1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian Việt Nam thời kì đầu du nhập

31 423 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 884,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát trực tiếp sự dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu trong thời kỳ đầu du nhập, rút ra những đặc trưng của sự dung thông đó.. Tìm hiểu sự du

Trang 1

Sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian Việt Nam thời kì đầu du nhập

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trường Đại học KHXH&NV Luận văn ThS Chuyên ngành: Tôn giáo học; Mã số: 60 22 90

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Quốc Tuấn

Năm bảo vệ: 2013

Abstract: Nghiên cứu bối cảnh lịch sử Việt Nam nói chung và của tôn giáo nói riêng ở

thời kì Phật giáo du nhập vào Nghiên cứu được xem là hợp lý để bàn về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam trên cơ sở phân tích các giáo lý và tư tưởng cơ bản làm cơ sở cho

sự dung thông Khảo sát trực tiếp sự dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu trong thời kỳ đầu du nhập, rút ra những đặc trưng của sự dung thông đó Từ đó, đánh giá vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống người Việt

Keywords: Tôn giáo học; Phật giáo; Tín ngưỡng cổ truyền

Content

Trang 2

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài ……… … 3

2 Tình hình nghiên cứu luận văn ……… 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn……… … 6

3.1 Mục đích……… … 7

3.2 Nhiệm vụ……….7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn……… … 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu……… 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu ……… … 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn……… … 7

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn……… … 8

7 Kết cấu của luận văn……… … 8

NỘI DUNG Chương 1: Bối cảnh kinh tế - xã hội và diện mạo của Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ I – TCN đến thế kỷ VI……… ……….9

1.1 Tình hình kinh tế………9

1.1.1 Nông nghiệp……… … 9

1.1.2 Thủ công nghiệp……… ….10

1.1.3 Giao thông vận tải và thương mại……… ….12

1.2 Tình hình chính trị - xã hội……… … 13

1.2.1 Về xã hội……….… … 13

1.2.2 Tinh thần chống giặc ngoại xâm……… 15

1.3 Tình hình văn hóa - tư tưởng……… 17

1.3.1 Tình hình tư tưởng tôn giáo bản địa……… … 17

Trang 3

1.3.2 Tình hình du nhập của các hệ tư tưởng – tôn giáo nước ngoài….… … 29

1.4 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam thế kỷ I – TCN đến thế kỷ VI……… ……… 34

1.4.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam……… 34 1.4.2 Quá trình phát triển của Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ I – TCN đến thế kỷ VI……….………….38

Chương 2: Sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian Việt Nam……….……….45 2.1 Sự dung thông giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên… … 45

2.1.1 Nguồn gốc ra đời và nội dung của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên…………45 2.1.2 Quá trình dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên……… ………51

2.2 Sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu………… … 66

2.2.1 Nguồn gốc ra đời và nội dung của tín ngưỡng thờ Mẫu……….…… … 66 2.2.2 Quá trình dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu….……….70

KẾT LUẬN……… 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….… … 89

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Du nhập vào Việt Nam từ những thế kỉ đầu công nguyên, qua nhiều con đường với các trường phái khác nhau, đạo Phật đã nhanh chóng ăn sâu, bám rễ vào quần chúng nhân dân, gắn bó tự nhiên với sinh hoạt của cộng đồng dân cư Việt Đạo Phật không bị biến chất hay đánh mất tinh túy giáo thuyết chủ đạo, mà trên cơ sở đó, đã tìm cách kết hợp, hòa trộn với các tín ngưỡng bản địa Việt Nam, trở thành Phật giáo Việt Nam với bản sắc riêng

Theo chân các thương nhân và tăng sĩ, Phật giáo truyền bá vào Giao Châu bằng con đường hòa bình Văn hóa - lối sống - giáo lí căn bản của đạo Phật khá gần gũi với đạo lí - lối sống - phong cách tư duy của người Việt cổ cho nên ngay từ đầu Phật giáo nhanh chóng tìm được chỗ đứng trong đời sống xã hội, trong tình cảm của người nông dân Việt Trước khi Phật giáo du nhập vào, Việt Nam đã có hệ thống tín ngưỡng khá phong phú, đa dạng Người Việt thờ thần núi, thần sông, thần mặt trời, thần sấm sét, thần cây cỏ,… sau đó thờ thêm tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thổ công, các vị anh hùng dân tộc, Với tinh thần “Tùy duyên nhi giáo” (tùy theo điều kiện mà có những biện pháp giáo hóa thích hợp), Phật giáo nhanh chóng kết hợp với tín ngưỡng bản địa, Phật giáo hóa tín ngưỡng bản địa và bản địa hóa Phật giáo Người Việt dùng văn hóa - tư tưởng Phật giáo làm vũ khí tinh thần chống lại sự thống trị - nô dịch tinh thần bằng Hán Nho của kẻ thù phương Bắc

Một trong những biểu hiện của sự hòa nhập và dung hội của Phật giáo với các tín ngưỡng bản địa là tục thờ Mẹ hay tục thờ Nữ thần, một tục thờ cúng thần của nền văn minh nông nghiệp nhiệt đới, gió mùa và lấy việc trồng lúa làm lẽ sống chính

