Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, trên thị trường chỉ lẻ tẻ xuất hiện những cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt, mà chủ yếu dành cho học sinh, như: Từ điển đồng nghĩa – trái nghĩ
Trang 1Khảo sát thực trạng từ điển đồng nghĩa tiếng
Việt hiện nay Thái Thị Bích Thủy
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: 60 22 02 40
Nghd: TS Nguyễn Khánh Hà Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Ngôn ngữ học; Từ điển đồng nghĩa; Tiếng Việt; Từ điển
Contents:
MỞ ĐẦU
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1 Lý do chọn đề tài
Từ điển học ở Việt Nam có thể được coi là một ngành học còn khá non trẻ Lần đầu tiên thuật ngữ “từ điển học” được chính thức đề cập là vào năm 1993 trong bài viết của Hoàng Phê và
Nguyễn Ngọc Trâm Hai tác giả đã nhận xét: “Cho đến nay chúng ta chưa xây dựng được một
giáo trình từ điển học và cũng chưa tổng kết kinh nghiệm công tác từ điển ở nước ta” [22; tr.13]
Đến năm 1997, công trình Một số vấn đề từ điển học ra đời được coi là mốc quan trọng đầu tiên của lý thuyết từ điển học ở nước ta Tuy nhiên, các nhà từ điển học cũng nhận định: “Từ điển
học ở Việt Nam mới chỉ hình thành Chúng ta có một số nghiên cứu và kinh nghiệm được công
bố rải rác, song vẫn thiếu một công trình từ điển học thực sự Tập bài “Một số vấn đề từ điển học” là một cố gắng nhằm đáp ứng nhu cầu này (…) Nhưng hạn chế của cuốn sách này là chưa trình bày được đầy đủ, toàn diện những vấn đề cơ bản của từ điển học Chúng tôi mới chỉ khảo sát những vấn đề thuộc từ điển ngôn ngữ, mà trong từ điển ngôn ngữ lại chú mục vào từ điển giải thích” [46, tr.6]
Năm 2008, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam được thành lập và cho ra mắt Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư (2009), từ đó những nghiên cứu về từ điển học đã trở nên phong phú, đa dạng hơn Tuy nhiên, trong lĩnh vực từ điển ngôn ngữ, và hẹp hơn là trong lĩnh vực từ điển giải thích, không phải mọi vấn đề đều đã được giải quyết một cách thấu đáo Các tác giả đi trước hầu như mới chỉ quan tâm đến các kiểu từ điển giải thích như: từ điển thành ngữ -
Trang 2tục ngữ, từ điển phương ngữ, từ điển ngôn ngữ tác phẩm, tác giả, từ điển từ láy, từ điển từ cổ,v.v
mà chưa quan tâm nhiều đến từ điển đồng nghĩa
Như đã biết, ngôn ngữ vốn là một hệ thống phức tạp, bao gồm các phương tiện biểu hiện, bằng cách này hay cách khác, ít nhiều có sự tương ứng với nhau, và trong quá trình phát triển, chúng trở nên đồng nghĩa với nhau Để có được sự phù hợp giữa hình thức và nội dung cần diễn đạt khi sử dụng ngôn ngữ, chúng ta cần phải nắm được vốn từ vựng cùng với các đặc điểm ý nghĩa cũng như khả năng kết hợp của từ ngữ này với các từ ngữ khác tạo thành những dãy đồng nghĩa Các từ ngữ trong dãy đồng nghĩa thường có thể thay thế được cho nhau trong những bối cảnh ngôn ngữ cụ thể Sự thay thế ấy nếu được sử dụng một cách chính xác, rõ ràng thì sẽ tránh được tình trạng lặp đi lặp lại nhiều lần một đơn vị ngôn ngữ, gây ra cảm giác nhàm chán và nghèo nàn về từ ngữ
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, trên thị trường chỉ lẻ tẻ xuất hiện những cuốn từ
điển đồng nghĩa tiếng Việt, mà chủ yếu dành cho học sinh, như: Từ điển đồng nghĩa – trái nghĩa
tiếng Việt (dùng trong nhà trường) (Hồng Đức, 2008, NXB Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh),
Từ điển đồng nghĩa - trái nghĩa tiếng Việt (dùng trong cho học sinh) (Nguyễn Quốc Khánh, Trần
Trọng Dương, Đình Phúc, Minh Châu, 2011, NXB Từ điển Bách khoa), Từ điển đồng nghĩa -
trái nghĩa tiếng Việt (Dành cho học sinh) (Bùi Việt Phương, Đỗ Anh Vũ, Ánh Ngọc, 2010, NXB
Từ điển Bách khoa),v.v Bên cạnh đó là sự xuất hiện của một số từ điển đồng nghĩa nhưng dưới
dạng song ngữ như Anh – Việt, Hoa – Việt,v.v chẳng hạn Từ điển đồng nghĩa phản nghĩa Hoa -
Việt (Nguyễn Hữu Trí, 2001, NXB Thống kê), Từ điển đồng nghĩa và trái nghĩa Anh - Việt
(Ngọc Châu – Minh Châu, 2010, NXB TP Hồ Chí Minh),v.v Tuy nhiên, chất lượng của những cuốn từ điển như vậy hầu như chưa được kiểm chứng
Dựa trên thực tế đó, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Khảo sát thực trạng từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình Với đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát thực trạng một số từ điển đồng nghĩa tiếng Việt đang lưu hành trên thị trường nhằm bước đầu đưa ra nhận định đánh giá về những thành công và hạn chế trong việc biên soạn
từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
1.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Việc nghiên cứu lý thuyết từ điển đồng nghĩa đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chẳng hạn phương pháp xác lập cấu trúc dãy đồng nghĩa trong biên soạn từ điển, phương pháp giải thích và tìm sự khu biệt ngữ nghĩa các từ đồng nghĩa, v.v Mỗi từ điển đồng nghĩa có
Trang 3những tiêu chí riêng trong việc lựa chọn, thu thập, sắp xếp và trình bày bảng mục từ, cách đưa thông tin vào cấu trúc vi mô, v.v Nghiên cứu của chúng tôi tiếp thu những thành tựu mang tính
lý luận của từ điển học thế giới, và trên cơ sở đó, áp dụng vào việc khảo sát các từ điển đồng nghĩa ở nước ta để tìm hiểu cách lập dãy đồng nghĩa và giải thích tìm sự khu biệt ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa
Trước nhu cầu nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt hiện nay, nghiên cứu của chúng tôi góp phần xây dựng một hướng đi mới trong biên soạn các cuốn từ điển đồng nghĩa, nhằm nâng cao vai trò của chúng như những công cụ tiện lợi giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ thêm phần phong phú, giúp cho học sinh dễ dàng nắm bắt nghĩa của từ ngữ và cách sử dụng từ ngữ
2 Lịch sử nghiên cứu vần đề
Trong ngôn ngữ học, từ đồng nghĩa (synonym) là hiện tượng từ vựng thuộc loại “kinh điển”
và rất cơ bản Trên thế giới, từ điển học nghiên cứu về từ đồng nghĩa có lịch sử chưa dài nhưng
đã đạt được một số thành tựu quan trọng Về mặt lý thuyết, thành tựu đó thể hiện ở số lượng khá lớn những bài nghiên cứu trên các tạp chí kỷ yếu chuyên ngành về từ điển học Về mặt thực tiễn,
đó là sự ra đời của các cuốn từ điển đồng nghĩa Điều này thể hiện đặc trưng riêng của ngành từ
điển học là sự liên hệ chặt chẽ giữa “lý thuyết” và “thực hành” Alain Rey đã viết: “(…) trong
lĩnh vực này, người ta thậm chí không thể nghĩ đến “thực hành” mà không đặt vào nó một “hạt giống lý thuyết” Và “điều đó làm cho những người thực hành nhất trong những người thực hành lại là những nhà lý thuyết không thể phủ nhận được” [Alain Rey, 2009]
Về tình hình biên soạn từ điển đồng nghĩa, trên thế giới, những cuốn từ điển đồng nghĩa đầu tiên được biên soạn cách đây vài trăm năm Mỗi quốc gia đều xuất bản các loại từ điển đồng nghĩa được biên soạn theo các cách thức khác nhau – hoặc chỉ lập danh sách các từ, hoặc vừa có danh sách từ, vừa có lời định nghĩa chỉ ra sự giống và khác nhau về ngữ nghĩa của các đơn vị cùng các thí dụ minh họa được lấy từ các tác phẩm văn chương nổi tiếng Năm 1978, George Miller và nhóm nghiên cứu của ông tại Đại học Princeton bắt đầu phát triển một cơ sở ngữ liệu với các mối quan hệ khái niệm, được coi là sự thể hiện (hiện thực hóa) một mô hình của vốn từ vựng nội tâm (mental lexicon) Cơ sở ngữ liệu này, gọi là WrodNet, đã được tổ chức xung quanh
ý niệm mà một tập hợp các từ đồng nghĩa (gọi là synet) thể hiện với các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng [Vossen Piek, 2002]
Ở Việt Nam, vấn đề hiện tượng đồng nghĩa, từ đồng nghĩa chỉ thực sự được bàn tới từ những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX Nó được trình bày khái lược trong cuốn giáo trình “Khái
Trang 4luận ngôn ngữ học” (Tổ Ngôn ngữ học Trường ĐHTH HN, 1960) Trong giáo trình, các tác giả mới chỉ đưa ra định nghĩa, phân loại và nêu ra nguồn gốc của các từ đồng nghĩa Về sau này, các nhà ngôn ngữ học khác cũng bàn nhiều đến lý luận từ đồng nghĩa, đó là những vấn đề cụ thể như: khái niệm từ đồng nghĩa, cách thức phân biệt từ đồng nghĩa tiếng Việt, phương pháp xác định từ trung tâm trong nhóm đồng nghĩa, hay vấn đề phân loại và xác định nguồn gốc của từ đồng nghĩa Có thể kể đến công trình của một số nhà ngôn ngữ học tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu
trong Giáo trình Việt ngữ (tập II, 1962), Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa trái nghĩa,
Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1981), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (1987); Nguyễn Văn Tu
trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại (1968), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (1976), Các nhóm
từ đồng nghĩa trong tiếng Việt (1982); Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng tiếng Việt (1978), Từ vựng học tiếng Việt (1985); Nguyễn Trung Thuần trong Thử tìm hiểu từ trung tâm và nhóm từ đồng nghĩa (Ngôn ngữ, số 2, 1983), Nguyễn Đức Tồn trong Từ đồng nghĩa tiếng Việt (2006),
Đỗ Việt Hùng trong Giáo trình từ vựng học tiếng Việt (2011), v.v
Ở Việt Nam, cho tới nay đã có một số cuốn từ điển đồng nghĩa được biên soạn như: Long
Điền Nguyễn Văn Minh, Việt ngữ tinh nghĩa từ điển (xuất bản năm 1951, tái bản năm 1998); Nguyễn Văn Tu, Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt (xuất bản năm 1982, tái bản nhiều lần); Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Đào Thản, Sổ tay dùng từ (xuất bản năm 1980); Dương Kỳ Đức, Vũ Quang Hào, Từ điển trái nghĩa, đồng nghĩa tiếng Việt (xuất bản năm 1992); Trương Chính, Giải
thích các từ gần âm gần nghĩa dề nhầm lẫn (xuất bản năm 1997) v.v Đây là nguồn tư liệu khảo
sát tương đối phong phú cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Trong luận văn này, chúng tôi chọn từ điển đồng nghĩa tiếng
Việt làm đối tượng nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Dựa vào thực tiễn biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt ở nước
ta hiện nay, luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan trong phạm vi bốn cuốn từ điển:
- Long Điền, Nguyễn Văn Minh, Việt ngữ tinh nghĩa từ điển, xuất bản năm 1951, tái bản năm
1998 Cuốn từ điển này gồm 300 nhóm từ đồng nghĩa tiếng Việt
- Dương Kỳ Đức (chủ biên), Vũ Quang Hào, Từ điển trái nghĩa – đồng nghĩa tiếng Việt, xuất
bản năm 1992 Từ điển này thu thập những từ vừa có quan hệ trái nghĩa, vừa có quan hệ đồng nghĩa nên cả cuốn sách bao gồm tập hợp của 3.000 mục từ, trong đó có 267 nhóm từ đồng nghĩa
Trang 5- Nguyễn Văn Tu, Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, xuất bản năm 1982, tái bản nhiều lần
Cuốn từ điển này cung cấp 750 nhóm từ đồng nghĩa
- Hoàng Văn Hành (chủ biên), Hoàng Phê, Đào Thản, Sổ tay dùng từ tiếng Việt, xuất bản
năm 1980 Cuốn từ điển này bao gồm 137 nhóm từ đồng nghĩa
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là góp phần chuẩn bị nền tảng cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt Vì vậy luận văn cần hoàn thành tốt những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, xác lập cơ sở lý luận về từ điển học nói chung và từ điển đồng nghĩa nói riêng, đồng thời tìm hiểu các vấn đề lí thuyết liên quan đến nghĩa của từ và hiện tượng đồng nghĩa như: các khái niệm về nghĩa của từ, trường nghĩa, hiện tượng đồng nghĩa, phương pháp xác lập cấu trúc dãy đồng nghĩa trong biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt,v.v
Thứ hai, khảo sát và đánh giá một số từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hiện nay, làm rõ những vấn đề còn tồn tại hoặc chưa được đề cập, đưa ra một số nhận xét về việc biên soạn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là từ điển đồng nghĩa tiếng Việt Vì vậy, chúng tôi lấy nguồn tư liệu để khảo sát và phân tích từ: i) sách và tài liệu mang tính chất lí luận
về từ điển từ đồng nghĩa, ii) từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
Chúng tôi sử dụng kết hợp và linh hoạt nhiều thủ pháp, thao tác nghiên cứu nhằm thực hiện các nhiệm vụ một cách khách quan, triệt để và sâu sắc
Để giải quyết nhiệm vụ thứ nhất, chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả nhằm tìm hiểu và tổng hợp hệ thống lý luận trong các tài liệu nghiên cứu về từ đồng nghĩa, từ điển, cách xử lý cấu trúc vĩ mô và vi mô trong các cuốn từ điển của nước ngoài, các nghiên cứu của các nhà Việt ngữ
Cụ thể là: i) xác định nội hàm các khái niệm từ, nghĩa của từ, nét nghĩa, ii) khái niệm trường nghĩa và sự phân loại trường nghĩa, iii) hiện tượng đồng nghĩa Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề cập tới: i) các khái niệm từ điển học, từ điển đồng nghĩa, ii) khái niệm bảng từ và các đơn vị từ ngữ được đưa vào bảng từ, iii) khái niệm và các đặc điểm của định nghĩa, iv) khái niệm và các đặc điểm của ví dụ
Với nhiệm vụ nghiên cứu thứ hai, chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả kết hợp với các thủ pháp thống kê, phân loại,v.v để khảo sát các từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt đã được công
Trang 6bố1 Dựa trên kết quả thu được, chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá các vấn đề: i) ý tưởng của các soạn giả về cách lập bảng từ và giải nghĩa từ, ii) cấu trúc vĩ mô của từ điển, iii) cấu trúc vi
