1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những hình thức Vật chất hóa hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương ở trung học phổ thông

12 268 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 398,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới PP dạy học tác phẩm văn chương TPVC hiện nay theo tư tưởng chuyển trung tâm là văn bản văn học và giáo viên GV sang người học đang đòi hỏi nghiên cứu, tìm tòi nhiều hình thức khơ

Trang 1

Những hình thức "Vật chất hóa" hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm

văn chương ở trung học phổ thông

Vũ Thị Hợp

Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)

Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn: GS.NGND Phan Trọng Luận

Năm bảo vệ: 2010

Abstract Trình bày cơ sở lí luận và khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm văn

chương ở Trung học Phổ thông Nghiên cứu những hình thức “vật chất hóa” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương ở Trung học Phổ thông Thiết kế thể nghiệm giáo án dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa theo hướng “vật chất hóa” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn

chương ở Trung học Phổ thông

Keywords Ngữ văn; Phương pháp dạy học; Vật chất hóa

Content

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chiến lược chung của dạy học hiện đại là giải phóng tiềm năng nhằm phát huy tối đa sức sáng tạo của học sinh(HS) Chính vì vậy, đổi mới phương pháp (ĐMPP) dạy học trở thành vấn đề nóng bỏng, then chốt của nền giáo dục nước nhà nói chung và môn Ngữ văn nói riêng Đổi mới PP dạy học tác phẩm văn chương (TPVC) hiện nay theo tư tưởng chuyển trung tâm

là văn bản văn học và giáo viên (GV) sang người học đang đòi hỏi nghiên cứu, tìm tòi nhiều hình thức khơi gợi hoạt động tâm lý tiếp nhận của HS Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về ĐMPP dạy học TPVC nhưng vẫn mang tính lí luận, khái quát

Thực tiễn cho thấy nhiều GV còn ngộ nhận về đổi mới, chưa hiểu bản chất hoạt động đích thực, nhầm lẫm giữa hoạt động bên trong và hoạt động bên ngoài của HS trong giờ học TPVC Những biện pháp khơi gợi hoạt động bên trong còn nghèo nàn, chưa đáp ứng được yêu cầu việc trả HS về đúng vị trí, vai trò là bạn đọc sáng tạo của nhà văn thông qua TPVC

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài khẳng định bằng lý luận và thể nghiệm khoa học việc sử dụng những hình thức “vật chất hóa” hoạt động bên trong của HS trong giờ học TPVC chính là con đường đổi mới dạy học theo hướng tích cực: HS là chủ thể quá trình tiếp nhận, là bạn đọc sáng tạo của nhà văn

3 Nhiệm vụ của đề tài

Trang 2

Đề tài có nhiệm vụ góp phần xây dựng thêm những cơ sở lý thuyết và thực nghiệm cho việc nghiên cứu quá trình tiếp nhận TPVC ở nhà trường Đồng thời đề tài cũng đề xuất những hình thức, biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động tiếp nhận của chủ thể HS trong giờ học TPVC ở Trung học Phổ thông (THPT)

4 Giới hạn và đối tượng nghiên cứu

Do giới hạn về điều kiện và thời gian, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động tâm lý bên trong và quá trình chiếm lĩnh TPVC- tác phẩm (TP) tự sự của HS trong giờ học trên lớp dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của GV

5 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng những hình thức “vật chất hóa” hoạt động bên trong của HS trong giờ học TPVC thì giờ học sẽ trở nên sinh động, hấp dẫn; phát huy được tiềm năng sáng tạo của HS đồng thời góp phần hoàn thiện đổi mới PP dạy học TPVC

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp khảo sát việc dạy học tác phẩm văn chương ở THPT

Phương pháp nghiên cứu tài liệu có liê quan đến đề tài và sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá …

Phương pháp thể nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng và minh họa một số đề xuất của luận văn

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm văn chương ở Trung học Phổ thông

Chương 2: Những hình thức “vật chất hóa” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương ở Trung học Phổ thông

Chương 3: Thiết kế thể nghiệm giáo án dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa theo

hướng “vật chất hóa” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương ở Trung học Phổ thông

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TÁC PHẨM

VĂN CHƯƠNG Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Những hiểu biết chung về hoạt động

Hoạt động trong tâm lí học được hiểu là một hệ thống các thao tác hay hành vi ứng xử ít nhiều có ý thức Hoạt động là phương thức tồn tại của cuộc sống, của chủ thể, là sự vận động sinh

ra tâm lý, ý thức, nhân cách

Hoạt động của con người trở thành đối tượng nghiên cứu của tâm lý học trải qua nhiều giai đoạn Trước khi có lý thuyết về hoạt động, Freud, Tolman, Skinner, Watson đã có thuyết hành vi- hành động không có lý tưởng, không có mục đích, không có kế hoạch Đến L.X.Vư gôt xki, ý thức với tư cách là vấn đề của tâm lý học được xem xét trong bối cảnh của hoạt động lao động của con người Hành vi là một phần trong đối tượng của tâm lý học được ngầm hiểu là hoạt động của con người Ý thức cũng thuộc đối tượng của tâm lý học với tư cách là một bộ phận hợp thành của tâm lý học Ý thức có chức năng điều chỉnh đối với hành

vi và cùng với hành vi, ý thức là một mặt của hoạt động Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng, nếu đối tượng chưa được xác định thì hoạt động chưa diễn ra Gắn với phạm vi nghiên cứu của đề tài ta có thể thấy đối tượng hoạt động dạy của GV là HS với tư cách là khách thể, đối tượng hoạt động học của HS là các TPVC cần chiếm lĩnh HS đóng vai trò khách thể khi chịu sự tác động, tổ chức, điều khiển của GV đồng thời đóng vai trò chủ thể trong quá trình chiếm lĩnh tri thức bởi không ai có thể học hộ, học thay các em khi các em không muốn học Học là công việc cá nhân, học là hoạt động của bản thân người học

Trang 3

Vư-gôt-xki cũng cho rằng hoạt động luôn luôn sử dụng công cụ vật chất cũng như tâm lý Hoạt động lao động có mục đích là cội nguồn và tiền ảnh của bản thân hoạt động tâm

lý bởi mọi hoạt động của con người đều có mục đích rõ ràng Mục đích của hoạt động dạy nhằm phát triển HS một cách toàn diện cả về tri thức, kĩ năng và nhân cách Đối với người học, họ sẽ hứng thú hơn, học hiệu quả hơn khi xác định được mục đích học để làm gì Chính

vì vậy trong quá trình dạy học, GV cần chỉ cho HS học điều này có ích gì

Mục đích học tập xuất phát từ động cơ học tập Động cơ học tập của HS được biểu hiện

ra bên ngoài là lòng khao khát hiểu biết, khao khát chiếm lĩnh tri thức và hoàn thiện nhân cách của mình Động cơ học tập không có sẵn, không áp đặt từ bên ngoài mà hình thành dần dần trong quá trình chiếm lĩnh TPVC dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của GV Giáo viên cần giúp

HS hình thành động cơ bên trong bởi động cơ học tập bên ngoài không xuất phát từ nhu cầu nhận thức, khao khát hiểu biết mà từ những yếu tố thi đua, thưởng phạt, đe doạ gây ức chế hoạt động học Động cơ bên trong hình thành từ chính mục đích học tập, nhu cầu hiểu biết của HS

Vư-gôt-xki đã vận dụng phương pháp tiếp cận lịch sử và nguồn gốc xã hội vào nghiên cứu tâm lý người Nghiên cứu tất cả các chức năng tâm lý trong sự vận động tức là trong quá trình hình thành, biến đổi, tác động qua lại với nhau, chuyển hoá từ chức năng này sang thành chức năng kia Bản chất tâm lý người vận hành và phát triển như là các quan hệ

xã hội được chuyển thành các chức năng tâm lý hay nội dung của tâm lý người trong sự phát triển của nó chẳng qua là hiện tượng xã hội được chuyển vào trong, nội tâm hoá và chuyển thành nhân cách

Kế thừa và phát triển lý thuyết hoạt động của Vư-gôt-xki, Rubinxtein cho rằng: Tất cả các đặc điểm tâm lý bên trong của hoạt động hay thao tác về nguyên tắc có thể được biểu hiện ra trong sự diễn biến bên ngoài của hành động Hoạt động bên ngoài là phương tiện để tâm lý thể hiện- là điều kiện cần cho các hiện tượng tâm lý bên trong Các hiện tượng tâm lý bên trong là các mặt, các thành tố của hoạt động, phản ánh những điều kiện trong đó hoạt động được thực hiện Sự qui định lẫn nhau của cái bên ngoài và bên trong như vậy biểu hiện

sự thống nhất giữa hoạt động và ý thức

Trong truyền thống nhận thức luận từ lâu đã phân biệt hoạt động bên trong và hoạt động bên ngoài Hoạt động bên trong được hiểu là hoạt động của tư duy, ý thức Hoạt động bên ngoài là trực quan, vật chất, là những cử động Tuy nhiên việc phân biệt chỉ có tính tương đối theo cách tiếp cận hoạt động Hoạt động bên trong và bên ngoài có quan hệ, tác động qua lại với nhau Lê-on-chiep đã xây dựng lên cấu trúc tâm lí học hoạt động và giải quyết trên thực tế vấn đề giữa ý thức và hoạt động trên cơ sở Vư-gôt-xki và Rubinxtein đặt

ra Đó là nguyên lý chủ đạo của tâm lý học Liên Xô, tâm lý học macxit

1.1.2 Trong dạy học, hoạt động được hiện thực hoá qua các phương pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy học nhằm tạo ra sự tương tác giữa người dạy và người học để đạt mục tiêu giáo dục

1.1.2.1 Phương pháp dạy học

Phương pháp được hiểu một cách chung nhất là con đường, cách thức để đạt được

mục đích Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức phối hợp hoạt động của GV và HS nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập

Có rất nhiều phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại như PP thuyết trình, PP đàm thoại, PP thí nghiệm, PP tình huống, PP project, PP dạy học thông qua thực hành dạy, PP dạy học hợp tác…

Phương pháp dạy học Văn là con đường vạch ra hình thức tồn tại của nội dung So với các môn học khác trong nhà trường, môn Văn là môn học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật cho nên ngoài việc sử dụng những PP dạy học nói chung còn có những phương pháp đặc thù đa dạng để học sinh lĩnh hội tri thức, đạt tới những kĩ năng, đáp ứng sự phát triển về trí tuệ và nhân cách

Trang 4

Trong quá trình dạy học TPVC, GV sử dụng các PP, biện pháp đặc trưng cho môn học này như:

* PP đọc sáng tạo- PP tiếp nhận thế giới hình tượng nghệ thuật một cách sáng tạo qua sự cảm

thụ trực tiếp Biện pháp của PP đọc sáng tạo là đọc diễn cảm Đọc diễn cảm thể hiện mối quan hệ xúc cảm và sự hiểu biết sâu sắc của HS đối với TPVC

