1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bi kịch tình yêu, hôn nhân trong tiểu thuyết của lê lựu

15 271 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 219,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 NỘI DUNG Chương 1: Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới và hành trình sáng tác của Lê Lựu 7 1.1.. Trên con đường đổi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THU HÀ

BI KỊCH TÌNH YÊU, HÔN NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA LÊ LỰU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LÍ LUẬN VĂN HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THU HÀ

BI KỊCH TÌNH YÊU, HÔN NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA LÊ LỰU

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lí luận văn học

Mã số: 60220120

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN KHÁNH THÀNH

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Khánh Thành, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã dành sự ủng hộ, chia sẻ, giúp đỡ quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Luận văn của chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng các bạn học viên để công trình hoàn chỉnh hơn!

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 02 năm 2016

Học viên

Lê Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Lời cảm ơn

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

NỘI DUNG

Chương 1: Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi

mới và hành trình sáng tác của Lê Lựu

7

1.1 Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 7 1.2 Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 15 1.3 Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Lê Lựu 20

Chương 2: Các sắc thái bi kịch tình yêu, hôn nhân trong tiểu thuyết

của Lê Lựu

26

2.1.1 Bi kịch “yêu nhầm” 26 2.1.2 Bi kịch tình yêu không đoạn kết 27 2.1.3 Bi kịch tình yêu và nỗi tuyệt vọng 29 2.1.4 Bi kịch “tình yêu” thực dụng, toan tính 30

2.2.1 Bi kịch hôn nhân không có tình yêu 40 2.2.2 Bi kịch hôn nhân “cọc cạch” 43 2.2.3 Bi kịch ngoại tình trong hôn nhân 45

Chương 3: Phương thức biểu hiện bi kịch tình yêu, hôn nhân trong 56

Trang 5

tiểu thuyết của Lê Lựu

3.1 Tạo tình huống bi kịch 56 3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 62

3.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, hành động nhân vật 62 3.2.2 Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 67

3.3.1 Ngôn ngữ trần thuật 74 3.3.2 Giọng điệu trần thuật 78

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học Việt Nam hiện đại phát triển qua nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn để lại những thành tựu riêng Văn học thời kì đổi mới, hòa trong công cuộc đổi mới đất nước,

đã có những đổi mới về tư duy nghệ thuật, đạt được những thành tựu bước đầu Trên con đường đổi mới văn học ấy, đặc biệt là đổi mới về đề tài, Lê Lựu là một trong những tác

giả đặt chân đầu tiên và để lại những dấu ấn trong lòng người đọc Thời xa vắng (1986) là tác phẩm gây tiếng vang đầu tiên, rồi sau đó là Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994), Hai nhà (2000),… Đọc những tiểu thuyết ấy của Lê Lựu, qua giọng kể khi

hài hước bông lơn, khi xót xa thương cảm, khi khắc khoải yêu thương, khi chìm sâu trong suy ngẫm, triết lý của nhà văn, người đọc không khỏi băn khoăn trước số phận con người, trước tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc của con người

Văn học dân tộc kể từ khi đất nước hòa bình, độc lập đã có nhiều cách tân, từ những thay đổi tư duy nghệ thuật đến đổi mới quan niệm về hiện thực, về con người, về sáng tạo nghệ thuật Từ nền văn học mang cảm hứng sử thi, văn học đã chuyển sự quan tâm chủ yếu sang vấn đề thời sự và đời tư, sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới mẻ Thời kì này, văn học đã đi tới một quan niệm toàn vẹn sâu sắc về con người, về những suy nghĩ trăn trở trước cuộc sống Con người vừa là xuất phát điểm, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của tác phẩm văn học Con người trong văn học hôm nay khác với con người trong văn học trước đây, vì

nó được nhìn ở nhiều vị thế, ở mối quan hệ đa chiều: con người với xã hội, con người với gia đình, và với chính mình, bên cạnh đó mặt trái của cơ chế thị trường với bao ngổn ngang, hỗn độn đã đẩy cuộc sống, số phận của con người đến trước những bi kịch không

ai giống ai Đây là những vấn đề cần nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc

Từ Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng, đất nước bước vào thời kì hội nhập, đổi mới và phát triển trên nhiều phương diện đời sống và xã hội Điều này đòi hỏi người viết phải có cái nhìn mới, thỏa đáng hơn cho những vấn đề đang tồn tại và nảy sinh trong cuộc sống Nhiều vấn đề của đời sống đã được các nhà văn lật lại, nhận thức lại Với khả

năng miêu tả hiện thực đời sống cả ở bề rộng lẫn bề sâu, “là mảnh đất lưu giữ bóng hình