mô của từ điển Đặc biệt, chúng tôi kết hợp phương pháp miêu tả (phân tích, đánh giá) với phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ hơn những vấn đề còn tồn tại trong xử lí các bộ phận của cấu trúc vĩ mô và vi mô của từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa để tìm ra những sự giống nhau và khác nhau giữa các từ trong dãy đồng nghĩa được chọn khảo sát Chúng tôi cũng tham khảo các tiêu chí đánh giá, kĩ thuật và thủ pháp từ điển học trong việc xác lập mục từ, định nghĩa,v.v nhằm đưa ra những nhận xét khách quan về mô hình từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
5 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục , Luận văn được bố cục thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Khảo sát cấu trúc vĩ mô của một số từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
Chương 3 Khảo sát cấu trúc vi mô của một số từ điển đồng nghĩa tiếng Việt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ (Từ hội học), Nxb Giáo dục, Hà Nội
2 Đỗ Hữu Châu (2007), Giáo trình từ vựng học tiếng Việt, Nxb Đại học Sư phạm, Hà
Nội
Trang 7
3 Đỗ Hữu Châu (1973), Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, Ngôn
ngữ, số 4, tr 46 – 55
4 Đỗ Hữu Châu (1973), Khái niệm “trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng,
Ngôn ngữ, số 2, tr 45 – 53
5 Đỗ Hữu Châu (1974), Trường từ vựng – ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác
phẩm nghệ thuật, Ngôn ngữ, số 3, tr 44 – 55
6 Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb ĐHQG, Hà Nội
7 Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, Từ loại (in lại và có bổ sung), Nxb
ĐHQG, Hà Nội
8 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1990), Cơ sở ngôn ngữ học và
tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội
9 Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội
10 Vũ Quang Hào (2005), Kiểm kê từ điển học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
11 Đặng Hoàng Hải, Hoàng Thị Nhung (2011), Một cách phân loại từ điển ngôn ngữ, Từ
điển học và Bách khoa thư, số 1(9), tr.19-32
12 Đỗ Việt Hùng (2011), Giáo trình từ vựng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
13 Đỗ Việt Hùng (2004), Nét nghĩa và hoạt động của nét nghĩa trong kết hợp từ, Ngôn
ngữ, số 2, tr 21 – 29
14 Nguyễn Thúy Liễu, Đặc điểm sử dụng đơn vị từ vựng đồng nghĩa trong văn xuôi Nam
Cao, Ngôn ngữ, số 3, tr 30 – 37
15 Hoàng Thị Tuyền Linh, Một số vấn đề về ngữ nghĩa học và từ điển học,
http://www.vietlex.vn
16 Vũ Xuân Lương (2012), Xác định dãy từ đồng nghĩa khi xây dựng Wordnet tiếng Việt,
Từ điển học và Bách khoa thư, số 3, tr 6 – 14
17 Vũ Lộc (2012), Vấn đề xử lý từ đồng nghĩa, trái nghĩa trong từ điển, Từ điển học và
Bách khoa thư, số 5, tr 88 – 90
18 Lê Đức Luận (2011), Nghĩa tố và phân tích nghĩa tố của từ, Từ điển học và Bách
khoa thư, số 5, tr 19 – 22
19 Hoàng Thị Nhung, Nghiên cứu xây dựng từ điển học sinh tiểu học, Luận văn Thạc sỹ
ngôn ngữ học, H., 2011
Trang 820 Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển
học
21 Hoàng Phê (1975), Phân tích ngữ nghĩa, Ngôn ngữ, s.2, tr 10 – 26
22 Hoàng Phê và Nguyễn Ngọc Trâm (1993), Một số vấn đề từ điển học, Ngôn ngữ, s.2
23 Nguyễn Đình Phúc (2010), Vấn đề biên soạn Từ điển đồng nghĩa ở Việt Nam, Từ điển
học và Bách khoa thư, số 3, tr 22 – 25
24 Saussure F de (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, H., Nxb KHXH
25 Lý Toàn Thắng (2009), Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô
Viết, Từ điển học và Bách khoa thư, s.1, tr.42-47
26 Lý Toàn Thắng (2009), Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô
Viết, Từ điển học và Bách khoa thư, số 2, tr.52-56
27 Lý Toàn Thắng (2010), Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga
và Xô Viết, Từ điển học và Bách khoa thư, số 1, tr 32-37
28 Lý Toàn Thắng (2010), Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga
và Xô Viết, Từ điển học và Bách khoa thư, số 2, tr.30-34
29 Lý Toàn Thắng (2011), Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu, Từ điển học
và Bách khoa thư, Số 3, tr 17 – 24
30 Lý Toàn Thắng (2011), Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu, Từ điển học
và Bách khoa thư, số 2, tr XII – XIX
31 Lý Toàn Thắng (2011), Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu, Từ điển học
và Bách khoa thư, số 1, tr IV – XI
32 Nguyễn Trung Thuần (1983), Thử tìm hiểu từ trung tâm trong nhóm từ đồng nghĩa,
Ngôn ngữ, số 2, tr 59 – 63
33 Hồ Hải Thụy (2009), Từ điển học và từ điển học ngày nay, Từ điển học và Bách khoa
thư, số 2, tr 71 - 73
34 Hồ Hải Thụy (2010), Hai cuốn sách mới dạy làm từ điển, Từ điển học và Bách khoa
thư, số 4, tr 2 – 10
35 Nguyễn Đức Tồn (2011), Từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb TĐBK, Hà Nội
36 Nguyễn Đức Tồn (2005), Vấn đề dạy từ đồng nghĩa trong nhà trường hiện nay, Ngôn
ngữ, số 12, tr 43 – 53
Trang 937 Nguyễn Đức Tồn (1998), Vấn đề dạy từ đồng nghĩa ở trường trung học cơ sở, Ngôn
ngữ, số 4, tr 1 – 12
38 Nguyễn Đức Tồn (2000), Vấn đề dạy và học từ ngữ trong sách giáo khoa tiếng Việt
trung học cơ sở, Ngôn ngữ, số 11, tr 1 – 13
39 Nguyễn Đức Tồn (1998), Về các từ đồng nghĩa “cho”, “biếu” hay “tặng”?, Ngôn
ngữ, Số 2, tr 53 – 57
40 Nguyễn Đức Tồn – Nguyễn Thị Minh Phượng (2007), Hiện tượng biến thể và đồng nghĩa
của thành ngữ tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 3, tr 2 – 11
41 Nguyễn Đức Tồn (1997), Phương pháp giải thích và tìm sự khu biệt ngữ nghĩa các từ
đồng nghĩa, Ngôn ngữ, số 2, tr 56 – 63
42 Nguyễn Văn Tu (1982), Các nhóm từ đồng nghĩa trong tiếng Việt, Nxb Đại học và
Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội
43 Nguyễn Văn Tu (1968), Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội
44 Nguyễn Văn Tu (1985), Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội
45 Zgusta, Ladislav (1971), Giáo trình từ điển học, Viện hàn lâm khoa học Tiệp Khắc,
Praha, (Hồ Hải Thụy, Vũ Ngọc Bảo dịch, Viện Ngôn ngữ học, 1978)
46 Nhiều tác giả (1997), Những vấn đề từ điển học, Nxb KHXH, Hà Nội
47 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
48 Ferrara Alice (2010), Các từ điển từ đồng nghĩa: một loại hình tiến hóa cùng thời
gian, Institut de Linguistique Francaise, Paris
NGUỒN INTERNET
49 www.ctu.edu.vn
TƯ LIỆU
50 Dương Kỳ Đức, Vũ Quang Hào (1992), Từ điển trái nghĩa – đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
51 Long Điền, Nguyễn Văn Minh (2010), Việt ngữ tinh hoa từ điển, Nxb Từ điển bách
khoa, Hà Nội
Trang 1052 Hoàng Văn Hành, Hoàng Phê, Đào Thản (2002), Sổ tay dùng từ tiếng Việt, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội
53 Nguyễn Văn Tu (1999), Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội