1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỐI QUAN hệ BIỆN CHỨNG GIỮA KINH tế và CHÍNH TRỊ, NHỮNG GIẢI PHÁP TRONG GIAI đoạn CÁCH MẠNG nước TA HIỆN NAY

28 299 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 111,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để tiếp tục công cuộcđổi mới, ta phải luôn tỉnh táo, có những chiến lược, sách lược vềkinh tế và chính trị phù hợp, đúng như Đảng đã nhấn mạnh: “ Kếthợp ngay từ đầu đổi mới ki

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Bước sang thế kỷ 21 toàn cảnh nền kinh tế chính trị thế giới

có những sự thay đổi lớn Nền kinh tế chịu tác động lớn của xuhướng toàn cầu hoá, khu vực hoá Các tổ chức khu vực và thế giới:ASEAN, EU, APECT ngày càng chứng tỏ được vai trò quan trọngcủa mình trong tổ chức, các thành viên cùng giúp đỡ nhau pháttriển về kinh tế và ổn định về chính trị Đây là xu thế có lợi chomọi nước, giúp cho các nước có cơ hội phát triển Ngoài ra xu thếhoà bình, hợp tác và phát triển ngày càng trở thành xu thế chínhthay cho sự đối đầu giữa các siêu cường Sự xung đột, chạy đua vũtrang giữa 2 hệ thống xã hội đối lập, các hình thức chủ nghĩa thựcdân cũ và mới, các cuộc chiến tranh xâm lược đã bị lên án khắpnơi Đây là một điều kiện quan trọng giúp cho các quốc gia có thể

mở cửa đất nước tham gia hội nhập quốc tế và do vậy có thể pháttriển các quan hệ tuỳ thuộc lẫm nhau Mô hình phát triển kinh tếtrong xu thế hoà bình hợp tác đang thay thế cho mô hình kinh tếphát triển trong tình trạng đối đầu và chiến tranh lạnh

Thế giới đã, đang chứng kiến cuộc đua quyết liệt và ngoạnmục giữa 3 trung tâm kinh tế là Bắc Mỹ, EU, Đông á Bên cạnh đó,

sự trỗi dậy mạnh mẽ của những “ Con rồng châu á” và sự tăngtrưỏng cao, liên tục của các nước Đông Nam á đã khiến nhiềungười phải ngạc nhiên Trong quá trình phát triển, các nước này đãvấp phải không ít khó khăn như cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ

nổ ra năm 97 Tuy vậy, vượt lên trên tất cả các hậu quả của cuộckhủng hoảng, các thể chế kinh tế- tài chính và chính trị châu á đãnhận thấy yếu điểm của mình và đang có những cải cách lớn chuẩn

bị cho một thời kỳ cất cánh mới

Trang 2

Không đứng ngoài xu hướng phát triển của thế giới, nước ta

đã kịp thời có những cải cách về kinh tế, củng cố về chính trị Vềkinh tế, việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thịtrường đã mang lại những thành công to lớn Về chính trị, ta kiênđịnh con đường quá độ đi lên CNXH và từng bước tiến lên CNcộng sản theo CN Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh Bên cạnh đó,Đảng đã đề ra những chính sách đối ngoại tiến bộ, phù hợp với xuthế hợp tác hữu nghị toàn cầu Nếu như những năm trước đổi mới,

ta chỉ quan hệ với các nước thuộc hội đồng tương trợ kinh tế, thìnay, nước ta đã làm bạn với 134 quốc gia và lãnh thổ Đặc biệt,ngày 12- 7- 1995, tổng thống Hoa Kỳ: Bill Clinton đã chính thứcbình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam và đến ngày 13-7- 2000, tại Wasington, hiệp định thương mại song phương Việt-

Mỹ đã được ký kết, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệkinh tế thương mại giữa hai nước Tuy nhiên, để tiếp tục công cuộcđổi mới, ta phải luôn tỉnh táo, có những chiến lược, sách lược vềkinh tế và chính trị phù hợp, đúng như Đảng đã nhấn mạnh: “ Kếthợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mớikinh tế làm trọng tâm Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, vận hành theo cơ chế thị trường phải đi đôi với tăng cườngvai trò quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ”

Như vậy, vấn đề đặt ra là phải nhận thức rõ được tầm quan

trọng của mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, sau

đó đưa ra những giải pháp trong giai đoạn cách mạng nước ta hiện nay.

Trang 3

B NỘI DUNG

1 LÝ LUẬN CHUNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ

1.1 KINH TẾ LÀ NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA CHÍNH TRỊ

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin thì kinh tếquyết định chính trị, “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh

tế”) Trong lịch sử phát triển xã hội loài người không phải bao giờ

cũng có vấn đề chính trị Xã hội nguyên thuỷ chưa có giai cấp,chưa có vấn đề chính trị Từ khi xã hội có giai cấp và nhà nướcxuất hiện thì vấn đề chính trị mới xuất hiện Vấn đề chính trị là vấn

đề thuộc về quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp Trung tâm củavấn đề chính trị là vấn đề đấu tranh giữa các giai cấp, các lực lượng

xã hội nhằm giành, giữ chính quyền nhà nước và sử dụng chínhquyền đó làm công cụ để xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội phùhợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền Để thấy bản thân vấn đềchính trị ra đời hoàn toàn là do kinh tế quyết định Chính trị khôngphải là mục đích mà chỉ là phương tiện để thực hiện mục đích kinh

tế Khi phê phán quan niệm Duyring cho rằng bạo lực chính trịquyết định kinh tế, F Engen đã khẳng định “Bạo lực chỉ là phương

tiện, còn lợi ích kinh tế, trái lại là mục đích” Và trong tác phẩm

“Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, F.Engen đã chỉ rõ : “Để thoả mãn những lợi ích kinh tế thì quyền lựcchính trị chỉ được sử dụng làm một phương tiện đơn thuần”

Đấu tranh giai cấp về thực chất là vì lợi ích kinh tế nên cũng

theo F Engen “bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấutranh chính trị, xét đến cùng đều xoay quanh vấn đề giải phóng về

Trang 4

kinh tế” Và giai cấp nào thâu tóm được quyền lực kinh tế, giai cấp

ấy tổ chức thành nhà nước để buộc các giai cấp còn lại phải phụctùng Chính vì vậy trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng có mộtgiai cấp đóng vai trò chuyên chính thống trị các giai cấp còn lại

Lịch sử xã hội loài người chứng tỏ rằng trong mỗi hình tháikinh tế - xã hội có một cặp giai cấp nào giữ địa vị thống trị về kinh

tế sẽ thống trị cả xã hội).

Trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thuỷ không

có giai cấp tất cả mọi thành viên bình đẳng với nhau trong quan hệcủa họ với quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị

Trong hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấpchủ nô đóng vai trò thống trị

Trong hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, giai cấp địa chủđóng vai trò thống trị về kinh tế

Như vậy mối liên hệ giữa kinh tế - xã hội bắt nguồn từ lợiích khác nhau giữa các giai cấp Mặt khác mối quan hệ này còn thểhiện trong quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.Nếu như cơ sở hạ tầng là cơ sở của nền kinh tế thì kiến trúc thượngtầng là hệ thống các tư tưởng xã hội và các thiết chế tương ứngtrong đó tư tưởng chính trị và pháp luật là quan trọng nhất Vì vậyvai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng vềbản chất chính là vai trò của kinh tế đối với chính trị Khác vớinhững quan điểm cho rằng nhà nước, hệ tư tưởng chính trị, đờisống tinh thần, đẻ ra và quyết định kinh tế, hoặc cơ sở hạ tầng vàkiến trúc thượng tầng có quan hệ độc lập ngang nhau, không phụthuộc lẫn nhau, chỉ có đạo đức là cái quyết định tất cả Triết họcMác-Lênin hoàn toàn bác bỏ những quan điểm trên đây và khẳngđịnh rằng quan hệ giữa chúng là quan hệ phụ thuộc Cơ sở hạ tầngquyết định kiến trúc thượng tầng Vai trò quyết định của cơ sở hạ

Trang 5

tầng đối với kiến trúc thượng tầng được thể hiện trên một số mặtsau đây:

Cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc thượng tầng đó (giai cấp nàogiữ vị trí thống trị về mặt kinh tế thì cũng đồng thời là giai cấpthống trị xã hội về tất cả các lĩnh vực khác)

Quan hệ sản xuất nào thống trị cũng sẽ tạo ra kiến trúcthượng tầng tương ứng Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa cáctập đoàn người trong xã hội và đời sống tinh thần của họ đều xuấtphát từ trực tiếp hoặc gián tiếp từ mâu thuẫn kinh tế, từ những quan

hệ đối kháng trong cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng thay đổi thì nhất định sớm hay muộn sẽ dẫnđến sự thay đổi kiến trúc thượng tầng Quá trình đó diễn ra ngaytrong hình thái kinh tế - xã hội cũng như khi chuyến tiếp từ hìnhthái này sang hình thái kinh tế - xã hội khác Trong các xã hội cóđối kháng giai cấp, cơ sở hạ tầng được biểu hiện là mâu thuẫn giữagiai cấp thống trị và giai cấp bị trị Khi hạ tầng cũ bị xoá bỏ thìkiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi, thay vào đó là kiến trúcthượng tầng mới được hình thành từng bước thích ứng với cơ sở hạtầng mới Sự thống trị của giai cấp thống trị cũ đối với xã hội cũ bịxoá bỏ, thay bằng hệ tư tưởng thống trị và các thể chế tương ứngcủa giai cấp thống trị mới Đương nhiên không nên hiểu rằng khi

cơ sở hạ tầng thay đổi thì sẽ lập tức dẫn đến sự thay đổi kiến trúcthượng tầng Trong quá trình hình thành và phát triển của kiến trúcthượng tầng mới, nhiều nhân tố của kiến trúc thượng tầng cũ còntồn tại gắn liền với cơ sở kinh tế đã nảy sinh ra nó Vì vậy giai cấpcầm quyền phải biết lựa chọn một số bộ phận hợp lý để sử dụng nóxây dựng xã hội mới

Sự biến đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến biến đổi của kiến trúcthượng tầng là một quá trình diễn ra rất phức tạp, thường trong xã

Trang 6

hội có đối kháng giai cấp, tính chất phức tạp ấy thể hiện qua cáccuộc đấu tranh giai cấp.

1.2 SỰ TÁC ĐỘNG TRỞ LẠI CỦA CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI KINH TẾ

Chính trị không phụ thuộc một chiều vào kinh tế mà nó còntác động trở lại với kinh tế V.I Lênin nói: “chính trị không thểkhông chiếm vị hàng đầu so với kinh tế” Nhận xét trên của Lênincho ta thấy rằng sự tác động tích cực của chính trị đối với kinh tế.Vấn đề kinh tế không tách rời vấn đề chính trị , nó được xem xét,giải quyết theo một lập trường chính trị nhất định Giai cấp nàocầm quyền cũng hướng kinh tế theo lập trường thống trị của giaicấp đó nhằm phục vụ cho mục đích xã hội nhất định Lập trườngchính trị đúng (hay sai) sẽ thúc đẩy (hay kìm hãm) sự phát triểncủa kinh tế V.I Lênin khẳng định : “ không có lập trường chính trịđúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ vững sựthống trị của mình và do đó cũng không thể nào hoàn thành đượcnhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất” Khi thể chế chính trịkhông phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì tất yếu kinh tế

sẽ mở đường đi Khi đó, việc thay đổi thể chế chính trị cho phùhợp với yêu cầu phát triển của kinh tế là điều kiện tiên quyết đểthúc đẩy kinh tế phát triển