Tìm hiểu sự dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng dân gian Việt Nam thời kỳ đầu du nhập không những góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của đạo Phật du nhập vào Việt Nam ở thời kỳ đầu, mà còn có một ý nghĩa hết sức thiết thực là góp phần vào việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại ngày nay Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, một mặt đã và đang đem lại cho con người một cuộc sống đầy đủ về vật chất, nhưng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xói mòn những giá trị đạo đức tốt đẹp của loài người nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam

và sự dung thông của nó với các tín ngưỡng truyền thống ở Việt Nam là một vấn đề tuy không còn mới nhưng hết sức cần thiết, vì giờ đây, chúng ta có điều kiện hơn để nhìn nhận lại quá trình này như một trong những con đường văn hóa Việt Nam lưu giữ bản sắc riêng Việc giữ gìn bản sắc riêng trong điều kiện hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay đặt ra yêu cầu cấp thiết phải rà soát lại vốn văn hóa của dân tộc ta

để tạo cơ sở cho việc tìm ra những quy luật và phương thức bảo tồn Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng cổ truyền Việt Nam thời kỳ đầu du nhập” làm đề tài luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu luận văn

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay, được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm Do đó, việc nghiên cứu về Phật giáo nói chung rất đa dạng

Có thể chia các công trình nghiên cứu về Phật giáo theo 2 loại sau:

Trang 5

Thứ nhất, về lịch sử Phật giáo Cho đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu

về lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung và giai đoạn Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ I - TCN đến thế kỷ VI, tiêu biểu như: tác phẩm “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” do Nguyễn Tài Thư chủ biên, xuất bản năm 1988; tác phẩm “Lược sử Phật giáo Việt Nam” của Thích Minh Tuệ, ấn hành năm 1993; tác phẩm “Lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế” của tác giả Lê Mạnh Thát, xuất bản năm 1999; tác phẩm “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, tái bản năm 2000 Như vậy, phần lớn các tác phẩm trên đều là những tác phẩm đã khai thác một cách

hệ thống, chuẩn xác sự du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam Tuy nhiên, mỗi một tác giả có góc độ xem xét lịch sử Phật giáo Việt Nam khác nhau, vì vậy, có cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau về vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam trong

xã hội

Thứ hai, về những đóng góp của Phật giáo đối với văn hóa, xã hội Việt Nam Trong khoảng thời gian hơn 2000 năm du nhập và phát triển, Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn cho dân tộc ta, từ tín ngưỡng cho đến văn hóa, phong tục tập quán, từ tư tưởng cho đến tình cảm, lối sống, từ văn học nghệ thuật cho đến kiến trúc, Có thể

kể đến các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: tác phẩm “Phật giáo với văn hóa Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đăng Duy, xuất bản năm 1999; Tác phẩm “Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập 1” của tác giả Lê Mạnh Thát, xuất bản năm 2001;

Đây là những công trình nghiên cứu công phu, tập hợp tất cả các vấn đề về ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa, xã hội Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau

Về sự dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng cổ truyền Việt Nam có các công trình: Luận văn TH.S “Sự dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt”của tác giả Phan Nhật trinh; Luận văn TH.S “Tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ” của tác giả Phan Thị Kim;

Ngoài ra, còn một số bài báo, tạp chí như:

- Phan Đại Doãn - Lê Văn Mỹ, Phật giáo dân gian vùng Dâu (Hà Bắc), Tạp chí văn hóa dân gian, số 1- 1987

- Nguyễn Quang Lê - Tìm hiểu mối quan hệ giữa lễ hội cổ truyền với Phật giáo qua tín ngưỡng dân gian, Tạp chí nghiên cứu văn hóa dân gian, số 4 - 1992;

- Hoàng Thị Lan với bài viết “Phật giáo với lễ hội dân gian vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ”, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 6 - 2000;

- Đức Thiện - Tín ngưỡng thờ tứ pháp - hiện tượng tiếp biến văn hóa Ấn Độ, số 6 -

v…v…

Như vậy, có thể thấy, Phật giáo Việt Nam là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, vấn đề sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng cổ truyền

Trang 6

Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu Do đó, luận văn này sẽ định hướng nghiên cứu làm rõ hơn sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng cổ truyền Việt Nam thời kì đầu du nhập

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Mục đích của luận văn là tìm hiểu sự liên hệ qua lại, xâm nhập vào nhau giữa Phật giáo với tín ngưỡng cổ truyền ở thời kỳ đầu du nhập, nhằm hiểu rõ hơn cơ chế và phương thức dung thông, cũng như các biểu hiện của sự dung thông đó

- Khảo sát trực tiếp sự dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu trong thời kỳ đầu du nhập, rút ra những đặc trưng của sự dung thông đó Từ đó, đánh giá vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống người Việt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự du nhập và dung thông của Phật giáo với một số tín ngưỡng truyền thống của Việt Nam: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu sự dung thông giữa Phật giáo với một số tín ngưỡng truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đầu du nhập (từ thế kỷ I - TCN đến năm 544): tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu trong phạm vi người Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn: dựa trên nền tảng lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Phương pháp nghiên cứu gồm:

