1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng

110 328 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 9,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu: Nghiên cứu, phân tích điều kiện địa mạo trong mối quan hệ với thổ nhưỡng góp phần sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện Di Linh, tỉnh L

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS ĐẶNG VĂN BÀO

Hà Nội, Năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn với đề tài "Nghiên cứu địa mạo phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường đất huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng" tác giả đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Văn Bào,

các thầy cô trong khoa địa lý đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập, công tác và thực hiện luận văn

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Đại học khoa học tự nhiên, Ban Chủ nhiệm Khoa Địa Lý và các thầy cô giáo đã tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập

Xin cảm ơn sự giúp đỡ của từ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước thuộc

Chương trình Tây Nguyên 3 “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp tăng cường liên kết vùng của Tây Nguyên với duyên hải Nam Trung Bộ trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai” Mã số TN3/T19 do

PGS.TS Đặng Văn Bào chủ trì

Cuối cùng tác giải xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tác giả, động viên và khuyến khích tác giả trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp tích cực của quý thầy cô và các bạn

để luận văn được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 2 tháng 2 năm 2016

Tác giả

Phạm Thị Tám Hương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả

Phạm Thị Tám Hương

Trang 5

i

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1- Tổng quan về cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5

1.1 Tổng quan về nghiên cứu địa mạo trong mối quan hệ với thổ nhưỡng 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Tại Việt Nam 8

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu tại huyện Di Linh 9

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên 9

1.3.2 Các công trình nghiên cứu về khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường 10

1.3 Cơ sở lý luận 11

1.3.1 Mối quan hệ giữa địa mạo và thổ nhưỡng 11

1.3.2 Vai trò của địa mạo trong nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất 23

1.4 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 25

Chương 2: Đặc điểm địa mạo – thổ nhưỡng huyện Di Linh 29

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến địa hình 29

2.1.1 Vị trí địa lý huyện Di Linh 29

2.1.2 Địa chất 30

2.1.3 Khí hậu 34

2.1.4 Thủy văn 36

2.1.5 Thảm thực vật 37

2.1.6 Hoạt động kinh tế - xã hội 39

2.2 Đặc điểm địa mạo huyện Di Linh 42

2.2.1 Khái quát địa hình huyện Di Linh 42

Trang 6

ii

2.2.2 Đặc điểm các kiểu nguồn gốc địa hình 47

2.3 Đặc điểm địa mạo – thổ nhưỡng huyện Di Linh 53

2.3.1 Khái quát chung về bản đồ địa mạo – thổ nhưỡng 53

2.3.2 Đặc điểm thổ nhưỡng huyện Di Linh 54

2.3.3 Đặc điểm địa mạo - thổ nhưỡng huyện Di Linh 58

Chương 3- Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện Di Linh 66

3.1 Đánh giá xói mòn đất tiềm năng huyện Di Linh 66

3.2 Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện Di Linh trên cơ sở phân tích địa mạo 75

3.2.1 Phân vùng địa mạo ứng dụng định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện Di Linh 75

3.2.2 Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất trên cơ sở phân tích địa mạo 80

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

iii

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ quá trình khoáng hóa và mùn hóa [20] 18

Hình 1.2: Sơ đồ thể hiện mối tương quan tạo thổ nhưỡng với độ dốc địa hình [11] 21

Hình 1.3: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 28

Hình 2.1: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 29

Hình 2.2: Bản đồ địa chất huyện Di Linh 32

Hình 1.3: Bản đồ hệ thống thủy văn huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng 37

Hình 2.4: Bản đồ phân tầng độ cao huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng 43

Hình 2.5: Địa hình núi trung bình với các sườn bóc mòn phía đông nam Di Linh 44

Hình 2.6: Bản đồ độ dốc huyện Di Linh 45

Hình 2.7: Sự phân cắt địa hình huyện Di Linh 46

Hình 2.8: Bề mặt lớp phủ dung nham tại Di Linh 48

Hình 2.9: Bản đồ địa mạo huyện Di Linh 49

Hình 2.10: Sườn bóc mòn dốc 15-20 0 trên trầm tích lục nguyên ở phía đông nam Di Linh 51

Hình 2.11: Sườn xâm thực và rửa trôi bề mặt phát triển trên pediment ở phía đông bắc Di Linh 51

Hình 2.12: Địa hình tích tụ hỗn hợp sông – đầm lầy giữa cao nguyên bazan ở Di Linh 52

Hình 2.13: Bản đồ thổ nhưỡng huyện Di Linh 57

Hình 2.14: Đất feralit phát triển trên bề mặt lớp phủ bazan tại cao nguyên Di Linh 59 Hình 2.15: Bản đồ địa mạo – thổ nhưỡng huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng 61

Hình 2.16: Đất vàng đỏ trên sườn bóc mòn cấu tạo bở đá granit 64

Hình 2.17: Đất đỏ vàng trên sườn xâm thực rửa trôi đá cát sét kết 64

Hình 3.1: Sơ đồ đánh giá xói mòn 67

Hình 3.2: Hệ thống các bản đồ dẫn xuất 71

Trang 8

iv

Hình 3.3: Phân cấp xói mòn tiềm năng huyện Di Linh 73

Hình 3.4: Trượt đất trên quốc lộ 20 tại phía bắc trung tâm huyện Di Linh 74

Hình 3.5: Bản đồ phân vùng địa mạo - thổ nhưỡng huyện Di Linh 78

Hình 3.6: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Di Linh 82

Hình 3.7: Ảnh vệ tinh Google Earth tiểu vùng núi sót bắc Di Linh 89

Hình 3.8: Ảnh vệ tinh Google Earth tiểu vùng thung lũng kiến tạo sông Đa Dâng 90

Hình 3.9: Bản đồ định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất huyện Di Linh 92

Trang 9

v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Sơ lược phân loại địa hình do dòng chảy tạo thành [7] 14

Bảng 1.2: Nhân tố, quá trình hình thành và phát sinh địa hình và thổ nhưỡng 19

Bảng 2.1: Diễn biến một số yếu tố khí hậu theo các tháng trong năm 35

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Di Linh theo các năm (đơn vị: %) 40

Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu của Di Linh giai đoạn 2005 – 2013 41

Bảng 2.4 Diện tích rừng và sản lượng gỗ khai thác qua các năm huyện Di Linh 42

Bảng 2.5: Chỉ dẫn bản đồ địa mạo – thổ nhưỡng huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng 62

Bảng 3.1: Lượng mưa trung bình năm tại các trạm quan trắc, tỉnh Lâm Đồng 68

Bảng 3.2: Một số công thức tính hệ số K 69

Bảng 3.3: Hệ số K của các loại đất huyện Di Linh 70

Bảng 3.4: Bảng phân cấp nguy cơ xói mòn tiềm năng huyện Di Linh 72

Bảng 3.5: Bảng tỉ lệ diện tích (%) các cấp nguy cơ xói mòn tiềm năng phân theo các xã 74

Bảng 3.6: Tỉ lệ diện tích các cấp xói mòn tiềm năng theo phân theo các tiểu vùng địa mạo – thổ nhưỡng 81

Bảng 3.7: Đặc trưng xói mòn tiềm năng theo các tiểu vùng địa mạo – thổ nhưỡng 81

Bảng 3.8: Bảng hiện trạng sử dụng đất tính đến 31/12/2013 huyện Di Linh 83

Bảng 3.9: Chú giải bản đồ định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện Di Linh 93

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Địa mạo là một khoa học nghiên cứu địa hình bề mặt đất song nó không phải môn khoa học lý thuyết thuần túy nghiên cứu bản chất của địa hình Gần đây, địa mạo học đã được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt cả trong nghiên cứu tài nguyên và môi trường Để làm được điều này trước hết cần thừa nhận rằng cả địa hình mặt đất (ở bất cứ quy mô nào) lẫn các quá trình hình thành và biến đổi nó (ở dạng chung nhất là quá trình bóc mòn và quá trình tích tụ) đều là những loại tài nguyên đặc biệt Bởi vì trong cuộc sống của mình, con người đã, đang và sẽ còn sử dụng và cải tạo địa hình mặt đất để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Trong quá trình sử dụng và cải tạo ấy, con người vô hình chung đã và đang gây tổn thất về diện tích đất canh tác hay nói đúng hơn là lớp thổ nhưỡng bề mặt

Thổ nhưỡng (hay đất) là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là “địa bàn” chính cho các hoạt động trao đổi vật chất - năng lượng đặc biệt là quá trình trao đổi và phân hủy chất hữu cơ, là nơi cư trú cho các loài thực - động vật, và là tư liệu sản xuất quan trọng của con người Đất là nguồn tài nguyên tái tạo, song với mức độ khai thác triệt

để, mạnh mẽ của con người như hiện nay đang khiến nguồn tài nguyên này vượt quá khả năng tự điều chỉnh và phục hồi Theo Báo cáo Đánh giá trực trạng tài nguyên đất quy mô toàn cầu năm 2011 của FAO (Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc) [32] thì: 25% diện tích đất trên thế giới đang “thoái hóa nghiêm trọng” - với nhiều biểu hiện như xói mòn, thiếu nước và suy giảm mức độ đa dạng sinh học FAO nhận định rằng tới năm 2050, lượng lương thực phải tăng thêm 70% so với mức hiện nay để đáp ứng nhu cầu của dân số (được dự đoán sẽ tăng lên 9 tỷ người) Điều đó có nghĩa là nông dân sẽ phải sản xuất thêm một tỷ tấn lúa mì, gạo và các ngũ cốc khác, họ cũng phải sản xuất thêm 200 triệu tấn thịt bò và các loại thịt khác Với thực trạng đó, vấn đề sử dụng, khai thác hợp lý tài nguyên đất gắn với bảo vệ môi trường rõ ràng đã – đang trở thành vấn đề bức thiết và “Các hành động phòng ngừa cần phải được thực hiện ngay từ bây giờ” (Diouf – tổng giám đốc FAO) [32]

Cơ sở khoa học quan trọng cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên trước hết là phải lựa chọn được từ các đặc điểm đặc trưng của tự nhiên thông qua đó phân tích đặc điểm về sự phân hóa tài nguyên, đặc trưng về động lực hình thành từ đó cho phép xác định mức độ thích hợp nhất cho việc khai thác sử dụng tài nguyên Theo Jenny[34], địa hình là một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình thành tạo đất, đặc điểm phân hóa về địa hình sẽ dẫn đế sự phân hóa về tài nguyên đất

Trang 11

và động lực thành tạo địa hình cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình hình thành đất Đặc điểm địa mạo thì phản ánh đồng thời cả đặc điểm địa hình và quá trình thành tạo địa hình ấy Chính vì vậy, đối với tài nguyên đất thì nghiên cứu địa mạo là cơ sở khoa học quan trọng cho việc định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Di Linh là một huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Di Linh, ở độ cao 1000 m so với mặt nước biển Di Linh là vùng cao nguyên trung du, đồi núi lồi lõm bị cắt bởi nhiều thung lũng, có nhiều đèo: Le, Yankar, D’Rah, K’Nil Địa hình khu vực tương đối đa dạng, vừa có địa hình dạng núi cao, vừa có các bề mặt san bằng; lại nằm trong khu vực thượng nguồn của các lưu vực sông : sông Lũy và sông La Ngà,

vì vậy quá trình địa mạo ở đây xảy ra tương đối mạnh mẽ Trong những năm gần đây, hoạt động khai thác thác tài nguyên đất phạm vi huyện bên cạnh việc đem lại hiệu quả kinh tế thì các vấn đề về ô nhiễm, thoái hóa, xói mòn đất xảy ra tương đối mạnh mẽ

Xuất phát từ những lý do thực tiễn trên, đề tài luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu địa

mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng” được học viên lựa chọn nghiên cứu với mục tiêu và nhiệm vụ như sau:

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu: Nghiên cứu, phân tích điều kiện địa mạo trong mối quan hệ với thổ

nhưỡng góp phần sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

3 Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn tập trung giải quyết các nội dung: 1) Tổng quan cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đến địa mạo - thổ nhưỡng 2) Phân tích các điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển địa hình; đặc điểm địa mạo và các quá trình địa mạo Di Linh

3) Phân tích các điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển địa hình; đặc điểm địa mạo và các quá trình địa mạo Di Linh

Để thực hiện các nội dung trên thì nhiệm vụ cần làm bao gồm:

1) Thu thập, phân tích, xử lý tổng hợp tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

và khu vực nghiên cứu

2) Khảo sát thực địa bổ sung

3) Biên tập các bản đồ chuyên đề và xây dựng bản đồ tổng hợp

Trang 12

4) Viết báo cáo

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn tiếp cận vấn đề chủ yếu theo các hướng: tiếp cận hệ thống, tiếp cận tổng hợp, tiếp cận lịch sử và tiếp cận theo hướng phát triển bền vững Cụ thể sẽ được phân tích trong chương 1

Một số phương pháp sử dụng để thực hiện đề tài gồm: Thu thập, tổng hợp và xử

lý thông tin; Điều tra khảo sát thực địa; Các phương pháp nghiên cứu địa mạo và địa mạo - thổ nhưỡng; Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)

6 Cơ sở để thực hiện đề tài

- Tài liệu công bố và lưu trữ: Các tài liệu về cơ sở địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường Luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sĩ nghiên cứu các vấn đề về

sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường tỉnh Lâm Đồng nói chung cũng như của huyện Di Linh nói riêng Tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của tỉnh Lâm Đồng Tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của huyện Di Linh

- Các tài liệu bản đồ và ảnh viễn thám: Bản đồ địa mạo, bản đồ địa chất - khoáng sản, bản đồ quy hoạch khoáng sản, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hành chính, ảnh

vệ tinh (lấy từ Google Earth) khu vực nghiên cứu

- Luận án được sử dụng tài liệu từ đề tài nghiên cứu nhà nước mà học viên đang

tham gia: Đề tài: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp tăng cường liên kết vùng của Tây Nguyên với duyên hải Nam Trung Bộ trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai, thuộc Chương trình Tây Nguyên 3,

Mã số KHCN-TN3/11-15, TN3/T19 do PGS.TS Đặng Văn Bào làm Chủ nhiệm đề tài

Trang 13

- Ngoài ra còn có cơ sở dữ liệu của học viên thu thập trong đợt khảo sát thực địa

- Đề xuất một số mô hình phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm của từng đơn

vị địa mạo và một số giải pháp phòng chống xói mòn đất ở khu vực

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi

trường sẽ là tiền đề cho việc phục vụ định hướng phát triển bền vững của khu vực nghiên cứu trong các đề tài nghiên cứu tiếp theo Nghiên cứ theo hướng địa mạo tuy là một hướng truyền thống nhưng lại là hướng nghiên cứu cơ bản cần có Các thông tin trong tài liệu sẽ góp phần làm phong phú nguồn tư liệu lưu trữ để sử dụng cho việc nghiên cứu đánh giá trong tương lai

Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những tài liệu khoa

học giúp các nhà quản lý ở địa phương chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất hợp lý theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường đất và xây dựng các phương án phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại do xói mòn đất ở khu vực

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày

trong 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về cơ sở lý luân và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm địa mạo – thổ nhưỡng huyện Di Linh

Chương 3: Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện Di Linh

Trang 14

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về nghiên cứu địa mạo trong mối quan hệ với thổ nhưỡng

1.1.1 Trên thế giới

Địa mạo là một khoa học nghiên cứu về địa hình mặt đất Ngay từ khi ra đời nó

đã phải trả lời các câu hỏi: Địa hình mặt đất là gì? Nó được phân bố ở đâu? Nó được hình thành và phát triển ra sao? Và nghiên cứu nó để làm gì? Trả lời câu hỏi cuối cùng nhằm vào hai mục tiêu: thứ nhất là cung cấp cơ sở thực tiễn về các quá trình hình thành và phát triển địa hình mặt đất để xây dựng cơ sở lý thuyết của các khoa học về Trái Đất; thứ hai là đưa vào sử dụng địa hình và các quá trình địa mạo trong cuộc sống kinh tế xã hội của loài người

Cùng với các bộ môn khoa học về Trái Đất, địa mạo học với những kết quả nghiên cứ địa hình có những đóng góp đáng kể trong việc tìm hiểu lịch sử tiến hóa của các vùng tự nhiên khác nhau Không chỉ thế, kết quả nghiên cứu địa mạo còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ trực tiếp đến gián tiếp Có thể kể đến một số hướng nghiên cứu địa mạo ứng dụng trong thời gian qua trên toàn thế giới như: ứng dụng kết quả nghiên cứu địa mạo trong tìm kiếm khoáng sản (nhất là đối với một số loại khoáng sản có hiệu xuất cao như sa khoáng, vật liệu xây dựng, bể chứa dầu khí ); ứng dụng địa mạo trong việc lựa chọn vị trí các công trình (như đô thị, giao thông…); hướng địa mạo môi trường; hướng địa mạo sinh thái; hướng địa mạo trong nghiên cứu tai biến thiên nhiên…

Có thể thấy, địa mạo học được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực khác nhau nhưng phần lớn vẫn là những ứng dụng trong nghiên cứu tài nguyên và môi trường Địa mạo môi trường bắt đầu xuất hiện từ những năm 70 của thế kỉ XX ở các nước phương Tây (như Anh, Mỹ) Theo D.R.Coates [29], địa mạo môi trường (Environmental Geomorphology) là hướng sử dụng các nguyên lý địa mạo học trong thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề mà ở đó con người muốn thay đổi địa hình hoặc

để sử dụng và thay đổi các quá trình trên mặt Mục tiêu của nghiên cứu địa mạo môi trường là làm giảm thiểu những biến đổi địa hình và tìm hiểu các quá trình tương tác cần thiết trong việc khôi phục hoặc duy trì cân bằng tự nhiên Theo hướng này, các tài liệu địa mạo đều được sử dụng trong hầu hết các công trình dân sinh và quốc phòng,

Trang 15

trong đó đáng kể nhất là trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng đô thị, giao thông, v.v., đặc biệt là trong lĩnh vực quy hoạch và quản lý môi trường

Đến những năm cuối của thế kỉ XX, khi những hoạt động xây dựng cơ sở kinh

tế - xã hội của con người tác động đến địa hình gây nên sự tổn thất về diện tích đất canh tác (hoặc đất lâm nghiệp) thì địa mạo sinh thái phát triển với hướng chính là ứng dụng địa mạo phục vụ cho việc nghiên cứu các quá trình hình thành và phát triển lớp phủ thổ nhưỡng Vì đất (thổ nhưỡng) là kết quả tổng hợp giữa tốc độ hình thành thổ nhưỡng và tốc độ bóc mòn sườn Tuy nhiên, trong quá trình đó thì tác động thành tạo địa hình dường như có hiệu lực lớn hơn Theo hướng này, các nhà địa mạo Pháp như Lafforge, Biedel, France de Ferriere [15] cho rằng, trên cơ sở nghiên cứu các thành tạo

bề mặt, địa mạo học đã thiết lập cái cầu nối giữa địa chất với thổ nhưỡng Mặt khác, các thành tạo bề mặt chỉ có thể hiểu được trong một khung cảnh khí hậu - sinh vật nhất định

Như vậy, theo hướng mạo môi trường, việc nghiên cứu địa hình trong mối quan

hệ với lớp phủ thổ nhưỡng, nghiên cứu các quá trình địa mạo liên quan với thoái hóa đất đã được đặc biệt quan tâm Đó cũng chính là nội dung được đề cập tới trong luận văn này

Tồng quan chung về lịch sử nghiên cứu địa mạo trong mối quan hệ với thổ nhưỡng trên thế giới, ta có thể chia làm bốn giai đoạn như sau:

Từ thời Hy Lạp cổ đại, con người đã quan tâm nghiên cứu tới đất nhưng chỉ chỉ

ở mức độ đánh giá đất theo thành phần cơ giới (cát, thịt, sét ), màu sắc (đen, nâu, vàng ), tính chất (chua, mặn, bạc màu…) với mục đích chính là phục vụ canh tác, sản xuất

Bắt đầu từ cuối thế kỉ XIX, đất mới thật sự trở thành đối tương nghiên cứu khoa học độc lập Tại các nước có nền khoa học phát triển như Liên Xô cũ, Mỹ…, các nhà khoa học đã bắt đầu quan tâm và chú ý tới mối liên hệ giữa địa hình và đất V.V.Dokuchaev [20] – ông tổ của ngành nghiên cứu khoa học đất hiện đại đã đặt nền móng đầu tiên cho phương pháp nghiên cứu, khảo sát đất trên cơ sở nguồn gốc phát sinh Sau V.V.Dokuchaev, N.M.Xibirtxev đã đưa ra quan niệm "địa hình là nhân tố chủ đạo tạo nên tổ hợp đất" Tiếp bước nghiên cứu của N.M.Xibirtxev, G.N.Vưxotxki

đã đưa ra các sơ đồ điển hình của kết cấu lớp phủ thổ nhưỡng trong sự phụ thuộc vào

Trang 16

địa hình đối với 4 đới: rừng, thảo nguyên rừng, thảo nguyên và thảo nguyên khô Công lao lớn của ông là đã phát hiện ra mối quan hệ tương hỗ về mặt phát sinh giữa các đất nằm ở các vị trí khác nhau nhưng hoàn toàn xác định trên địa hình

Đến những năm 30 của thế kỉ XX, đất được các nhà khoa học trên thế giới chú trọng nghiên cứu dưới góc độ nguồn gốc phát sinh và lịch sử phát triển, phương pháp địa mạo – thổ nhưỡng được ứng dụng lần đầu ở các nước phương Tây trong quá trình tìm kiếm sự lý giải về tính phân hóa đa dạng và phức tạp của lớp vỏ thổ nhưỡng Năm

1936, trong công trình nghiên cứu của mình, Milne [37] lần đầu tiên đưa ra học thuyết

về “catena” (dãy thổ nhưỡng) để chỉ phát triển luân phiên có quy luật của đất trên một hoặc một vài loại đá, liên quan với sự thay đổi điều kiện thông dẫn nước do sự thay đổi địa hình Với học thuyết này, Milne đã nhấn mạnh và nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa đất và địa hình song đã không loại trừ “dãy thổ nhưỡng” phát triển trên những khu vực vật liệu đá gốc, thạch học không đồng nhất dọc theo “dãy thổ nhưỡng”

đó Năm 1942, Bushnell [35] đã mở rộng và đồng thời hạn chế việc áp dụng thuật ngữ này bao gồm tất cả các dạng địa hình có thể khác nhau, vị trí bóc mòn và thủy văn, nhưng dựa trên vật liệu mẹ nhất định Về bản chất, Bushnell muốn một “catena” chỉ khác nhau liên quan tới sự thoát nước và ông đã đưa ra một khái niệm mới là chuỗi địa hình (Toposequences), cùng với đó là các khái niệm liên quan về chuỗi khí hậu (Climatosequences), chuỗi sinh vật (Bioseences), chuỗi thời gian (Chronosequences), chuỗi thạc học (Lithosequences)

Từ thập niên 70 của thế kỉ XX, khái niệm địa mạo – thổ nhưỡng ra đời sau những nghiên cứu của các nhà khoa học Pháp J.Tricart và các nhóm các nhà thổ nhưỡng của Viện Nghiên cứu Nông học Nhiệt đới Các tác giả đã xem xét một cách đặc biệt mối quan hệ giữa hai quá trình tạo hình thái - tạo thổ nhưỡng và cán cân của mối tương quan giữa chúng Và địa mạo - thổ nhưỡng dần trở thành một lĩnh vực khoa học nghiên cứu chuyên sâu như Birkeland (1984) [41] đã xác định địa mạo - thổ nhưỡng là một khoa học nghiên cứu đất và sử dụng chúng trong việc đánh giá sự tiến hóa, tuổi và sự ổn định của địa hình, các quá trình bề mặt và khí hậu trong quá khứ Wysocki (2000) định nghĩa rộng hơn, địa mạo – thổ nhưỡng là khoa học nghiên cứu nguồn gốc, sự phân loại và sự tiến hóa của đất, cảnh quan và sự lắng đọng trầm tích các bề mặt, các quá trình tạo ra và thay đổi chúng Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như một số công trình: “Soils geomorphology” của Raymond

Trang 17

Bryant Daniels, Richard D.Hammer [33] xuất bản năm 1992 Daniel và Hammer đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của mối quan hệ giữa địa mạo và thổ nhưỡng Ông cho rằng độ dốc địa hình và bề mặt địa mạo có ý nghĩa đến quá trình di chuyển vật chất, ảnh hưởng đến tốc độ tiến hóa của dạng cảnh quan bóc mòn, do đó tác động làm biến đổi lớp thổ nhưỡng phía trên mặt Hay các nghiên cứu: “Soils genesis and classification” của S.W.Buol, R.J.Southard, R.C.Graham, P.A.Mc Daniel [39] xuất bản năm 2003; “Soils: Genesis and geomorphology” của Randall J.Schaetzl, Sharon Anderson [40] xuất bản năm 2005 và nhiều bài báo và tạp chí khác của nhiều nhà khoa học trên thế giới Ngoài ra cũng có nhiều công trình nghiên cứu và thành lập bản đồ địa mạo - thổ nhưỡng cho một vùng cụ thể trên thế giới như công trình nghiên cứu và thành lập bản đồ địa mạo - thổ nhưỡng vùng TouBa (Bờ biển Ngà) của M.Viennot [15]

1.1.2 Tại Việt Nam

Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thổ nhưỡng đã được nghiên cứu dưới góc độ nguồn gốc phát sinh và lịch sử phát triển của nó, nghĩa là xem xét trong mối quan hệ giữa các yếu tố địa lý, từ đó có thể nắm được quy luật phát sinh, phát triển của đất trong những điều kiện địa lý khác nhau

Trong những năm gần đây, đã có một số công trình của các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và thành lập bản đồ địa mạo - thổ nhưỡng Như công trình: "Một số vấn đề về địa mạo - thổ nhưỡng và thành lập bản đồ địa mạo - thổ nhưỡng cho quy hoạch phát triển kinh tế" (1995) của tác giả Nguyễn Thế Thôn [19] Theo tác giả Nguyễn Thế Thôn thì: "địa mạo - thổ nhưỡng là hợp phần lãnh thổ đồng nhất về nền

đá, hình thái nguồn gốc địa hình và lớp vỏ thổ nhưỡng, có cùng động lực hình thành và phát triển theo không gian và thời gian ở mức độ ổ định như nhau, trong mối liên quan nhất định với lớp phủ thực vật và thuỷ văn"

Các công trình nghiên cứu địa mạo – thổ nhưỡng của tác giả Vũ Ngọc Quang

và đồng nghiệp [13]: "Nghiên cứu và thành lập bản đồ địa mạo – thổ nhưỡng tỉnh Thái Nguyên" Với mục đích xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân loại các cảnh quan địa mạo - thổ nhưỡng Việt nam, tập thể tác giả áp dụng các chỉ tiêu được lựa chọn để thành lập bản đồ địa mạo – thổ nhưỡng Việt nam vùng đất liền, bản đồ tỉnh Thái Nguyên, khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc Các bản đồ địa mạo - thổ nhưỡng có ý nghĩa quan trọng

Trang 18

trong nghiên cứu khoa học và thực tiễn Vũ Ngọc Quang cũng đã có công trình luận án tiến sĩ về “Nghiên cứu thành lập bản đồ, địa mạo - thổ nhưỡng làm cơ sở khoa học cho

sử dụng lâu bền tài nguyên môi trường đất Việt Nam” (2002) [15]

Hướng tiếp cận nghiên cứu thổ nhưỡng dưới góc độ địa mạo phục vụ định hướng sử dụng đất phải kể đến các công trình của tác giả Đào Đình Bắc cho một phạm

vi lãnh thổ cụ thể Trong đó nổi bật là các bài báo: “Địa mạo – thổ nhưỡng, nội dung

và ý nghĩa của nó đối với việc quy hoạch sử dụng đất”(1997)[5]; “Tương quan tạo hình thái - tạo trầm tích trong kỷ Đệ Tứ ở Việt Nam”(1998)[6] Trong Bài báo“Địa mạo – thổ nhưỡng và định hướng sử dụng đất khu vực Ba Vì - Hà Tây”(1997)[4], tác giả đã xây dựng bản đồ địa mạo - thổ nhưỡng tỷ lệ 1:100.000 ở địa bàn khu vực

nghiên cứu với 10 đơn vị địa mạo - thổ nhưỡng được phân chia theo nguồn gốc phát sinh và lịch sử phát triển của nó Trên mỗi đơn vị địa mạo – thổ nhưỡng có những đặc trưng hình thái địa hình khác nhau và có các quá trình động lực hiện đại chiếm ưu thế

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu tại huyện Di Linh

Các công trình nghiên cứu cho riêng Di Linh rất ít nhưng địa bàn huyện được nghiên cứu tổng thể trong các công trình điều tra cơ bản, các nghiên cứu của các đề tài phạm vi tỉnh Lâm Đồng nói riêng đặc biệt là các đề tài về Tây Nguyên nói chung

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên

Địa chất, địa mạo

Công tác nghiên cứu địa mạo trên lãnh thổ Việt Nam đã được bắt đầu ngay từ những năm đầu của công cuộc xây dựng đất nước Cho tới nay, công tác hiệu đính bản

đồ địa mạo tỷ lệ 1:500.000 và thành lập các bản đồ địa mạo ở tỷ lệ 1:200.000 do Cục địa chất Việt Nam chủ trì đã được hoàn thành Nhiều vùng lãnh thổ đã được đo vẽ địa mạo chi tiết đến tỷ lệ 1:50.000 Cùng với đó là các công trình nghiên cứu chuyên đề về địa mạo với nhiều hướng khác nhau

Đối với khu huyện Di Linh, công tác điều tra và đo vẽ địa chất địa mạo đã được hoàn thành với bản đồ tỉ lệ 1: 200.000 [17, 23] (Bản đồ địa chất khoáng sản nhóm tờ Bến Khế - Đồng Nai, Nguyễn Đức Thắng, 1998; Bản đồ địa mạo tờ Đà Lạt, Vũ Văn Vĩnh, 1987), tỉ lệ 1: 50.000 [22] (Bản đồ Địa chất và tìm kiếm khoáng sản; Bản đồ địa mạo nhóm tờ Đà Lạt, Nguyễn Văn Cường, 1994) Ngoài ra về địa chất, Sở Tài nguyên

Trang 19

Môi trường tỉnh Lâm Đồng cũng đã phối hợp với Đoàn Địa chất I tiến hành đo vẽ và hoàn thành bản đồ địa chất của tỉnh tỉ lệ 1: 100.000 Về đặc điểm địa mạo khu vực cũng được mô tả trong những tài liệu nghiên cứu chung cho toàn lãnh thổ, cụ thể như Thiên nhiên Việt Nam [18]; Địa mạo Việt Nam, Cấu trúc – Tài nguyên – Môi trường [1]; gần đây nhất là Bản đồ Địa mạo Việt Nam – Phần lục địa [2]

Thổ nhưỡng

Trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng, vấn đề điều tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng đã được nhiều cơ quan tiến hành từ lâu Trong đó năm 1982, Ban Phân vùng Kinh tế tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Trung tâm Địa lý – Tài nguyên thuộc Viện khoa học Việt Nam và Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã xây dưng bản đồ đất toàn tỉnh tỉ lệ 1: 100.000 nhờ khai thác ảnh vệ tinh Landsas, ảnh máy bay, ảnh đa phổ MKF6 kết hợp với điều tra bổ xung thực địa

Đến năm 2000, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp và Trường đại học Catholic, Leuven (Vương quốc Bỉ) đã xây dựng bản đồ đất toàn tỉnh tỉ lệ 1: 100.000 theo hệ thống phân loại FAO/UNESCO và tham chiếu hệ thống phân loại đất Quốc tế WRB (World Soil Resources)

Trong thời gian 15 năm (1995 – 2010), theo yêu cầu của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh

và Sở khoa học Công nghệ Lâm Đồng, Trung tâm Nghiên cứu Đất – Phân bón và Môi trường phía Nam đã tiến hành điều tra, đánh giá đất đai cho các xã ở tỉ lệ 1: 5.000 – 1: 10.000 đồng thời tổng hợp tài liệu cho từng huyện với tỉ lệ 1: 25.000 trong đó tài liệu huyện Di Linh được hoàn thành vào khoảng năm 2004 – 2006

1.3.2 Các công trình nghiên cứu về khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Về tài nguyên nước: Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp nhà

nước KHCN-TN3/11-15 thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm

2014 đã hoàn thành đề tài: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho giải pháp tổng thể giải quyết các mâu thuẫn lợi ích trong việc khai thác sử dụng tài nguyên nước lãnh thổ Tây Nguyên, mã số: TN3/T02 do Nguyễn Lập Dân làm chủ biên [27] Nằm trong khuôn khổ nhóm đề tài cấp nhà nước KC08 có đề tài: Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học

và đề xuất các giải pháp bảo vệ và sự dụng hợp lý tài nguyên nước vùng Tây Nguyên

do Đoàn Văn Cách làm chủ biên [26]

Trang 20

Về tài nguyên đất: có nghiên cứu của Lưu Thế Anh [25] về thoái hóa đất, hoang

mạc hóa ở Tây Nguyên và đề xuất giải pháp sử dụng đất bền vững thuộc đề tài cấp nhà nước TN3/T1

Ngoài ra còn có có nghiên cứu về đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, biến động sử dụng tài nguyên từ đó xác lập các mô hình kinh tế - sinh thái bền vững cho một số vùng địa lý trọng điểm khu vực Tây Nguyên thuộc đề tài cấp nhà nước mã số TN3/T3 do Phạm Hoàng Hải làm chủ biên

Về hướng địa mạo – thổ nhưỡng thì Đề án “Xây dựng và sử dụng một số cơ sở

dữ liệu địa lý để quản lý đất đai và môi trường, áp dụng cho miền núi Việt Nam” mã

số STD3 - CT94 - 0310 do Eu tài trợ, Viện địa lý - TTKHTN & CNQG hợp tác với Viện nghiên cứu vì sự nghiệp phát triển (Institut de Recherche pour le desveloppement) của Pháp đã xây dựng được Bản đồ địa mạo – thổ nhưỡng cho ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và Lâm Đồng

Như vậy các công trình nghiên cứu ở Di Linh khá đa dạng song chưa mang tính chất chuyên sâu cho huyện Tuy rằng đã có những công trình nghiên cứu vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên đất ở phạm vi lãnh thổ rộng có bao gồm cả không gian huyện, song do phạm vi không gian huyện nhỏ hơn rất nhiều so với không gian nghiên cứu, nên mức độ chi tiết để đánh giá cho huyện là không cao

Bên cạnh đó, Di Linh nằm trong vùng địa hình tương đối đa dạng, vừa có địa hình dạng núi cao, vừa có các bề mặt san bằng; lại nằm trong khu vực thượng nguồn của các lưu vực sông: sông Lũy và sông La Ngà, vì vậy quá trình địa mạo ở đây xảy ra tương đối mạnh mẽ

Với những lí do trên, để giúp cho việc định hướng sử một cách hợp lý tài nguyên đất gắn với bảo vệ môi trường phạm vi huyện thì nghiên cứu địa mạo là một hướng đi rất cần thiết

1.3 Cơ sở lý luận

1.3.1 Mối quan hệ giữa địa mạo và thổ nhưỡng

a Địa mạo – sự hình thành, phát triển của địa hình

Địa mạo là một khoa học nhằm mục đích để nghiên cứu địa hình bề mặt Trái

Đất và làm sáng tỏ nguyên nhân thành tạo và biến đổi của chúng [7]

Trang 21

Địa hình là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong khoa học và đời sống để

mô tả diện mạo bề mặt lớp vỏ cứng của Trái đất Nó là tập hợp của vô vàn những thể

gồ ghề, lồi lõm hoặc tương đối bằng phẳng, phân cách với nhau bởi những đường ranh giới ít nhiều rõ ràng

Phạm vi nghiên cứu của địa mạo học là toàn bộ lớp vỏ địa lý; là bề mặt tiếp xúc giữa thạch quyển với khí quyển, thủy quyển với sinh quyển; là nơi diễn ra sự tương tác lẫn nhau giữa các thành phần địa lý tự nhiên, trong đó địa hình là thành phần chính có tác động chi phối sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần khác trong các thể tổng hợp tự nhiên

Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của địa mạo là phải giải thích và phân loại các dạng địa hình và những tập hợp của chúng Địa mạo không chỉ dừng lại ở việc mô

tả diện mạo của bề mặt Trái đất mà còn tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, lịch sử phát triển và mối quan hệ qua lại của bề mặt ấy với tất cả các thành phần khác nhau của môi trường Địa mạo học xem quá trình thành tạo bề mặt địa hình thực chất là quá trình vận chuyển vật chất của vỏ Trái đất bởi các quá trình nội sinh và ngoại sinh, trong đó điều kiện địa chất kiến tạo, khí hậu, thủy văn, sinh vật,… đóng một vai trò đáng kể

Đối với mỗi kiểu bề mặt địa hình có những đấu hiệu và đặc điểm riêng, chúng được quyết định bởi sự tác động qua lại của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh Trong

đó sự nâng lên của địa hình (yếu tố nội sinh) làm cho thế năng của địa hình tăng, kéo theo quá trình xâm thực, bóc mòn (yếu tố ngoại sinh) xảy ra Ngược lại sự sụt lún của địa hình làm cho thế năng địa hình giảm, kéo theo quá trình tích tụ và biến đổi của các vật liệu bở rời trên bề mặt địa hình

Sự phát triển địa hình ban đầu được định hướng bởi cấu trúc địa chất thông qua hoạt động kiến tạo Vận động kiến tạo – quá trình nội sinh: là các quá trình nâng lên,

hạ xuống, dịch chuyển ngang của lớp vỏ Trái Đất liên quan đến sự giải phóng năng lượng trong lòng Trái Đất Kết quả của vận động kiến tạo làm cho bề mặt địa hình hạ thấp xuống hoặc được nâng lên làm cho chúng có xu thế trở nên lồi lõm tạo điều kiện cho cho các quá trình ngoại sinh phát triển

Các quá trình ngoại sinh với “động lực của mình” tiếp tục vai trò “kiến tạo” lại

địa hình Đầu tiên là quá trình “thích nghi của nham thạch với điều kiện lí - hóa học

Trang 22

của môi trường”- quá trình phong hóa [W Penck] [7] B.P.Polưnôv, chia quá trình

này thành 4 giai đoạn (GĐ): (GD1) Giai đoạn đầu: chủ yếu là quá trình phong hóa cơ học hình thành các sản phẩm vụn chưa bị biến đổi về mặt hóa học; (GĐ2) Giai đoạn bắt đầu xảy ra sự rửa trôi các hợp chất của Clo, lưu huỳnh, đồng thời bổ sung thêm các hợp chất cacbonat; (GĐ3) Các quá trình tạo khoáng vật thứ sinh đã phát triển sâu sắc, các sản phẩm vụn đã bị phá huỷ đến trạng thái sét - giai đoạn sét (tạo ra các khoáng vật thứ sinh kaolinit và monmorilonit) Trong giai đoạn này, các bazơ của Ca, Na, Mg,

K bị rửa trôi và tạo ra sét tàn dư; (GĐ4) Quá trình rửa lũa tiếp tục phát triển, silic và silicat cũng bị rửa lũa, đồng thời vỏ phong hóa tích luỹ các khoáng vật thạch anh, các oxyt sắt và oxyt nhôm hóa trị 3 (Fe2O3 và Al2O3 - các setkioxyt ) - quá trình laterit Đối với cường độ và mức độ phong hóa thì nham thạch (đá gốc) và khí hậu đóng vai trò rất lớn Những tính chất lí-hóa học của đá như màu sắc, tính đồng nhất trong cấu trúc, độ khe nứt, nhiệt dung, tính dẫn nhiệt, tính hòa tan, độ bền vững hóa học và thế nằm, sự đồng nhất,… ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chống chịu đối với các quá trình phong hóa Khí hậu lúc này đóng vai trò như một nhân tố quyết định cho sự “phát triển” của quá trình phong hóa Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, quá trình phong hóa có thể tiến tới giai đoạn tận cùng, đó là giai đoạn laterit, còn trong điều kiện ôn đới

ẩm thì nó chỉ dừng lại ở giai đoạn sét, trong điều kiện khô - nóng của các sa mạc và bán sa mạc, phong hóa hóa học phát triển rất kém, vỏ phong hóa chứa chủ yếu thành phần mảnh vụn Sản phẩm cuối cùng của quá trình phong hóa sẽ là những khối khoáng chất tơi vụn, các khoáng vật ban đầu đều mất cấu trúc kết tinh và chuyển sang trạng thái kết tinh - phân tán hoặc vô định hình (mất hẳn cấu trúc kết tinh)

Những vật liệu vụn này nếu không bị các quá trình ngoại sinh vận chuyển khỏi nơi thành tạo thì được gọi là tàn tích, eluvi, hay là vỏ phong hóa tàn dư, trên đó sẽ hình thành lớp thổ nhưỡng Những sản phẩm phong hóa vụn được vận chuyển chút ít khỏi nơi thành tạo, nhưng chưa mất hẳn liên hệ với đá mẹ, được gọi là vỏ phong hóa tái trầm tích Những sản phẩm phong hóa vụn được vận chuyển từ nơi này đến nơi khác thông qua hoạt động địa mạo của nước, gió… sẽ hình thành nên những dạng địa hình mới thông qua các quá trình bào mòn, vận chuyển và tích tụ Có thể lấy ví dụ điển hình

là hoạt động địa mạo của nước chảy trên mặt Địa hình do nước chảy tạo thành có tên gọi chung là địa hình dòng chảy Hoạt động bào mòn của các dòng nước được gọi là xâm thực nước Chúng gây tác dụng bào mòn, xâm thực mặt đất theo hai hướng: khoét

Trang 23

sâu đáy và đào xói bờ để mở rộng lòng dòng chảy Trong quá trình bào mòn, dòng nước tạo ra vô số vật liệu phù sa Tùy theo kích thước của chúng và phụ thuộc vào tốc

độ dòng chảy, vật liệu xâm thực có thể được vận chuyển xuôi dòng theo những hình thức khác nhau: các vật liệu rất mịn và hoà tan thì trôi lơ lửng, vật liệu thô thì lăn trên mặt đáy hoặc nhảy cóc Càng đi về phía hạ lưu, khối lượng dòng rắn càng tăng lên, đồng thời tốc độ dòng chảy lại giảm dần Khi tốc độ giảm đột ngột, một bộ phận phù

sa, trước hết là những phần tử thô, sẽ bị dòng chảy bỏ rơi lại trên mặt đáy dẫn đến hiện tượng tích tụ Hoạt động địa mạo của dòng nước rất không ổn định trong không gian

và thời gian, bởi vì các thông số liên quan tới lưu lượng, độ dốc, tốc độ, khối lượng dòng chảy rắn , v.v đều biến thiên liên tục từ thượng nguồn tới cửa sông, giữa ngày mưa và ngày không có mưa, giữa mùa khô và mùa mưa Dòng sông khi xâm thực, lúc tích tụ, tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể trong tương quan giữa khả năng vận chuyển và lượng phù sa cần phải vận chuyển Tùy theo hình thức dòng chảy và những điều kiện xâm thực hay tích tụ cụ thể mà địa hình do chúng tạo ra khá đa dạng:

Bảng 1.1: Sơ lược phân loại địa hình do dòng chảy tạo thành [7]

- khe mưa (dạng khe rãnh sơ sinh), máng xói

- (tham gia thành tạo) peđimen và glaxi

- nón phóng vật, tam giác châu khô

- đồng bằng nghiêng trước núi

II Dòng chảy

thường xuyên

Xâm thực Tích tụ

- thung lũng sông suối

tố phá hủy cấu trúc địa chất, tạo ra vỏ phong hóa với tính chất và độ dày khác nhau

Trang 24

Lượng mưa lớn và liên tục làm cho địa hình bị phân cắt mạnh hơn, hoạt động địa mạo của dòng nước làm phát sinh các dạng địa mới… Sinh quần thể được hình thành trên

cơ sở nền tảng rắn (điều kiện địa hình) và nền nhiệt ẩm Sau đó, sinh quần thể tác động ngược lại đến quá trình thành tạo địa hình và nền nhiệt ẩm của chính khu vực Lớp phủ thực vật góp phần hạn chế hoạt động của nước bề mặt làm bào mòn bề mặt địa hình

b Thổ nhưỡng, sự phát sinh và hình thành thổ nhưỡng

Thổ nhưỡng có thể được xem như một lớp mỏng phủ trên lục địa thô tại bề mặt tương tác giữa thạch quyển và sinh quyển; được bao quanh bởi nước, băng và đá gốc

lộ ra [36] Thổ nhưỡng được thành tạo qua mối tương tác của nhiều nhân tố sau một quá trình lâu dài và phức tạp

Năm 1898, Dokuchaev[20] đã chỉ ra các nhân tố thành tạo thổ nhưỡng thông

qua phương trình: S = f(cl,o,p)t o trong đó: S là thổ nhưỡng, cl là khí hậu, o là thế giới hữu cơ; p là đá mẹ và t là tuổi tương đối (trẻ, trường thành và già) Đến năm 1941,

Jenny [34] đưa thêm nhân tố địa hình vào phương trình các nhân tố hình thành thổ

nhưỡng: S = f(cl,o,r,p, t,…); trong đó S biểu thị tính chất bất kỳ của thổ nhưỡng; cl là khí hậu của môi trường; o là thế giới hữu cơ; r là địa hình, p là đá mẹ và t là thời gian

bắt đầu hình thành thổ nhưỡng Mỗi nhân tố đóng một vai trò nhất định của mình trong từng giai đoạn cụ thể của sự phát sinh phát triển của thổ nhưỡng; chúng tương tác phức tạp với nhau tạo nên sự đa dạng của các loại thổ nhưỡng trên bề mặt thạch quyển

Đá mẹ - là đối tượng của quá trình phong hóa Chính vì thế nó đóng vai trò cung cấp vật chất vô cơ - trước hết là khoáng chất, ảnh hưởng tới thành phần cơ giới, khoáng học và cơ học của lớp vỏ thổ nhưỡng Nó được coi như bộ xương – nền tảng ban đầu để hình thành thổ nhưỡng

Sự sống xuất hiện trên trái đất đánh dấu sự khởi đầu của quá trình tạo thành thổ nhưỡng Sinh vật đơn giản (vi khuẩn, tảo) tham gia đầu tiên vào quá trình tạo thành thổ nhưỡng Chúng sống trên các sản phẩm đầu tiên của phong hóa vật lý các đá, sau

đó làm giàu chất hữu cơ cho sản phẩm phong hóa Sinh quần thể bắt đầu được hình thành trên cơ sở nền tảng rắn (vỏ phong hóa, thổ nhưỡng) và nền nhiệt ẩm (khí hậu thủy văn địa phương) Sau đó, sinh quần thể tác động ngược lại đến thổ nhưỡng và khí hậu thủy văn địa phương Quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật tác động đến tính chất của đất Sinh vật lấy chất vô cơ từ đất và trả lại hợp chất hữu cơ, kết thúc quá

Trang 25

trình đó đất được bổ sung thêm khoáng chất và có thêm chất hữu cơ Hệ sinh thái phát triển tạo điều kiện giữ ẩm cho đất, ngăn xói mòn đất và tăng kết cấu của đất

Khí hậu tham gia vào sự hình thành thổ nhưỡng thông qua các tác nhân như nước mưa, năng lượng mặt trời Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hình thành đất thông qua nước và nhiệt độ Nước mưa quyết định độ ẩm, mức độ rửa trôi, pH của dung dịch đất và tham gia tích cực vào phong hóa hóa học Nhiệt độ làm cho đất nóng hay lạnh, nó thúc đẩy quá trình hóa học, hòa tan và tích lũy chất hữu cơ Ngoài ra khí hậu còn ảnh hưởng gián tiếp tới sự hình thành đất thông qua tác động của nó đến các sinh vật sống trên đất Sự thay đổi về nền nhiệt ẩm dẫn đến sự thay đổi về các quần xã sinh vật và các quá trình thành tạo đất Những khu vực có nền nhiệt cao không chỉ làm quá trình phong hóa hóa học diễn ra nhanh mà quá trình phân hủy tàn dư hữu cơ xảy ra mạnh, kết quả hình thành tầng đất dày Ngược lại trong điều kiện khí hậu nhiệt độ thấp, quá trình phân hủy này chậm lại hình thành những tàn dư hữu cơ, tạo lớp than bùn

Địa hình có ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành thổ nhưỡng Địa hình khác nhau thì sự xâm nhập của nước, nhiệt các chất hòa tan sẽ khác nhau Độ cao và độ dốc của địa hình ảnh hưởng đến sự di chuyển và phân bố lại vật chất của đất Ngoài ra,địa hình cũng ảnh hưởng tới hoạt động sống của thế giới sinh vật, tới chiều hướng và cường độ của quá trình hình thành đất

Khi nhắc đến bất kì một quá trình nào nào, thì thời gian luôn là một yếu tố tiên quyết Thời gian ảnh hưởng tới mức độ biến đổi lý – hóa – sinh học và quá trình chuyển hóa vật chất của đất, do đó ảnh hưởng tới các tính chất lý học, hóa học và độ phì nhiêu của đất Thời gian diễn ra quá trình hình thành một loại đất nhất định được gọi là tuổi của đất, trong đó có tuổi tuyệt đối (tính từ khi bắt đầu xảy ra quá trình hình thành đât cho tới hiện tại) và tuổi tương đối (sự chênh lệch về mức độ phát triển của các loại đất trên cùng một lãnh thổ)

Sự hình thành thổ nhưỡng là một quá trình lâu dài và phức tạp thể hiện qua quá trình phát sinh, phát triển Muốn phát sinh phát triển, nó cũng phải trải qua quá trình đấu tranh thống nhất giữa các mặt đối lập của chính bản thân: (1)Sự tổng hợp chất hữu

cơ và phân giải chúng; (2)Sự tập trung tích lũy chất hữu cơ, vô cơ và sự rửa trôi chúng; (3)Sự phân hủy các khoáng chất và sự tổng hợp các hợp chất hóa hoc mới; (4)Sự xâm nhập của nước và mất nước; (5)Quá trình nóng lên do sự hấp thu năng lượng mặt trời

Trang 26

và nguội đi do mất năng lượng [20] Những mâu thuẫn trên được thể hiện thông qua các quá trình sinh - hóa - lý học thông qua hoạt động của đại tuần hoàn vật chất và tiểu tuần hoàn sinh vật Thực chất của vòng đại tuần hoàn vật chất là quá trình phong hóa

đá để tạo thành mẫu chất đồng thời giải phóng ra chất dinh dưỡng đặt nền móng cho

sự hình thành thổ nhưỡng Còn bản chất của quá trình hình thành thổ nhưỡng là vòng tiểu tuần hoàn sinh học Trong vòng tuần hoàn này sinh vật đã hấp thu năng lượng, chất dinh dưỡng và các khí từ khí quyển để tổng hợp nên chất hữu cơ và năng lượng sinh học cho đất Các chất hữu cơ này lại được vi sinh vật phân hủy và tổng hợp lại thành mùn và chất khoáng (dạng vô cơ) là nguồn thức ăn cho sinh vật ở thế hệ sau

Cụ thể quá trình hình thành và phát triển của thổ nhưỡng bao gồm:

Quá trình phong hóa: là giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành thổ nhưỡng Dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt đô, hoạt động của nước, hoạt động của sinh vật… nền tảng rắn chắc nhất - các đá và khoáng vật cấu tạo nên lớp vỏ ngoài của Trái Đất bị phá hủy Sản phẩm của quá trình này được tích tụ hình thành lớp vỏ phong hóa hay A.E.Frexman[20] gọi là đới biểu sinh

Vỏ phong hóa sau quá trình biến đổi thành phần khoáng, sự tích lũy khoáng chất cộng thêm sự tích lũy hợp chất hữu cơ dưới sự tác động sâu sắc của hoạt động sinh học dần dần hình thành thổ nhưỡng

Các quá trình biến đổi thành phần khoáng của lớp vỏ phong hóa bao gồm: quá trình sét hóa và quá trình feralit hóa Quá trình sét hóa là quá trình phổ biến, diễn ra ngay ở giai đoạn đầu của sự hình thành thổ nhưỡng Bản chất của quá trình là sự phá hủy các khoáng nguyên sinh nhằm thành tạo và tích lũy khoáng sét thứ sinh Trong giai đoạn phát triển của thổ nhưỡng, khi có sự xuất hiện của sinh vật, sự tích lũy này còn dược thực hiện bằng cả con đường sinh học nhờ sự tham gia của thực vật bậc cao Quá trình feralit hóa có thể coi như là giai đoạn kế tiếp của quá trình sét hóa khi cường

độ phá hủy các khoáng nguyên sinh và thứ sinh diễn ra mạnh mẽ hơn dưới sự ảnh hưởng của khí hậu đặc biệt là khu vực có khí hậu nóng ẩm Dưới tác động trực tiếp của nhiệt độ cao, độ ẩm cùng với những tác động của sinh vật sẽ thúc đẩy quá trình phong hóa phát triển mạnh; khi đó, những alumosilicat được phân hủy ra các ôxit sắt, nhôm

và silic Về bản chất, đây là quá trình tích lũy tương đối các sản phẩm của sắt và nhôm trong đất; đồng thời với sự tích lũy đó, các cation (kiềm và kiềm thổ), silic sẽ bị rửa

Trang 27

trôi Chính vì vậy khi quá trình feralit phát triển, đất trở nên chua dần Sự có mặt của các hydroxit nhôm, sắt hóa trị cao làm cho đất có màu đỏ hay đỏ vàng

Quá trình mùn hóa và khoáng hóa: là hai quá trình hình thành thổ nhưỡng liên quan tới sự biến đổi và tích lũy thành phần hữu cơ và được thể hiện bằng phản ứng hóa học với sự tham gia tích cực của các vi sinh vật Trong đó quá trình mùn hóa bản chất

là quá trình phân giải xác hữu cơ do hệ vi sinh vật phân giải, tạo nên các hợp chất trung gian và tổng hợp các hợp chất trung gian đó thành các hợp chất hữu cơ phức tạp gọi là mùn Quá trình khoáng hóa là quá trình phân hủy xác hữu cơ dưới tác động của quần thể vi sinh vật thành các chất khoáng hòa tan hay các chất khí và tỏa nhiệt, tùy thuộc điều kiện khoáng hóa mà cho sản phẩm khác nhau

Hình 1.1: Sơ đồ quá trình khoáng hóa và mùn hóa [20]

Quá trình bồi tụ hình thành đất đồng bằng và đất bằng ở miền núi: Quá trình bồi

tụ hình thành đất phù sa có thành phần khoáng vật, tính chất lý, hóa, sinh học rất khác nhau do các mẫu chất khác nhau của các dòng sông suối mang tới Do đặc điểm cấu tạo địa chất và địa hình, những nhóm đất bồi tụ hình thành về phía biển, bồi tụ từ sản phẩm phong hóa của các khối núi, đồi, do tác động của sông và biển Tính chất đất của phù sa các sông khác rất thay đổi tùy theo bản chất phù sa các dòng sông mang lại Quá trình bồi tụ hình thành đất bằng ở miền núi có thể tạo thành đất dốc tụ thung lũng,

có thể là sản phẩm phù sa ven suối

Quá trình thoái hóa đất do sự di chuyển và biến đổi vật chất:

(1) Quá trình glây hóa: phát sinh ở đất quá ẩm thường xuyên hay từng thời kỳ (ruộng lúa nước, đất thụt, lầy, v.v ), nơi có mực nước ngầm gần mặt đất

(2) Quá trình mặn hóa là quá trình tích lũy muối ở lớp đất mặt những vùng khí hậu khô nóng, mạch nước ngầm mặn lại gần mặt nước và dễ bị bốc hơi Khi ấy, nước

Trang 28

ngầm thâm nhập theo các mao đi lên, bị bốc hơi để lại muối trong đất Quá trình mặn hóa còn xảy ra do muối có trong thủy triểu xâm nhập vào đất

(3) Quá trình phèn hóa phát triển ở các vùng đầm lầy rừng ngập mặn, cửa sông hình phễu, do sản phẩm bồi tụ phù sa với vật liệu sinh phèn (xác sinh vật chứa lưu huỳnh: Pyrite) Trầm tích đầm lầy - biển giàu lưu huỳnh cộng với xác các động thực vật, đặc biệt là thảm thực vật rừng ngập mặn, phổ biến là các họ Rhizophora và Avicenia chứa nhiều lưu huỳnh Trong điều kiện thiếu ôxy, lưu huỳnh ở dạng SO42-

bị biến đổi thành S2- (pyrite - FeS2) FeS2 gặp điều kiện ôxy hóa sẽ chuyển thành sunfat sắt và axit sunfuric làm đất trở nên chua

(4) Quá trình hình thành đá ong: về bản chất đây là quá trình tích tụ tuyện đối sản phẩn của sắt và nhôm trong đất – là giai đoạn tiếp theo của quá trình feralit hóa

(5) Quá trình xói mòn, rửa trôi: Quá trình này xảy ra nơi có lượng nước thấm lớn, do địa hình dốc và lớp phủ thực vật nghèo nàn Các chất kiề, kiềm thổ, mùn và các phân tử sét, bụi mịn bị rửa trôi xuống tầng dưới hoặc xói mòn ở bề mặt xuống vùng thấp làm cho đất nghèo dinh dưỡng, chua, chứa nhiều cát tầng mặt

c Mối quan hệ giữa địa mạo và thổ nhưỡng

Có thể thấy địa mạo và thổ nhưỡng có một mối liên hệ đặc biệt

Bảng 1.2: Nhân tố, quá trình hình thành và phát sinh địa hình và thổ nhưỡng

Các nhân tố hình thành địa hình Các nhân tố hình thành thổ nhưỡng

Địa chất Khí hậu Thủy văn Sinh vật

Địa chất

Địa hình

Khí hậu Thủy văn Sinh vật

… Quá trình phát sinh địa hình Quá trình phát sinh thổ nhưỡng

- Quá trình nội sinh: nâng lên – hạ xuống

- Quá trình ngoại sinh:

+ Quá trình phong hóa

+ Quá trình bóc mòn

- Quá trình phong hóa – tạo lớp vỏ thổ nhưỡng

- Quá trình biến đổi, tích lũy thành phần khoáng

- Quá trình biến đổi và tích lũy hợp chất hữu cơ

- Quá trình thoái hóa đất do sự di chuyển và biến đổi

Trang 29

+ Quá trình vận chuyển

+Quá trình bồi tụ

vật chất (quá trình glây, quá trình xói mòn rửa trôi….)

- Quá trình bồi tụ Trước hết địa hình – mục đích, đối tượng nghiên cứu của địa mạo học lại là một trong những nhân tố quan trọng hình thành nên thổ nhưỡng

Đặc điểm địa hình ảnh hưởng đến khả năng xâm nhập của nước, nhiệt và các chất hòa tan trong lớp vỏ thổ nhưỡng

Địa hình ảnh hưởng tới thổ nhưỡng thông quá tác động phân phối lại các thành phần vật chất trong lớp vỏ phong hóa thông qua sự phân hóa về điều kiện nhiệt ẩm theo các yếu tố địa hình (đỉnh, sườn, chân) và nhất là theo độ cao Tại đỉnh diễn ra quá trình tàn tích và có sự tích lũy các oxyt sắt và nhôm theo dòng nước di chuyển lên xuống thẳng đứng trong phẫu diện Trên các sườn dốc, quá trình bào mòn xảy ra mạnh

mẽ nên tầng đất thường mỏng, xuất hiện kết von đồng thời với độ là sự phân bố các phân tử sét và bazo trao đổi với xu hướng tăng dần từ cao xuống thấp Tại các chân núi diễn ra quá trình tích tụ vật chất và nước ngầm, tạo điều kiện cho việc phát triển các kết von Tại các địa hình trũng, úng nước phát triển các quá trình như glây, nhập úng

Địa hình ảnh hưởng đến việc phân bố lại vật chất, năng lượng trong một phạm

vị không gian lãnh thổ qua đó ảnh hưởng đến tầng dày của lớp vỏ thổ nhưỡng

Sự sắp xếp lại thành phần vật chất, mức độ rửa trôi vật liệu bởi các quá trình sườn ảnh hưởng đến độ dày mỏng của lớp đất trên bề mặt địa hình Khu vực địa hình phân dị mạnh – nơi có quá trình thành tạo hình thái mạnh - các quá trình bóc mòn, quá trình sườn, rửa trôi bề mặt gây ra sự di chuyển vật liệu từ nơi này đến nơi khác gây ra hiện tượng xói mòn đất những nơi cao có độ dốc lớn và tích lũy vật liệu nơi thấp trũng Kết quả là trên các sườn núi quá trình trọng lực xảy ra là chủ yếu đã vận chuyển các vật liệu phong hóa tại chỗ xuống chân sườn vì vậy thổ nhưỡng rất mỏng hay có chỗ không có và lộ trơ đá gốc; ở các chân sườn, độ dốc giảm, là nơi tích tụ vật liệu được đưa từ trên sườn xuống hình thành phát triển ở chân sườn tạo ra loại đất dốc tụ phân bố trên các nón phóng vật dưới đáy các thung lũng Trong khi đó, những khu vực có địa hình tương đối đồng nhất, bằng phẳng thì sự hình thành lại thường tập trung nhiều hơn vào sự phát triển đất tại chỗ theo các quá trình vật lý, hóa học Tại những khu vực này,

độ dốc thường không lớn lắm hoặc không dốc, khả năng giữ lại các sản phẩm phong hóa cao (sản phẩm phong hóa được tích tụ tại chỗ) vì vậy tầng đất thường khá dày

Trang 30

Đặc biệt các bãi bồi do độ dốc nhỏ và chịu ảnh hưởng của hoạt động dòng chảy, đất

chủ yếu là đất phù sa được bồi hàng năm, tầng đất rất dày và luôn được trẻ hóa

Hình 1.2: Sơ đồ thể hiện mối tương quan tạo thổ nhưỡng với độ dốc địa hình [11]

Thứ hai, các nhân tố tham gia vào quá trình hình thành địa hình (được gọi là

phát sinh hình thái) và quá trình hình thành thổ nhưỡng (được gọi là phát sinh thổ

nhưỡng) lại rất giống nhau: cũng là đặc điểm thạch học (trong thổ nhưỡng gọi là đá

mẹ), khí hậu, thủy văn, sinh vật… Cả hai quá trình này đều phụ thuộc rất chặt chẽ vào

thời gian Một thành tạo địa hình nào đó càng được bảo tồn trong thời gian lâu dài, thì

lớp thổ nhưỡng trên đó cũng sẽ càng được phát triển hoàn thiện

Thứ ba, quá trình phát sinh hình thái có quan hệ mật thiết và phức tạp với quá

trình phát sinh thổ nhưỡng, chúng vừa là chuỗi liên hoàn nhưng có lúc lại đối nghịch

nhau Quá trình phong hóa tạo ra lớp vật liệu bở rời ban đầu là nền tảng để hình thành

thổ nhưỡng Vào những giai đoạn khí hậu khô nóng là giai đoạn diễn ra quá trình

phong hóa vật lý phát triển mạnh làm phá hủy đá gốc, tích tụ vật liệu, vỏ phong hóa

khá dày Khi lớp vật liệu đó bị ảnh hưởng không lớn lắm của các hoạt động ngoại sinh

như bào mòn – vận chuyển đồng nghĩa với việc không phát sinh thêm hình thái địa

hình mới là điều kiện cho lớp thổ nhưỡng phát triển Điều này thể hiện rõ ở những khu

vực có sự phân bậc địa hình rõ rệt Những nơi có địa hình cao cộng thêm điều kiện khí

hậu nóng ẩm, mùa mưa hệ thống khe xói phát triển mạnh, động lực dòng chảy tác

động làm chia cắt bề mặt địa hình, khi đó quá trình tạo hình thái diễn ra mạnh mẽ

Đồng thời với đó, các sản phẩm của quá trình phong hóa bị vận chuyển đi nơi khác

gây trở ngại cho quá trình thành tạo thổ nhưỡng Những nơi có địa hình thấp trũng,

quá trình tạo hình thái diễn ra yếu, vật liệu được tập trung hình thành lớp vỏ phong hóa

khá dày, kết hợp với lớp phủ thực vật phát triển tạo điều kiện cho thổ nhưỡng phát

triển Lớp thổ nhưỡng tại những khu vực này dày mà không bị vận chuyên đi nơi khác

độ dày giảm và có nơi lộ trơ đá gốc

+ Sườn thoải (dưới 5 0 ), được đặc trưng bằng lớp thổ bì liên tục, do đó lớp đất được bảo vệ nên còn khá dày

Trang 31

d Phân vùng địa mạo – thổ nhưỡng

Tổng hợp những khái niệm về vùng của các tác giả trong và ngoài nước thì vùng có thể được hiểu đơn giản là một bộ phận của lãnh thổ, có một sắc thái đặc thù nhất định, có những đặc điểm tương đồng và các mối liên kết với nhau theo một số quy luật đặc thù tuỳ theo mục tiêu của hệ thống phân vùng, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó, cũng như những mối quan hệ có chọn lọc và với các không gian các cấp bên ngoài

Kiểu vùng phụ thuộc vào mục tiêu phân vùng trong đó vùng địa lý được xác định dựa theo tính tương đối đồng nhất của các yếu tố địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, địa chất… Cũng theo đó vùng địa mạo – thổ nhưỡng được xác định là một hệ thống đất được kết cấu bởi các hợp phần đất lặp lại theo những trật tự xác định, liên quan với đặc điểm địa hình và có quan hệ tương quan giữa các hợp phần tạo thành một tổng thể thống nhất [14]

Từ mục tiêu để phân loại vùng ta có thể thấy vùng địa lý tự nhiên bản thân nó

đã bao hàm đơn địa mạo – thổ nhưỡng hay địa mạo – thổ nhưỡng chỉ là một trong những bộ phận phản ánh đặc điểm vùng địa lý tự nhiên Nói cách khác, phân vùng địa mạo - thổ nhưỡng là một tập hợp con trong tập hợp lớn phân vùng địa lý tự nhiên

Phân vùng (zoning) là việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị tương đối đồng nhất theo các tiêu chí và mục tiêu nhất định nhằm đơn giản hóa việc nghiên cứu đồng thời cũng giúp quản lý có hiệu quả hơn theo đặc thù riêng của từng đơn vị trong vùng Đặc tính của vùng được phân chia bao gồm: tính toàn vẹn lãnh thổ (không lặp lại); tính ước định ranh giới (có thể xác định hoặc không); và tính chủ quan trong phân vùng (thể hiện mục đích của phân vùng)

Từ những lý do trên có thể thấy việc phân vùng địa mạo – thổ nhưỡng về cơ bản sẽ dựa trên các nguyên tắc và tiêu chí về phân vùng địa lý tự nhiên Trong đó:

Nguyên tắc phân vùng bao gồm: 1) Nguyên tắc khách quan – tức là hệ thống phân vùng phải phản ánh các quy luật khách quan của tự nhiên, không phụ thuộc vào mục đích của công tác phân vùng; 2) Nguyên tắc phát sinh – đòi hỏi khi phân vùng phải phân tích các quy luật phân hóa khách quan đã hình thành nên các đơn vị phân vùng ấy; 3) Nguyên tắc tổng hợp - đòi hỏi phải tính toán đến tất cả các yếu tố, tránh cho phân vùng địa lý tự nhiên cho dù có theo một nhân tố chủ đạo cũng không biến

Trang 32

thành phân vùng riêng của yếu tố chủ đạo đó; 4) Nguyên tắc đồng nhất tương đối –tức

là thống nhất trên cơ sở một số chỉ tiêu nhất định phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần nhưng vẫn có sự phân hóa nội bộ khiến cho mỗi vùng lại có thể chia ra thành các đơn vị nhỏ hơn; 5) Nguyên tắc cùng chung lãnh thổ - tức là mỗi vùng là những đơn vị lãnh thổ cụ thể, không lặp lại trong không gian và thời gian

Về tiêu chí phân vùng: tùy thuộc vào phạm vi diện tích, không gian, mục đích phân vùng để đưa ra những tiêu chí phân cấp cụ thể

1.3.2 Vai trò của địa mạo trong nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất

Địa mạo – cơ sở khoa học định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất

Các dạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng được khai thác triệt để, mạnh mẽ cho nhiều mục đích khác nhau.Tuy nhiên, trong thực tế, sự khai thác này nhiều khi lại quá mạnh, nó vượt quá khả năng tự điều chỉnh và phục hồi của các dạng tài nguyên, dẫn đến hậu quả to lớn là sự suy thoái của tự nhiên và điều kiện môi trường của hành tinh chúng ta Vấn đề sử dụng, khai thác hợp lý các điều kiện tự nhiên, tài nguyên

thiên rõ ràng đã trở thành vấn đề bức thiết, có tầm quan trọng to lớn

Sử dụng hợp lý tài nguyên trước hết phải là việc khai thác, sử dụng có hiệu quả

và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên Sử dụng hợp lý tài nguyên phải phù hợp với chức năng, khả năng cung cấp đa dạng tài nguyên của các đơn vị lãnh thổ đồng thời phải đảm bảo sức tái tạo, khả năng phục hồi của tự nhiên, hạn chế các tai biến thiên nhiên, cải thiện và duy trì lâu dài chất lượng môi trường

Đối với tài nguyên thiên nhiên, lựa chọn các đặc điểm đặc trưng của tự nhiên, các điều kiện môi trường sinh thái lãnh thổ là cơ sở khoa học quan trọng giúp định hướng sử dụng hợp lý Phân tích các quy luật hình thành, đặc điểm phân hóa theo không gian và thời gian, các đặc trưng về động lực phát triển của cảnh quan, mối liên quan và tác động tương hỗ giữa các yếu tố và thành phần của tự nhiên cũng như giữa các tổng hợp thể tự nhiên với nhau và đặc biệt là việc đánh giá tổng hợp các đơn vị cảnh quan sẽ cho phép xác định mức độ "thích hợp nhất ", tỉ tương đối thích hợp "hay

"không thích hợp "của mỗi một đơn vị lãnh thổ cho từng ngành sản xuất, từng dạng sử dụng tài nguyên, Chính trong quá trình phân tích cảnh quan, miêu tả các đặc điểm của từng đơn vị trong hệ thống phân loại các tổng hợp thể tự nhiên, đã làm sáng to

Trang 33

không chỉ các đặc điểm chung, các đặc điểm riêng của các cảnh quan đó, mà còn một cách định tính làm rõ những đặc điểm chức năng của chúng Cũng qua các nội dung phân tích cảnh quan đã làm sáng tỏ thêm những đặc trưng biến động về cấu trúc, chức năng của chúng dưới tác động của các hoạt động mang tính nhân tác.Tác động của con người lên các đơn vị tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ thông qua các hoạt động sản xuất, kinh tế đã làm biến đổi không chỉ các thành phần và yếu tố tự nhiên,các đơn vị cảnh quan theo từng cấp, mà còn phản ánh khá rõ ràng những vấn đề mang tính lịch sử sử dụng lãnh thổ, những kinh nghiệm thực tiễn phát triển sản xuất, sử dụng các điều kiện

tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho các mục đích ứng dụng

Đối với tài nguyên đất, mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên đất là sử dụng đất nhưng làm cho đất không bị thoái hóa Nghiên cứu địa mạo là nghiên cứu tổng thể các nhân tố hình thành đất và các quá trình bề mặt tác động lên sự hình thành đó Mỗi đơn

vị địa hình phản ánh tổng thể các yếu tố tự nhiên, khi con người tác động lên một trong các hợp phần sẽ làm các hợp phần khác bị biến đổi Do vậy, để quản lý cũng như sử dụng hợp lý tài nguyên đất cần phải nghiên cứu quá trình tiến hóa của đất liên quan với địa hình Nghiên cứu đất theo hướng địa mạo giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa

các quá trình bề mặt và sự hình thành đất “Địa mạo nào thổ nhưỡng đó”, từ những

nghiên cứu địa mạo về phát sinh và động lực giúp ta hiểu được sự phân bố thổ nhưỡng dưới góc độ nguồn gốc phát sinh từ đó có những lựa chọn thích hợp cho hoạt động khai thác nhằm lựa chọn các loại hình sử dụng thích hợp đáp ứng nhu cầu của con người Không chỉ là hiện tại, mà định hướng sử dụng tài nguyên đất trong tương lai cũng không thể nào thiếu việc nghiên cứu thổ nhưỡng dưới góc độ nguồn gốc phát sinh

Địa mạo động lực - các tai biến thiên nhiên liên quan đến đất và bảo vệ môi trường

Mỗi dạng địa hình là một hệ thống cân bằng động trong đó luôn diễn ra các quá trình động lực tương tác giữa các lực, giữa các hợp phần tự nhiên Động lực phát triển địa hình (các quá trình địa mạo) cơ bản một mặt có tác dụng kiến tạo hình thái; mặt khác cũng ảnh hưởng tới sự hình thành lớp vỏ phong hóa, sự cuốn trôi, tái tạo trầm tích qua đó ảnh hưởng tới lớp vỏ thổ nhưỡng nói riêng và tài nguyên đất nói chung

Trang 34

Các quá trình động lực phát triển địa hình có ý nghĩa thực tiễn to lớn với môi trường đất bởi chúng thường mang đặc trưng tai họa phá hủy lớp vỏ thổ nhưỡng, làm mỏng cũng như biến dạng tính chất của lớp vỏ thổ nhưỡng ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường Trong những hoàn cảnh khí hậu đặc biệt hay tiếp nối các sự kiện thiên nhiên bất thường có thể làm phát sinh các quá trình tạo hình thái mới như: trượt lở, bào mòn, xói mòn… Các quá trình này luôn kèm theo sự bóc tách và vận chuyển lớp vỏ thổ nhưỡng những nơi mà chúng đi qua Nếu không có sự kìm hãm, thổ nhưỡng sẽ phải trải qua sự làm mỏng liên tục cho đến khi hoạt động này làm lộ đá gốc bên dưới Tầng đất bị bóc tách dần kèm theo đó là sự biến đổi về tính chất làm cho đất trở nên thoái hóa

Vì lý do đó mà nghiên cứu địa mạo giúp phân tích các quá trình động lực phát triển địa hình trong quá khứ có tác động không tốt đến tài nguyên đất, dự báo nguy cơ chúng có thể diễn ra trong tương lai để có những biện pháp phòng tránh tốt nhất để bảo

vệ cho tài nguyên này

1.4 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

a Quan điểm tiếp cận

Luận văn tiếp cận vấn đế chủ yếu theo các hướng: tiếp cận hệ thống, tiếp cận tổng hợp, tiếp cận lịch sử, tiếp cận theo hướng phát triến bền vững

Tiếp cận hệ thống và tổng hợp: Môi trường tự nhiên là một chỉnh thể thống nhất

các hợp phần tự nhiên Những tác động riêng lẻ vào một hợp phần tự nhiên ở các mực

độ khác nhau đều dẫn tới sự biến đổi của những hợp phần còn lại của chỉnh thể Chính

vì vậy tiếp cận hệ thống - tổng hợp đòi hỏi phải nghiên cứu toàn bộ các hợp phần của môi trường tự nhiên và mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với các hoạt động kinh tế - xã hội Trong nghiên cứu các thể tổng hợp lãnh thổ, tiếp cận hệ thống và tổng hợp có vai trò quan trọng nhằm xác định cấu trúc không gian, chức năng từng thành phần và mối liên hệ giữa chúng trong lãnh thổ

Đất là yếu tố tự nhiên được cấu tạo bởi hệ thống các yếu tố tự nhiên và luôn tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ biện chứng với nhau tạo thành một hệ thống động lực hỗ trợ điều chỉnh và cân bằng động Tiếp cận hệ thống theo quan điểm cấu trúc trong địalý là nghiên cứu các cấu trúc và mối quan hệ đó Trong mỗi đơn vị địa hệ sinh thái nông – lâm là một hệ thống với cấu trúc thẳng đứng: địa chất, địa mạo, khí hậu,… và

Trang 35

được phân hóa theo không gian lãnh thổ Tiếp cận hệ thống cho phép nội suy các hợp phần chưa có số liệu đầy đủ khi đặt chúng trong một hệ thống Sự liên quan có tính nhân quả giữa các nhân tố phát sinh là cơ sở tốt của việc áp dụng phương pháp này để đánh giá Việc nghiên cứu vấn đề theo hướng tiếp cận hệ thống đồng nghĩa với việc xác định cấu trúc tồn tại khu vực nghiên cứu và các mối quan hệ thông qua các đường trao đổi vật chất năng lượng

Tiếp cận phát triển bền vững: Phát triển bền vững (PTBV) được hiểu “là sự phát triển nhằm đáp ứng được những nhu cầu hiện tại, nhưng không gây trở ngại/làm tổn hại cho/đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Về bản chất, PTBV

trước hết phải là một quá trình phát triển, mà trong đó quan hệ không gian giữa ba trụ cột - kinh tế, xã hội và môi trường luôn được điều chỉnh tối ưu, cũng như mối quan hệ theo trục thời gian về nhu cầu và lợi ích giữa các thế hệ được giải quyết hài hoà Trên thực tế, PTBV không dễ dàng đạt được vì yếu tố phát triển luôn thay đổi, thậm chí thay đổi rất nhanh so với khả năng điều chỉnh Vì vậy, PTBV là mục tiêu phấn đấu về mặt xã hội, nhưng lại là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, của các ngành kinh tế, vùng lãnh thổ và các địa phương vì nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng và vượt quá khả năng tái tạo tài nguyên trong năng suất tự nhiên của chu trình vật chất và năng lượng trên từng đơn vị lãnh thổ và hệ thống đơn vị đất đai

Tiếp cận lịch sử: Phát sinh và thoái hóa đất là hai mặt có liên quan chặt chẽ với

nhau Thực tế nghiên cứu thoái hóa đất cho thấy, những nguyên nhân gây ra thoái hóa đất phức tạp và đa dạng, gắn liền với lịch sử phát sinh và phát triển của các loại đất Các quá trình thoái hóa đất diễn ra đồng thời với các quá trình hình thành đất, các hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của con người đã góp phần làm gia tăng hoặc hạn chế các quá trình thoái hóa đất Khi phân tích các nguyên nhân gây ra các dạng thoái hóa đất, cần xem xét đến lịch sử khai thác và biến động tài nguyên trong quá khứ Vì vậy, để xác định đúng nguyên nhân và các dạng thoái hóa đất, cần phải xác định được các hệ thống sử dụng đất trong quá khứ và ở hiện tại

b Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp khảo sát và điều tra thực địa: Phương pháp khảo sát và điều tra

thực địa nhằm thu thập và bổ sung, cập nhật các số liệu tại các khu vực, tuyến, điểm

Trang 36

nghiên cứu được lựa chọn để xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, chất lượng môi trường và hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội …phục vụ các nội dung nghiên cứu của luận văn Học viên đã tiến hành khảo sát tổng hợp phạm vi huyện và khu vực lân cận trong đợt thực địa lần 7 (từ

29/7/2015 đến 21/8/2015) của đề tài : “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp tăng cường liên kết vùng của Tây Nguyên với duyên hải Nam Trung Bộ trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai”, Chương trình Tây

Nguyên 3, Mã số KHCN-TN3/11-15, TN3/T19 với sự hướng dẫn và chỉ bảo của nhà khoa học có uy tín: PGS.TS Đặng Văn Bào nhằm đánh giá thực trạng khách quan đồng thời thu thập thêm những tư liệu thực tế

Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Thu thập, hệ thống hoá, xử lý,

phân tích, đánh giá các tài liệu, số liệu sẵn có từ các cơ quan Trung ương và các tỉnh thuộc khu vực nghiên cứu theo định hướng các nội dung nghiên cứu Bên cạnh đó,luận văn sẽ kế thừa những vấn đề lý luận khoa học, quan điểm tiếp cận và kinh nghiệm thực tiễn của các công trình khoa học đã thực hiện ở trên thế giới và trong nước, đặc biệt chú ý tới các đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện

Nghiên cứu địa mạo là phương pháp chính được sử dụng trong luận văn: như

phân tích, các yếu tố hình thành đất (đá mẹ/mẫu chất, địa hình, khí hậu, nước, sinh vật, thời gian, con người) có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau tạo thành một thể thống nhất độc lập trong quá trình phát sinh và thoái hóa đất Độ phì tự nhiên của đất luôn gắn liền với cấu trúc và thành phần khoáng vật của đá mẹ Đặc trung điều kiện phát sinh đất, nguồn gốc và các quá trình thổ nhưỡng chủ đạo ảnh hưởng tới sự thoái hóa đất tiềm năng Nghiên cứu địa mạo giúp phân tích sự tương tác đặc thù giữa các yếu tố phát sinh đất trong điều kiện địa hình đặc thù của khu vực từ đó làm rõ tính đặc trung của quá trình phát sinh và thoái hóa đất

Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS): phương pháp này đã được

khẳng định là có hiệu quả trong nghiên cứu tai biến thông qua khả năng phân tích không gian và tích hợp dữ liệu Cơ sở dữ liệu không gian sử dụng cho đánh giá xói mòn tiềm năng huyện Di Linh gồm các lớp thông tin bản đồ địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng Với sự hỗ trợ của các phần mềm GIS – ArcGIS và Mapinfo, học viên tiến hành biên tập, bổ sung các bản đồ hợp phần; Phân tích tổng hợp, chồng ghép các lớp

Trang 37

thông tin, thực hiện các phép phân tích không gian trong tính toán mức độ xói mòn tiềm năng trong vực nghiên cứu

c Quy trình nghiên cứu

Địa mạo mỗi khu vực đặc trưng bởi hình thái, trắc lượng hình thái và các quá trình địa mạo khác nhau Thổ nhưỡng phát triển trên những dạng địa hình khác nhau lại có những đặc trưng riêng về tính chất Vì thế chúng có có những giá trị sử dụng khác nhau Mặt khác, điều kiện địa hình là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về thổ nhưỡng Chính vì thế để định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo

vệ môi trường đất khu vực trên cơ sở nghiên cứu địa mạo cần:

Bước 1: Xác định mối tương quan giữa địa mạo và thổ nhưỡng khu vực, phân vùng địa mạo thổ nhưỡng

Bước 2: Đánh giá các tai biến địa mạo điển hình có ảnh hưởng tới tài nguyên đất khu vực

Bước 3: Tổng hợp kết quả, định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất khu vực

Hình 1.3: Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất

Đặc điểm địa mạo

Thổ nhưỡng

Địa mạo – thổ nhưỡng

Điều kiện tự nhiên:

Hiện trạng sử dụng đất

Trang 38

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO – THỔ NHƯỠNG HUYỆN DI LINH

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến địa hình

2.1.1 Vị trí địa lý huyện Di Linh

Di Linh là một huyện trung tâm của Lâm Đồng: phía nam giáp tỉnh Bình Thuận; phía bắc giáp huyện Lâm Hà và tỉnh Đăk Nông; phía đông giáp huyện Đức Trọng; phía tây giáp huyện Bảo Lâm

Hình 2.1: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu

Trang 39

Nằm ngay trên trục quốc lộ 20 từ Đà Lạt đi thành phố HCM; trục quốc lộ 28 đi thành phố Phan Thiết và tỉnh Đắc Nông, Di Linh còn có một điểm khá đặc biệt, đây là trung tâm của cao nguyên Di Linh nổi tiếng và tỉnh Đồng Nai Thượng trước kia Thị trấn Di Linh nằm ở trung tâm huyện và trung tâm tỉnh Lâm Đồng, nếu xét về mặt khoảng cách Đông - Tây, Nam - Bắc

Với vị trí rất đặc biệt, huyện có lợi thế trong giao lưu kinh tế và hội đủ điều kiện phát triển thành điểm phân phối, lưu thông hàng hoá, đầu mối kinh tế Phan Thiết

- Di Linh - Đắc Nông; TP HCM - Di Linh - Đà Lạt Trên thực tế nếu tính khoảng cách bằng thời gian thì từ trung tâm Huyện đi Đà Lạt khoảng 1,5 - 2,0 giờ, đi thành phố HCM khoảng 4,5 - 6 giờ, đi Phan Thiết khoảng 1,5 - 2,5 giờ và Đắc Nông khoảng 2,0 - 2,5 giờ, đi sân bay Liên Khương khoảng 45 - 50 phút và Bảo Lộc khoảng 30 - 45 phút Với khoảng cách này, khi chất lượng giao thông được cải thiện thì thời gian từ huyện đến các địa điểm trên sẽ giảm khoảng 20% - 30%, khi đó huyện Di Linh sẽ trở thành khu vực vệ tinh của khu kinh tế trọng điểm phía Nam, không những có thể trở thành điểm dừng mà còn là trung tâm giao dịch, buôn bán trên tuyến Phan Thiết - Di Linh - Đắc Nông - Đà Lạt - thành phố Hồ Chí Minh

2.1.2 Địa chất

Địa chất và địa hình được coi là nền tảng rắn trong tiến trình hình thành địa hình và phát sinh đất Lịch sử phát triển địa chất với các hoạt động nội sinh cộng hợp với hoạt động ngoại sinh do ảnh hưởng của môi trường đã “sản sinh” ra hình thái địa hình ngày nay

Trong khu vực nghiên cứu hoạt động kiến tạo và magma đã tạo nền tảng ban đầu sự định hình hình thái địa hình hiện tại Phun trào magma và trầm tích Mesozoi phổ biến với trên 2/3 diện tích bề mặt, nhiều nơi bị phủ bởi trầm tích Neogen và Đệ Tứ Các thành tạo địa chất chính của huyện gồm:

Hệ tầng Trà Mỹ (J 2 tm) [Nguyễn Đức Thắng, Vũ Khúc,…1998] là thành tạo cổ

nhất trong khu vực thuộc hệ thống Jura trung Trầm tích hệ tầng Trà Mỹ lộ ra diện rộng trên địa bàn các xã Sơn Điền, Đinh Trang Thượng và một số khu vực đồng nhất tại Tam Bố và Hòa Bắc Thành phần thạch học gồm bột kết, sét bột kết màu xám đen phân lớp mỏng đến trung bình xen ít cát kết, cát bột kết màu xám phân lớp dày đến

Trang 40

dạng khối Đá này dễ bị phong hóa hình thành đới phong hóa chủ yếu là sét với bề dày

từ 10 – 15 m

Trầm tích hệ tầng Sông Phan (J 2 sp) lộ ra kẹp giữa hai khối lộ trầm tích hệ tầng

Trà Mỹ ở phía đông xã Tam Bố Bề mặt trầm tích là các đá cát kết dạng quartzit màu xám đen, ngoài ra còn có cát kết, cát bột kết, bột kết nâu xám, xám đen phân lớp trung bình đến dạng khối xen kẽ Lớp đá trầm tích hệ tầng này nằm gần như chỉnh hợp với

lớp đá trầm tích hệ tầng Trà Mỹ theo hướng Đông Bắc – Tây nam [Vũ Khúc, Nguyễn

Đức Thắng,…1983] Cũng giống trầm tích hệ tầng Trà Mỹ, đá thuộc hệ tầng này dễ bị phong hóa cho lớp sét dày đến hơn 10m

Thuộc Jura trung – Creta hạ có hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J 3 – K 1 đbl), đây là một

thành tạo núi lửa tương đối rắn chắc với thành phần chủ yếu là andesit, andesit porphyrit, andesitodacit, dacit, ryodacit và tuf của chúng; đôi nơi xen ít lớp mỏng cát kết tuf Hệ tầng Đèo Bảo Lộc phân bố trên một diện khá rộng phía đông nam của huyện nằm bao quanh khối magma xâm nhập tuổi Creta thượng Ngoài ra chúng còn

lộ ra thành dải không liên tục phía đông quốc lộ 20 theo hướng từ huyện Bảo Lâm sang huyện Lâm Hà

Hệ tầng Đăk Rium (K 2 đr): trên địa bàn huyện các đá trầm tích lục địa màu đỏ

lộ ra ở các khu vực suối Đăk Rium Các trầm tích của hệ tầng gồm cuội kết, cuội tảng kết, cát kết hạt thô-trung Trong cát bột kết, bột kết xen cát kết, sét kết màu đỏ gụ, tím

gụ Đá phân lớp dày, có nơi phân lớp xiên Các cuội, tảng đá có độ mài tròn và chọn lọc kém Trong bột kết có chứa hoá thạch tuổi Creta Các tập, lớp đá có phương kéo dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, thế nằm khá thoải (5 – 200

)

Hệ tầng Đơn Dương (K 2 đd) lộ khối nhỏ ở các xã Đinh Lạc, Tam Bố Thành

phần thạch học của hệ tầng gồm dacit, ryodacit, felsit, ryolit, andesitodacit và các vụn kết tuf núi lửa của chúng, xen ít trầm tích nguồn núi lửa sinh, đôi khi có các thấu kính hoặc lớp mỏng andesit, tuf andesit Khối lượng các trầm tích nguồn gốc núi lửa trong

hệ tầng Đơn Dương luôn thay đổi, phụ thuộc vào vị trí và cơ chế hoạt động của núi lửa

ở từng khu vực Hầu hết các đá phun trào của hệ tầng thuộc loại kiềm vôi, dày, thạch hoá bình thường và bão hoà nhôm; natri và kali thường xấp xỉ ngang nhau - thuộc loại natri kali

Ngày đăng: 08/07/2016, 14:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu (Trang 38)
Hình 1.3: Bản đồ hệ thống thủy văn huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng  2.1.5. Thảm thực vật - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 1.3 Bản đồ hệ thống thủy văn huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng 2.1.5. Thảm thực vật (Trang 46)
Hình 2.4:  Bản đồ phân tầng độ cao huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 2.4 Bản đồ phân tầng độ cao huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (Trang 52)
Hình 2.6: Bản đồ độ dốc huyện Di Linh - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 2.6 Bản đồ độ dốc huyện Di Linh (Trang 54)
Hình 2.7: Sự phân cắt địa hình huyện Di Linh - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 2.7 Sự phân cắt địa hình huyện Di Linh (Trang 55)
Hình 2.10: Sườn bóc mòn dốc 15-20 0  trên trầm tích lục nguyên ở phía đông nam Di Linh - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 2.10 Sườn bóc mòn dốc 15-20 0 trên trầm tích lục nguyên ở phía đông nam Di Linh (Trang 60)
Hình 2.12: Địa hình tích tụ hỗn hợp sông – đầm lầy giữa cao nguyên bazan ở Di Linh - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 2.12 Địa hình tích tụ hỗn hợp sông – đầm lầy giữa cao nguyên bazan ở Di Linh (Trang 61)
Hình 2.14: Đất feralit  phát triển trên bề mặt lớp phủ bazan tại cao nguyên Di Linh - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 2.14 Đất feralit phát triển trên bề mặt lớp phủ bazan tại cao nguyên Di Linh (Trang 68)
Hình 2.16: Đất vàng đỏ trên sườn bóc mòn cấu tạo bở đá granit - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 2.16 Đất vàng đỏ trên sườn bóc mòn cấu tạo bở đá granit (Trang 73)
Hình 3.1: Sơ đồ đánh giá xói mòn - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 3.1 Sơ đồ đánh giá xói mòn (Trang 76)
Hình 3.4: Trượt đất trên quốc lộ 20 tại phía bắc trung tâm huyện Di Linh - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 3.4 Trượt đất trên quốc lộ 20 tại phía bắc trung tâm huyện Di Linh (Trang 83)
Hình 3.0.5: Bản đồ phân vùng địa mạo - thổ nhưỡng huyện Di Linh - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 3.0.5 Bản đồ phân vùng địa mạo - thổ nhưỡng huyện Di Linh (Trang 87)
Hình 3.6: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Di Linh - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 3.6 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Di Linh (Trang 91)
Hình 3.7: Ảnh vệ tinh Google Earth tiểu vùng núi sót bắc Di Linh - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 3.7 Ảnh vệ tinh Google Earth tiểu vùng núi sót bắc Di Linh (Trang 98)
Hình 3.8: Ảnh vệ tinh Google Earth tiểu vùng thung lũng kiến tạo sông Đa Dâng - Nghiên cứu địa mạo cho sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất huyện di linh, tỉnh lâm đồng
Hình 3.8 Ảnh vệ tinh Google Earth tiểu vùng thung lũng kiến tạo sông Đa Dâng (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w