Trang 7

cuộc đời và con người” một cách hữu hiệu, không phải vô tình mà tiểu thuyết trở thành

thể loại nổi bật được các nhà văn lựa chọn để thể hiện quan niệm và khả năng sáng tạo nghệ thuật của mình

Lê Lựu là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học thời kì đổi mới Ngay từ những sáng tác đầu tay, Lê Lựu đã được nhận xét là người đang tìm tòi và có nhiều đổi mới sáng tạo Tác phẩm nào của nhà văn cũng tìm được những tính chất mới, những hướng khai thác vấn đề mới Một vấn đề được Lê Lựu thể hiện sâu sắc trong nhiều tác phẩm của mình là bi kịch trong tình yêu và hôn nhân Xuất phát từ ám ảnh về bi kịch tình yêu, hôn nhân của các nhân vật trong một số tiểu thuyết của Lê Lựu nên tôi muốn đi sâu tìm hiểu đề tài này

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về Lê Lựu đã có không ít ý kiến nhận xét, đánh giá của các nhà văn, nhà phê bình văn học Họ tìm đến với những tác phẩm và nhận thấy ở đấy những chiều kích khác nhau của cuộc sống Qua những tác phẩm ấy, người đọc không chỉ hình dung được bộ mặt xã hội Việt Nam lúc bấy giờ mà còn cảm nhận một cách sâu sắc những chuyển biến tinh tế nhất của đời sống con người thời đại Vì vậy, tác phẩm của nhà văn không rơi vào khoảng không im lặng, mà cùng với các cây bút văn xuôi lúc bấy giờ như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp,… Lê Lựu đã làm cho đời sống văn học nước ta thêm phần sôi động Từ một cây bút truyện ngắn, Lê Lựu bước sang địa hạt tiểu thuyết, khẳng định vị trí của mình trên văn đàn tiểu thuyết hiện đại

Lê Lựu được đặc biệt quan tâm với tiểu thuyết Thời xa vắng Ngay từ khi Thời xa vắng ra đời, các nhà nghiên cứu văn học đã nhận thấy trong tác phẩm này có “cách nhìn hiện thực mới” Giáo sư Phong Lê cho rằng: “Thời xa vắng là sự đón nhận trước cái yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật và nhận thức lại lịch sử đề ra với Đại hội VI, cuối năm 1986” Tác giả Nguyễn Hòa nhận thấy Thời xa vắng là sự “đi tìm lại những chân giá trị bị đánh

mất, bị lãng quên, viên đại bác khoan thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiều điều lâu nay chúng ta không rõ tới, quá khứ đâu chỉ là chiếc bánh ngọt ngào mà có cả vị đắng

cay” Tác giả Kim Hồng trong bài viết in trên Tạp chí Văn học số 5 năm 1988 cũng có nhận xét: “Thời xa vắng của Lê Lựu là một tác phẩm giàu năng lượng thật sự” Nhà thơ

Trang 8

Trần Đăng Khoa cảm nhận được Thời xa vắng là sự khái quát lịch sử “bằng số phận bi thảm của anh nông dân Giang Minh Sài” Đánh giá về những sáng tác của nhà văn Lê

Lựu, Trần Đăng Khoa cho rằng: “Lê Lựu biết cuốn hút người đọc bằng một thứ văn đọc không nhạt Ngay ở những chuyện xoàng xoàng, người đọc vẫn thu lượm được một cái gì

đó [ ] nghĩa là đọc anh không bị lỗ trắng Cũng bởi Lê Lựu là nhà văn không chấp nhận

sự nhạt nhẽo, tầm thường Ở bất kì tác phẩm nào dù lớn hay nhỏ Lê Lựu cũng có vấn đề

gì đấy gửi gắm” Trần Bảo Hưng cho rằng: “Thô mộc hồn nhiên và đầy ắp chất sống – ngay cả khi nghĩ ngợi triết lí cũng rất hồn nhiên, cũng là triết lí bật lên trực tiếp từ đời sống Tất cả dường như đã trở thành phong cách, thành cá tính của Lê Lựu”

Tiếp tục khơi sâu vào đề tài gia đình, số phận con người, Lê Lựu viết Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994), Hai nhà (2000), Thời loạn (2010) Những tác phẩm này khi ra đời đã có hàng loạt bài nghiên cứu như: Tiểu thuyết đầu tiên của một cây bút viết truyện ngắn của Phong Vũ, Mỗi người phải chịu trách nhiệm về nhân cách của mình hay Hỏi chuyện tác giả, tìm hiểu tác phẩm (báo Văn nghệ tháng 12.1986) Chuyện phiếm với anh Sài của Hồng Vân, Nghĩ về Thời xa vắng của Thiếu Mai, Khuynh hướng triết lí trong tiểu thuyết – những tìm tòi và thể nghiệm của Nguyễn Hữu Sơn, Lê Lựu – Chân dung văn học của Trần Đăng Khoa, Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới của

Đỗ Hải Ninh, … Tất cả những bài viết này được chính Lê Lựu tập hợp lại trong cuốn Tạp văn của mình

Nghiên cứu về Lê Lựu và các sáng tác của ông nói chung, tiểu thuyết Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông, Hai nhà, Thời loạn nói riêng có nhiều bài viết

đăng trên các báo, tạp chí Tuy nhiên, các bài nghiên cứu hầu như tập trung xoay quanh

tác phẩm Thời xa vắng hoặc là viết về từng tác phẩm cụ thể chứ chưa có bài nào hay một

công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về tiểu thuyết Lê Lựu một cách toàn diện Bài viết

Tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới của tác giả Đỗ Hải Ninh cũng đã nêu ra được những

nét khái quát nhất về tiểu thuyết của Lê lựu thời kì đổi mới, tuy nhiên tác giả không đi vào phân tích cụ thể

Chưa có công trình nào nghiên cứu về bi kịch tình yêu và hôn nhân trong tiểu thuyết của Lê Lựu

Trang 9

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Dựa vào đặc điểm thể loại tiểu thuyết và các tác phẩm, trong đề tài này, tôi cố gắng tìm hiểu những chuyển biến về quan niệm con người trong văn học Việt Nam thời

kì đổi mới, đi sâu tìm hiểu những bi kịch tình yêu và hôn nhân, nguyên nhân của bi kịch, tìm hiểu cách nhà văn xây dựng bi kịch … trên những trang tiểu thuyết của nhà văn Lê Lựu

Đề tài sẽ không đi vào toàn bộ tác phẩm của ông mà chỉ tập trung vào một số tác

phẩm thời kỳ đổi mới, đó là: Thời xa vắng (1986) , Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1994), Hai nhà (2000), Thời loạn (2010)

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp loại hình

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

- Phương pháp tiểu sử

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm các nội dung chính sau đây:

Chương 1: Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới và hành trình sáng tác của Lê Lựu

Chương 2: Các sắc thái bi kịch tình yêu, hôn nhân trong tiểu thuyết của Lê Lựu Chương 3: Phương thức biểu hiện bi kịch tình yêu, hôn nhân trong tiểu thuyết của

Lê Lựu

Trang 10

CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI

KÌ ĐỔI MỚI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA LÊ LỰU

1.1 Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

Nghị quyết 05 của Bộ chính trị về phát triển văn nghệ trong thời đổi mới đã mở ra một hướng đi mới cho văn học Nhà văn hiểu rõ đặc trưng của văn chương và sứ mệnh của mình với cuộc sống Những sáng tác của họ không chỉ nhằm minh họa các khẩu hiệu hay cổ vũ cho các phong trào, các chủ trương, chính sách của nhà nước mà “tập trung miêu tả số phận con người, mang đến cho con người cái đẹp, tình yêu cuộc sống cũng như sự từng trải, làm phong phú thêm kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, đồng thời phải nghiên cứu những vấn đề của xã hội đang diễn ra hay đi lùi vào quá khứ, từ đó rút ra bài học, những tư tưởng mang tính khái quát, không chỉ quan trọng về triết học, đạo đức, nhân sinh mà còn có thể mang ý nghĩa chính trị lớn lao” [71, tr 18]

Nhìn nhận về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực lúc bấy giờ, các nhà nghiên cứu đã đánh giá sâu sắc “yêu cầu văn học trong điều kiện lịch sử mới phải giúp vào sự hoàn thiện bức tranh hiện thực còn trong dạng phác thảo của một thời đã qua, sao cho chân thực hơn, được soi tỏ nhiều góc cạnh hơn.” [26, tr.106] Giờ đây với yêu cầu mới, nhiệm vụ của văn học thay đổi, nó không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn thể hiện thế giới chủ quan Nhận định về văn xuôi trong khoảng mười lăm năm (từ 1975 đến

1990), Hoàng Ngọc Hiến trong bài Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo cho rằng:

“Trong sáng tác văn học, cái nhìn mâu thuẫn trong hiện thực đời sống hết sức quan trọng Những biến đổi sâu sắc trong văn xuôi của ta khoảng mười lăm năm nay bắt nguồn từ sự thay đổi trong cách nhìn những mâu thuẫn trong đời sống xã hội.” [26, tr 239]

Vấn đề bản chất văn học cũng được Lê Ngọc Trà đặt ra trong một loạt bài nghiên

cứu của mình Ông nhận định: “Tác phẩm văn học là tiếng nói của những ấn tượng,

những suy nghĩ vừa như xác định, vừa như chưa xác định, vừa như trọn vẹn lại vừa như chưa trọn vẹn, vừa như có ý giới hạn lại vừa như miên man vô bờ bến Đó là những cảm giác mang tính hình tượng Văn học chính là nỗi buồn về cái

Trang 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

2 M Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và

giới thiệu), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội

3 M Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki – Bản dịch của Trần Đình Sử,

Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nxb Giáo dục, Hà Nội

4 Nguyễn Thị Bình (2003), Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi

nước ta từ sau năm 1975, Tạp chí Văn học (số 4), tr.57

5 Nguyễn Minh Châu (1994), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội

6 Lê Tất Cứ (2002), Lê Lựu và “Ranh giới”, Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà

Nội

7 Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội

8 Đinh Trí Dũng (2005), Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, Nxb Khoa học xã hội –

Trung tâm văn hóa Đông Tây, Hà Nội

9 Đặng Anh Đào (2006), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại (tái bản),

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

10 Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội

11 Phan Cự Đệ (Chủ biên) (2005), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội

12 Hà Minh Đức (1994), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Giáo duc, Hà Nội

13 Hà Minh Đức chủ biên (1997), Lí luận văn học, Nxb Giáo duc, Hà Nội

14 Hà Minh Đức (2001), Văn chương – tài năng và phong cách, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội

15 Cynthia Freeland (2009), Thế mà là nghệ thuật ư? Một đề dẫn về lý thuyết nghệ thuật

(Như Huy dịch, giới thiệu và chú thích), Nxb Tri thức, Hà Nội

16 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb

Giáo dục, Hà Nội

17 Đỗ Quang Hạnh (2002), Không có sách, chúng tôi làm ra sách Chúng tôi làm thơ ghi

lấy cuộc đời mình…, Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

Trang 12

18 Nguyễn Văn Hạnh – Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học – vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội

19 Nguyễn Thu Hằng (2002), Hình tượng người nông dân và nhà văn đô thị, Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

20 V Ph Hê-ghen (1999), Mĩ học (Phan Ngọc dịch), tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội

21 Hoàng Ngọc Hiến (2002), Đọc “Thời xa vắng” của Lê Lựu, Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn

hóa thông tin, Hà Nội

22 Đỗ Đức Hiểu (2002), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

23 Hội nhà văn Việt Nam (1986), 40 năm văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội

24 Dương Hướng (1990), Bến không chồng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

25 Nguyễn Khải (1984), Văn học trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb Tác phẩm mới,

Hà Nội

26 Nguyễn Khải (1996), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

27 Trần Đăng Khoa (1998), Chân dung và đối thoại, Nxb Thanh niên, Hà Nội

28 M.B Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học

(Lê Sơn – Nguyễn Minh dịch), Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội

29 M.B Khrapchenco (2002), Những vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học (Nhiều người dịch, Trần Đình Sử tuyển chọn và giới thiệu), Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, Hà Nội

30 Tôn Phương Lan (2002), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội

31 Lê Hồng Lâm (2002), Nhà văn Lê Lựu đi đến tận cùng tính cách nhân vật, Lê Lựu tạp văn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

32 Phong Lê (Chủ biên) (1990), Văn học và hiện thực, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

33 Phong Lê (1994), Văn học và công cuộc đổi mới, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

34 Nguyễn Văn Long (2001), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, Hà

Nội

35 Nguyễn Văn Long (2003), Tiếp cận và đánh giá văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, Nxb Giáo dục, Hà Nội

Ngày đăng: 08/07/2016, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w