Doanh nghiệpkiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu về mặt số lượng, chủng loại, giá cả nhằm đạt đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại vật liệu cho quá trình
Trang 1MỤC LỤC
1.1.4.1 Phân loại nguyên vật liệu 81.1.4.2 Đánh giá NVL 91.2.2.2 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ 25
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình sản xuất kinh doanh nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay,
để có thể tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để không ngừng hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, tăng tích luỹ Do đó, các doanh nghiệp phải thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, cơ chế hạch toán kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp không những bù đắp được chi phí sản xuất mà phải có lãi Vì vậy, vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất phải tínhđược chi phí sản xuất bỏ ra một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời Hạch toán chính xác chi phí sản xuất là cơ sở để tính đúng, tính đủ giá thành
Từ đó giúp các doanh nghiệp tìm mọi cách để hạ thấp chi phí sản xuất ở mức tối đa hạ thấp và tiết kiệm chi phí sản xuất cũng chính là biện pháp để
hạ thấp từng yếu tố của quá trình sản xuất như: Chi phí về nguyên vật liệu, chi phí tiền lương, chi phí quản lý để từ đó hạ giá thành sản phẩm.Đối với các doanh nghiệp sản xuất, khoản mục chi phí nguyên vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí của doanh nghiệp Mọi
sự biến động về chi phí nguyên vật liệu đều làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm từ
đó ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp Do vậy, hạ thấp và tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu là giảm một phần đáng kể chi phí sản xuất Mặt khác, trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất nguyên vật liệu gồm nhiều chủng loại, được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau thường xuyên biến động về số lượng cũng như giá cả Do đó, cần phải có biện pháp theo dõi quản lý từ khâu thu mua vật liệu đến khâu xuất sử dụng cho sản xuất về cả chỉ tiêu số lượng cũng như giá trị, đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra
Trang 3bình thường Thông qua công tác hạch toán vật liệu sẽ làm cho doanh nghiệp sử dụng vật liệu một cách tốt nhất, tránh lãng phí từ đó giảm chi phí nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm Vì vậy, bên cạnh vấn đề trọng tâm
là kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm thì tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu cũng là vấn đề đáng được các doanh nghiệp quan tâm hiện nay
Tại chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín là một doanh nghiệp sản xuất với đặc điểm nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm thì việc tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu là biện pháp hữu hiệu nhất để giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho công ty, vì vậy điều tất yếu là công ty phải quan tâm đến khâu hạch toán chi phí nguyên vật liệu
Nhận thức về tầm quan trọng của vật liệu đối với quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của đơn vị đồng thời qua nghiên cứu thực tế công tác kế toán tại chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín, được sự giúp đỡ tận tình của Ban giám đốc công ty, các cán bộ phòng kế toán công ty, em nhận thấy kế toán vật liệu ở công ty giữ một vai trò rất quan trọng Chính vì vậy em đã
chọn và đi sâu vào nghiên cứu đề tài “ Tổ chức công tác kế toán
nguyên vật liệu t ạ i chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín”.
Trang 4nguyên vật liệu tại chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín
Do thời gian và trình độ có hạn nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các cán bộ nghiệp vụ ở Công ty để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Văn Thụ, các thầy cô trong khoa kế toán tài chính trường đại học Hải Phòng và các cán bộ nghiệp vụ của Chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín đã giúp em hoàn thành bài viết này
Trang 5CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT
LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP
1.1: Những vấn đề chung về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp
1.1.1: Sự cần thiết phải tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp
Nguyên vật liệu là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm mới Việc cung cấp nguyên vật liệu có kịp thời hay không sẽ ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của doanh nghiệp Song khi có nguyên vật liệu thì để sản xuất có hiệu quả hay không, sản phẩm làm ra có đạt tiêu chuẩn hay không còn phụ thuộc vào chất lượng nguyên vật liệu Như vậy trong sản xuất không chỉ tuân theo quy trình công nghệ mà còn phải chú trọng đến chất lượng quản lí nguyên vật liệu
Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất Từ đó cho thấy tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu có ý nghĩa rất quan trọng đến việc hạ giá thành Doanh nghiệp nên tập trung quản lí nguyên vật liệu một cách chặt chẽ từ khâu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng nhằm hạ thấp chi phí nguyên vật liệu
Về mặt giá trị thì nguyên vật liệu là tài sản dự trữ thuộc tài sản lưu động, do vậy việc tăng tốc độ vốn kinh doanh không thể tách rời việc dự trữ
sử dụng nguyên vật liệu một cách tiết kiệm và hiệu quả
Từ vị trí quan trọng của nguyên vật liệu càng cho thấy ý nghĩa của kế toán nguyên vật liệu Kế toán nguyên vật liệu tốt là điều kiện giúp cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn
Trang 6lí nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất.
