Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến phương pháp dạy học (PPDH) kịch bản văn học trong trường trung học phổ thông (THPT) theo đặc trưng loại thể. Đề xuất những PPDH kịch bản văn học trong trường THPT. Hiện thực hóa các PPDH kịch bản văn học bằng hệ thống hoạt động tổ chức dạy học. Thiết kế giáo án thể nghiệm. Kiểm chứng về mức độ đạt được khi áp dụng những PPDH kịch bản văn học theo đặc trưng loại thể qua thực ngh
Trang 1Phương pháp dạy học kịch bản văn học trong trường trung học phổ thông theo đặc
trưng loại thể Nguyễn Thị Ngọc Hà
Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Mã số 60 14 10 Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Khánh Thành
Năm bảo vệ: 2010
Abstract Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến phương pháp dạy học
(PPDH) kịch bản văn học trong trường trung học phổ thông (THPT) theo đặc trưng loại thể Đề xuất những PPDH kịch bản văn học trong trường THPT Hiện thực hóa các PPDH kịch bản văn học bằng hệ thống hoạt động tổ chức dạy học Thiết kế giáo
án thể nghiệm Kiểm chứng về mức độ đạt được khi áp dụng những PPDH kịch bản
văn học theo đặc trưng loại thể qua thực nghiệm giảng dạy
Keywords Phương pháp giảng dạy; Ngữ văn; Phổ thông trung học; Kịch bản
Content
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trước yêu cầu cấp bách của giáo dục ở bậc THPT trong hệ thống giáo dục phổ thông ở
nước ta hiện nay nhằm vươn tới, đuổi kịp và hoà nhập với xu thế phát triển giáo dục trung học trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực, vấn đề đổi mới PPDH đã trở thành một đòi hỏi bức thiết, không thể trì hoãn Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định tại Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (01/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996), được thể
chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt Chỉ thị số 14 (4/1999)
Trang 2Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [34, tr 8]; Chương trình giáo dục phổ thông ban hành
kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
Đào tạo cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” [34, tr 8]
Dưới ánh sáng của lý luận dạy học hiện đại, PPDH ngày càng tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học Cuộc cách mạng về PPDH đòi hỏi phải chuyển dần từ PPDH truyền thống theo kiểu thông báo, giải thích, minh hoạ, - truyền thông tin sang PPDH tích cực: tổ chức, điều khiển quá trình tìm tòi, phát hiện, chiếm lĩnh thông tin khoa học
PPDH với ý nghĩa đó phải nhằm phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập của người học Có như vậy họ mới hứng thú, say mê học tập một cách thông minh, đạt chất lượng và hiệu quả cao Muốn làm được điều này, chính nhà giáo phải là người có kiến thức rộng, có năng lực sáng tạo trong công việc, đặc biệt là trong công tác giáo dục, giảng dạy
Không ai phủ nhận tầm quan trọng, ý nghĩa và tính cấp bách của việc đổi mới PPDH Phương pháp sở dĩ tồn tại trong lịch sử lý luận và trong thực tiễn cuộc sống vì nó vừa là công
cụ, vừa là động lực của sự sáng tạo ra cái mới nhưng để biến nó thành hiện thực không phải là chuyện có thể hoàn thành trong một sớm một chiều Bởi một chủ trương mới dù tiến bộ đến đâu, khi đi vào thực tế cũng vấp phải những khó khăn
1.2 Trong những năm gần đây cùng với việc đổi mới PPDH của các bộ môn khác trong nhà