- phương pháp lôgic - lịch sử

- phương pháp phân tích - tổng hợp

- phương pháp hệ thống hóa - so sánh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm về sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam

và sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng cổ truyền thời kỳ đầu du nhập

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập

7 Kết cấu cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm có 2 chương và 6 tiết

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ DIỆN MẠO CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ I TCN ĐẾN THẾ KỶ VI

Bên cạnh cây lúa, nhân dân ta còn trồng nhiều loại hoa màu và các loại cây có

củ khác như khoai, đậu, sắn Ở mỗi vùng đất, tùy theo khí hậu, thổ nhưỡng, người Việt ta còn trồng nhiều loại cây ăn quả như nhãn, vải, chuối, khế, cam, …

Bên cạnh đó, người Việt còn có nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng bông, đay, gai

để có cái mặc

Mặc dù nền kinh tế nông nghiệp có nhiều chuyển biến rõ rệt, nhưng do chính sách bóc lột nặng nề của chính quyền đô hộ và bộ máy quan lại đã làm cho đời sống của nhân dân ta thời kỳ này hết sức khốn đốn

Nghề dệt vải, lụa là những nghề thủ công trong gia đình phổ biến ở nhiều địa phương Các nghề mộc, đan, lát, xây dựng nhà cửa cũng có bước phát triển đáng kể

Từ thế kỉ IV, trên cơ sở tiếp thu kĩ thuật chế tạo thủy tinh của Ấn Độ và một số nước khác, người Việt đã thổi được những bình, bát bằng thủy tinh với nhiều màu sắc

Sự phát triển thủ công nghiệp của Việt Nam thời kỳ này cũng bị kìm hãm do tác động của các triều đại cai trị phương Bắc Họ bắt nhiều thợ thủ công giỏi về phục vụ xây dựng tại kinh đô khiến lực lượng sản xuất nghề này bị ảnh hưởng nhiều

1.1.3 Giao thông vận tải và thương mại

Từ khi nhà Hán chinh phục Nam Việt, người Việt tham gia hoạt động thương mại nhiều hơn so với trước, do tác động của các thương nhân người Hán Do có vị trí thuận lợi và phong phú sản phẩm nhiệt đới, Giao Chỉ trở thành một trạm quan trọng

về giao thông biển với các nước phía Nam ngoài biển

Sự chuyển biến trong nền kinh tế (nông nghiệp và thủ công nghiệp) đã góp phần quan trọng thúc đẩy thương nghiệp phát triển hơn trước Mặt khác, sự phong phú về tài nguyên và nhiều đặc sản của vùng nhiệt đới đã thu hút nhiều lái buôn nước ngoài đến nước ta làm cho việc buôn bán ở Việt Nam thời Bắc thuộc thêm phát triển

Trang 8

Việc vận chuyển cống phẩm, thuế khóa thu được ở nước ta về Trung Quốc đã thúc đẩy chính quyền đô hộ chăm lo đến việc sửa chữa, xây đắp đường sá, dẫn đến sự thông thương giữa các quận trong nước và giữa nước ta với Trung Quốc

Tuy nhiên, sự phát triển ngoại thương chỉ làm giàu thêm cho bọn đô hộ, nhân dân bản địa càng phải chịu thêm ách lao dịch, bót lột nặng nề

Nhưng sự phát triển quan hệ giao lưu kinh tế giữa các khu vực trong nước (ở Giao Châu) và giữa Giao Châu với các nước xung quanh đã có tác dụng nhất định trong việc kích thích nền kinh tế ở Giao Châu phát triển; đồng thời, nó cũng góp phần quan trọng cho việc giao lưu văn hóa - tôn giáo

1.2 Tình hình chính trị - xã hội

1.2.1 Về xã hội

Từ khi bị Triệu Đà và các triều đại khác ở phương Bắc xâm lược và đô hộ, đất nước Văn Lang - Âu Lạc đã bị nô dịch, biến thành quận, huyện của phong kiến Trung Quốc, nhà nước Việt cổ với thiết chế xã hội là chế độ lạc tướng đã bị xóa bỏ

Quan hệ xã hội bao trùm trong suốt thời kì Bắc thuộc ở nước ta thời bấy giờ là quan hệ giữa kẻ thống trị ngoại tộc (chính quyền đô hộ) và toàn thể nhân dân lao động nước ta Về danh nghĩa, tất cả ruộng đất của nước Âu Lạc đều thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước đô hộ Người dân phải nộp tô thuế, đi lao dịch cho chính quyền ngoại bang Chính sách bóc lột nặng nề của chính quyền và bọn quan lại đô hộ

đã làm cho nhân dân ta nghèo đói, khốn khổ

Các triều đại phong kiến phương Bắc đã chia nước ta thành các châu, quận để

dễ cai trị

Vào giữa thế kỷ VI, phong trào khởi nghĩa nhân dân đã tiến lên cao trào, làm

nổ ra cuộc khởi nghĩa Lý Bí dẫn tới việc thành lập Nhà nước Vạn Xuân Đây là một cột mốc lớn, một đột phá hết sức quan trọng trong lịch sử hơn nghìn năm chống Bắc thuộc của nhân dân ta