* PP gợi mở/ PP nghiên cứu bộ phận/ PP phát kiến- PP này dẫn dắt HS từng bước tham gia,

phát hiện, phân tích, đánh giá từng bộ phận của tác phẩm PP này hỗ trợ cho PP đọc sáng tạo giúp HS mở rộng, đào sâu hoạt động nhận thức Biện pháp của PP này là GV sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở; giao bài tập chuẩn bị trước để học sinh nắm vững TP trong mối quan

hệ so sánh đối chiếu với các TP khác Những biện pháp này sẽ phát triển năng lực cảm thụ

chi tiết và khả năng khái quát hóa cho HS

* PP tái tạo- PP này nhằm tái hiện tri thức có sẵn trong SGK, bài giảng, các bài nghiên cứu,

chuyên luận cần tham khảo Những biện pháp của PP tái tạo như: diễn giảng; thuyết trình; giảng thuật, giảng bình; đọc; ghi bảng; đề xuất câu hỏi có vấn đề và ra bài tập HS thực hiện các biện pháp như tóm tắt bài giảng; tóm tắt luận điểm, luận cứ, luận chứng trong SGK, chuẩn bị bài thuyết trình hoặc tham gia tranh luận

* PP nghiên cứu- PP này là một bước chuyển hóa tự nhiên từ PP gợi mở để đi sâu vào tài liệu

và TPVC, bước đầu hình thành kĩ năng phân tích và cắt nghĩa văn bản văn học Những biện pháp của PP nghiên cứu là: nêu vấn đề kết hợp với cách phân tích tổng hợp những đề tài khác nhau; đàm thoại trao đổi PP nghiên cứu có tác dụng phát triển tư duy của HS ở mức độ cao nhất Vì thế khi vận dụng PP này GV cần có sự chuẩn bị tốt, chú ý tính vừa sức và điều kiện thực tế của HS, tránh hiện tượng quá tải

* PP nêu vấn đề- PP tạo ra một hệ thống tình huống có vấn đề được đặt ra gắn liền với

nhau.Tình huống có vấn đề sẽ lôi cuốn HS vào quá trình tư duy Biện pháp xây dựng tình huống có vấn đề trong PP này là xây dựng được hệ thống câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi này có tính chất phức tạp về nội dung, nó gợi lên những mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái chưa biết, giữa cái cũ và cái mới

* PP giảng bình- PP có tính đặc thù của dạy học TPVC- một hoạt động nghệ thuật phức tạp

và tế nhị Biện pháp của PP giảng bình là kết hợp nhuần nhuyễn giữa giảng và bình

1.1.2.2 Kỹ thuật dạy học

Kỹ thuật dạy học là những tình huống hành động tương đối ngắn của GV và HS nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học

Các kĩ thuật dạy học:

* Kỹ thuật lược đồ tư duy

Trình bày cấu trúc tư duy cá nhân được rõ ràng trên giấy hoặc máy tính Sử dụng kỹ thuật này trong việc tổng kết hệ thống hóa kiến thức giúp cho HS nhớ bài học một cách hệ

thống

* Kỹ thuật công não

Đây là kỹ thuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trưng bằng cách góp nhặt tất cả các ý kiến của nhóm người đó nảy sinh trong cùng một thời gian Kỹ thuật này nhằm phát huy tối đa sự liên tưởng, khả năng giải quyết trước một vấn đề của mỗi HS

Công não và lược đồ tư duy có mối quan hệ khá mật thiết Công não cung cấp ý tưởng cho sơ đồ tư duy; sơ đồ tư duy mô hình hóa, hệ thống hóa ý tưởng

* Kỹ thuật tham vấn bằng phiếu

Tham vấn bằng phiếu sẽ giúp thu thập những ý kiến về những câu hỏi còn bỏ ngỏ, giúp HS nhận biết, vấn đề cũng như sắp xếp và trực quan hóa kết quả HS sẽ viết những suy nghĩ của mình dưới dạng cụm từ ngắn gọn lên những miếng phiếu sau đó ghim lên bảng mềm

* Kỹ thuật phòng tranh

Trang 5

Kỹ thuật phòng tranh giúp thu thập, phát triển ý tưởng, chủ kiến về một chủ đề, một nội dung quan tâm của một nhóm người

* Kỹ thuật bể cá

Học sinh được chia thành hai nhóm: nhóm cá và nhóm quan sát

Nhóm các hoạt động ở giữa lớp thực hiện một nhiệm vụ học tập nào đó của GV Nhóm quan sát ngồi quan sát nhóm cá hoạt động, ghi chép để trao đổi lại Kỹ thuật bể cá giúp học sinh phát triển về kĩ năng giao tiếp; kỹ năng truyền thông; kỹ năng điều hành cuộc họp…

* Kỹ thuật 365

Kỹ thuật này nhằm phát huy tối đa hoạt động tư duy, sáng tạo của học sinh trong việc

đề xuất ý kiến trước một vấn đề đặt ra, giúp các em có cái nhìn toàn diện khi thực hiện