trường phổ thông, bộ môn Ngữ văn đã có nhiều chuyển biến tích cực song thực tế vẫn còn tồn tại Trong thực tiễn giảng dạy của thầy vẫn còn hiện tượng: Thầy truyền thụ kiến thức, trò nghe và ghi chép Bên cạnh đó có những giáo viên đã ý thức được tầm quan trọng và vận dụng được phương pháp dạy học hiện đại vào quá trình giảng dạy, tuy nhiên còn mang tính thử nghiệm vì thế tính hiệu quả chưa cao Về thực trạng hoạt động của trò tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động: Nghe - ghi chép và nhắc lại những điều thầy nói chứ không chịu tư duy, độc lập suy nghĩ khám phá cái hay cái đẹp về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn chương
Trang 3qua dẫn dắt của người thầy vì thế dẫn tới hiện tượng “cảm thụ lại” ở học sinh và còn nhiều học sinh phụ thuộc hoàn toàn vào tài liệu tham khảo Ngay cả khi giáo viên đưa ra những tình huống có vấn đề để người học tìm tòi tự khám phá, lĩnh hội tri thức thì cũng chỉ nhận lại những ánh mắt “vô cảm” nơi các em Hoặc những vấn đề cần thảo luận học sinh làm việc theo nhóm, nói lên suy nghĩ, cách nhìn nhận của mình về vấn đề, rồi từ đó khái quát vấn đề - một phương pháp học tập rất tích cực nhưng chỉ một số rất ít học sinh là thực sự làm việc, hoạt động nhóm số còn lại đều có tâm lý và hành động ỷ vào những người trong nhóm, tham gia một cách chiếu lệ, thậm chí có những em không tham gia
Xuất phát từ yêu cầu của chiến lược phát triển con người và những đòi hỏi bức bách của công cuộc cải cách giáo dục ở nước ta, đặc biệt là đối với bộ môn Ngữ văn, Cố thủ tướng
Phạm Văn Đồng từng phát biểu: “ Chúng ta phải xem lại cách giảng dạy văn trong nhà
trường phổ thông của ta, không nên dạy như cũ Bởi vì dạy như cũ thì không những việc dạy văn không hay, mà việc đào tạo con người mới cũng không có kết quả Vì vậy dứt khoát chúng
ta phải có cách dạy khác, phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ, suy nghĩ bằng trí óc của mình
và diễn tả sự suy nghĩ đó theo cách của mình thế nào cho tốt nhất”[9]
1.3 Như ta đã biết, văn học là một môn học nghệ thuật, tác phẩm văn học không những chứa
đựng những kiến thức về đời sống, xã hội mà còn gửi gắm bao điều suy nghĩ trăn trở, những tình cảm của nhà văn với cuộc sống, con người Nhiệm vụ của một giáo viên dạy Ngữ văn là phải truyền cho học sinh những kiến thức cơ bản của một tác phẩm và làm cho các em biết rung động, biết yêu những cái đẹp trong cuộc sống và con người, “biết tự nhận ra bài toán cuộc đời”
Có nhiều hướng để tiếp cận một tác phẩm văn học nhưng hướng tiếp cận từ góc nhìn loại thể là một trong những hướng khoa học nhất, hiệu quả nhất, vừa ý nghĩa về khoa học cơ bản, vừa thiết thực về khoa học sư phạm
Về khoa học cơ bản, loại thể là một trong những phạm trù cơ bản của văn học, liên quan mật thiết đến chủ thể sáng tác và quá trình sáng tạo tác phẩm, đến người đọc và quá trình tiếp nhận; đồng thời loại thể còn là một phương diện quan trọng trong tiến trình văn học
ở mỗi nền văn học
Tác phẩm văn học nào cũng đều tồn tại trong một dạng thức nhất định Đó là sự thống nhất mang tính chỉnh thể của một loại nội dung với những phương thức biểu đạt và hình thức
tổ chức tác phẩm, tổ chức lời văn Loại thể văn học chính là sự phân chia loại hình tác phẩm
Trang 4theo những căn cứ nêu trên, là sự thống nhất giữa một loại nội dung với một dạng hình thức văn bản và phương thức tái hiện đời sống
Về khoa học sư phạm, cấu trúc Chương trình và SGK Ngữ văn hiện hành là cấu trúc theo hệ thống loại thể, theo kiểu văn bản Các tác phẩm văn học trong SGK Ngữ văn THPT được sắp xếp dựa trên sự kết hợp giữa tiến trình lịch sử văn học với hệ thống loại thể
Mỗi một loại thể có một đặc điểm riêng và yêu cầu phân tích theo một phương pháp riêng Vận dụng đặc trưng của từng thể loại vào giảng dạy là phương pháp cơ bản, phù hợp với đặc trưng bản chất của văn học và quy luật tiếp nhận; giúp học sinh cảm thụ, phân tích, chiếm lĩnh tác phẩm như một cấu trúc hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật; phát triển, nâng cao năng lực đọc - hiểu tác phẩm
có tri thức văn hoá, văn học cho học sinh Bên cạnh đó, học sinh biết khám phá ra ý nghĩa của
cuộc sống con người qua tác phẩm, nhằm “dẫn ta đến sự hoàn thiện của sứ mạng làm người”
1.4 Là một trong những thể loại chính của văn học tiêu biểu cho một phương thức phản ánh -
phương thức kịch - văn bản kịch chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn so với các văn bản văn học khác trong chương trình Ngữ văn THPT Cụ thể trong chương trình Ngữ văn lớp 11 học sinh
được học trích đoạn trong hai vở kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét (Sếch-xpia) và Vũ Như Tô
(Nguyễn Huy Tưởng), trong chương trình Ngữ văn 12 học sinh được học trích đoạn trong vở
kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) Thực tế là, kịch bản văn học chưa có
được sự quan tâm đúng mức trong nhà trường THPT Kinh nghiệm thưởng thức kịch còn hạn chế, tài liệu viết về kịch không nhiều, và kịch bản văn học là loại văn bản có những nét đặc thù riêng Kịch được giảng dạy trong nhà trường không phải với tính chất là một loại hình nghệ thuật Chúng ta giảng dạy kịch trên phương diện văn học còn bản thân nó là một môn nghệ thuật tổng hợp, có mối quan hệ chặt chẽ với sân khấu Việc thưởng thức một tác phẩm thuộc thể loại kịch không giống với những tác phẩm văn học khác Do vậy, việc dạy và học kịch bản văn học là một việc làm không dễ đối với GV và HS
Từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Phương pháp dạy học kịch bản văn
học trong trường trung học phổ thông theo đặc trưng loại thể” như một hướng tìm tòi nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học văn bản kịch trong nhà trường THPT
2 Lịch sử vấn đề
Xa rời bản chất loại thể của tác phẩm, thực chất là xa rời tác phẩm cả về linh hồn và thể xác Đặc biệt, người thầy dạy văn không chỉ là người chiếm lĩnh mà còn định hướng giúp người học chiếm lĩnh tác phẩm Do đó, việc xác định đặc trưng loại thể của tác phẩm là rất
Trang 5quan trọng Từ đây, việc giảng dạy Ngữ văn mới đi đúng quỹ đạo đích thực của nó, mới áp dụng có hiệu quả các phương pháp, biện pháp, cách thức giáo dục
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể nói chung và dạy kịch bản văn học theo đặc trưng loại thể nói riêng đã được nghiên cứu từ lâu, có thể kể tới những công trình như:
Cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể của các tác giả Trần Thanh
Đạm, Huỳnh Lí, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn và Đàm Gia Cẩn, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
1971 Cuốn sách góp phần làm rõ nhiều vấn đề trong mối quan hệ giữa loại thể và PPDH Văn Các tác giả đi sâu vào ba thể loại: tự sự, trữ tình và kịch, sau đó gợi ý phân tích nhiều thể nhỏ
cụ thể như: thơ, biền văn (hịch, cáo, phú, văn tế, ), truyện, kí, kịch, Tác giả Trần Thanh
Đạm khẳng định: “Nhà văn sáng tác theo loại thể thì người đọc cũng tiếp nhận theo loại thể