1.2.2 Tinh thần chống giặc ngoại xâm

Thời kỳ Bắc thuộc lần nhất, trong vòng hơn 200 năm không ghi nhận một cuộc nổi dậy chống đối đáng kể nào của người Việt Chỉ có những cuộc chống đối quy mô tương đối nhỏ, giết quan lại nhà Hán, dù trong nhiều năm đã khiến nhà Hán phải điều động quân đội từ Kinh Sở (Hoa Nam) xuống trấn áp nhưng không đủ mạnh để đuổi người Hán

Năm 40, do sự tàn bạo của thái thú Tô Định (trấn trị từ năm 34), hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã nổi dậy chống sự cai trị của nhà Hán Tô Định bỏ chạy

về Trung Quốc, Hai Bà Trưng xưng vương, xác lập quyền tự chủ của người Việt Thời Bắc thuộc lần nhất chấm dứt

Trước cảnh nước mất nhà tan, Lý Bí, một viên quan nhỏ của nhà Lương đã đứng lên chiêu mộ nhân dân khởi nghĩa năm 542 Năm 544, Lý Bí lên ngôi vua, tự xưng là Lý Nam Đế, lấy hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch

Khởi nghĩa Lý Bí và sự ra đời của nước Vạn Xuân đã đánh dấu một bước trưởng thành trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta

Trang 9

1.3 Tình hình văn hóa - tư tưởng

1.3.1 Tình hình tư tưởng tôn giáo bản địa

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Người dân Việt Nam có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời Tín ngưỡng Việt Nam còn được gọi là tín ngưỡng truyền thống hay tín ngưỡng dân gian, là sản phẩm của văn hóa người Việt Nam trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội Đối tượng sùng bái trong tín ngưỡng dân gian ở nước ta rất phong phú, đa dạng

Tác giả Trần Ngọc Thêm trong giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam đã hệ thống

tín ngưỡng dân gian Việt Nam bao gồm: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái

tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người Những tín ngưỡng trên là sản phẩm của nhân dân, hình thành trong chiều dài lịch sử trên cơ sở kinh nghiệm, sự sùng bái và trí

tưởng tượng của con người

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là tín ngưỡng tôn thờ các yếu tố, lực lượng tự nhiên, vũ trụ

Loại hình tín ngưỡng thứ hai, khá phổ biến trong xã hội người Việt đó là tín ngưỡng phồn thực Đây là tín ngưỡng gắn với sự sinh sôi, nảy nở của con người và tự nhiên Đây là hình thức phổ biến ở các nền văn hóa nông nghiệp, trong đó có Việt Nam

Thứ ba là tín ngưỡng sùng bái con người Theo GS Trần Ngọc Thêm, thì tín ngưỡng này bao gồm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thổ công (các vị thần tại gia), thờ Thành Hoàng và thờ Vua Hùng (thần linh của thôn xã và toàn dân tộc)

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được nhiều nhà nghiên cứu coi là một trong những

tín ngưỡng đặc thù của vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

Theo GS Trần Ngọc Thêm trong gia đình, ngoài thờ tổ tiên, người Việt Nam còn có tục thờ Thổ Công Thổ công, một dạng của Mẹ Đất, là vị thần trông coi gia cư, ngăn chặn tà thần, định đoạt phúc họa cho một gia đình Sống ở đâu thì có Thổ Công

ở đó: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”

Tục thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ, sau khi du nhập vào làng

xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng

Đình làng là nơi thờ phụng Thành hoàng và trở thành một biểu tượng văn hoá tâm linh của mỗi người dân quê Việt Làng nào cũng có đình, có khi mỗi thôn lại có một đình riêng Đình để thờ Thành hoàng nhưng đồng thời cũng trở thành nơi hội họp của chức sắc trong làng, hay là nơi sinh hoạt của cộng đồng làng xã Mọi hoạt động này đều xảy ra ở đình với sự chứng kiến của Thành hoàng

Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, với quan niệm “chim có tổ, người

có tông”, với ý thức “cùng chung một nguồn cội”, người Việt đã không lãng quên những người đã có công với nước, với làng thông qua những hoạt động tâm linh tưởng nhớ đến những vị nhân thần Nếu chỗ dựa về tinh thần của gia đình, làng xóm

là ông bà tổ tiên, là thành hoàng làng, thì chỗ dựa tinh thần cho cả dân tộc Việt đó là

tổ nước Hùng Vương

Trang 10

Tín ngưỡng thờ Hùng Vương càng ngày càng thấm sâu vào ý thức hệ tư tưởng của người dân Việt Nam, làm thức dậy những tình cảm sâu lắng nhất trong mỗi người dân, là chất keo sơn gắn bó người Việt với nhau, là cốt lõi tạo nên bản lĩnh của dân

tộc

Người Việt Nam còn có một tín ngưỡng đặc biệt là tục thờ Tứ bất tử (bốn

người không chết) : Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh

Các loại hình tín ngưỡng cổ truyền của người Việt đã mang lại những giá trị nhân văn, văn hóa tinh thần riêng có của dân tộc Việt Nam Trong đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đóng vai trò là nền tảng Việc thờ cúng tổ tiên theo quan điểm của người Việt cổ là sự thể hiện cho đạo làm người, tăng thêm tính gần gũi trong quan hệ huyết thống và tinh thần đoàn kết dân tộc

Từ các loại hình tín ngưỡng cổ của người Việt, các quan điểm về đạo đức nhân sinh của người Việt được hình thành Tất cả những giá trị đó, tuy chưa mang tính khái quát, nhưng đã góp phần tạo nên một yếu tố riêng của dân tộc Việt Nam trong buổi đầu dựng nước và giữ nước - tín ngưỡng bản địa Đây là một nhân tố hết sức quan trọng để góp phần tạo nên những giá trị tinh thần riêng của dân tộc Việt Nam, không những vượt qua được sự đồng hóa của văn hóa Hán, mà còn thể hiện vai trò chủ đạo khi tạo nên một sự “khúc xạ” đối với các hệ tư tưởng - tôn giáo nước ngoài khi du nhập vào Việt Nam ở thời kỳ này

1.3.2 Tình hình du nhập của các hệ tư tưởng - tôn giáo nước ngoài

Trong thời kỳ này, có một số hệ tư tưởng tôn giáo du nhập vào Việt Nam Đáng chú ý nhất là các hệ tư tưởng tôn giáo lớn: Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo

Nho giáo còn gọi là Đạo Nho, do Khổng Tử, nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc

cổ đại sáng lập Đến nước ta từ thời nhà Hán, Nho giáo được đẩy mạnh dưới thời Sĩ Nhiếp (187 - 226) - người được coi là “Nam Giao Học Tổ” Nho giáo vào nước ta do bọn thống trị Trung Quốc áp đặt với mục đích đào tạo nên những người làm việc cho chính quyền Hán

Trong giai đoạn đầu, sự truyền bá của đạo Nho vào nước ta gắn bó với chủ ý của thế lực phong kiến phương Bắc Vì vậy, Nho giáo thời kỳ này, mang cả tính chất tiêu cực Nó được sử dụng chủ yếu làm bàn đạp cho chính sách cai trị của bọn quan lại phong kiến phương Bắc

Tuy nhiên, người Việt với tinh thần yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và cùng nhau hợp sức trong cuộc đấu tranh chống chính quyền đô hộ đã phá vỡ từng bước mọi chính sách đồng hóa của bọn xâm lược Những phong tục, tập quán cổ truyền được hình thành từ buổi đầu dựng nước và giữ nước vẫn được gìn giữ lâu dài trong suốt thời kỳ bị đô hộ

Đạo giáo là một tôn giáo cổ của Trung Quốc, phát triển vào thời Lục triều và

thời Đường Khi du nhập vào Việt Nam thời kỳ đầu, cả hai bộ phận của Đạo giáo đều đồng thời thiết lập được sự ảnh hưởng, đó là Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy Đạo giáo thần tiên dạy tu luyện, luyện thuốc trường sinh (luyện đan), luyện khí công với mục đích trường sinh Ai đi tu đạo này gọi là “Đạo sĩ” Đạo giáo phù thủy là

Trang 11

dùng nghi lễ pháp thuật để trị bệnh (họ cho rằng tà ma đẻ ra bệnh tật), chủ yếu là vẽ bùa, bên cạnh là dùng thuốc uống

Đạo giáo thâm nhập vào nước ta khoảng cuối thế kỷ thứ II Lúc này, khi Nho giáo đang cố thâm nhập vào Việt Nam chưa xong thì Đạo giáo đã nhanh chóng được tiếp nhận bởi Đạo giáo phù hợp với nhiều tín ngưỡng dân gian Việt Nam, người Việt vốn sẵn tính sùng bái tự nhiên, tin ma thuật

Phật giáo được truyền bá vào nước ta từ rất sớm Từ thời Hán, trên đất nước ta

đã có trung tâm Phật giáo Luy Lâu và nhiều chùa tháp thờ Phật

Phật giáo du nhập vào Việt Nam bằng hai con đường, đường biển và đường bộ

Do học thuyết của Đạo Phật có nhiều điểm tương đồng, phù hợp với tín ngưỡng dân gian của người Việt, như: kêu gọi mọi người làm việc thiện, có lòng nhân ái, vị tha, thuyết nhân quả, nghiệp báo,… nên nhanh chóng bám rễ, ăn sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân ta

Phật giáo du nhập thời kỳ đầu và được người Việt tiếp thu chủ yếu là thứ Phật giáo mang đậm dấu ấn Mật tông, coi trọng bùa chú, phù phép, kết hợp dễ dàng với tín ngưỡng dân gian của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước

Phật giáo du nhập vào nước ta và nhanh chóng ăn sâu, bám rễ, tạo nên ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội Việt Nam thời kỳ này Theo Nguyễn Lang, Phật giáo được truyền vào Việt Nam bằng phương tiện hòa bình chứ tuyện nhiên không phải là công cụ cho những thế lực xâm lược Cộng với phương châm từ, bi, hỷ,

xả, trí tuệ, vị tha và nền giáo lý phù hợp với tín ngưỡng truyền thống, “nên đạo Phật thấm vào nền văn minh Giao Châu tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào lòng đất” [35; 46]