1.1.2: Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu
* Khái niệm
Nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
kỳ sản xuất kinh doanh
- Giá trị của nguyên vật liệu được chuyển dịch một lần vào toàn bộ giá trị sản phẩm mới tạo ra hoặc vào chi phí kinh doanh trong kỳ
1.1.3: Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường, kế toán nói chung và kế toán nguyên vật liệu nói riêng, là công cụ quản lý trực tiếp của mỗi đơn vị Hạch toán kế toán nguyên vật liệu là việc ghi chép phản ánh đầy đủ tình hình thu mua nhập xuất
dự trữ nguyên vật liệu Thông qua đó kế toán còn biết đc chất lượng, chủng loại vật liệu có đảm bảo hay không , để từ đó đề ra các biện pháp thích hợp
Để thực hiện chức năng giám đốc và là công cụ quản lý kinh tế xuất phát từ yêu cầu quản lý vật liệu, từ vị trí của kế toán trong quản lý kinh tế , quản lý doanh nghiệp Nhà nước đã xac định nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất như sau :
Trang 7Tổ chức ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua vận chuyển, bảo quản tình hình xuất- nhập –tồn vật liệu Tính giá thành thực tế của nguyên vật liệu đã thu mua và nhập kho Doanh nghiệp kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua và nhập kho Doanh nghiệpkiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu về mặt số lượng, chủng loại, giá cả nhằm đạt đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại vật liệu cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho của doanh nghiệp để ghi chép để ghi chép phân loại tổng hợp số liệu và tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm của vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu Phát hiện, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý vật liệu thừa, thiếu, ứ đọng hoặc kém, mất phẩm chất Tính toán xác định chính xác số lượng và giá trị vật liệu thực tế đưa vào sử dụng đã được tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân bổ chính xác giá trị vật liệu đã tiêu hao vào đối tượng
sử dụng
Tham gia kiểm kê, đánh giá vật liệu tồn kho theo đúng chế độ quy định của Nhà nước, lập báo cáo về vật liệu cho công tác quản lý, tiến hành phân tích tình hình thu mua, bảo quản , dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu nhằm đưa ra đầy đủ thông tin cho quá trình sản xuất
Tóm lại với vai trò nhiệm vụ của kế toán vật liệu đã trở thành một phần quan trọng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp; tổ chức tốt công tác kế toán nguyên vật liệu sẽ góp phần thúc đẩy cung ứng kịp thời, đồng bộ vật liệu cần thiết cho sản xuất , nâng cao hiệu quả sử dụng vật liệu, từ đó hạ thấp được chi
Trang 81.1.4: Phân loại, đánh giá nguyên vật liệu
1.1.4.1 Phân loại nguyên vật liệu
Trong các doanh nghiệp sản xuất,nguyên vật liệu bao gồm nhiều loại, thứ với nội dung kinh tế, công dụng, tính chất hóa học và yêu cầu quản lí khác nhau Vì vậy để quản lí chặt chẽ từng loại, thứ nguyên vật liệu phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp cần thiết phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu
● Phân loại NVL theo nội dung kinh tế và yêu cầu quản trị trong DNSX
- Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng tạo nên thực thể của sản phẩm Đối với thành phẩm mua ngoài với mục đích để tiếp tục gia công chế biến được coi là nguyên vật liệu chính
- Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi sử dụng chỉ có tác dụng phụ
có thể làm tăng chất lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc đảm bảo cho công cụ, dụng cụ hoạt động được bình thường
- Nhiên liệu: Là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất sản phẩm, tạo điều kiện cho quá trình chế toạ sản phẩm diễn ra bình thường, Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn và thể khí
- Phụ tùng thay thế: Là các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ sản xuất
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm những vật liệu, thiết bị, công cụ, khí cụ, vật kết cấu dùng cho công tác xây dựng cơ bản
Trang 9- Vật liệu khác: Là những loại vật liệu chưa được xếp vào các loại trên thường là những vật liệu được loại ra từ quá trình sản xuất hoặc phế liệu thu hồi từ thanh lí TSCĐ.
Ngoài ra tùy thuộc vào yêu cầu quản lí và hạch toán chi tiết của doanh nghiệp mà trong từng loại nguyên vật liệu trên chia thành từng nhóm, từng thứ Cách phân loại này là cơ sở để xác định định mức tiêu hao, định mức dự trữ cho từng loại, từng thứ nguyên vật liệu là cơ sở để hạch toán chi tiết được nguyên vật liệu trong doanh nghiệp
● Phân loại NVL theo nguồn hình thành
- Nguyên vật liệu nhập từ bên ngoài: Do mua ngoài, nhận vốn góp liên doanh, nhận biếu tặng…
- Nguyên vật liệu tự chế: Là do doanh nghiệp tự sản xuất
● Phân loại NVL theo mục đích, công dụng:
- Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất kinh doanh gồm:
+ Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm
+ Nguyên vật liệu dùng cho quản lí ở các phân xưởng, dùng cho bộ phận bán hàng, bộ phận quản lí doanh nghiệp
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác:
Trang 10được hình thành theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận.
+ Đặc điểm:
Khi vận dụng nguyên tắc giá gốc, chỉ được đánh giá giá trị tài sản dựa trên căn cứ tiền mặt hoặc các khoản tương đương tiền Trường hợp, nếu vật đền bù cho một tài sản hoặc dịch vụ là tiền mặt thì chi phí được đánh giá theo
số tiền mặt chi ra để có được tài sản hoặc dịch vụ đó, nếu vật đền bù cho một tài sản hoặc dịch vụ không phải là tiền mặt thì chi phí được đánh giá theo giá trị tiền mặt tương đương giá trị thị trường của vật trao đổi hoặc nhận được
Nguyên tắc giá gốc được quy định trên nền tảng của nguyên tắc hoạt động liên tục Với giả định doanh nghiệp hoạt động liên tục, nên trên Báo cáo tài chính, giá trị các chỉ tiêu về tài sản, công nợ, chi phí,… được phản ánh theo giá ở thời điểm mua tài sản đó, không phải giá trị tại thời điểm xác định giá tài sản tính theo giá thị trường
Nguyên vật liệu mua ngoài:
Giá thực tế nhập kho = Giá mua tính trên hóa đơn + Thuế phải nộp trong khâu mua(không được khấu trừ hay hoàn lại) + Chi phí thu mua thực tế ( chi phí vận chuyển,bốc xếp …) - Chiết khấu giảm giá(nếu có)
Đối với nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự gia công chế biến
Giá thực tế nhập kho = Giá thực tế của nguyên vật liệu xuất gia
công chế biến
- Đối với nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến
Giá thực tế nhập kho = giá NVL xuất thuê ngoài gia công chế biến + chi phí vận chuyển , bôc xếp + chi phí thuê ngoài gia công + chi phí chế biến
Trang 11- Đối với nguyên vật liệu nhận góp vốn: Giá nhập kho là giá được các bên tham gia góp vốn liên doanh thống nhất đánh giá chấp thuận.
- Đối với nguyên vật liệu được biếu tặng: Giá nhập kho là giá
thực tế được xác định theo giá thị trường
- Nguyên tắc thận trọng
+ Nội dung
Thận trọng là việc phải xem xét, cân nhắc, có những phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trong yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữu phải được ghi nhận
từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra
+ Đặc điểm
Theo nguyên tắc thận trọng, kế toán cần:
- Phải lập các khoản dự phòng đúng nguyên tắc quy định: lập dự phòng không phản ánh cao hơn giá trị tài sản thực tế có thể thực hiện Do thực
tế các khoản tổn thất đã phát sinh (hoặc nhiều khả năng đã phát sinh) nên cần phải lập dự phòng (trích vào chi phí) để đảm bảo tính phù hợp giữa doanh thu
và chi phí thực tế Đảm bảo tính đúng kỳ của chi phí Lập dự phòng còn đảm bảo doanh nghiệp không có sự biến động lớn về vốn kinh doanh (có nguồn để
Trang 12Trường hợp có sự thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn, phải giải trình lý do và công bố đầy đủ ảnh hưởng của sự thay đổi đó về giá trị trong các báo cáo tài chính.
+ Đặc điểm
Nguyên tắc nhất quán đảm báo cho thông tin mang tính ổn định và có thể so sánh được giữa các kỳ kế toán với nhau và giữa kế hoạch, dự toán với thực hiện
Trường hợp thay đổi chính sách và phương pháp kế toán thường do doanh nghiệp chuyển đổi hình thức sở hữu, thay đổi kế toán…
- Sự hình thành trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu được phân biệt ở các thời điểm khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh
* Đánh giá vật liệu theo giá thực tế:
- Giá thực tế nhập kho
Giá thực tế NVL nhập kho được phản ánh theo từng nguồn nhập:
+ Nhập kho do mua ngoài: Trị giá vốn thực tế nhập kho gồm giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác liên quan đến việc mua vật tư,
Trang 13trừ đi các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do không đúng qui cách, phẩm chất.
- Với cơ sở kinh doanh là đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, giá mua là giá chưa có thuế giá trị gia tăng
- Trường hợp nguyên vật liệu mua vào được sử dụng cho các đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp khấu trừ, hoặc sử dụng cho các mục đích phúc lợi, các dự án… thì giá mua bao gồm cả thuế giá trị gia tăng (là tổng giá thanh toán)
+ Giá thực tế của nguyên vật liệu tự chế biến bao gồm giá thực tế nguyên liệu, vật liệu chế biến và chi phí chế biến
+ Giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến bao gồm giá thực tế của nguyên liệu,vật liệu xuất chế biến, chi phí vận chuyển nguyên liệu, vật liệu đến nơi chế biến và từ nơi chế biến về đơn vị, tiền thuê ngoài gia công, chế biến( theo hợp đồng gia công)
+ Nhập nguyên vật liệu do nhận góp vốn liên doanh: Trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho do hội đồng liên doanh thỏa thuận cộng các chi phí khác phát sinh khi tiếp nhận nguyên vật liệu
+ Nhập nguyên vật liệu do được cấp: Trị giá vốn thực tế nhập kho là giá được ghi trên biên bản giao nhận cộng các chi phí phát sinh khi nhận
+ Nhập nguyên vật liệu do được biếu tặng tài trợ: Trị giá vốn thực tế nhập kho là giá hợp lý cộng các chi phí hợp lý phát sinh khi nhận
-Giá thực tế xuất kho
Nguyên vật liệu nhập kho từ nhiều nguồn khác nhau, ở nhiều thời điểm khác nhau nên có nhiều giá khác nhau Tuỳ theo đặc điểm từng doanh nghiệp
về yêu cầu quản lý, trình độ của cán bộ kế toán có thể sử dụng một trong các phương pháp sau theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán Nếu có thay đổi phải giải thích rõ ràng
Trang 14• Nhập trước –xuất trước:
Phương pháp này dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước sẽ được xuất bán và sử dụng trước ,hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ
Do vậy giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ ,giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho
- Ưu điểm : Có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng,do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý
Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó.Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên bán cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn
- Nhược điểm:Làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại.Theo phương pháp này doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm ,vật tư,hàng hóa đã có được từ cách
đó rất lâu
Đồng thời nếu số lượng, chủng loại mặt hàng nhiều,phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều
• Nhập sau –xuất trước:
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả thiết là hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó
Trang 15Trị giá nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần nhập sau cùng theo công thức:
Trị giá thực tế Giá thực tế đơn vị của Số lượng NVL xuất khoNVL xuất kho = NVL nhập kho theo từng x trong kỳ thuộc số lượng lần nhập kho trước từng lần nhập kho
Do đó giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau ,giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ
- Ưu điểm :Với phương pháp này chi phí của lần mua gần nhất tương đối sát với trị giá vốn của hàng thay thế.Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo được yêu cầu của nguyên tắc phù hợp trong kế toán
- Nhược điểm:Trị giá vốn của hàng tồn kho cuối kỳ có thể không sát với giá thị trường của hàng thay thế
• Phương pháp giá thực tế đích danh:
Theo phương phát này doanh nghiệp phải biết được các đơn vị hàng hóa tồn kho và các đơn vị hàng hóa xuất bán thuộc những lần mua nào và dùng đơn giá của những lần mua đó để xác định trị giá cảu hàng tồn kho cuối kỳ
- Ưu điểm:Đây là phương án tốt nhất ,nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế.Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra
Giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó
- Nhược điểm:Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn ,mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được phương pháp này
Đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì không thể áp dụng được phương pháp này
Trang 16Theo phương pháp giá bình quân gia quyền trị giá của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ .Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc ngay sau khi nhập một
lô hàng về
Khi áp dụng phương pháp này kế toán căn cứ vào đơn giá mua bình quân của từng loại hàng hóa trong một kỳ để xác định giá trị thực tế của hàng xuất kho cũng như là giá trị thực tế của hàng tồn kho
Đơn giá mua bình
quân trong kỳ
= Trị giá HH tồn kho đầu kỳ+ Trị giá HH nhập trong kỳ
Số lượng HH tồn đầu kỳ +Số lượng hàng hóa nhập trong kỳ
Đơn giá thực tế hàng xuất bán =Đơn giá mua bình quân x Khối lượng hàng hóa xuất bán
Sau đó xác định trị giá hàng tồn kho cuối kỳ theo công thức :
Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ =Số lượng hàng hóa tồn kho x Đơn giá mua bình quân
_Ưu điểm :Việc tính toán khá đơn giản,dễ làm chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ ,không mang tính áp đặt chi phí cho từng đối tượng cụ thể như một số phương pháp tính giá hàng tồn kho khác
_Nhược điểm: Khi sử dụng phương pháp này trị giá của hàng tồn kho cuối kỳ chịu ảnh hưởng bởi giá của hàng tồn kho đầu kỳ và giá mua của hàng tồn kho trong kỳ.Như vậy phương pháp này có xu hướng che dấu sự biến động của giá
1.2: Nội dung tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu
1.2.1: Kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Trang 17Kế toán chi tiết nguyên vật liệu đòi hỏi phản ánh cả về giá trị, số lượng, chất lượng từng thứ ( từng danh điểm) vật tư theo từng kho và từng người phụ trách vật chất Trong thực tế hiện nay có 3 phương pháp kế toán chi tiết vật tư sau đây:
1.2.1.1 Phương pháp thẻ song song
Phương pháp thẻ song song là phương pháp kế toán chi tiết vật tư mà ở kho vật tư và bộ phận kế toán vật tư (thuộc phòng kế toán) đều sử dụng thẻ, ở kho sử dụng thẻ kho, còn ở bộ phận kế toán vật tư sử dụng thẻ kế toán chi tiết vật tư Vì thế, phương pháp này được gọi là phương pháp thẻ song song Công việc cụ thể của từng bộ phận như sau:
- Ở kho: Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn vật tư
về mặt số lượng Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho Thẻ được mở cho từng danh điểm vật tư
- Ở phòng kế toán: Phòng kế toán mở thẻ kế toán chi tiết từng danh điểm vật
tư tương ứng với thẻ kho mở ở kho Thẻ này có nội dung tương tự thẻ kho, chỉ khác là theo dõi cả về mặt giá trị Hàng ngày hoặc định kì, khi nhận được các chứng từ nhập, xuất kho do thủ kho chuyển tới, nhân viên kế toán vật tư phải kiểm tra, đối chiếu và ghi đơn giá hạch toán vào thẻ kho và tính ra số tiền Sau đó, lần lượt ghi các nghiệp vụ nhập, xuất vào các thẻ kế toán chi tiết vật tư có liên quan Cuối tháng tiến hành cộng thẻ kế toán chi tiết vật tư theo từng danh điểm và đối chiếu với thẻ kho
Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và chi tiết, kế toán vật tư phải căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho về mặt giá trị của từng loại vật tư Số liệu của bảng này được đối chiếu với số liệu của phần kế toán tổng hợp
Ngoài ra để quản lý chặt chẽ thẻ kho, nhân viên kế toán vật tư còn mở sổ đăng
ký thẻ kho, khi giao thẻ kho cho thủ kho, kế toán phải ghi vào sổ
Trang 18- Ưu điểm: Ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu.
- Nhược điểm: việc ghi chép giữa kho và phòng kế toán còn trùng lặp về chỉ tiêu số lượng Ngoài ra việc kiểm tra đối chiếu chủ yếu tiến hành vào cuối tháng do vậy hạn chế khả năng kiểm tra kịp thời của kế toán
- Phạm vi áp dụng: áp dụng thích hợp cho doanh nghiệp có ít chủng loại vật
tư, khối lượng nghiệp vụ nhập xuất ít, không thường xuyên và trình độ chuyên môn của cán bộ còn hạn chế
PHƯƠNG PHÁP THẺ SONG SONG
Trang 19.2.1.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
Theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển, tại kho, thủ kho vẫn sử dụng thẻ kho và ghi chép giống như phương pháp thẻ song song nói trên
Tại phòng kế toán, kế toán bộ phận vật tư không mở thẻ kế toán chi tiết vật ư mà mở sổ đối chiếu luân chuyển để phản ánh số lượng và số tiền của từng thứ (danh điểm) vật tư theo từng kho Sổ này ghi mỗi tháng một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập, xuất phát sinh trong tháng của từng vật tư, mỗi thứ chỉ ghi một dòng trong sổ
Cuối tháng, đối chiếu số lượng vật tư trên sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho, đối chiếu số tiền với kế toán tổng hợp
* Ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng
- Ưu điểm: khối lượng phạm vi ghi chép của kế toán được giảm bớt do chỉ ghi một lần vào cuối tháng
- Nhược điểm: việc ghi sổ vẫn trùng lặp giữa kho và phòng kế toán về chỉ tiêu hiện vật và phòng kế toán cũng chỉ tiến hành kiểm tra đối chiếu vào cuối tháng do đó hạn chế tác dụng của kiểm tra
- Phạm vi áp dụng: áp dụng thích hợp cho các Doanh nghiệp có không nhiều nghiệp vụ nhập xuất, không bố trí riêng nhân viên kế toán vật liệu do đó không có điều kiện ghi chép theo dõi tình hình nhập xuất hàng ngày
Trang 201.2.1.3 Phương pháp sổ số dư
Trong các doanh nghiệp sử dụng phương pháp sổ số dư, tại kho thủ kho sử dụng thẻ kho để phản ánh tình hình biến động vật tư Định kì, sau khi ghi thẻ kho, thủ kho phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập kho, xuất kho phát sinh theo từng danh điểm vật tư quy định Sau đó, lập phiếu giao nhận chứng
từ và nộp cho kế toán kèm theo các chứng từ nhập, xuất vật tư
Ngoài ra, thủ kho còn phải ghi số lượng vật tư tồn kho cuối tháng theo từng danh điểm vật tư vào sổ số dư Sổ số dư được kế toán mở cho từng kho
và dùng cho cả năm, trước ngày cuối tháng, kế toán giao cho thủ kho để ghi vào sổ Ghi xong thủ kho phải gửi phòng kế toán để kiểm tra và tính thành tiền
Trang 21Tại phòng kế toán, định kì, nhân viên kế toán vật tư phải xuống kho để hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho và thu nhận chứng
từ Khi nhận được chứng từ, kế toán kiểm tra và tính giá chứng từ ( theo giá hạch toán), tổng cộng số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng từ Đồng thời, ghi số tiền vừa tính được của từng nhóm vật tư (nhập riêng, xuất riêng) vào bảo lũy kế nhập, xuất, tồn kho vật tư Bảng này được
mở cho từng kho, mỗi kho một tờ, được ghi trên cơ sở các phiếu giao nhận chứng từ nhập, xuất vật tư
Tiếp đó, cộng số tiền nhập, xuất trong tháng và dựa vào số dư đầu tháng để tính ra số dư cuối tháng của từng nhóm vật tư để ghi vào bảng lũy kế nhập, xuất, tồn kho vật tư Số dư trên bảng này được dùng để đối chiếu với số
dư trên sổ số dư ( sổ số dư tính bằng cách lấy số lượng vật tư từng loại tồn kho nhân với giá hạch toán)
* Ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng:
- Ưu điểm: tránh được ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, giảm bớt khối lượng ghi chép kế toán, công việc được tiến hành đều trong tháng
- Nhược điểm: do kế toán chỉ ghi theo mặt giá trị nên muốn biết được số hiện
có và tình hình tăng giảm về mặt hiện vật thì nhiều khi phải xem sổ của thủ kho mất nhiều thời gian Hơn nữa việc kiểm tra phát hiện sai sót nhầm lẫn giữa kho và phòng kế toán gặp khó khăn
- Phạm vi áp dụng: áp dụng thích hợp cho các doanh nghiệp có ít chủng loại vật tư, khối lượng nghiệp vụ nhập xuất nhiều, thường xuyên, có nhiều chủng loại vật tư và áp dụng với doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống danh điểm vật tư, trình độ chuyên môn của kế toán đã vững vàng
Trang 22PHƯƠNG PHÁP GHI SỔ SỐ DƯ
Trang 231.2.2: Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
1.2.2.1 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên
Là phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng, giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên liên tục trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho Phương pháp này sử dụng phổ biến ở nước ta hiện nay vì những tiện ích của nó Tuy nhiên, với những doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật tư, hàng hóa có giá trị thấp, thường xuyên xuất dùng, xuất bán
mà áp dụng phương pháp này sẽ tốn rất nhiều công sức Dù vậy, phương pháp này có độ chính xác cao và cung cấp thông tin về hàng tồn kho một cách kịp thời, cập nhất
Ghi chú:
: Ghi hàng tháng: Ghi cuối tháng: Đối chiếu kiểm tra
Ghi chú:
: Ghi hàng tháng: Ghi cuối tháng: Đối chiếu kiểm tra
Ghi chú:
: Ghi hàng tháng: Ghi cuối tháng: Đối chiếu kiểm tra
Ghi chú:
: Ghi hàng tháng: Ghi cuối tháng: Đối chiếu kiểm tra
Ghi chú:
: Ghi hàng tháng: Ghi cuối tháng: Đối chiếu kiểm tra
Ghi chú:
: Ghi hàng tháng: Ghi cuối tháng: Đối chiếu kiểm tra
Ghi chú:
: Ghi hàng tháng: Ghi cuối tháng: Đối chiếu kiểm tra
Ghi chú:
: Ghi hàng tháng: Ghi cuối tháng: Đối chiếu kiểm tra
Trang 24SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN NVL THEO PHƯƠNG PHÁP KÊ KHAI THƯỜNG XUYÊN
TK111,112,331… TK 152
TK621,623,627,641,642…
Nhập kho NVL mua ngoài Xuất NVL dùng cho SXKD,
TK133 hoặc sửa chữa lớn TSCĐ
Xong nhập kho giảm giá NVL mua vào
Trả lại NVL cho người bán,CKTM TK333
NVL xuất dùng cho SXKD hoặc NVL xuất kho để đầu tư vào
XDCB, sửa chữa lớn TSCĐ công ty liên kết hoặc cơ sở kinh doanh
Không sử dụng hết nhập kho đồng kiểm soát
Thu hồi vốn góp vào công ty liên NVL phát hiện thiếu khi kiểm kê
Kết cơ sở KD đồng kiểm soát thuộc hao hụt trong định mức
NVL phát hiện thừa khi kiểm kê NVL phát hiên thiếu khi kiẻm kê
Kê chờ xử lý chờ xử lý
Trang 251.2.2.2 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
Phương pháp kiểm kê định kì là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, hàng hóa, sản phẩm trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kì và cuối kì của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kì, xác định lượng tồn kho thực tế, chưa xuất dùng cho sản xuất kinh doanh và các mục đích khác Độ chính xác của phương pháp này không cao mặc dù tiết kiệm được công sức ghi chép và nó chỉ thích hợp với các đơn vị kinh doanh những chủng loại hàng hóa, vật tư khác nhau, giá trị thấp, thường xuyên xuất dùng, xuất bán
Vào cuối kỳ thì phải kiểm kê định kỳ nguyên vật liệu để xác định giá vốn thực tế của vật liệu tồn kho cuối kỳ theo một trong bốn phương pháp tính giá trị hàng tồn kho của chuẩn mực kế toán, sau đó mới xác định giá vốn thực tế của vật liệu xuất kho theo công thức:
Giá vốn thực tế Giá vốn thực tế Giá vốn thực tế Giá vốn thực tế của nguyên vật liệu = của NVL tồn + của NVL tăng - của vật liệu tồn xuất kho trong kỳ kho đầu kỳ trong kỳ kho cuối kỳ
Trang 26SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN VẬT LIỆU THEO PHƯƠNG PHÁP
KIỂM KÊ ĐỊNH KỲ
VAT không được các khoản được giảm trừ khi
khấu trừ mua nguyên vật liệu (NVL)
Trang 271.3: Tổ chức vận dụng hệ thống sổ sách kế toán vào tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu
Hệ thống sổ
- Hình thức kế toán Nhật ký chung
Nhật ký chung là hình thức sổ kế toán đơn giản, thích hợp với mọi doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm kế toán Sổ sách của hình thức nhật ký chung bao gồm: Sổ nhật ký đặc biệt, sổ nhật ký chung, sổ cái và các sổ chi tiết cần thiết
Nhật ký chung là một quyển sổ đóng thành tập, quản lý toàn bộ số liệu kế toán trong kỳ của đơn vị Nhật ký chung là sổ hệ thống hoá chứng từ theo thời gian, kết cấu theo mẫu sẵn
SƠ ĐỒ KẾ TOÁN THEO HÌNH THỨC NHẬT KÝ CHUNG
Chứng từ gốc
Sổ nhật ký chung
Sổ cái
Sổ Nhật ký đặc
biệt
Sổ, thẻ chi tiết
Bảng TH từ sổ chi tiết
Ghi trong kỳ Ghi cuối kỳ Đối chiếu
Sổ quỹ
Trang 28Hình thức hạch toán Nhật ký - Sổ cái là hình thức kế toán trực tiếp, đơn giản bởi cơ cấu sử dụng ít, kỹ thuật ghi sổ và kiểm tra đơn giản
Sổ kế toán theo hình thức Nhật ký - Sổ cái bao gồm: Sổ nhật ký - Sổ cái, các sổ (thẻ) chi tiết cho các đối tượng, mối quan hệ giữa các loại
Trang 29định khoản các nghiệp vụ trên chứng từ gốc để tạo điều kiện cho việc ghi sổ cái Chứng từ ghi sổ là bước đệm cần thiết không thể thiếu được trong hệ thống sổ của hình thức này
Trước khi vào sổ cái, chứng từ ghi sổ phải được ghi vào sổ đăng
ký chứng từ ghi sổ Nguyên tắc để lập chứng từ ghi sổ là phải phân loại chứng từ gốc theo từng loại nghiệp vụ kinh tế Định kỳ, kế toán lập chứng từ ghi sổ cho từng loại nghiệp vụ, mỗi chứng từ gốc phải được ghi vào một chứng từ ghi sổ
SƠ ĐỒ HÌNH THỨC CHỨNG TỪ GHI SỔ
`
Chứng từ gốc
Bảng cân đối số phát sinh
Báo cáo tài chính
Ghi trong kỳ
Ghi cuối kỳ
Đối chiếu
Sổ quỹ
Trang 30Hình thức ghi sổ “ Nhật ký - Chứng từ” phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô lớn , quá trình sản xuất kinh doanh phức tạp nhưng kế toán vẫn thực hiện ghi chép bằng tay.
Sổ kế toán cơ bản của hình thức này là “Nhật ký - Chứng từ”
“Nhật ký - Chứng từ” là loại sổ tờ rời dùng để hệ thống hoá thông tin vào bên Có của các tài khoản Mỗi nhật ký chứng từ được thiết
kế phù hợp với từng đối tượng mà nó phản ánh
Một số tài khoản phản ánh các đối tượng phức tạp thì kế toán sử dụng các bảng kê, sổ chi tiết, bảng phân bổ để theo dõi Số liệu cuối kỳ được chuyển về Nhật ký - Chứng từ có liên quan
Trang 31SƠ ĐỒ HÌNH THỨC NHẬT KÝ CHỨNG TỪ
Hình thức kế toán trên máy vi tính
Mỗi một hình thức đều có đặc điểm riêng, ưu nhược điểm khác nhau Các doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống tài khoản, chế độ kế toán của Nhà nước, căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất và yêu cầu quản lý cũng như trình độ nghiệp vụ, điều kiện trang bị kỹ thuật mà lựa chọn hình thức kế toán cũng như hệ thống sổ kế toán cho phù hợp Vì vậy tuỳ theo từng hình thức kế toán vận dụng trong doanh nghiệp mà kế toán vật liệu có những
sổ chi tiếtBáo cáo kế toán
Ghi trong kỳ
Ghi cuối kỳ
Đối chiếu
Sổ quỹ
Trang 32sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
Sổ kế toán chi tiết Nguyên vật liệu.
Là sổ phản ánh thông tin chi tiết về từng loại việc nhập, xuất Việc ghi
sổ chi tiết cũng được căn cứ trên cơ sở các “Phiếu nhập kho”, “Phiếu xuất kho”, “Bảng kê”…Số liệu trên sổ chi tiết để quản lí chi tiết vật liệu nhập kho, xuất kho về mặt số lượng và giá trị, để đối chiếu hoặc làm căn cứ để ghi sổ tổng hợp vật liệu Sổ chi tiết vật liệu thường dùng là “Sổ chi tiết vật liệu”, “Sổ xuất vật tư theo hạn mức sử dụng”
Trang 33CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN KIM TÍN HẢI PHÒNG
2.1: Khái quát chung về chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của chi nhánh công ty Cổ phần Kim Tín
Tên đơn vị: Chi nhánh Công ty Cổ phần Kim Tín
Địa chi : 3B – Trần Khánh Dư – Ngô Quyền- Hải Phòng
Giám đốc : Trịnh Văn Vang
Mã số thuế : 0100989638
Số điện thoại: 0313797288
Tháng 12/2008 chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín được thành lập.Chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín ra đời xuất phát từ chính nhu cầu đòi hỏi của thị trường và của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cũng như các cửa hàng chuyên dụng về thiết bị, vật liệu ngành hàn, vật liệu kim khí là phải đảm bảo về chất lượng thiết bị hàn cũng như mẫu mã phải đa dạng phong phú Bước đầu quy mô hoạt động của Công ty còn nhỏ, số lượng lao động chỉ có hơn mười người Sau những năm đầu xây dựng và trưởng thành với phương châm yếu tố con người được coi trọng, Công ty đã thu hút được nguồn nhân lực
từ khắp nơi với đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ cao Cùng với đó, Công ty
ra đời trong giai đoạn Đất nước đang bước vào thời kỳ đổi mới, định hướng XHCN ngày càng phát triển và mở rộng theo theo xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và Quốc tế Đặc biệt việc trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO là mốc quan trọng cho sự nghiệp đổi mới nền kinh tế nước ta Việc gia nhập WTO và với cơ chế hiện nay các thành phần kinh tế tự do được Nhà nước ưu tiên khuyến khích tư nhân hóa, cổ phần hóa, đó vừa là cơ hội vừa
là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong nước
Trang 34mà không phải doanh nghiệp nào cũng có được Với trang thiết bị cơ giới đa dạng và hiện đại cùng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm, những hàng hóa của Công ty ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng, có mặt hầu hết trên tất cả các tỉnh thành trên cả nước Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Công ty là : buôn bán tư liệu sản xuất chủ yếu là vật tư, nguyên vật liệu phục vụ ngành chế tạo thiết bị điện và cơ khí; dịch vụ môi giới và xúc tiến thương mại; kinh doanh hàng kim khí điện máy, công nghệ thực phẩm; sản xuất
và mua bán vật liệu, dụng cụ, thiết bị trong ngành hàn, nối Trong đó hoạt động sản xuất và mua bán vật liệu, dụng cụ, thiết bị trong ngành hàn nối chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của Công ty
Với lợi thế về vốn, nguồn nhân lực và thương hiệu ngoài những mặt hàng truyền thống như dây hàn, vật liệu hàn… Công ty đã trở thành đối tác và làm nhà phân phối độc quyền trong việc mua bán và phân phối sản phẩm mang thương hiệu: BOSCH, TOSAN, HELI…
2.1.2 Sản phẩm và quy trình sản xuất
2.1.2.1 Sản phẩm
Chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín được thành lập từ năm 2008 với chức năng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại que hàn, dây hàn, vật liệu hàn, kim loại màu… được nhập từ các nước Nhật, Đức, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc… tuy nhiên, trước nhu cầu của thị trường trong nước, đồng thời đáp ứng các sản phẩm cho thị trường trong nước với thương hiệu Kim Tín, dần dần thay thế dần que hàn nhập khẩu, Công ty đã mạnh dạn đầu tư 1 nhà máy chuyên sản xuất que hàn với công suất 4.000 tấn/năm Đến năm 2010, công ty đã đầu tư nâng công suất nhà máy lên 17.000 tấn/năm với thương hiệu GEMINI đây là bước phát triển mới, khi thị trường cung cấp các sản phẩm dây hàn ở Việt Nam
Trang 35Công ty cổ phần Kim Tín nói chung và chi nhánh công ty cổ phần Kim Tín nói riêng được đánh giá là 1 trong những doanh nghiệp hàng đầu tại Việt Nam trong việc cung cấp các thiết bị hàn cho thị trường với tổng công suất các nhà máy đạt hơn 44.000 tấn sản phẩm que hàn, dây hàn các loại mỗi năm, chiếm hơn 60% thị phần
Các sản phẩm của công ty:
- Que hàn sắt gồm các loại như : Kt 6013, KT 421, KT 3000, KT N48, GL
48 được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực hàn sắt, xây dựng, chế tạo máy, công nghiệp đóng tàu………
- Que hàn gang thép GL52, GL78, GH600 được sử dụng rông rãi trong các lĩnh vực đóng tàu, cầu cảng, bồn áp lực, hàn đắp các thiết bị hao mòn…
- Que hàn inox : G308 được sử dụng trong việc hàn các đò nội thất trang trí
- Ván MDF timbee, đinh nikko…
Trang 36Hình ảnh : ván MDF timbee
Hình ảnh : que hàn cáp
Trang 372.1.2.2 Quy trình sản xuất
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH SẢN XUẤT QUE HÀN
Thép Máy cán Máy rút sợi Rửa axit
Máy ve đầu máy trộn bột,nước cắt thép
que hàn thủy tinh
Máy đo độ lệch Lò sấy sản phẩm tâm
Quá trình sản xuất que hàn gồm rất nhiều khâu trung gian liên kết chặt chẽ với nhau dựa trên máy móc thiết bị để đảm bảo yếu tố hiệu quả sản xuất hiệu quả và
an toàn trong sản xuất
Quy trình sản xuất que hàn phải trải qua 10 bước Một trong những nguyên liệu chủ yếu để sản xuất que hàn là lõi thép Đầu tiên thép được đưa vào máy cán thẳng để tạo ra những mẩu thép dài Dải thép được đưa vào máy rút sợi để tuốt thành những lõi thép có bán kính cần thiết, khi thép đạt được kích thước như ý
sẽ đưa vào vào dung dịch axit rửa và cắt khúc hình thành nên những lõi thép có
độ dài định sẵn để trở thành lõi que hàn theo đúng yêu cầu Lõi que hàn sẽ được đưa qua 1 máy trôn bột và sẽ được bao bọc ở bên ngoài 1 lớp bột hàn, sau đó những thanh que hàn được đưa vào máy ve đầu que hàn để tạo mũi que có độ tiết diện tốt nhất và được kiểm tra bằng máy đo độ lệch tâm để kiểm tra chất lượng Những thanh que hàn đạt tiêu chuẩn sẽ được tiếp tục chạy qua lò sấy để đưa ra sản phẩm hoàn chỉnh
Trang 38Để quản lý tốt hoạt động kinh doanh Công ty được tổ chức theo các bộ phận chuyên môn hóa cụ thể theo chức năng và nhiệm vụ rõ ràng giữa các phòng ban Công ty thực hiện chế độ lãnh đạo một thủ trưởng với sự tư vấn của các bộ phận chức năng Ban giám đốc gồm có Giám đốc và Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị Công ty là cơ quan cao nhất của Công ty; Hội đồng quản trị quyết định phương hướng sản xuất, phương hướng tổ chức và cơ chế quản lý của Công ty Giám đốc điều hành chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước Hội đồng quản trị
về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Đồng thời Giám đốc có trách nhiệm điều hành chung hoạt động mua bán hàng hóa, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động kinh doanh của Công ty dưới sự trợ giúp của hai Phó giám đốc và các phòng ban Phó giám đốc kinh doanh giúp Giám đốc phụ trách các công việc cụ thể về kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, quản lý tình hình kinh doanh
ở các chi nhánh, là cố vấn trực tiếp cho Giám đốc về phương án kinh doanh Phó giám đốc kỹ thuật giúp Giám đốc phụ trách về công tác kỹ thuật, về hành chính nhân sự Bộ máy của công ty được chia thành các phòng ban: phòng kinh doanh; phòng kế toán; phòng xuất nhập khẩu; phòng kho vận và phòng hành chính nhân
sự
Ban Giám Đốc điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như nhưng
hoạt động hàng ngày khác của công ty Chịu trách nhiệm trước Hội Đồng Quản Trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
Phòng Kinh doanh: Có chức năng xây dựng chiến lược kinh doanh và kế hoạch
kinh doanh của Công ty Liên hệ trực tiếp và mật thiết với khách hàng Hiện nay, Công ty có 3 phòng kinh doanh, mỗi phòng có trách nhiệm tìm kiếm khách hàng, giới thiệu và bán sản phẩm, chăm sóc khách hàng trên khu vực mình phụ trách
Trang 39kinh tế phát sinh theo quy định hiện hành Xác định chi phí kết quả hoạt động kinh doanh và lập báo cáo tài chính theo quy định Công ty và pháp luật Kiểm soát tình hình công nợ khách hàng, giá bán sản phẩm theo quy định Công ty Theo dõi việc thực hiện trả nợ, lãi vay theo các điều kiện, quy định trong hợp đồng tín dụng với tổ chức tín dụng Xây dựng và thực hiện các chiến lược vốn nhằm sử dụng một cách hiệu quả các nguồn vốn mà công ty có thể sử dụng Lập
kế hoạch tài chính và kiểm soát thực hiện kế hoạch tài chính Công ty
Phòng Xuất Nhập khẩu: Có chức năng liên hệ tìm kiếm đối tác theo đúng quy
trình Xuất nhập khẩu Đảm bảo chỉ tiêu số lượng hàng nhập khẩu và phù hợp với nhu cầu kinh doanh Kiểm tra giám sát quá trình nhận hàng tại cảng của nhân viên giao nhận Kịp thời xử lý các phát sinh về chứng từ tại Cảng Khiếu nại về sự cố hàng hóa đúng nơi, đúng hạn định Đảm bảo dư nợ L/C không vượt quá mức quy định cho phép và không quá 45 ngày trước ngày hàng về
Phòng Kho vận: Quản lý sắp xếp kho bãi hàng hóa Quản lý đội xe tải Công ty
Điều phối hàng hóa, phương tiện vận tải theo lệnh giao hàng một cách chính xác, đúng hạn và hiệu quả
Phòng Hành chính Nhân sự: Có chức năng điều chỉnh cơ cấu tổ chức và hoạch định nguồn nhân lực nhằm thực hiện chiến lược lâu dài của Công ty Xây dựng
hệ thống các chính sách, quy định, thủ tục và quy trình quản lý các công việc liên quan đến hành chính, nhân sự trong công ty theo luật pháp Việt Nam
Trang 40
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Từ sơ đồ trên ta có thể thấy tổ chức bộ máy quản lý tại chi nhánh Công ty Cổ phần Kim Tín tuy đơn giản nhưng rất chặt chẽ Tuy mỗi phòng ban có chức năng và nhiệm vụ khác nhau nhưng có cùng mục đích tham mưu, đưa ra kế hoạch tối ưu nhất và giúp cho Giám đốc điều hành bộ máy Công ty suôn sẻ Là doanh nghiệp thương mại nên phòng kinh doanh của Công ty có đội ngũ nhân viên nhiều nhất được phân bổ theo từng khu vực quản lý kinh doanh khác nhau
và theo ngành hàng phụ trách như: Khu vực Hà Nội, khu vực Nam Sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, phụ trách ngành hàng Dự Án, ngành hàng Nhập khẩu…
PHÒNG
KẾ
TOÁN
PHÒNG XNK
PHÒNG KHO VẬN
PHÒNG KINH DOANH
PHÒN
G HCNS