộ Luật Tố tụng dân sự) Xuất phát từnguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, Tòa án kiên trì hòa giải,thuyết phục để các bên đương sự có thể hòa giải và thỏa thuận với nhau về nhữngvấn đề tranh chấp Việc hòa giải rất quan trọng vì nó giúp cho vụ án sớm được giải
21 Xem thêm Tiểu mục 11.2, 11.3 Nghị Quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 26quyết, đảm bảo sự đoàn kết, ổn định trong nội bộ chủ thể kinh doanh; tiết kiệm vàhạn chế tối đa chi phí về thời gian và tiền bạc của các bên tranh chấp
Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề giải quyết tranh chấpthì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biênbản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đóthì Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Toà ánphân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự
Trong trường hợp các đương sự không thể thỏa thuận được với nhau, thì Tòa
án lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Kết thúcgiai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa được quyền ra mộttrong các quyết định sau:
+ Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án
+ Đình chỉ việc giải quyết vụ án
+ Đưa vụ án ra xét xử
Việc đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án được quy định cụ thể taiĐiều 189, 192 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004
1.5.3 Phiên tòa sơ thẩm
Sau khi hoà giải không thành hoặc đối với những vụ án mà pháp luật quyđịnh không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được, Toà án phải tiếnhành phiên xét xử vụ án Phiên xét xử này được gọi là phiên toà sơ thẩm Xét xử tạiphiên tòa sơ thẩm là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định nhất;bởi vì, tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án sẽ xem xét và giải quyết tất cả những vấn đềcủa vụ án, đồng thời các đương sự sẽ được công khai bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình trước Tòa án
Thời hạn mở phiên tòa là không quá một tháng (đối với trường hợp có lý dochính đáng là hai tháng) kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thành phầnHội đồng xét xử gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Trong trường hợpđặc biệt thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân22
Tại phiên tòa sơ thẩm: đương sự phải có mặt tại phiên tòa trước khi Tòa ánxét xử vụ án Tuy nhiên, trên thực tế vì một số nguyên nhân khách quan nên họkhông thể có mặt tại phiên tòa Trường hợp vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính
22 Điều 52 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Trang 27đáng thì Tòa án phải hoãn phiên tòa để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ.Đương sự được vắng mặt tại phiên tòa khi họ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắngmặt hoặc trong trường hợp có người đại diện hợp pháp của họ tại phiên tòa Songnhững trường hợp đương sự cố tình vắng mặt để trốn tránh nghĩa vụ của mình, nên
sự vắng mặt của đương sự lần thức hai cần được xem xét cụ thể:
+ Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặtthì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.Trong trường hợp Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì nguyên đơn cóquyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn
+ Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà ánvẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứhai mà vẫn vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ
Trình tự tiến hành phiên tòa sơ thẩm:
+ Thủ tục bắt đầu phiên tòa.
Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòatheo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự; phổbiến quyền và nghĩa vụ của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác;giới thiệu họ, tên của những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiêndịch
Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những ngườitiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi aikhông
+ Hỏi tại phiên tòa.
Xem xét các chứng cứ trong vụ án thông qua việc hỏi những người tham gia
tố tụng Thủ tục xét hỏi được bắt đầu bằng việc chủ tọa phiên tòa hỏi những ngườinguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường hợp có đương
sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình và các bên không tự thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử bắt đầu thực hiện việc xét xử bằng việcnghe lời trình bày của đương sự theo trình tự sau: