Phương thức truyền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông .... Trước tình hình xung đột Biển Đông ngày càng gia tăng, để phục vụ cho lợi ích cốt lõi của mìn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined.
NHẬN THỨC CỦA TRUNG QUỐC VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO MẠNG
ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNGError! Bookmark not defined.
1.1 Khái quát về báo mạng điện tử Error! Bookmark not defined.
1.1.1 Khái niệm Error! Bookmark not defined.
1.1.2 Vai trò của báo mạng điện tử Error! Bookmark not defined.
1.2 Vai trò của truyền thông trong các quyết sách ngoại giao của
Trung Quốc Error! Bookmark not defined
1.3 Nhiệm vụ của Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo đối với
vấn đề xung đột Biển Đông……… 27
CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined.
PHƯƠNG THỨC TRUYỀN THÔNG CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
TRUNG QUỐC VỚI VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNGError! Bookmark not defined.
2.1 Mục đích và phương thức tổ chức hoạt động của truyền thôngError! Bookmark not defined 2.2 Phương thức truyền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc với
vấn đề xung đột Biển Đông Error! Bookmark not defined.
2.2.1 So sánh về số lượng bài báo Error! Bookmark not defined.
2.2.2 So sánh về nội dung thể hiện Error! Bookmark not defined.
2.2.3 So sánh về tần số các sự kiện chủ yếuError! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined.
PHẢN ỨNG DƯ LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ỨNG PHÓ CỦA VIỆT
NAM Error! Bookmark not defined.
3.1 Tác động tới dư luận trong nước Error! Bookmark not defined.
3.2 Tác động tới dư luận ngoài nước Error! Bookmark not defined.
Trang 43.2.1 Tác động tới truyền thông Việt Nam và quốc tếError! Bookmark not defined.
3.2.2 Tác động tới dư luận Việt Nam Error! Bookmark not defined.
3.3 Một số đề xuất ứng phó cho Việt Nam Error! Bookmark not defined.
3.3.1 Nhìn nhận lại tình hình phát triển của báo mạng Việt NamError! Bookmark not defined 3.3.2 Một số đề xuất giải pháp cho Việt NamError! Bookmark not defined.
3.3.2.1 Tăng cường công tác quản lý báo chí và truyền thông đối với
vấn đề xung đột Biển Đông Error! Bookmark not defined.
3.3.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường nhận thức của
người dân Việt Nam về vấn đề xung đột Biển Đông.Error! Bookmark not defined.
3.3.2.3 Tăng cường công tác định hướng dư luận trong nước và quốc tế
đối với vấn đề xung đột Biển Đông Error! Bookmark not defined.
3.3.2.4 Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất kĩ thuật hạ tầng.Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 6
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Phát biểu của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về truyền thông đối ngoại
qua các thời kỳ Error! Bookmark not defined
Bảng 2: Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Nhân dân nhật báo trong
vấn đề xung đột Biển Đông Error! Bookmark not defined
Bảng 3: Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Hải Nam nhật báo trong
vấn đề xung đột Biển Đông Error! Bookmark not defined
Bảng 4: Trích dẫn comment của dư luận Trung Quốc với vấn đề xung đột
Biển Đông Error! Bookmark not defined
Đông Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 1: Tình hình số lượng bài báo trên Nhân dân nhật báo về vấn đề xung
đột Biển Đông từ tháng 5 năm 2013 đến năm 2014Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 2: Tình hình số lượng bài báo trên Hải Nam nhật báo về vấn đề xung
đột Biển Đông từ tháng 5 năm 2013 đến năm 2014.Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 3: Các nội dung thể hiện của báo mạng Nhân dân nhật báo và Hải
Nam nhật báo về vấn đề xung đột Biển Đông trong năm 2013Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 4: Các nội dung thể hiện của báo mạng Nhân dân nhật báo và Hải
Nam nhật báo về vấn đề xung đột Biển Đông trong năm 2014Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 5: Các kiểu sự kiện chủ yếu do Nhân dân nhật báo đưa tin về vấn đề
xung đột biển Đông từ tháng 5/2013 - 2014 Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 6: Các kiểu sự kiện chủ yếu do Hải Nam nhật báo đưa tin về vấn đề
xung đột biển Đông từ tháng 5/2013 - 2014 Error! Bookmark not defined
Trang 6Đối với Việt Nam, Biển Đông có vai trò đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng, kinh tế Xét về vai trò an ninh, quốc phòng: Biển Đông là tuyến phòng thủ hướng đông của Việt Nam Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam Xét về vai trò kinh tế, Biển Đông tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng, miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền…phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông Chính vì vai trò và lợi ích của Biển Đông đối với Việt Nam và các nước trong khu vực như vậy cho nên đây là nơi dễ xảy ra xung đột
2 Sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc kinh tế đã dẫn tới nhu cầu khổng lồ về dầu và khí để phục vụ cho nhu cầu phát triển và tham vọng ngày càng lớn của quốc gia này Hơn nữa, Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới cũng là nước tiêu dùng dầu lớn thứ hai và nước nhập
Trang 7981 – chúng tôi dùng theo tên gọi tiếng Việt cho sự kiện Hải Dương 981) vào vùng biển đặc quyền của Việt Nam Trước tình hình xung đột Biển Đông ngày càng gia tăng, để phục vụ cho lợi ích cốt lõi của mình, giới lãnh đạo Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính sách, biện pháp, trong đó có chính sách truyền thông mạng về các vấn đề liên quan đến xung đột Biển Đông Hơn nữa, dưới tác động dư luận của các phương thức truyền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc đã đẩy xung đột Biển Đông vào trạng thái căng thẳng và nhạy cảm
3 Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây, để phục vụ cho lợi ích cốt lõi của mình, Trung Quốc đã chú trọng đến việc sử dụng truyền thông với những lợi thế về tốc độ, phạm vi ứng dụng cao và đầu tư cho phát triển công nghệ thông tin Các trang báo mạng đã truyền tải thể hiện đường lối, chính sách của Trung Quốc trong vấn đề xung đột Biển Đông và tạo ra những ảnh hưởng nhất định như tạo ra nhiều luồng dư luận khác nhau, lợi dụng niềm tin của dư luận để thực hiện ý đồ lấn chiếm Biển Đông, hay xây dựng chủ nghĩa dân tộc của mình,…Mặt khác, Trung Quốc vẫn tiếp tục tiến hành các hành động gia tăng căng thẳng, không quan tâm đến lợi ích các nước nhỏ trong khu vực Đông Nam Á (Việt Nam và Philippin) Trong khi đó, công tác quản lý truyền thông của Việt Nam còn chưa nhận thức khái quát, toàn diện mục đích của
Trang 83
truyền thông mạng Trung Quốc trong vấn đề xung đột Biển Đông Vì vậy, các ban ngành có thẩm quyền, đặc biệt các cơ quan quản lý truyền thông còn lúng túng trong cách xử lý trước những hành động của truyền thông Trung Quốc
4 Trước tình hình như vậy, Việt Nam vẫn chưa nhận thức rõ được vai trò, phương thức và khả năng tác động của báo mạng Trung Quốc tới chủ quyền, lãnh thổ của mình trong vấn đề xung đột Biển Đông Chính vì vậy, việc nghiên cứu tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông theo chúng tôi là một lựa chọn cần thiết và có ý nghĩa khoa học và thực tế của luận văn
2 Lịch sử vấn đề
Trên cơ sở điểm luận 87 tài liệu, trong đó có 55 tài liệu tiếng Việt, 26 tài liệu tiếng Trung, 6 tài liệu tiếng Anh Trong đó, các nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp xoay quanh chủ đề tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông, đặc biệt có 18 tài liệu là các luận văn thạc sỹ
và tiến sỹ về vấn đề ngoại giao truyền thông của Trung Quốc và hàng trăm đầu tài liệu mạng cũng được tôi sử dụng tham khảo trong luận văn này Chính
vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Phân tích tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông” là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
2.1.1 Tình hình nghiên cứu tại phương Tây
Xung đột Biển Đông đã sớm nhận được sự quan tâm của rất nhiều học giả trên thế giới, đặc biệt là các học giả, chính khách Mỹ và phương Tây Người đầu tiên bày tỏ sự lo ngại về xung đột có thể xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc ở Biển Đông là Samuel Huntington, học giả nổi tiếng toàn thế
giới với tác phẩm Sự đụng độ của các nền văn minh xuất bản bằng 39 thứ
tiếng Từ góc độ trật tự địa chính trị, năm 1993 ông đã cảnh báo các nhà chiến lược Mỹ về điều này trên tờ “Foreign Affairs” Vol 72 số 3, nhưng do quan tâm nhiều hơn đến mối đe dọa Hồi giáo cực đoan nên lúc đó dường như
Trang 94
không mấy ai chú ý Phát triển tư tưởng trong cuốn sách Sự đụng độ của các
nền văn minh xuất bản năm 1996, ông viết rõ: “Sự bá quyền của Trung Quốc
ở Đông Á khó có thể đưa đến sự bành trướng về kiểm soát lãnh thổ thông qua can thiệp quân sự trực tiếp” nhưng “Biển Đông là trường hợp ngoại lệ” [82] Hay như trên tờ “Foreign Policy” số tháng 9 và tháng 10 năm 2011 đã cho ra mắt bài “Biển Đông: Tương lai của xung đột” của R Kaplan [84], đây là công trình xác lập căn cứ lý luận, lịch sử và những tư tưởng nền tảng cho chiến lược Biển Đông của Mỹ Trong giới chính trị chiến lược Mỹ và phương Tây, Robert D Kaplan, chuyên gia nổi tiếng của Hội đồng Chính sách Quốc phòng
Mỹ, người có tầm nhìn sâu sắc về chiến lược và có kinh nghiệm dày dạn trong hoạt động quân sự, được coi là người giỏi nhất về Biển Đông “Vạc dầu Châu Á” là thuật ngữ gọi Biển Đông của Kaplan từ tháng 3 năm 2014 Gần như trùng với thời điểm Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào Biển
Đông, Kaplan đã cho ra mắt cuốn sách Vạc dầu Châu Á: Biển Đông và sự kết
thúc của Thái Bình Dương yên tĩnh [83] Cuốn sách đã trở thành “hiện tượng”
ở Mỹ và nhiều nước phương Tây, một phần vì chính sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan Haiyang 981 vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam Cuốn sách gồm 8 chương, trong đó chương 3 được dành riêng viết về Việt Nam (Tiêu đề chương 3: “Thân phận của Việt Nam” – The Fate of Vietnam) Với
sự am tường Việt Nam sâu sắc về lịch sử, ngoại giao và sự cảm nhận tinh tế
về những diễn biến phức tạp trong các cuộc gặp gỡ với những chính khách và các nhân vật đáng chú ý ở Việt Nam, Mỹ và ở các nước khác, Kaplan đã phân tích khá rõ vị thế vô cùng khó khăn và phức tạp của Việt Nam trước ý đồ của Trung Quốc trong trật tự địa chính trị thế kỷ XXI Ngoài ra, cũng có nhiều bài viết của các học giả trên thế giới quan tâm tới vấn đề Biển Đông như bài viết
“Biển Đông: ảo tưởng và thực tế” của Đại sứ Rodolfo Severino, nguyên Tổng
thư ký ASEAN, phân tích 10 vấn đề mà ông cho là ảo tưởng đang tồn tại xung
quanh vấn đề tranh chấp Biển Đông [94], hay bài viết “Biển Đông trên khía
cạnh pháp lý”của học giả Hasjim Djalal tập trung phân tích các chủ đề: Khía
Trang 105
cạnh pháp lý; bản chất của tranh chấp, các bên tranh chấp và công cụ pháp lý
áp dụng để giải quyết tranh chấp tại Biển Đông [96]
2.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Trung Quốc
Các nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp tới chủ đề tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông ở Trung Quốc là
khá đa dạng Chúng tôi tạm chia ra các hướng nghiên cứu sau: Thứ nhất,
nghiên cứu “Công cụ truyền thông của ngoại giao công chúng” Trong những nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu những hiệu quả và vận dụng truyền thông trong ngoại giao công chúng, đánh giá ảnh hưởng của nó đối với hình tượng quốc gia và nhận thức các quyết sách ngoại giao Trước tiên, chúng ta có thể
kể đến nghiên cứu của học giả Triệu Khả Kim – Viện Nghiên cứu quan hệ
quốc tế đương đại – Đại học Thanh Hoa với hai nghiên cứu là Lý luận và thực
tiễn ngoại giao công chúng (2007) và Chiến tranh sức mạnh mềm trong ngoại giao công chúng của Mỹ và Trung Quốc (2011) Trong hai nghiên cứu này,
tác giả đều đứng từ góc độ chính trị học để nghiên cứu, phân tích Từ đó, tác giả đối chiếu truyền thông của Mỹ và Trung Quốc đối với ngoại giao công chúng, bao gồm các nội dung như ngoại giao công chúng đối với chính sách ngoại giao của Mỹ, truyền thông công chúng đối với ngoại giao truyền thông, thông tin mạng và ngoại giao Hay như nghiên cứu của học giả Triệu Ju
Chính Ngoại giao công chúng và giao lưu đa văn hóa (2011) và Đối thoại đa
quốc gia: trí tuệ ngoại giao công chúng (2012) Trong hai nghiên cứu này,
ông đã kết hợp giữa trách nhiệm của một người phát ngôn viên của quốc vụ viện để giảng thuật về các phương pháp cụ thể của ngoại giao công chúng, từ những điểm không giống nhau trong ngoại giao công chúng để đưa ra những
vấn đề thực tiễn của Trung Quốc Thứ hai, nghiên cứu từ góc độ của việc hoạch định chính sách ngoại giao tới truyền thông Trong các tài liệu chúng
tôi sưu tầm được thì chủ yếu là nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thông, các mạng điện tử tới các quyết sách ngoại giao của Trung Quốc: Như luận văn
thạc sĩ của Kim Ngô năm 2008 Nhân Dân nhật báo và ngoại giao Trung
Trang 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
1 Lưu Văn An (2008), “Vai trò của truyền thông đại chúng trong hoạt động của cơ quan hành pháp các nước phương Tây”, Tạp chí Lý luận chính trị
và truyền thông, số tháng 11, tr 52 – 58
2 Nguyễn Thị Lan Anh (2014), “Đánh giá các lựa chọn pháp lý của Việt Nam trong vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan 981”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5 (153), tr 70 – 74
3 Dương Quốc Bảo (2014), “Thông tin đối ngoại về vấn đề Biển Đông cho học sinh, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 8, tr 53 – 56
4 Lê Thanh Bình (2008), “Tương tác giữa truyền thông đại chúng quốc tế với khoa học – công nghệ và việc đưa tin của truyền thông Châu Á về vấn
đề quốc tế, khoa học công nghệ quốc tế”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số tháng 5, tr 59 – 64
5 Đỗ Minh Cao (2015), “Việt Nam và Biển Đông: Hiện trạng và khuynh hướng”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5 (153), tr 57 – 69
6 Hoàng Đình Cúc (2009), “Vai trò của báo chí truyền thông đối với sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 10, tr 11 -15
7 Nguyễn Thùy Chi (2012), “Báo điện tử trong công tác thông tin đối ngoại – vai trò , ưu thế và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 12, tr 57- 59
8 Phạm Di (2010), “Dư luận xã hội và ổn định xã hội”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 11, tr 37 – 41
9 Đỗ Quý Doãn (2014), “Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam”, NXB thông tin và truyền thông
Trang 127
10 Vũ Thị Vân Dung (2014), “Quản lý nhà nước về biển đảo ở Trung Quốc
và một số gợi mở đối sách cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5 (153), tr 76 – 88
11 Hà Minh Đức (1997), “Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
12 Nguyễn Thị Trường Giang (2012), “Đưa giá trị của báo chí vào truyền thông xã hội”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 8, tr 63 – 65
13 Nguyễn Thị Trường Giang (2012), Vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong khai thác và xử lý thông tin trên báo mạng điện tử, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 12
14 Đỗ Thu Hà (2013), “Đạo đức trong truyền thông giải trí tại Việt Nam”, Hội thảo quốc tế Đạo đức và công nghệ tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
15 Lê Thu Hà (2008), “Tác động tiêu cực của quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng đến công chúng hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số tháng 10, tr 41 – 43
16 Nguyễn Thị Bích Hạnh (2011), “Những yếu tố chi phối hiệu quả lao động của phóng viên báo mạng điện tử”, Tạp chí Lý luận và truyền thông
số tháng 12, tr 45 – 47
17 Đinh Thị Thúy Hằng (2011), “Tính chuyên nghiệp khi khai thác nguồn tin và đạo đức nghề nghiệp của nhà báo”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 7, tr 12 – 16
18 Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Thị Thùy (2013), Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc năm 2012, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số tháng 2
19 Đặng Thị Thu Hương (2013), “Công nghệ truyền thông và Đạo đức báo chí trong kỷ nguyên kỹ thuật số”, Hội thảo quốc tế Đạo Đức và Công nghệ tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, ĐHQGHN
Trang 138
20 Phạm Huy Kiên (2014), “Về vấn đề vi phạm đạo đức nghề nghiệp của nhà báo trong sáng tạo tác phẩm báo chí cho báo mạng điện tử”, tạp chí
Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 7, tr 33 – 37
21 Trương Thị Kiên (2014), “Năng lực thông tin đa phương tiện của báo mạng điện tử Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 5, tr 29 – 33
22 Nguyễn Bùi Khiêm (2011), “Internet và truyền thông đa phương tiện trong xu hướng phát triển của báo chí Việt Nam”, Tạp chí Lý luận và Truyền thông, số tháng 5, tr 39 – 44
23 Nguyễn Thế Kỷ (2012), “Báo điện tử, trang tin điện tử và mạng xã hội – định hướng phát triển và quản lý”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 1 &2
24 Nguyễn Thế Kỷ (2013), “Thông tin đối ngoại với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 7, tr 3 -5
25 Trường Lưu (2014), “Nhìn lại sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương – 981 xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 7 (155), tr 41 – 46
26 Đỗ Chí Nghĩa (2008), “Nhận diện mối quan hệ giữa báo chí và dư luận
xã hội”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, Số tháng 1, 2008, tr
31 – 35
27 Đỗ Chí Nghĩa (2013), “Những quan điềm chỉ đạo cơ bản của Đảng về vai trò định hướng dư luận xã hội của báo chí”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số tháng 11, tr 17 – 20
28 Nguyễn Nhâm (2014), “Biển Đông điều ẩn sâu trong chiến lược của Trung Quốc”, tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 9 (157), tr 76 - 85
29 Phạm Thị Nhung (2013), “Truyền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông từ năm 2011 đến nay (Nghiên cứu