ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ TÂM NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA VÕ QUẢNG QUA QUÊ NỘI VÀ TẢNG SÁNG LUẬN VĂN THẠC SĨ C
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ TÂM
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA VÕ QUẢNG
(QUA QUÊ NỘI VÀ TẢNG SÁNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ TÂM
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA VÕ QUẢNG
(QUA QUÊ NỘI VÀ TẢNG SÁNG)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học: TS Diêu Thị Lan Phương
Hà Nội - 2015
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tình hình nghiên cứu văn học thời gian qua có những đổi mới tích cực
Tự sự học trở thành một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lý luận văn học được đông đảo các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Nghiên cứu tự sự học không chỉ là nghiên cứu về cách thức kể chuyện sao cho hấp dẫn mà còn là nghiên cứu về cách thức xây dựng những hình tượng nghệ thuật đặc sắc trong mỗi tác phẩm văn học
Văn học thiếu nhi là một bộ phận quan trọng trong nền văn học của mỗi dân tộc và nhân loại Nó có vai trò to lớn trong việc làm phong phú thêm đời sống tinh thần trẻ thơ, góp phần bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm của các em Bên cạnh đó, văn học thiếu nhi còn đánh thức vẻ đẹp của ước mơ, khát vọng và cả những hoài niệm trong sáng nhất của mỗi con người
Ở nước ta, do những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, cùng với nền văn học hiện đại, bộ phận văn học dành cho thiếu nhi ra đời khá muộn Tuy vậy, đội ngũ tác giả chuyên sáng tác cho thiếu nhi ngày một tăng theo thời gian Trước
có Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Ma Văn Kháng, Tô Hoài, Phạm Hổ, Phùng Quán, Võ Quảng, Vũ Tú Nam Nay có Nguyễn Nhật Ánh, Lý Lan, Lưu Thị Lương, Nguyễn Ngọc Thuần… Các tác phẩm văn học cũng dần đạt tới độ kết tinh nghệ thuật được nhiều bạn đọc nhỏ tuổi vô cùng yêu thích như
Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài, Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy
Tưởng, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa, Kính vạn hoa của
Nguyễn Nhật Ánh…
Trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi lựa chọn Võ Quảng cùng hai tác
phẩm Quê nội và Tảng sáng của ông để tìm hiểu là bởi:
Trang 42
- Thứ nhất: Võ Quảng là nhà văn thiếu nhi có nhiều tác phẩm hay, phong phú về đề tài và thể loại Dù là thơ hay truyện, ông đều có những thành công riêng
- Thứ hai: Sáng tác của Võ Quảng luôn hướng các em thiếu nhi đến những mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống Mỗi tác phẩm của ông là một món ăn tinh thần bổ ích, bồi dưỡng tâm hồn thiếu nhi vươn tới cái đẹp của lí tưởng, của tình yêu con người và tình yêu thiên nhiên
- Thứ ba: Truyện của Võ Quảng có cách tự sự hấp dẫn, độc đáo, mang
phong cách và dấu ấn riêng của nhà văn Quê nội và Tảng sáng là hai tác
phẩm ưu tú trong hành trình sáng tác văn học của Võ Quảng Nhà văn đã tạo
ra được một giọng nói chân thật, hồn nhiên, có hơi thở và có sự sống làm cho
cả thiếu nhi và người lớn thích thú khi đọc
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Nghệ thuật tự
sự trong truyện thiếu nhi của Võ Quảng (qua Quê nội và Tảng sáng) với
mong muốn góp một phần nhỏ bé vào công việc nghiên cứu văn học thiếu nhi nói chung, truyện Võ Quảng nói riêng
2 Lịch sử vấn đề
Các sáng tác văn, thơ của Võ Quảng từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với các em thiếu nhi Qua những vần thơ trong sáng
và những trang tiểu thuyết dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ đã làm nên tên tuổi một nhà văn của riêng thiếu nhi Việt Nam Theo tìm hiểu của chúng tôi, kể từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ XX cho đến nay, đã có khá nhiều bài
viết đề cập đến sáng tác của Võ Quảng nói chung và hai tác phẩm Quê nội và
Tảng sáng nói riêng Vì thế, ở luận văn của mình, chúng tôi chỉ điểm qua
những công trình tiêu biểu, có liên quan mật thiết đến đề tài để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu
Trang 53
2.1 Những nhận xét về sự nghiệp, tài năng của Võ Quảng
Trong cuốn Truyện viết cho thiếu nhi dưới chế độ mới, Vân Thanh đã
dành hẳn một phần trong chương 3 của cuốn sách để biểu dương Võ Quảng như một đại diện tiêu biểu nhất lúc bấy giờ, chuyên sáng tác cho thiếu nhi cùng với Nguyễn Huy Tưởng và Tô Hoài Ở đó, tác giả đã có cái nhìn tổng lược về toàn bộ chặng đường sáng tác của Võ Quảng, từ những tác phẩm thơ đến những sáng tác văn xuôi của ông Vân Thanh nhận định về thành công trong sáng tác của Võ Quảng là do nhà văn “nắm chắc được phương hướng giáo dục của Đảng, am hiểu cuộc sống và tâm lý thiếu nhi, biết dày công lao động nghệ thuật, không bao giờ chịu bằng lòng với mình, luôn cố gắng đi tìm một cách viết độc đáo” [47, tr 160]
Ở bài viết Tác phẩm và con người Võ Quảng, Đoàn Giỏi nhấn mạnh về
tính nhân đạo, tinh thần nhân văn cao đẹp trong sáng tác của Võ Quảng Đó chính là tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên và ý thức trách nhiệm của việc giáo dục trẻ thơ bằng văn học Đoàn Giỏi đã nhận định: “Võ Quảng rất
có ý thức về tính giáo dục và tinh thần sư phạm trên từng trang văn Cách chọn từ ngữ ở mỗi câu, mỗi mẩu đối thoại đều có sự cân nhắc, nghiên cứu, chọn lọc Tác giả tỏ ra rất có trách nhiệm đối với việc giáo dục các em” [45,
tr 447]
Trong bài Nhà văn Võ Quảng và vấn đề giáo dục thiếu nhi, Nguyễn Thị
Nhất khẳng định: “Dưới ngòi bút của Võ Quảng, thế giới chung quanh như bừng sáng lên, rực rỡ hơn Cỏ cây, mây trời, muông thú, cho đến những đồ vật như cái mai, cái chổi, chiếc bồ tre, cũng trở nên sống động, cũng có tâm hồn có tình cảm, có ước mơ, có suy tư, đôi khi có cả một triết lí rõ rệt về lý do tồn tại của bản thân mình” [54, tr.466]
Cuốn Võ Quảng - con người, tác phẩm do chính vợ củaVõ Quảng,
đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu, dịch thuật văn học là bà Phương Thảo
Trang 64
biên soạn, đã tập hợp khá đầy đủ các bài viết giúp người đọc hình dung về cuộc đời và sự nghiệp của ông
Nhà văn Inadimonia của Nga trong khi giới thiệu Quê nội năm 1978 đã
nhận định “Võ Quảng là một trong những nhà thơ, nhà văn được thiếu nhi Việt Nam yêu thích nhất” [54, tr 513]
Có thể thấy rằng, khi nhận xét về sự nghiệp văn học của Võ Quảng, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học luôn dành cho ông những lời khen ngợi Đồng thời, họ cũng đánh giá rất cao tài năng của ông qua những sáng tác dành cho nhiếu nhi trong nền văn học Việt Nam đương đại
2.2 Những nhận xét về hai tác phẩm Quê nội và Tảng sáng
Trong cuốn Tuyển tập Võ Quảng (NXB Hội nhà văn, 2008) nhà văn Võ
Gia Trị đã dành hẳn phần cuối của cuốn sách để tập hợp một số phát biểu của các nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu xung quanh hai sáng tác này của Võ Quảng Đó là:
- Trần Thanh Địch trong bài viết Võ Quảng đánh giá: “Quê nội cũng như Tảng sáng âm thầm như một mùi hương gây mê, có sức hấp dẫn và
quyến rũ lạ lùng… bạn đọc người lớn cũng như trẻ em Có là cục đá thì mới không xúc động xao xuyến với những trang tả cảnh đồng bào ta gọi nhau đi học buổi tối, những trang bà Hiến học đánh vần, những trang chấm phá hình dáng về cây sung qua buổi chiều vàng… và bao nhiêu chi tiết ngắn dài qua từng chương sách” [54, tr 489-493]
- Vũ Tú Nam trong bài Tài năng miêu tả của Võ Quảng nhận định: “Võ Quảng nặng tình nghĩa với “Quê nội” đã giúp nhà văn mô tả thiên nhiên và
con người không phải chỉ bằng chữ nghĩa mà bằng cả trái tim, bằng kỉ niệm bồi hồi và nỗi nhớ Nhịp điệu và âm sắc trong thơ văn Võ Quảng là tiếng vang trong trẻo của tâm hồn vừa đầm ấm vừa đôn hậu, vừa ngộ nghĩnh vui tươi, rất
Trang 75
gần với bạn đọc thiếu nhi” [54, tr 459] Đi sâu hơn vào thế giới nghệ thuật, nhà văn còn nhận xét văn miêu tả của Võ Quảng gọn, động, rất gần với thơ
- Vương Trí Nhàn trong bài Chất hài hước trong sáng tác văn xuôi của
Võ Quảng nhận xét: “Chất hài trong Quê nội và Tảng sáng gắn liền với hai
nhân vật chính trong tập sách là Cục và Cù Lao và tập thể các bạn nhỏ tuổi ở
Hòa Phước” và “chúng ta cần rất nhiều tác phẩm văn học biết cười như Quê
nội và Tảng sáng” [54, tr 480-482]
Trong lời nói đầu bản dịch Quê nội sang tiếp Pháp, nhà văn Alice Kahn
khẳng định: “Đây là một loại Tom Sawyer của Việt Nam”, “Cục và Cù Lao
đã đưa lại cho người Pháp sự hiểu biết nhiều hơn về một nước Việt Nam hầu như còn hoàn toàn xa lạ” [54, tr 511]
Tính đến nay đã có khá nhiều bài viết về Võ Quảng cũng như những
nhận xét về hai tác phẩm Quê nội và Tảng sáng Tuy nhiên, theo tìm hiểu của
chúng tôi, chưa có một công trình nào nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện thiếu nhi của ông Trên cơ sở tiếp nhận các ý kiến đánh giá của những học giả đi trước, chúng tôi coi đây là những gợi ý bổ ích trong quá trình nghiên cứu luận văn này
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Luận văn tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện thiếu nhi Võ Quảng nhằm rút ra phong cách tự sự độc đáo của nhà văn
- Khai thác, tiếp cận những bình diện mới trong nghệ thuật tự sự để thấy được vai trò chúng trong việc tạo nên giá trị tác phẩm
- Đánh giá những đóng góp của nhà văn trong nền văn học thiếu nhi nước nhà
Trang 86
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện thiếu nhi của
Võ Quảng ở các khía cạnh cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện, ngôn ngữ
và giọng điệu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Sáng tác của Võ Quảng khá phong phú với nhiều thể loại (truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, truyện đồng thoại…) Với mục đích và khuôn khổ của đề tài,
luận văn tập trung chủ yếu vào khảo sát hai tác phẩm Quê nội và Tảng sáng in trong “Tuyển tập Võ Quảng” (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2008)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp tự sự học
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội
Kết hợp với đó là các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp
để đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn chia thành 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về nghệ thuật tự sự và sáng tác của Võ Quảng trong bức tranh văn học thiếu nhi Việt Nam
- Chương 2: Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong
“Quê nội” và “Tảng sáng”
- Chương 3: Người kể chuyện và ngôn ngữ trần thuật trong “Quê nội”
và “Tảng sáng”
Trang 97
NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SÁNG TÁC CỦA VÕ QUẢNG TRONG BỨC TRANH VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM 1.1 Nghệ thuật tự sự
1.1.1 Khái niệm
Tên gọi Tự sự học - Narratology/ Narratologie do nhà nghiên cứu Pháp gốc Bungari T.Todorov đề xuất năm 1969 trong sách Ngữ pháp “Câu chuyện
mười ngày” Kể từ đó, lí luận tự sự đã trở thành một vấn đề chủ yếu của
nghiên cứu văn học
J.H.Miller, nhà giải cấu trúc Mĩ (1993) cho rằng: “Tự sự là cách để ta đưa các sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng có một ý nghĩa Tự
sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố” [44, tr.12] Còn Jonathan Culler (1998) lại nhận định: “Tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết
sự vật” [44, tr.12] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những cách hiểu khác nhau về tự sự Đặng Anh Đào cho rằng: “Tự sự là một khái niệm rất rộng và có thể xét ở hai bình diện Bình diện thứ nhất: Tự sự như sự đồng nghĩa với “câu chuyện kể” đối lập với miêu tả Bình diện thứ hai: Tự sự được
xem xét theo hành động kể chuyện” [44, tr.170] Trần Đình Sử thì khẳng
định: “Tự sự là hệ thống những sự kiện, cách thức tổ chức sự kiện, các mô típ truyện, sự phân loại các mô típ, diễn ngôn, lời kể với những người kể, điểm
nhìn, thời, thức” [44, tr.8] Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tự sự là một
phương thức tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời của con người Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện, gắn với cốt truyện là một
hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ, nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình,
Trang 108
kịch” [15, tr 317] Tựu chung lại, nội dung của nghệ thuật tự sự là nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của tự sự học
Tự sự học đã có từ thời Platon, Aristote Giai đoạn đó người ta chia tự
sự làm hai loại là: tự sự lịch sử và tự sự nghệ thuật Đến thế kỉ V người ta phân biệt: tự sự mô phỏng (không có sự can dự của người kể, như kịch), tự sự giải thích (có kèm phân tích, bình luận) và tự sự hỗn hợp (như sử thi)
Tự sự học hiện đại manh nha từ cuối thế kỉ trước Cho đến nay tự sự học có thể chia thành ba thời kì:
+ Tự sự học trước cấu trúc chủ nghĩa: nghiên cứu các thành phần, chức
năng của tự sự Các học giả tập trung vào nghiên cứu các yếu tố và đơn vị của
tự sự như cốt truyện, nhân vật, ngôn từ trần thuật, điểm nhìn… chia truyện thành hai lớp là chất liệu và hình thức, mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, ngôn ngữ trần thuật và tính đối thoại của nó Có thể kể đến các công trình của Percy Lubbock và K.Friedemann nghiên cứu các vấn đề điểm nhìn, dòng ý thức (1921) B.Tomasepxki nghiên cứu các yếu tố và đơn vị của tự sự (1925), V.Propp nghiên cứu cấu trúc và chức năng tự sự của truyện cổ tích (1928)
+ Tự sự học cấu trúc chủ nghĩa: đi tìm mô hình cho hình thức tự sự, mở đầu với công trình Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự của R.Barthes năm
1968 Todorov có Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”, tiếp theo là nghiên
cứu cấu trúc thần thoại của Claude Levi-Strauss và mô hình hành vi ngôn ngữ của Roman Jakobson Đặc điểm của lí thuyết tự sự cấu trúc chủ nghĩa là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự, lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là
sự mở rộng của ẩn dụ Các học giả đã góp phần làm sáng tỏ bản chất biểu đạt
và giao tiếp của tự sự Todorov xem nhân vật như danh từ, tình tiết là động từ A.J.Greimas vận dụng sự đối lập trục liên kết và trục lựa chọn để nghiên cứu
Trang 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 A.M.Gô-rơ-ki, Ét-sphia Sư-ru-pa, Vê-ra Smi-a-nô-va (1960), Kinh nghiệm
viết cho các em, Hạ Nghi, Kim Cận, Cao Hướng Chân (dịch), Nxb Văn học,
Hà Nội
2 Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội
3 Lê Huy Bắc (2008), “Cốt truyện trong tự sự”, Tạp chí Văn học, (số 7), tr
34-44
4 Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Đức Hiểu, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Từ điển
văn học (2004), Nxb Thế giới, Hà Nội
5 Nguyễn Đức Dân (1988), Tiếng cười thế giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội
6 Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội
7 Nguyễn Thị Thùy Dung (2011), Thế giới tuổi thơ trong sáng tác của Võ
Quảng, Luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam, Đại học Đà Nẵng
8 Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
9 Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội
10 Trương Đăng Dung (2004), “Trên đường đến với tư duy lý luận văn học
hiện đại”, Nghiên cứu văn học, (Số 12), tr 47-64
11 Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê
Chí Dũng (1998), Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội
12 Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội
13 Phan Cự Đệ (chủ biên) (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX – những vấn
đề lịch sử và lí luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội