Cuộc sống của người Việt là cuộc sống gắn bó với làng xóm, gia đình trong một mối quan hệ thân tộc bền chặt và thủy chung do vậy bộ phận những bài ca dao về quan hệ gia đình đã chiếm một
Trang 1Quan hệ gia đình trong cái nhìn so sánh giữa ca
dao Nam Bộ và ca dao Bắc Bộ
Abstract: Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận chung về ca dao, dân ca ở hai miền Bắc Bộ
và Nam Bộ So sánh nội dung các bài ca dao về quan hệ gia đình trong ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ: trình bày sự giống và khác nhau, giải thích nguyên nhân sự giống và khác nhau Tiến hành đối chiếu về nghệ thuật các bài ca dao về quan hệ gia đình trong ca dao Nam
Bộ và Bắc Bộ: trình bày sự giống và khác nhau, giải thích nguyên nhân sự giống và khác
nhau
Keywords: Văn học dân gian; Quan hệ gia đình; Ca dao; Việt Nam
Content
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ca dao là hình thức văn hóa dân gian phổ biến trong đời sống tinh thần của người Việt Có thể nói rằng thấu hiểu ca dao là thấu hiểu tâm hồn người Việt Nam Từ hàng ngàn năm trước, ca dao đã thay tiếng tâm tình, thay tiếng than, thay lời vui sướng, thay lời đồng cảm
để bày tỏ những xúc cảm, nghĩ suy, tâm tư của nhân dân Chính vì thế,
ta có thể thấy người Việt đã phản ánh trong ca dao tất cả những vấn đề của đời sống thường nhật cũng như tất cả các sắc thái của đời sống tinh thần của mình Cuộc sống của người Việt là cuộc sống gắn bó với làng xóm, gia đình trong một mối quan hệ thân tộc bền chặt và thủy chung do vậy bộ phận những bài ca dao về quan hệ gia đình đã chiếm một số lượng lớn và đóng vai trò khá quan trọng trong gương mặt ca dao Việt Nam
Ca dao là một phần của văn hóa dân gian Văn hóa dân gian cũng
bị quy định bởi sự khác biệt vùng miền địa lý Người Việt ở khắp nơi trên đất nước đều cất giữ những câu ca riêng về quan hệ gia đình nên những câu ca dao này vô cùng phong phú và mang sắc thái vùng miền
rõ nét Ở đây người viết xin được xét tới dấu ấn vùng miền đó ở hai vùng đất rộng lớn ở hai đầu đất nước là Nam Bộ và Bắc Bộ
Nam Bộ và Bắc Bộ ngoài việc là hai vùng đất quan trọng góp phần tạo nên lãnh thổ Việt Nam còn là hai vùng văn hóa với những màu sắc riêng biệt do vậy giữa hai miền đất này, ca dao về quan hệ gia đình ngoài những điểm tương đồng còn có các nét khác biệt Tương
Trang 3đồng là do bản chất chung của quá trình sáng tạo folklore của nhân dân, do nền tảng tình cảm và các giá trị đạo đức chung của dân tộc, do
sự giao lưu tiếp biến văn hóa Khác biệt là do sự quy định của bản sắc văn hóa riêng của từng miền, do điều kiện địa lý, lịch sử tự nhiên Thông qua việc so sánh quan hệ gia đình trong ca dao Nam Bộ và ca dao Bắc Bộ, luận văn muốn chỉ ra màu sắc đặc trưng của ca dao hai miền, cho thấy cái nhìn cụ thể về cách ứng xử của người Việt với các thành viên trong gia đình Qua đó, luận văn mong muốn góp phần vào việc nhận thức tính thống nhất trong sự đa dạng của ca dao cũng như của văn hóa Việt Nam truyền thống
2 Lịch sử vấn đề
Quan hệ gia đình trong ca dao là vấn đề đã nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu thông qua nhiều công trình sưu tầm, biên soạn với nhiều thành tựu đáng được ghi nhận Tiêu biểu trong số đó phải kể
tới cuốn Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình [29] của tác giả Phạm
Việt Long Đây là một công trình nghiên cứu chuyên biệt với đối tượng là tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Tác giả đã có những khảo sát, thống kê khách quan, thận trọng dựa trên khối lượng tư liệu đồ sộ, phong phú và đa dạng Đối với những chủ đề khác nhau của quan hệ gia đình, tác giả lại có sự thống kê cụ thể và chi tiết Công trình của tác giả Phạm Việt Long đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về quan hệ gia đình trong ca dao và đã tập hợp được nguồn tư liệu quý báu về các bài ca dao có chủ đề trên để người đọc
có thể dễ dàng tham khảo
Trang 4Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình [29] được xây dựng dựa trên
việc khảo sát một công trình dày dặn và chuyên biệt khác về ca dao là
cuốn Kho tàng ca dao người Việt [24] do Nguyễn Xuân Kính và Phan
Đăng Nhật đồng chủ biên (tái bản năm 2001) Cuốn sách này đã tổng kết khối lượng tư liệu về dân ca, ca dao của 40 cuốn sách (gồm 49 tập) đã được biên soạn từ cuối thế kỉ XVIII đến năm 1975 Những bài ca dao về quan hệ gia đình trong công trình này đã được Phạm Việt Long thống kê là có 1.179 đơn vị trên tổng số 11.825 đơn vị của toàn cuốn sách
Trên đây là một số các công trình có lịch sử vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn ở phương diện quan hệ gia đình trong ca dao Nhưng sự phân chia các câu ca dao về quan hệ gia đình trong ca dao hai miền Nam Bắc thì chưa có công trình cụ thể nào đề cập tới một cách chi tiết Chúng ta chỉ có thể dựa trên tư liệu là những tập ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ đã được biên soạn Tuy nhiên, với ca dao Bắc Bộ, chúng ta cũng chưa thực sự có công trình nào sưu tập, biên soạn đầy đủ, có hệ thống mà chủ yếu là những tập ca dao riêng lẻ
của từng địa phương như Văn học dân gian Thái Bình [11], Ca dao
tục ngữ Nam Hà [10], Ca dao ngạn ngữ Hà Nội [12]… Còn về ca dao
Nam Bộ thì cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ [16] của tác giả Bảo Định
Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị là một công trình tiêu biểu, có thể coi là nguồn tư liệu dồi dào về ca dao, dân ca Nam Bộ Các công trình trên được biên soạn, sắp xếp theo chủ đề và chủ đề về quan hệ gia đình đã cho thấy số lượng đáng kể cũng như vị trí của nó trong diện mạo ca dao của cả hai miền
Trang 5Việc so sánh để tìm hiểu sắc thái riêng của ca dao các vùng miền khác nhau đã được sử dụng trong khá nhiều công trình nghiên cứu ví
dụ như luận án Tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người
Việt ba miền Bắc, Trung, Nam [28] của Trần Thị Kim Liên hay bài
nghiên cứu của Nguyên Phương Châm là Sự khác nhau giữa ca dao
người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc trên tạp chí Văn hóa dân gian năm
1997 [6] Các công trình nghiên cứu trên đều có được những tổng kết chung về tính cách của các vùng miền thể hiện trong ca dao, đặc biệt
là về phương diện hình thức thể hiện tâm tư tình cảm
4 Phạm vi tư liệu khảo sát và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi
Phạm vi tư liệu khảo sát trong luận văn chủ yếu:
- Cuốn Kho tàng ca dao người Việt (Nguyễn Xuân Kính và Phan
Đăng Nhật đồng chủ biên [24])
- Cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ (Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn
Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn [16])
- Cuốn Tục ngữ và ca dao về quan hệ gia đình ( Phạm Việt
Long [29])
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, chứng minh, so sánh đồng thời có sự tiếp cận với những kiến thức về địa lý, lịch sử, văn hóa cũng như tiếp thu những thành tựu từ các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước
Trang 65 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung Chương 2: So sánh nội dung các bài ca dao về quan hệ gia đình trong ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ
Chương 3: So sánh nghệ thuật các bài ca dao về quan hệ gia đình trong ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ
Kết luận Tài liệu tham khảo
6 Đóng góp của luận văn
Nam Bộ và Bắc Bộ là hai vùng văn hóa lớn của Việt Nam Ca dao của hai vùng đất này vừa mang những đặc điểm chung của ca dao người Việt, vừa mang những đặc điểm văn hóa vùng miền riêng của mình Việc so sánh quan hệ gia đình trong ca dao Nam Bộ và ca dao Bắc Bộ ở đây không thể chỉ ra sự hơn kém mà nhằm chỉ ra sự tương đồng và khác biệt
Chúng tôi sẽ thống kê, phân tích và so sánh để tìm ra sự tương đồng, khác biệt của ca dao về quan hệ gia đình giữa hai miền Nam, Bắc qua những mối quan hệ gia đình chính Qua đó chỉ ra tính cách riêng biệt, độc đáo của người dân hai miền cũng như những sắc thái văn hóa đặc sắc của hai vùng đất Nam Bộ và Bắc Bộ
Trang 7CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1 Giới thuyết các khái niệm
1.1.1 Gia đình và gia đình Việt Nam truyền thống
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một hình ảnh thu nhỏ cơ bản nhất của xã hội “Gia đình Việt Nam bao quát rất rộng và mọi người đều có tình thân thuộc với nhau qua mọi thế hệ không kể bởi nội, ngoại, nhiều khi là cả hai bên nội ngoại”
Xã hội Việt nam cổ truyền được chia thành 4 thành phần chính là
sĩ, nông, công thương nhưng tiêu biểu nhất là hai thành phần nông và
sĩ Do vậy, trong xã hội cũng tồn tại hai loại gia đình chính là gia đình nhà Nho và gia đình nông dân hay gia đình quan hộ và dân hộ
Đi sâu vào tính chất của gia đình Việt cổ truyền có thể thấy một đặc điểm tiêu biểu nữa là tính chất phụ quyền của gia tộc Việt Tính chất phụ quyền này nhấn mạnh quyền uy tối cao của người cha với con cái, của người chồng đối với người vợ, của người con trai với toàn gia đình đặc biệt là người con trai trưởng
1.1.2 Ca dao và dân ca
Ca dao là một thể loại văn học dân gian, có tính trữ tình, có vần điệu (phần lớn là thể lục bát hoặc lục bát biến thể) do nhân dân sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ, dùng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tình cảm Nhiều câu ca dao vốn là lời của những bài dân ca Vào giai đoạn muộn về sau, ca dao cũng được sáng tác độc lập
Trang 8“Ca dao” và “dân ca” có một mối quan hệ đặc biệt Theo các soạn giả của bộ sách Kho tàng ca dao người Việt [24] thì thuật ngữ ca
dao được hiểu theo ba nghĩa khác nhau và đều có mối liên hệ chặt chẽ
với “dân ca”
Giống như tất cả các thể loại văn học, ca dao cũng hướng đến đối tượng trung tâm là con người, khám phá và phát hiện ra những vẻ đẹp của con người thể hiện trong cuộc sống
1.1.3 Vùng văn hóa
Vùng văn hóa là khái niệm đặc trưng cho bản sắc riêng của từng vùng dưới sự thống nhất do cùng nguồn cội tạo ra bản sắc chung Nó làm nên tính đa dạng cho bức tranh văn hóa dân tộc Trong nhiều quan điểm về vùng văn hóa, quan điểm của nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng có nhiều cơ sở hợp lí Theo đó, về tổng quát lãnh thổ Việt Nam được chia thành 6 vùng văn hóa bao gồm: vùng văn hóa Tây Bắc, vùng văn hóa Việt Bắc, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ, vùng văn hóa Trung Bộ, vùng văn hóa Trường Sơn- Tây Nguyên và vùng văn hóa Nam Bộ
1.2 Vùng văn hóa Bắc Bộ
1.2.1 Ranh giới địa lý hành chính
Cho tới hiện nay thì vùng lãnh thổ gần với ranh giới Bắc Bộ được gọi là vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình
1.2.2 Đặc điểm lịch sử, tự nhiên, xã hội
Về vị trí địa lý, vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục: Tây - Đông và Bắc - Nam
Trang 9Đất đai trong vùng tương đối màu mỡ, thích hợp cho nền công nghiệp lúa nước phát triển với nguồn cung cấp nước chính là hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã
Cư dân nguyên thủy sống trên các vùng đồng bằng Bắc Việt Nam đương thời đều thuộc các chủng tộc Nam Á (Việt - Mường, Môn - Khơme, Hán – Thái)
Làng của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ là làng cổ truyền nhất tiêu biểu nhất cho thiết chế làng xã ở nước ta
1.2.3 Đặc điểm văn hóa, nghệ thuật
Vùng châu thổ Bắc Bộ có một kho báu vô giá truyền từ đời nọ sang đời kia Đó là một kho tàng di sản văn hoá phi vật thể đa dạng và phong phú: là nguồn ca dao, ngạn ngữ, huyền thoại, truyện cổ tích, truyện cười, giai thoại, là các lễ hội truyền thống lâu đời đặc sắc, là cái nôi của ca nhạc dân gian, trò diễn
Về ngôn ngữ thì sự hiện diện của chế độ giáo dục lâu đời và đội ngũ trí thức đông đảo là các nhà Nho ở vùng đồng bằng Bắc Bộ khiến cho ngôn ngữ văn học được sử dụng nhiều, thúc đẩy cho quá trình hình thành chữ viết Các câu ca dao của Bắc Bộ cũng vì thế mà ngôn
từ nhìn chung đều có vẻ tinh tế, được chọn lựa cẩn thận chứ không chỉ
là lời ăn tiếng nói hàng ngày
1.2.4 Đặc điểm tín ngƣỡng, lễ hội
Văn hoá tín ngưỡng ở vùng văn hoá Bắc Bộ là một hình thức văn hoá đặc thù bao chứa nhiều nội dung như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ ông tổ nghề và tín ngưỡng lễ hội
Trang 10Lễ hội ở vùng văn hoá Bắc Bộ không chỉ là những nét phác thảo về văn hoá mà còn mang đậm tính chất tín ngưỡng tôn giáo Lễ hội thường được đồng nhất với lễ chùa chiền, miếu mạo nếu xét trong phạm vi hẹp nhất định
1.3 Vùng văn hóa Nam Bộ
1.3.1 Ranh giới địa lý, hành chính
Cho đến nay thì cách gọi Nam Bộ tương ứng với vùng lãnh thổ có tên gọi là đồng bằng sông Cửu Long gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Nam Bộ theo phân vùng văn hóa thì thuộc vùng văn hóa Nam Bộ bao gồm 2 vùng văn hóa Đồng Nai- Gia Định (Đông Nam Bộ) và vùng văn hóa đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ)
1.3.2 Đặc điểm lịch sử, tự nhiên, xã hội
Nam Bộ được mệnh danh là xứ sở của những dòng sông, nơi có khoảng 54.000 km chiều dài sông, rạch
Thiên nhiên Nam Bộ tương đối thuận lợi cho đời sống sinh hoạt
và sản xuất của người dân Người dân từ khắp nơi đổ về đây, nương tựa vào thiên nhiên mà sống
Cư dân Nam Bộ cũng sống thành làng, thành ấp nhưng nhà cửa tản mát Làng xóm không có đất công Người dân rất nhiều khi nay đây mai đó, di chuyển từ nơi này đến nơi khác nên cơ cấu xã hội ở làng không bền chắc như ở Bắc Bộ
1.3.3 Đặc điểm tín ngƣỡng xã hội
Tín ngưỡng của cư dân Nam Bộ phản ánh rất rõ những đặc trưng nông nghiệp lúa nước của nền văn hóa Việt Nam
Trang 11Tín ngưỡng của người Việt ở Nam Bộ thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người
Lễ hội cổ truyền ở Nam Bộ chỉ có 300 năm tương ứng với lịch sử
đi khẩn hoang Lễ hội Nam Bộ là một chặng đường mới tiếp nối lễ hội truyền thống từ Bắc vào Nam trong tiến trình lịch sử của dân tộc và có những bước phát triển mới
1.3.4 Đặc điểm văn học, nghệ thuật
Người Nam Bộ dù là sắc tộc nào, người Kinh, người Chăm hay người Khơme cũng đều yêu thích âm nhạc và ca hát Nói đến nghệ thuật ca hát dân ca cổ truyền Nam Bộ thì phải kể tới một loạt những loại hình nghệ thuật phổ biến như: đờn ca tài tử, cải lương, hát bội, lý… và một kho tàng dân ca nhạc cổ phong phú
Về ngôn ngữ thì đặc trưng của ngôn ngữ Nam Bộ là giàu tính hình tượng cụ thể, giàu hình ảnh và giàu chất hài hước Do đó ngôn ngữ của Nam Bộ trong các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian cũng rất bình dân, gần gũi Đặc biệt người Nam Bộ còn đưa phương ngữ vào những điệu lý, điệu hò, những câu ca dao, dân ca, những câu chuyện kể… một cách vô cùng tự nhiên, tạo nên một đặc điểm riêng biệt, độc đáo cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian của mình
Trang 13CHƯƠNG 2
SO SÁNH NỘI DUNG CÁC BÀI CA DAO QUAN HỆ GIA ĐÌNH TRONG CA DAO NAM BỘ VÀ CA DAO BẮC BỘ 2.1 Trình bày sự giống và khác nhau
2.1.2 Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái
Ca dao về quan hệ của cha mẹ và con cái của Nam Bộ và Bắc Bộ cùng thống nhất với nhau ở một số đặc điểm nội dung tiêu biểu mà đặc điểm đầu tiên chính là nội dung “tình yêu thương, sự hi sinh của cha mẹ dành cho con cái”
Nhận cho mình những tình cảm cao cả từ cha mẹ nên người con Việt Nam ở cả hai miền Nam Bộ và Bắc Bộ cùng thể hiện chung một thái độ trân trọng, biết ơn sâu đậm Ca dao về quan hệ của cha mẹ và con cái của Nam Bộ và Bắc Bộ vì thế cũng thống nhất trong nội dung
“làm con phải làm tròn chữ hiếu với cha mẹ”
Ngoài việc đề cao đạo hiếu thì ca dao của hai miền Nam, Bắc cũng lên tiếng phê phá, chê trách những đứa con chưa làm tròn bổn phận, nghĩa vụ của mình
Đối với mối quan hệ cha mẹ và con cái thì sự khác biệt giữa ca dao Nam Bộ và ca dao Bắc Bộ có thể thấy ở một số điểm như sau:
Ca dao về quan hệ giữa cha mẹ và con cái của Nam Bộ phần đông chỉ thể hiện tình cảm trực tiếp giữa hai đối tượng chính của mối quan hệ này, không có sự mở rộng hay hướng tới tình cảm với ông bà,
tổ tiên như ca dao Bắc Bộ Đối với ca dao Bắc Bộ, trong nội dung đạo hiếu của người con với cha mẹ thì ngoài biết ơn công sinh thành, trách
Trang 14nhiệm lo lắng, chăm sóc cho cha mẹ, phụng dưỡng cha mẹ khi về già thì “hiếu” còn có ý nghĩa là bổn phận thờ cúng ông bà, tổ tông
Một đặc điểm nội dung khác biệt nữa giữa ca dao về mối quan hệ cha mẹ - con cái của Nam Bộ và Bắc Bộ là bộ phận những bài ca dao
có tính chất giáo huấn, ca ngợi đạo đức gia đình xuất hiện nhiều ở ca dao Bắc Bộ và các bài ca dao nói về nỗi nhớ cha mẹ và thân phận mồ côi của ca dao Nam Bộ
2.1.3 Mối quan hệ vợ chồng
Theo thống kê của Nguyễn Thị Kim Liên thì trong chủ đề gia đình và các mối quan hệ xã hội, mảng ca dao về tình nghĩa vợ chồng chiếm tỉ lệ 55,6% (617/1110 bài) Điều này cho thấy đây là một vấn
đề khá được quan tâm trong ca dao và trong đời sống tinh thần của người Việt
Xã hội với sự chi phối của tư tưởng Nho giáo khiến cho cuộc sống bị ràng buộc bởi vòng lễ giáo do vậy việc hôn nhân đại sự mang tính trọng đại lại càng bị kiểm soát chặt chẽ, bị chi phối bởi nhiều vấn
đề khác hơn do vậy ca dao về quan hệ vợ chồng ở hai miền phản ánh những tiếng oán than, sự trăn trở của hôn nhân không tình yêu
Ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ cùng thống nhất với nhau ở nội dung
ca ngợi cuộc sống gia đình, ca ngợi sự gắn bó của vợ chồng
Trong ca dao nói chung và ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ nói riêng,
ta có thể thấy có rất nhiều câu nói về cảnh vợ chồng bần hàn, nghèo túng những hạnh phúc, chan chứa yêu thương
Trang 15Quan hệ vợ chồng gắn bó với nhau trong lao động, trong lao động tình yêu nảy nở Bức tranh lao động của người chồng người vợ
do vậy cũng chính là bức tranh hạnh phúc của gia đình
Gắn bó với nhau như vậy, chia sẻ ngọt bùi với nhau như vậy nên người Việt hết sức đề cao lòng yêu thương và sự thủy chung Nội dung này có thể nói là nội dung không thể thiếu khi nhắc tới ca dao về quan hệ vợ chồng
Ở mảng ca dao ca thán trong ca giao quan hệ vợ chồng, ca dao Nam Bộ có cách tiếp cận khác hơn ca dao Bắc Bộ Điều này đã được làm rõ ở sự khác biệt về môi trường sống, văn hóa ứng xử của cư dân hai vùng
Hiện tượng người vợ “vùng lên” ở ca dao Bắc Bộ là đậm nét nhất
vì người phụ nữ ở Bắc Bộ, dưới vòng lễ giáo khắc nghiệt chịu nhiều thiệt thòi, cơ cực
2.1.3 Mối quan hệ anh em
Nói đến quan hệ anh chị em trong gia đình là phải nói tới sự yêu thương, gắn bó Ca dao của miền nào cũng đều có nội dung này là nội dung chính của mảng ca dao về quan hệ anh em
Nhưng bên cạnh đó, ca dao cũng vẫn có cái nhìn nhiều chiều với mối quan hệ này Ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ cũng đều có bài chê trách, phê phán những người không trọng mối dây liên kết với anh em mình
Bên cạnh mối quan hệ anh em ruột thịt, ca dao cũng đề cập tới mối quan hệ anh em không cùng huyết thống nhưng với một cái nhìn