* Kỹ thuật thông tin phản hồi

Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học là GV và HS cùng nhận xét, đánh giá, đưa

ra ý kiến đối với những yếu tố cụ thể có thể ảnh hưởng tới quá trình học tập với mục đích: điều chỉnh, hợp lý hóa quá trình dạy học; tạo sự cảm thông chia sẻ, cụ thể và kịp thời đáp ứng

sự mong đợi của mọi người; cố gắng hiểu được những suy tư, tình cảm, diễn đạt ý một cách đơn giản và có trình tự, cùng thảo luận khách quan; có kiểm soát, có thể biến thành hành

động, tìm hiểu các vấn đề cũng như nguyên nhân của chúng … Phản hồi xử lý tình huống

bằng kỹ thuật ‘tia chớp”

Kỹ thuật “tia chớp” là một kỹ thuật lấy thông tin phản hồi nhanh để xử lý tình huống nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí trầm lặng

Tóm lại, hoạt động trong dạy học là việc hiện thực hóa các phương pháp, biện pháp

và các hình thức tổ chức hoạt động của HS Mỗi phương pháp, biện pháp, kỹ thuật dạy học đều có tính chất tương đối Tất cả những vấn đề trên cần kết hợp, vận dụng linh hoạt làm đa dạng hóa các hoạt động của HS tất cả nhằm mục đích “GV dạy ít mà HS học được nhiều và làm cho nhà trường bớt nhàm chán và bớt sự nhọc nhằn” Comeski

1.1.3 “Vật chất hoá” là cụ thể hoá những cái vốn trừu tượng, vô hình qua các hình thức

cụ thể thông qua sản phẩm ta có thể nhìn, nghe

Thế giới bên trong của con người- cảm xúc, suy nghĩ, tâm hồn- vốn trừu tượng.“Vật chất hoá” hoạt động bên trong là việc sử dụng các phương pháp, biện pháp, kỹ thuật để những suy nghĩ, cảm xúc được biểu hiện ra bên ngoài một cách cụ thể qua các sản phẩm học tập Nói một cách khái quát “vật chất hoá” hoạt động bên trong là việc sử dụng nhiều hình

thức dạy học khác nhau để đánh thức tiềm năng của học sinh Trong giờ học TPVC, “vật chất

hoá” hoạt động bên trong của HS chính là GV sử dụng các biện pháp thao tác, cách thức, các

kĩ thuật dạy học để thúc đẩy quá trình tâm lý nhận thức TPVC của HS trong giờ học HS đóng vai trò chủ thể trong quá trình chiếm lĩnh TPVC dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của GV thông qua các sản phẩm học tập Sản phẩm đó có thể là bài làm của học sinh, cách đọc một đoạn văn, thơ, vẽ tranh, đóng kịch, ý kiến khi tranh luận, lời bình giảng, hoàn thành một bài tập giáo viên giao

“Vật chất hoá” hoạt động bên trong của học sinh trong giờ học tác phẩm văn chương

có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi GV Ngữ văn Nó góp phần giải quyết những băn khoăn, trăn trở của GV Ngữ văn trước yêu cầu của xã hội và xu hướng dạy học hiện đại- giải phóng tiềm năng sáng tạo của HS và đã thay đổi hệ hình trong dạy học

1.1.4 Hoạt động bên trong trong giờ học TPVC là quá trình tiếp nhận tác phẩm của HS với tư cách một bạn đọc sáng tạo

Tác phẩm văn chương là đưá con tinh thần, là hiện thực được nhìn qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ Đây là tác phẩm nghệ thuật bằng ngôn từ, mang tính phi vật thể Để có được hiểu biết, cảm nhận, rung động với những điều nhà văn gửi gắm trong TP người đọc phải thâm nhập vào thế giới ấy Yếu tố hình thức đầu tiên của bất kỳ một TPVC là ngôn từ Bước đầu tiên thâm nhập vào thế giới nghệ thuật ấy là tri giác ngôn ngữ để làm sống dậy những kí hiệu

Trang 6

chết, khô cứng, câm lặng Tri giác thông qua hoạt động đọc Đọc cho ra giọng điệu, thái độ của người nghệ sĩ trước đối tượng được phản ánh và đọc được mạch ngầm của văn bản Tri giác ngôn ngữ là bước cơ sở đầu tiên, quan trọng trong việc chiếm lĩnh văn bản Nếu không có hoạt động tri giác ngôn ngữ cũng sẽ không có các hoạt động tiếp theo

Muốn thế giới nghệ thuật bằng ngôn từ hiện lên trong trí não thì người đọc phải tái hiện bằng hình dung, tưởng tượng nhưng để chuyển thế giới nghệ thuật của tác phẩm vào thế giới tâm linh người đọc cần có liên tưởng Liên tưởng phụ thuộc vào vốn sống của mỗi cá nhân Chính vì thế, GV không liên tưởng thay HS nhưng cần có sự định hướng để tránh những suy diễn tản mạn, lung tung Khi đã tái tạo được thế giới hình tượng, bạn đọc đi vào hoạt động phân tích tác phẩm

Trong và sau khi phân tích GV yêu cầu HS đưa ra nhận xét, đánh giá của mình về tác phẩm Nhìn chung việc đánh giá bao giờ cũng có tính chủ quan thiên vị bởi mỗi bạn đọc có một thế giới tâm hồn với trình độ cảm thụ, vốn sống, nhu cầu, sở thích khác nhau nhưng với

HS đánh giá sẽ nâng tầm hiểu biết, cách nhìn rộng hơn, khái quát hơn về TP

Hoạt động tự bộc lộ có quan hệ chặt chẽ, thừa hưởng kết quả và tác động vào nhau đối với các hoạt động đã trình bày ở trên Hoạt động tự bộc lộ chỉ diễn ra khi HS có nhu cầu bộc lộ, khi đã thực hiện một hành động học tập và đã có sản phẩm ở trong đầu Tự bộc lộ là hình thức công khai hoá sản phẩm, là báo cáo kết quả hành động với tập thể lớp, với thầy cô Có hoạt động này việc chiếm lĩnh TPVC mới đạt hiệu quả, mới đi đến đích của nó

Tóm lại, các bước thâm nhập chiếm lĩnh TPVC rất linh hoạt, GV cần nắm được quy trình để “vật chất hóa” hoạt động bên trong của HS

1.2 Phần khảo sát

1.2.1 Đối tượng khảo sát

Người viết tiến hành khảo sát giáo án, dự giờ dạy và học TPVC theo chương trình cơ bản (THPT) ở hai trường thuộc địa bàn Hải Phòng do các GV ở nhiều lứa tuổi thực hiện

1.2.2 Một vài số liệu rút ra từ khảo sát

Tỉ lệ thời gian GV sử dụng trong giờ học trung bình 84,3%

Tỉ lệ thời gian HS hoạt động trong giờ học trung bình 15,7%

Số lượng câu hỏi GV sử dụng trong mỗi tiết học trung bình từ 5 đến 6 câu

1.2.3 Một vài kết luận rút ra từ khảo sát

* Giáo án và hoạt động giảng dạy của GV

Về giáo án:

Khảo sát giáo án của GV, có thể thấy công việc soạn bài chủ yếu là khám phá thật kĩ, thật sâu về nội dung, hình thức TPVC GVchưa thiết kế để tổ chức các hoạt động để HS chiếm lĩnh tác phẩm với tư cách một bạn đọc sáng tạo Thiết kế giáo án của GV thực chất là

đề cương nội dung bài giảng cần truyền đạt, mới chỉ dừng lại ở việc thiết kế hoạt động của thầy chứ không phải thiết kế hoạt động của trò

Về hoạt động giảng dạy của GV:

Trong giờ học, GV làm việc nhiều: ghi bảng, đọc, bình, phát vấn HS chiếm đa số quỹ thời gian (chiếm hơn 80%).GV không tổ chức được các hình thức hoạt động để các em tự chiếm lĩnh TP, không để các em có cơ hội bộc lộ vì sợ hết giờ, sợ bài giảng không sâu Vai trò người dẫn dắt, tổ chức, điều khiển, trọng tài của GV không phát huy

Các phương pháp, phương tiện sử dụng trong giờ học:

Phương pháp thuyết trình được sử dụng phổ biến, chiếm ưu thế trong giờ học được khảo

sát nói riêng và của các giờ dạy TPVC hiện nay nói chung

Phương pháp vấn đáp được sử dụng nhiều nhưng mang tính chiếu lệ, hình thức Qua

khảo sát giáo án và dự giờ ta có thể thấy câu hỏi GV đặt ra vụn vặt, tuỳ hứng chủ yếu là câu hỏi tái hiện kiến thức có sẵn trong SGK

Trang 7

Công nghệ thông tin và kĩ thuật dạy học hiện đại đã được ứng dụng vào dạy học

TPVC nhưng chưa thực sự phát huy được sức mạnh của nó, chủ yếu vẫn là trình chiếu GV

áp dụng một cách máy móc các PP, các kĩ thuật dạy học hiện đại

* Hoạt động của HS

Với cách dạy như trên, HS không trở thành chủ thể của hoạt động học mà trở thành khách thể thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào GV Qua thực tế dự giờ, mượn vở ghi trên lớp,

vở soạn bài của HS chúng tôi thấy:

Hoạt động chuẩn bị bài trước khi đến lớp của HS

Hoạt động chuẩn bị bài trước khi đến lớp của HS chưa thực sự có tác dụng cho giờ học trên lớp Vì GV không hướng dẫn HS sau tiết học nên các em chỉ chuẩn bị bài ở nhà cho tiết học tiếp theo một cách hình thức, chiếu lệ như tìm sách tham khảo (sách để học tốt) để chép những câu trả lời có sẵn vào vở soạn trong khi vai trò của khâu này rất quan trọng cho giờ học trên lớp Nó tạo cho HS một tâm thế sẵn sàng học tập, tìm tòi khám phá, thâm nhập

vào tác phẩm

Hoạt động trên lớp của HS

Qua quan sát, chúng tôi thấy hoạt động chủ yếu của HS là lắng nghe và ghi ghép những lời

giảng của GV Có HS ghi được nhiều nhưng cũng có em chỉ ghi tên bài, đề mục trên bảng Có lớp HS trật tự ngồi nghe vì GV có giọng giảng hay còn không các em làm việc riêng, quay bút, nói chuyện Trong các giờ học, hoạt động xung phong phát biểu của HS rất ít Câu hỏi đặt ra có lớp không một cánh tay giơ lên, có lớp chỉ quanh đi quẩn lại 2 đến 3 em Đa số GV phải chỉ định HS Học sinh miễn cưỡng đứng dậy, trả lời qua loa, thiếu trách nhiệm với chính suy nghĩ, quan điểm của bản thân Các hoạt động của HS trong giờ học TPVC còn quá nghèo nàn ngoài việc đọc văn bản, trả lời câu hỏi, thỉnh thoảng có hoạt động nhóm nhưng chiếu lệ, hình thức Không khí lớp học căng thẳng, mệt mỏi, thiếu dân chủ

Từ cơ sở lí luận và khảo sát thực tiễn trên, chúng tôi thấy rất cần thiết đề xuất những hình thức “vật chất hóa” hoạt động bên trong của HS trong giờ học TPVC

Chương 2: NHỮNG HÌNH THỨC “VẬT CHẤT HOÁ” HOẠT ĐỘNG BÊN TRONG

CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC TPVC (TÁC PHẨM TỰ SỰ)

2.1 Hướng dẫn học sinh hoạt động đọc trong giờ học TPVC( tác phẩm tự sự)

Đây là hoạt động không thể thiếu cho một giờ học TPVC

Cách thức thực hiện

* GV yêu cầu HS tìm giọng đọc phù hợp với văn bản, đoạn văn

* GV gọi HS khác nhận xét cách đọc của bạn và yêu cầu HS thể hiện cụ thể theo cách của mình

“Vật chất hoá” hoạt động chiếm lĩnh tác phẩm của HS với tư cách bạn đọc sáng tạo qua hoạt động đọc cũng là một hình thức tiêu biểu nhưng chưa đủ, GV mới chỉ cảm nhận sự

di chuyển thế giới hình tượng vào trong đầu học sinh qua giọng đọc, ngữ điệu đọc và tình cảm trong khi đọc mà còn phải kết hợp với nhiều hình thức hoạt động khác

2.2 Hướng dẫn học sinh hoạt động tái tạo thế giới hình tượng trong giờ học TP tự sự

Tái tạo là hoạt động nhận thức nhưng nội dung nhận thức không có sẵn cho nên hoạt động này phải làm hai việc đồng thời là vừa đi tìm nội dung để nhận thức vừa chuyển nội dung đó đi vào nhận thức của mỗi HS Hoạt động này di chuyển bức tranh về thế giới hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm vào tâm trí HS, rèn luyện khả năng văn học cho HS trong quá trình thực hiện hoạt động tái tạo

Nhiệm vụ trong hoạt động tái tạo đối với tác phẩm tự sự HS cần thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV là:

Thứ nhất: hướng dẫn học sinh tái tạo nhân vật bằng cách:

* Xác định nhân vật chính trong tác phẩm và kể lại về nhân vật

* Lập sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các nhân vật trong tác phẩm

Trang 8

* Gợi ý HS trả lời các câu hỏi về nhân vật:

Thứ hai: hướng dẫn HS tái tạo đoạn miêu tả bằng hình thức vấn đáp

Thứ ba: hướng dẫn HS tái tạo lời đối thoại, thống kê số lượng lời thoại và nêu ý nghĩa của

Thứ tư: hướng dẫn HS tái tạo đoạn kể bằng cách:

* Yêu cầu HS đặt tên cho từng phần của truyện

* Yêu cầu HS sắp xếp lại các sự kiện, chi tiết xảy ra theo thứ tự thời gian rồi kể lại

* Yêu cầu HS bổ sung các chi tiết sự việc còn thiếu trong cốt truyện: * Yêu cầu HS tóm tắt tác phẩm, đoạn trích, đoạn kể…

* Giáo viên cho HS xem phim, kịch, hoạt cảnh dựng lại tác phẩm rồi so sánh, chỉ ra chỗ khác thể hiện sự sáng tạo, bổ sung thêm của các loại hình nghệ thuật so với đoạn kể trong tác

phẩm Hoặc cho học sinh đóng vai nhân vật trong TP

2.3 Hướng dẫn HS hoạt động phân tích trong giờ học TPVC- TP tự sự

Đối tượng của hoạt động phân tích TP tự sự nói chung và TP truyện nói riêng khá phong phú song trong phạm vi nhỏ của đề tài, tác giả luận văn chỉ đề cập tới đối tượng tiêu biểu cho hoạt động phân tích như phân tích nhân vật, lời kể, kết cấu…trong TP tự sự:

* Phân tích nhân vật :

Một số hình thức phân tích nhân vật trong TP tự sự: hình thức thảo luận nhóm, so sánh, thực hiện các phiếu học tập GV giao hoặc hình thức phát vấn Các thao tác thực hiện:

- Sắp xếp chi tiết, bổ sung những nét khuất, khoảng trống nhà văn chưa nói hết, hình dung tưởng tượng, tái tạo bức tranh về nhân vật GV yêu cầu HS điền thông tin vào phiếu học tập

- Mô hình hoá con đường phát triển của nhân vật theo mạch thời gian, khoảng không gian, các sự kiện, các mối quan hệ của nhân vật qua hình thức sử dụng sơ đồ, sắp xếp lại các chi tiết sự kiện cho phù hợp mạch phát triển của cốt truyện hoặc bổ sung sự kiện còn thiếu của tác phẩm

- Suy luận phán đoán, khám phá, phát hiện bản chất nhân vật qua hình thức vấn đáp hoặc tổ chức cho HS thảo luận

- Giả định những tình huống khác, giải pháp khác, quan hệ khác để nhân vật bộc lộ và dự đoán những khả năng xảy ra với nhân vật

- Dự đoán ý nghĩ, tâm trạng của nhân vật từ hành động và lời nói của nhân vật, dự đoán hành động sẽ diễn ra từ thái độ, tình cảm, tâm trạng của nhân vật, dự đoán lời sẽ nói ra từ ý nghĩ của nhân vật Dự đoán nhằm phát huy sự liên tưởng, đồng sáng tạo của bạn đọc qua hình thức phát vấn hoặc thảo luận

- Liên tưởng từ nhân vật này tới nhân vật khác, tới bài học, lời khuyên, tới triết lý cuộc sống

* Phân tích lời kể:

Phân tích lời kể là đi tìm những thông tin nghệ thuật tiềm ẩn trong văn bản, giải mã văn bản đảm bảo cho quá trình cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm có cơ sở khoa học, tránh suy diễn ngộ nhận Lời kể thuộc phạm trù hình thức của tác phẩm, thể hiện giá trị nghệ thuật của tác phẩm Khi phân tích lời kể, cần chú ý đến cách sử dụng ngôn từ của nhà văn, hình ảnh, cách

tổ chức lời kể, vai kể, thời gian kể Lời kể bao giờ cũng gắn với hoàn cảnh kể, môi trường kể

và chủ thể của lời kể Chủ thể lại gắn với tư cách, chỗ đứng, điểm nhìn, tầm nhìn, thái độ, tình cảm, tâm trạng Những yếu tố này sẽ quyết định giọng điệu kể, nhịp kể, mục đích kể và

hệ thống ngôn từ khi kể

Những hình thức phân tích lời kể:

* GV hướng dẫn HS nhận diện trên văn bản nhân vật người kể chuyện

* GV hướng dẫn HS mô hình hóa các mối quan hệ do các vai kể quy định

* GV tổ chức cho HS biết đặt mình vào những quan hệ giao tiếp phù hợp với vai người kể

“Vật chất hóa” hoạt động phân tích lời kể của HS trong giờ học TPVC là để biết được các câu chữ khô cứng kia đã được HS thổi linh hồn bằng sự trải nghiệm, bằng hiểu biết của

Trang 9

mình để giải mã văn bản nhận ra bao điều sâu xa mà nhà văn muốn phản ánh và gửi gắm tới bạn đọc

* Phân tích kết cấu tác phẩm truyện

Kết cấu được hiểu là sự tổ chức tác phẩm từ những đoạn, phần khác nhau nối kết thành một văn bản chặt chẽ, hợp lý và có giá trị nghệ thuật Phân tích kết cấu là phân tích cách tổ chức tác phẩm đi đến đánh giá vai trò, giá trị đóng góp của kết cấu đối với tư tưởng tác phẩm và giá trị toàn vẹn của tác phẩm

Cách thức thực hiện:

- “Vật chất hóa” phân tích kết cấu tác phẩm truyện bằng cách cho HS nhận diện kết cấu tác phẩm từ những hệ thống nhỏ như ngôn từ văn bản, hệ thống nhân vật, hệ thống chi tiết sự

kiện, hệ thống xung đột biến cố, mâu thuẫn, hệ thống không gian và thời gian

- Tổ chức cho HS nhận diện về hệ thống nhân vật của tác phẩm qua yêu cầu thống kê các nhân vật trong tác phẩm? Nhân vật chính là ai? Chọn họ làm nhân vật chính có ý nghĩa như thế nào trong việc góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm? điểm giống nhau của các nhân vật trong truyện là gì? bối cảnh chung của truyện (không gian, thời gian)? Tìm chi tiết được nhà văn khắc họa nhiều nhất và nêu ý nghĩa của những chi tiết đó trong tác phẩm

-“Vật chất hóa” phân tích kết cấu của tác phẩm truyện bằng cách cho HS phát hiện sự sắp xếp, tổ chức các yếu tố trong mỗi hệ thống nhỏ, đánh giá tính hợp lý, logic, giá trị nghệ thuật, khả năng tổ chức kết cấu tác phẩm của nhà văn, sự đóng góp của kết cấu làm nổi rõ tư tưởng của tác phẩm và tài năng, phong cách riêng của mỗi nhà văn

2.4 Hướng dẫn học sinh hoạt động đánh giá trong giờ học TPVC- tác phẩm tự sự

Đánh giá là khẳng định giá trị nhiều mặt của tác phẩm trong quá trình trong và sau khi phân tích Giá trị đó bao gồm giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, đóng góp của nhà văn, bài học cho cuộc sống hôm nay

Cách thức thực hiện:

- “Vật chất hóa” hoạt động đánh giá của HS trong giờ học TPVC bằng hành động phát ngôn của chủ thể HS Hình thức của hoạt động phát ngôn có thể là tạo tình huống có vấn đề

để HS tranh luận bởi thông qua tranh luận HS cũng đã thể hiện nhận thức, thái độ, tình cảm thông qua phát ngôn

-“Vật chất hóa” hoạt động đánh giá qua hình thức giảng bình Đây là hình thức khá phổ biến, đặc thù và truyền thống của giờ học TPVC

2.5 Hướng dẫn học sinh hoạt động tự bộc lộ trong giờ học TPVC- tác phẩm tự sự

Hoạt động tự bộc lộ của HS diễn ra khi và chỉ khi HS đã thực hiện một hành động học tập và đã có sản phẩm trong đầu Mỗi chủ thể HS nói lên ấn tượng của mình về tác phẩm và trình bày kết quả tiếp nhận, kết quả tái tạo thế giới hình tượng của mình về tác phẩm

Cách thức thực hiện:

Để HS tự bộc lộ trong quá trình chiếm lĩnh TP, GV sử dụng nhiều hình thức dạy học như: đọc diễn cảm; bình giảng; nêu suy nghĩ quan điểm về một vấn đề nào đó trong tác phẩm; đóng vai; vẽ tranh; thực hiện các nhiệm vụ học tập qua các kỹ thuật như tham vấn bằng phiếu, kỹ thuật 635, các phiếu bài tập GV giao…Mục đích của việc tổ chức hoạt động này cho HS là để GV nắm được mức độ am hiểu về tri thức, thành thục về kĩ năng trình bày

và diễn đạt, sự tinh tế nhạy cảm trong tâm hồn của HS

Chương 3: THỂ NGHIỆM BÀI DẠY THEO HƯỚNG “VẬT CHẤT HÓA” HOẠT ĐỘNG BÊN TRONG CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC TÁC PHẨM TỰ SỰ:

CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA (Nguyễn Minh Châu-Ngữ văn 12)

3.1 Tình hình dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

3.1.1 Khảo sát, đánh giá tình hình dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm mới đưa vào chương trình trong mấy năm gần đây

Qua khảo sát thực tế dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa ở một số trường THPT ở địa

Trang 10

bàn Hải Phòng (cụ thể là trường THPT An Dương, THPT Trần Nguyên Hãn) bằng hình thức

dự giờ, thăm dò ý kiến của GV và HS, tham khảo giáo án, chúng tôi nhận thấy như sau:

Về giáo án, đa số GV đã thể hiện được những kiến thức cơ bản của bài học nhưng là nội dung mà GV truyền đạt, chưa cụ thể hóa những hoạt động của thầy và trò trong việc hướng dẫn, tổ chức tìm tòi chiếm lĩnh TP cho HS Trong giờ học, GV thuyết giảng là chính,

ít tổ chức các hình thức dạy học để HS hoạt động như: thảo luận nhóm, đóng vai, bình giảng,

kể lại cảnh, đoạn văn nào đó Do PP và các hình thức tổ chức dạy học mà GV tiến hành như vậy nên hoạt động bên trong của HS chưa thực sự diễn ra Từ thực tế trên, tác giả luận văn

tiến hành thiết kế thử nghiệm giáo án dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa theo

hướng “vật chất hóa” hoạt động bên trong của HS trong giờ học theo quan điểm HS là bạn đọc sáng tạo

3.1.2 Những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành dạy học TP Chiếc thuyền ngoài xa

3.1.2.1 Thuận lợi

- Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã được HS biết đến trong một đoạn trích truyện ngắn Bến quê

(Ngữ văn 9-tập 2) tạo bước đệm về tâm lý, về nhận thức của HS đối với văn phong của ông

- Tác phẩm có nhiều bất ngờ cần khám phá Đây là điều kiện rất thuận lợi để GV tổ chức các hình thức dạy học khác nhau tạo nên tính hấp dẫn của giờ học Sự việc diễn ra trong tác phẩm rất gần với cuộc sống đời thường nên HS sẽ cảm thấy quen thuộc gần gũi khi khám phá ra nhiều điều trong cái quen thuộc bình dị ấy

3.1.2.2 Khó khăn

- Xuất phát từ đặc trưng thể loại truyện ngắn, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa ẩn chứa một

lượng thông tin đa nghĩa đa tầng không dễ khám phá Việc lựa chọn trúng, đúng vấn đề cơ bản để hướng dẫn HS chiếm lĩnh không phải là điều dễ dàng Hơn nữa đây là TP “mới tinh” đối với GV và HS trong quá trình tiếp cận, chiếm lĩnh

- Tác phẩm mới đưa vào chương trình, những bài nghiên cứu, phê bình, những ý kiến đánh giá về tác phẩm chưa nhiều dẫn đến nguồn tư liệu tham khảo cho GV và HS còn hạn chế trong quá trình tiếp nhận

3.2 Thiết kế giáo án dạy học TP Chiếc thuyền ngoài xa (trong luận văn từ trang 70 đến trang 90)

3.3 Giờ dạy thể nghiệm

3.3.1 Việc thể nghiệm thiết kế

Thiết kế bài học TP Chiếc thuyền ngoài xa, chúng tôi đã tiến hành thể nghiệm đối

với lớp 12A3, 12A7 trường THPT An Dương - Hải Phòng vào tháng 3 năm 2010

Trong quá trình tổ chức dạy học, chúng tôi đã tuân thủ những bước, những thao tác đã được chuẩn bị trong thiết kế bằng những PP thích hợp nhằm phát huy tiềm năng sáng tạo của

HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức Do điều kiện không cho phép, chúng tôi chỉ tiến hành thể nghiệm với mục đích kiểm chứng và minh 8họa cho một phương thức học tập theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS trong giờ học TPVC (phạm vi tác phẩm tự sự)

3.3.2 Kết quả thể nghiệm

Sau khi dạy thể nghiệm, chúng tôi đưa ra câu hỏi để kiểm tra kết quả học tập của HS (87,5% đạt yêu cầu; 12,5 % không đạt yêu cầu)

3.3.3 Đánh giá giờ dạy thể nghiệm

Sau khi tiến hành dạy thể nghiệm, kiểm tra kết quả học tập của HS, chúng tôi sơ bộ đánh giá như sau:

-Trong giờ học, HS tập trung chú ý tìm hiểu, chiếm lĩnh TP, không bị phân tán bởi những hoạt động khác HS trong lớp không ai bị đứng ngoài văn bản trước các hình thức tổ chức hoạt động của GV

- Học sinh tích cực suy nghĩ, trả lời, thực hiện những nhiệm vụ học tập GV đề ra Các em không còn thụ động ghi chép, hoạt động bên trong diễn ra thực sự

Ngày đăng: 08/07/2016, 17:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w