và người dạy cũng giảng dạy theo loại thể [8, tr 30] Giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể chính là một phương diện lớn của việc giảng dạy tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa hình thức với nội dung, một sự giảng dạy đi đúng với quy luật và bản chất của văn học, đồng thời đảm bảo hiệu quả giáo dục cao nhất [8, tr 44]
Cũng trong cuốn sách này, tác giả Huỳnh Lý có bài Kịch và giảng dạy kịch đề cập đến
nhiều vấn đề khi giảng dạy kịch: khái niệm về kịch, vị trí của kịch trong các loại hình nghệ thuật, đặc trưng của kịch mà người giảng dạy kịch cần chú ý, sự khác nhau giữa bi kịch và hài kịch, quá trình phát triển của kịch nói ở nước ta, những vở kịch trong chương trình văn học
cấp III Từ đó, tác giả nhận định: “Chúng ta không giảng dạy kịch với tính cách là một loại
hình nghệ thuật mà chỉ giảng dạy kịch bản về phương diện văn học [8, tr 239] Có thể nói,
cuốn sách đã giúp GV thuận tiện hơn khi tiếp cận tác phẩm văn học từ đặc trưng loại thể
Tác giả Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng nghiên cứu văn học- Nxb Giáo dục,
1996, có bài viết Về một đặc trưng thể loại của bi kịch trên cơ sở phân tích về Vua Ơđip của
Xôphơdơ, đề cập tới một vở bi kịch cổ đại mà kết thúc của nó mang tư tưởng lạc quan, thi pháp truyền thống của bi kịch trong sự phát triển của cốt truyện Tác giả đã chỉ ra một đặc
trưng thể hiện của bi kịch Hy Lạp cổ đại được minh họa qua vở Vua Ơđip Ngoài ra bài viết
không đề cập gì đến các vở bi kịch sau nó nữa hay cũng như những gợi ý để giảng dạy vở kịch này
Với cuốn Cảm thụ và giảng dạy Văn học nước ngoài - Nxb Giáo dục, 2003, tác giả
Phùng Văn Tửu đã có những đóng góp quan trọng cho việc dạy kịch có hiệu quả Ông viết:
“Khi giảng kịch, chúng ta chú ý đến đặc trưng của loại hình nghệ thuật này để học sinh khỏi
Trang 6rơi vào tình trạng thấy học kịch chẳng khác gì học truyện ngắn hay tiểu thuyết ” [38] Điều
đó có nghĩa là, ông muốn nhấn mạnh đến đặc trưng loại thể của kịch khi giảng dạy Phân tích một đoạn kịch phải gắn liền với kết cấu, với bối cảnh, không gian, thời gian, lời thoại nhân vật, hành động, xung đột Tất cả những yếu tố trên là những định hướng ban đầu giúp ta tiếp cận văn bản kịch còn hướng tiếp nhận tác phẩm kịch theo đặc trưng loại thể thì chưa được chỉ
ra rõ ràng, cụ thể
Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương
(theo loại thể) - Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001 cũng khẳng định: “Việc xác định loại thể
là vấn đề mấu chốt trong quá trình phát triển khoa học PPDH tác phẩm văn chương” [5, tr
99] Từ đây tác giả đưa ra phương pháp, biện pháp cụ thể dạy học tác phẩm tự sự, tác phẩm trữ tình, các tác phẩm văn học nước ngoài Còn riêng với tác phẩm kịch, ông mới chỉ dừng lại
ở mức độ khơi gợi chứ chưa đưa thành một chương của cuốn sách
Trong bài Một số vấn đề đọc - hiểu văn bản kịch (trích trong Đọc hiểu văn bản Ngữ
văn 8 - Nxb Giáo dục, 2009), tác giả Nguyễn Trọng Hoàn đã nói đến khái niệm kịch, những
đặc trưng của kịch và khẳng định: “Đọc - hiểu văn bản kịch cần chú trọng nhiều phương diện
thuộc về đặc trưng của thể loại này: từ loại hình nhân vật, bối cảnh trang trí sân khấu, các hướng dẫn trực tiếp về cử chỉ, hành động, các lớp nghĩa của lời thoại, các yếu tố phụ hoạ, các yêu tố có tính ước lệ, Tiếp nhận văn bản kịch bản văn học hết sức ưu tiên tính kịch.”
[15, tr 9-10]
SGV Ngữ văn 11, chương trình nâng cao, tập 1 - Nxb Giáo dục, 2007 định hướng:
Giáo viên “cần chú ý đến đặc trưng của kịch trong quá trình hướng dẫn đọc - hiểu, nhất là
trong chương trình THPT, kịch là thể loại văn học mà học sinh chưa có điều kiện để học nhiều” [50, tr 201]
Tài liệu Bồi dưỡng GV thực hiện chương trình, SGK lớp 11 môn Ngữ văn - Nxb Giáo
dục, 2007, cũng nêu rõ: “Khi giảng kịch, phải làm sao để học sinh cảm nhận được đặc trưng
của thể loại, tránh học kịch mà như học tiểu thuyết hay truyện ngắn ” [54, tr 192]
Rõ ràng, phân tích một tác phẩm văn chương không thể không chú ý tới đặc trưng loại thể của nó Ý thức về loại thể giúp người dạy, người học định hướng đúng mục tiêu chính của việc phân tích tác phẩm văn học Tùy thuộc vào thể loại, thể tài của đối tượng phân tích mà tìm cách tiếp cận cho phù hợp
Trang 7Trên cơ sở tiếp thu những người đi trước tôi muốn tìm hiểu và đề xuất vấn đề cụ thể
hơn, đó là Phương pháp dạy học kịch bản văn học trong trường trung học phổ thông
theo đặc trưng loại thể
3 Mục đích nghiên cứu
Từ việc tìm hiểu đặc trưng của thể loại kịch, khảo sát về việc dạy - học kịch bản văn học trong trường THPT, luận văn đề xuất những PPDH kịch bản văn học từ đặc trưng loại thể nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn Ngữ văn nói chung và dạy - học kịch bản văn học trong trường THPT nói riêng theo tinh thần đổi mới
Nghiên cứu vấn đề này cũng là cách thức tôi tự học hỏi, trau dồi kinh nghiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong sự nghiệp trồng người
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, những nhiệm vụ sau cần được giải quyết:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát về việc dạy - học kịch bản văn học trong trường THPT
- Đề xuất những PPDH kịch bản văn học trong trường THPT
- Hiện thực hóa các PPDH kịch bản văn học bằng hệ thống hoạt động tổ chức dạy học
- Thiết kế giáo án thể nghiệm
- Kiểm chứng về mức độ đạt được khi áp dụng những PPDH kịch bản văn học theo đặc trưng loại thể qua thực nghiệm giảng dạy
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng
Trên cơ sở nghiên cứu về đổi mới PPDH và chương trình Ngữ văn THPT, đối tượng
mà đề tài hướng tới là PPDH kịch bản văn học trong trường THPT theo đặc trưng loại thể
5.2 Phạm vi khảo sát
- Trích đoạn:
+ Tình yêu và thù hận - trích vở kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia- Ngữ văn 11
Trang 8+ Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trích Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng - Ngữ văn 11
+ Hồn Trương Ba, da hàng thịt - trích trong vở kịch cùng tên của Lưu Quang Vũ - Ngữ văn
12
- Đối tượng khảo sát:
+ GV và HS trường THPT Ngô Quyền - quận Lê Chân - Hải Phòng
+ GV và HS trường THPT Hải An - quận Hải An - Hải Phòng
6 Giả thuyết khoa học
Có thể phát huy được tối đa năng lực tiếp nhận văn chương của HS, nâng cao chất lượng dạy - học kịch bản văn học nếu áp dụng những phương pháp giảng dạy kịch bản văn
học trong trường THPT theo đặc trưng loại thể
7 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết (phương pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu lý luận, )
- Sử dụng những phương pháp nghiên cứu thực tiễn (phương pháp điều tra, phương pháp so sánh, phương pháp thực nghiệm sư phạm, )
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Dạy - học kịch bản văn học trong trường trung học phổ thông
Chương 3: Những đề xuất về phương pháp dạy - học kịch bản văn học trong trường trung học phổ thông
Reference
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Aristote Nghệ thuật thơ ca Nxb Văn hoá Nghệ thuật Hà Nội, 1964
Trang 92 Aistote Nghệ thuật thơ ca Nxb Văn học, 1999
3 Đỗ Hữu Châu Đại cương ngôn ngữ học, tập II : Ngữ dụng học Nxb Quốc gia, 2001
4 Nguyễn Đổng Chi Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập II Nxb Khoa học xã hội Hà Nội,
1972
5 Nguyễn Viết Chữ Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể) Nxb Đại
học quốc gia Hà Nội, 2001
6 Nguyễn Viết Chữ Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường Nxb
Giáo dục Việt Nam, 2009
7 Phạm Vĩnh Cư, “Bàn thêm về bi kịch Vũ Như Tô”, Tạp chí văn học số 7, 2000
8 Trần Thanh Đạm (chủ biên) Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể Nxb Giáo
dục, 1971
9 Phạm Văn Đồng, “Dạy văn là một quá trình toàn diện”, Nghiên cứu giáo dục, số 28, 1973
9 Hà Minh Đức Kịch Nguyễn Huy Tưởng (Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, Bắc Sơn, Những
người ở lại) Nxb Văn học, 1963
10 Hà Minh Đức (chủ biên) Lí luận văn học Nxb Giáo dục, 2002
11 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi Từ điển thuật ngữ văn học Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2000
12 Hoàng Ngọc Hiến Năm bài giảng nghiên cứu văn học Nxb Giáo dục, 1996
13 Đỗ Đức Hiểu Đổi mới đọc và bình văn Nxb Hội Nhà văn, 1998
14 Đỗ Đức Hiểu Thi pháp hiện đại Nxb Hội Nhà văn, 2000
15 Nguyễn Trọng Hoàn Đọc hiểu văn bản Ngữ văn 8 Nxb Giáo dục, 2009
16 Nguyễn Trọng Hoàn Rèn tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương Nxb
Giáo dục, 2002
17 Nguyễn Thúy Hồng Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của HS THCS,
THPT Nxb Giáo dục, 2008
18 Nguyễn Thanh Hùng Hiểu văn dạy văn Nxb Giáo dục, 2005
Trang 1019 Nguyễn Thị Thu Huyền Dạy học bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia từ góc độ
loại thể Luận văn thạc sĩ Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006
20 Nguyễn Thị Thanh Hương Dạy học văn ở nhà trường phổ thông Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2001
21 Trần Thị Diệu Linh Dạy học Hồn Trương Ba, da hàng thịt theo đặc trưng thể loại
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006
22 M Gorki Bàn về văn học Nxb Văn học Hà Nội, 1965
23 Phan Trọng Luận (chủ biên) Phương pháp dạy học văn Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,
1996
24 Phan Trọng Luận (chủ biên) Phương pháp dạy học văn Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2005
25 Phan Trọng Luận Văn học nhà trường nhận diện - tiếp cận - đổi mới Nxb Đại học Sư
phạm, 2009
26 Phương Lựu (chủ biên) Lí luận văn học, tập II Nxb Giáo dục, 1986
27 Nguyễn Huy Quát, Hoàng Hữu Bội Một số vấn đề về phương pháp dạy-học văn trong
nhà trường Nxb Giáo dục, 2001
28 La Thị Mỹ Quỳnh Dạy học kịch Vũ Như Tô theo đặc trưng thể loại Khóa luận tốt
nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005
29 Trần Đình Sử (chủ biên) Lí luận văn học, tập II Nxb Đại học Sư phạm, 2009
30 Nguyễn Thị Thắm Vấn đề xung đột Rô-mê-ô - Giu-li-ét của Sếch-xpia Luận văn thạc sĩ
Đại học Sư phạm Hà Nội, 1985
31 Nguyễn Huy Thắng Nguyễn Huy Tưởng - Người viết sử bằng văn chương Nxb Kim
Đồng, 2009
32 Lưu Khánh Thơ Lưu Quang Vũ tác phẩm chọn lọc Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009
33 Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) Hệ thống đề mở Ngữ văn 11 Nxb Giáo dục, 2008
34 Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) Hệ thống đề mở Ngữ văn 12 Nxb Giáo dục, 2009