Như vậy, ở Việt Nam, từ khoảng thế kỷ I - TCN đến thế kỷ VI, bên cạnh hệ tư tưởng, tín ngưỡng tôn giáo bản địa, còn có một số hệ tư tưởng tôn giáo nước ngoài xâm nhập vào và bước đầu tạo nên những ảnh hưởng nhất định Trong đó, đáng chú ý nhất là ba hệ tư tưởng: Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo

Sự tồn tại của nhiều hệ tư tưởng tôn giáo trong xã hội Việt Nam sơ khai đã gây

ra nhiều xáo trộn và đã để lại những dấu ấn không nhỏ trong đời sống tư tưởng của xã hội Việt Nam

Trong quá trình du nhập và phát triển ở Việt Nam, ba hệ tư tưởng tôn giáo này

đã có sự hòa đồng với tín ngưỡng dân gian Tính dung hợp của chủ thể tiếp nhận, dung hợp trong khi tiếp nhận đồng thời các hệ tư tưởng tôn giáo cùng một lúc là một khả năng hết sức đặc thù của dân tộc Việt Nam Chính sự “khúc xạ” này mà tuy tiếp nhận ảnh hưởng của các hệ tư tưởng tôn giáo ngoại lai, nhưng nó đã không còn mang dáng vẻ ban đầu nữa, mà đã có sự biến đổi phù hợp Đây cũng là phương thức góp phần tạo nên những tiền đề tư tưởng hết sức quan trọng trong việc chống lại âm mưu đồng hóa của các thế lực phương Bắc

1.4 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ I - TCN đến thế kỷ VI

1.4.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam

Phật giáo ra đời vào thế kỷ thứ VI - TCN ở Ấn Độ Người sáng lập là Tất - đạt

- đa (Siddhatha), sinh khoảng năm 563 - TCN, con vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Maya, tại kinh thành Kapilavastu

Trang 12

Đạo Phật truyền bá ra ngoài biên giới Ấn Độ từ rất sớm Vào thế kỷ thứ III - TCN, dưới sự chỉ đạo của vua A - Dục (Asôka) nhiều tăng đoàn đã đi ra nước ngoài

để truyền bá Đạo Phật, trong đó có Việt Nam

Phật giáo du nhập vào nước ta từ rất sớm, theo nhiều sử liệu chứng minh, Phật giáo có mặt ở Việt Nam trước khi có mặt ở Trung Quốc:

Câu truyện huyền thoại liên quan đến sự có mặt sớm nhất của Phật giáo ở nước

ta là câu chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung vào đời vua Hùng Vương thứ ba Thứ hai là Trong sách “Ngô Chí” có chép bức thư của Viên Huy gửi cho thượng thư lệnh Tuân Húc năm 207, trong đó có đoạn khen Sĩ Nhiếp giữ gìn quận Giao Châu được thái bình an ổn hơn 20 năm, và có đoạn viết: “Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết, kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe đốt hương thường có mấy mươi người ” Người Hồ tức là các vị sứ người Ấn Ðộ, bấy giờ đã có nhiều ở Giao Châu Vì Sĩ Nhiếp rất sùng kính Đạo Phật nên trong những lễ lạc đều có các sị sư bản xứ và sư người Ấn Ðộ tham dự

Thứ ba là Truyện Đàm Thiên pháp sư có chép: vua Cao Tổ nhà Tùy bàn chuyện truyền Đạo Phật sang Giao Châu Pháp sư liền tâu: “Cõi Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc gần hơn ta Khi Phật giáo chưa du nhập vào đất Giang Đông ta mà ở cõi ấy đã xây dựng được hơn 20 ngọn bảo tháp, độ được hơn

500 tăng sĩ, dịch được 15 bộ kinh rồi Vì ở bên ấy gần nước Phật hơn ta Bấy giờ có các vị Ma ha kỳ vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác đến ở truyền đạo … Ngài muốn bố thí một cách bình đẳng, phái chư tăng sang truyền đạo, nhưng

ở đó họ đã có đủ rồi, ta không cần phải sang nữa” [35; 77 - 78]

Bên cạnh con đường thủy thuận lợi, Phật giáo còn được truyền bá vào nước ta bằng đường bộ, hay còn gọi là “con đường tơ lụa”

Như vậy, việc du nhập diễn ra với nhiều chiều hướng khác nhau, nhiều Tông phái khác nhau đã tạo nên đặc thù của lịch sử Phật giáo Việt Nam Phật Giáo đã gắn liền với tín ngưỡng dân gian, được dân gian hóa và phong tục hóa Nó thể hiện tâm

lý dân gian, thế giới quan và lòng mong ước, tính hiền hòa của dân quê vùng Luy Lâu và cả vùng đồng bằng Bắc Bộ cho mãi đến ngày nay vẫn giữ được nét đặc thù của Phật Giáo dân gian

1.4.2 Quá trình phát triển của Phật giáo Việt Nam từ thế kỷ I - TCN đến thế kỷ

VI

Trong những thế kỷ đầu, Phật giáo ở Giao Châu - theo nhận xét của Nguyễn Lang “còn thô sơ lắm” bởi vì Phật giáo vào Việt Nam là do các thương nhân mang đến chứ không phải các nhà truyền giáo

Đạo Phật trong những thế kỷ đầu còn rất đơn giản, những quan niệm về Phật - Pháp - Tăng; về nghiệp báo, luân hồi, … còn rất mơ hồ và bị ảnh hưởng nhiều bởi tín ngưỡng dân gian người Việt lúc bấy giờ Trong khoảng thời gian này, có thể đã

có một vài ngôi chùa được lập ra cho các vị tăng ngoại quốc lưu trú Có thể khẳng định, Đạo Phật lúc này chỉ mang tính bình dân, chưa có sự học hỏi kinh điển và chế

độ tăng sĩ

Phật giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đầu có ít nhất ba đặc trưng tư tưởng khiến cho nó có thể dung hội với hệ thống tín ngưỡng bản địa Việt Nam Đó là:

Trang 13

Lý tưởng Bồ tát: Bồ tát là một hình tượng thể hiện tư tưởng ở đâu có đau khổ thì ở đó có Bồ tát xuất hiện để hóa giải và cứu độ chúng sinh Hình tượng này có thể

dễ dàng đồng nhất với người phụ nữ, người mẹ Vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội đã được khẳng định Vì vậy, Bồ tát có thể được coi là người

mẹ từ bi cứu giúp chúng sinh như là con cái của mình

Tư tưởng “khế cơ và khế lý”: Đức Phật truyền dạy giáo pháp của mình trên cơ

sở tùy thuộc vào bản tính và tâm tình của người được truyền thụ (khế cơ) nhằm đưa

họ đến sự giải thoát cuối cùng, đồng thời sự truyền dạy đó không làm mất đi những chân lý mà đức Phật đã phát hiện và thuyết giảng (khế lý) Chính vì lẽ đó mà dù có sự dung thông giữa Phật giáo với hệ tín ngưỡng bản địa thì cũng không làm mất đi bản chất thật sự của giáo pháp, nhưng lại có lợi là thu hút một cách rộng rãi người dân tin theo

Tư tưởng tôn thờ Phật tổ và các vị tổ sư: Tư tưởng này dễ dàng tiếp nhận và dung hòa với tư tưởng (cũng là tập tục, là triết lý) thờ cúng tổ tiên của người Việt Tư tưởng tôn thờ và cung kính tổ tiên là nét trội trong ý thức hệ và văn hóa tâm linh ở người Việt Điều này được chứng minh qua chính sử, qua khảo cổ học và qua lịch sử Phật giáo

Trang 14

CHƯƠNG 2: SỰ DUNG THÔNG GIỮA PHẬT GIÁO VỚI TÍN NGƯỠNG CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

2.1 Sự dung thông giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

2.1.1 Nguồn gốc ra đời và nội dung của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổ quát của người Việt Nam Là người Việt Nam thì “mọi người đều thờ ông bà, mọi người đều thờ cúng tổ tiên” Thờ cúng tổ tiên đã trở thành một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam Nó là một trong các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam

Theo nghĩa thông thường (nghĩa hẹp) tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những người có cùng huyết thống nhưng đã mất, những người đã có công sinh thành, nuôi dưỡng và có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của thế hệ những người đang sống như ông bà, cha mẹ, cụ kỵ, Trong quá trình phát triển của lịch sử, khái niệm tổ tiên không còn chỉ bó hẹp trong phạm vi truyền thống gia đình, họ tộc

mà đã mở rộng ra phạm vi cộng đồng, xã hội

Cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc hình thành bất cứ tôn giáo tín ngưỡng nào cũng là quan niệm tâm linh của con người về thế giới Cũng như nhiều dân tộc khác, người Việt xuất phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh” - mọi vật đều có linh hồn, và bắt đầu từ giới tự nhiên xung quanh mình Vì thế, loại thần cổ sơ nhất được người ta sùng

là các nhiên thần, đặc biệt là thần cây, thần núi, thần sông

Vẫn với quan niệm vật linh kể trên, họ tin rằng trong mỗi con người đều có phần

“hồn” và “vía” Trong nhận thức dân gian, thể xác và linh hồn vừa gắn bó, vừa tách biệt Chúng gắn bó khi sống và tách biệt khi chết, thể xác đã hòa vào cát bụi nhưng phần hồn vẫn tồn tại, chuyển sang sống ở một thế giới khác Cõi âm ấy cũng có mọi nhu cầu như cuộc sống dương gian Theo quan niệm dân gian, chết cũng là một dạng

“sống” trong một môi trường khác - cõi âm

Xã hội cổ truyền của người Việt cũng có những cơ sở kinh tế nhất định cho việc hình thành và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Trước hết đó là nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp Đây chính là môi trường thuận lợi cho sự xuất hiện tín ngưỡng đa thần Xét về phương diện kinh tế, làng xã Việt Nam đã gần như một đơn

vị độc lập và tương tự như thế, là tế bào của nó - hộ gia đình nhỏ Đây là nhân tố quan trọng gắn bó các thành viên của gia đình cùng một thế hệ và giữa các thế hệ Có thể nói nền kinh tế tiểu nông ấy là mảnh đất thuận lợi cho việc củng cố và phát triển ý thức dân tộc cũng như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở làng xã

Một nhân tố nữa dẫn đến sự ra đời của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên phải đề cập đến là chế độ phụ quyền Khi bước vào chế độ phụ quyền, vai trò của người đàn ông trở nên quan trọng trong hoạt động kinh tế và sinh hoạt của gia đình

Tổ tiên theo quan niệm của người Việt Nam, được chia ra làm ba cấp Trước hết ở cấp độ gia đình là những người cùng huyết thống như cha, mẹ, ông, bà, cụ, kỵ, là người đã sinh ra mình Ở cấp độ làng xã, Tổ tiên cũng là những người có công tạo dựng nên cuộc sống hiện tại như các vị “Thành hoàng làng”, các “Nghệ tổ” Không chỉ thế, tổ tiên còn là những người có công bảo vệ làng xóm, quê hương, đất

Trang 15

nước khỏi nạn ngoại xâm như Trần Hưng Đạo đã thành “Cha” được tổ chức cúng, giỗ vào tháng 8 âm lịch hàng năm Ngay cả “Thành hoàng” của nhiều làng cũng không phải là người đã có công tạo dựng nên làng, mà có khi là người có công, có đức với nước được các cụ xa xưa tôn thờ làm “Thành hoàng” Ở cấp độ Nhà nước, Tổ tiên trong tín ngưỡng của người Việt Nam còn là “Mẹ Âu Cơ”, còn là “Vua Hùng”, là người sinh ra các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam

“Thờ” là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là tình cảm biết ơn, tưởng nhớ, hướng về cội nguồn, quá khứ “Cúng” là yếu tố mang tính nghi lễ, là sự thực hành một loạt động tác (khấn, vái, quì, lạy) của người gia trưởng, tộc trưởng Đó là hoạt động dưới dạng hành lễ và được qui định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc “Thờ” và “cúng” là hai yếu tố có tác động qua lại và tạo nên chỉnh thể riêng biệt - đó là sự thờ phụng tổ tiên

Thời gian cúng giỗ là những ngày húy kỵ của tổ tiên, những ngày lễ, tết trong năm Ngoài ra, việc cúng giỗ tổ tiên cũng được tổ chức vào những ngày trong gia đình có sự kiện quan trọng như lấy vợ, làm nhà, tậu trâu, thi cử, đi xa, nhà có người

ốm đau

Đồ lễ trên bàn thờ cũng không quy định chặt chẽ lắm, tùy tâm nhưng điều cơ bản phải là những thứ thanh khiết và được dành riêng Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt ở trên cao, tại nơi trang trọng nhất trong nhà

Các tôn giáo ngoại lai, để tồn tại được ở Việt Nam, đã buộc phải dung hòa với thứ tín ngưỡng bản địa cắm rễ sâu trong tâm thức người Việt - thờ cúng tổ tiên Còn các tôn giáo xuất hiện nội sinh trong nước như Cao Đài, Hòa Hảo ở miền Nam cũng

đã biết dựa trên cơ sở của đạo thờ cúng ông bà để tồn tại và phát triển

Truyền thống thờ cúng tổ tiên cũng là một yếu tố làm chất xúc tác để cho tính cộng đồng, tính dân tộc thêm bền chặt Nhờ đó mà người Việt Nam thêm đoàn kết, nhất là những lúc đất nước gặp nguy hiểm, họ sẵn sàng đoàn kết nhau lại trở thành một khối với sức mạnh to lớn Vì vậy, kẻ thù dù nguy hiểm đến đâu cũng bị đánh bại Giai cấp phong kiến phương Bắc sau hơn ngàn năm đô hộ nhưng không thể đồng hoá được nhân dân Việt Nam Truyền thống thờ cúng tổ tiên là một nét đặc trưng của người Việt

2.1.2 Quá trình dung thông của Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Cũng như hầu hết các nước Châu Á, Việt Nam có nhiều loại tín ngưỡng truyền thống, tuy không có một tổ chức quy củ, nhưng vẫn tồn tại như một tục lệ, một thói quen; Chính vì thế, khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, ít nhiều phải hội nhập một phần những loại tín ngưỡng đó vào đời sống sinh hoạt thờ cúng của tôn giáo mình

Với tinh thần hoà nhi bất đồng còn gọi là Tùy duyên bất biến của mình, Phật giáo

không bị biến chất hay đánh mất tinh túy cơ bản, lý thuyết chủ đạo, để tồn tại và phát triển trên 2.000 năm tại mảnh đất ảnh hưởng nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau

Và một trong những sự hội nhập đó là sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Sự dung thông giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được thể hiện trước hết ở quan điểm về chữ Hiếu Đạo hiếu là cái gốc của mỗi con người Công

Ngày đăng: 08/07/2016, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w