Sự tác động trở lại của kinh tế đối với chính trị được thựchiện thông qua sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở

hạ tầng Chức năng xã hội cơ bản của kiến trúc thượng tầng làthực hiện nhiệm vụ đấu tranh thủ tiêu cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng cũ, xây dựng , bảo vệ , cũng cố và phát triển cơ sở hạtầng mới Kiến trúc thượng tầng chính là công cụ của giai cấpthống trị, nhằm thực hiện và duy trì sự thống trị về mặt chính trị và

tư tưởng đối với giai cấp bị trị, trong đó, nhà nước, bằng những

Trang 7

hình thức nhất định của mình có một vị trí đặc biệt quan trọng đốivới cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng không những thực hiệnchức năng cưỡng chế, mà bằng hệ thống pháp luật, hệ thống chínhsách kinh tế xã hội đúng nó có tác dụng trực tiếp thúc đẩy sự pháttriển của nền kinh tế, củng cố vững chắc quan hệ sản xuất thống trị.Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng có tác dụngmạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng nhưng thường những tác động ấyphải thông qua hệ tư tưởng chính trị pháp luật hay các thể chếtương ứng khác.

Trong điều kiện ngày nay vai trò của kiến trúc thượng tầngkhông giảm đi mà ngược lại tăng lên và tác động mạnh mẽ đếntiến trình lịch sử

Ví dụ: ở các nước tư bản, một mặt giai cấp tư bản đẩy mạnhchạy đua vũ trang, tạo thể áp đảo quân sự, mặt khác, ứng dụng cácthành tựu của khoa học kỹ thuật vào quản lý xã hội, phân hoá độingũ công nhân, lôi kéo một bộ phận trí thức, công nhân kỹ thuậtlành nghề tham gia vào việc phân chia lợi nhuận dưới hình thứccác công ty cổ phần

Trái lại, kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa bảo vệ cơ sở

hạ tầng xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng xã hội mới, chính mụcđích đó quy định tính cực ngày càng tăng của kiến trúc thượng tầng

xã hội chủ nghĩa

Tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng đượcthể hiện trong hai trường hợp trái ngược nhau Nếu kiến trúcthượng tầng phù hợp với quan hệ kinh tế tiến bộ thì sẽ thúc đấy sựphát triển kinh tế xã hội Ngược lại, nếu kiến trúc thượng tầng là cơ

sở của những quan hệ kinh tế lỗi thời, thì sẽ kìm hãm sự phát triểncủa nền kinh tế xã hội, nhưng tác động kìm hãm đó chỉ là tạm thời,sớm muộn sẽ bị cách mạng khắc phục về cơ bản

Trang 8

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng kinh tế và chínhtrị thống nhất biện chứng với nhau trên nền tảng quyết định củakinh tế Đây là cơ sở phương pháp luận quan trọng trong việc nhậnthức xã hội nói chung, nhận thức công cuộc đổi mới ở Việt namnói riêng.

2 MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

Trang 9

2.1 NHẬN THỨC VỀ QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

Khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đặc biệt nhấnmạnh đổi mới tư duy, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, coi đó là tiền

đề để đổi mới trong hiện thực Nhấn mạnh như vậy là hết sức cầnthiết đối với thực tiễn nước ta để vượt ra khỏi thói quen tư duy cũđang trói buộc chúng ta khi đó Tuy nhiên, nói như vậy không cónghĩa là đổi mới tư duy có thể tách khỏi đổi mới trong thực tiễn.Bản thân đổi mới tư duy là phản ánh yêu cầu đổi mới trong thựctiễn và gắn liền với thực tiễn Chính vì vậy, tổng kết thực tiễn côngcuộc đổi mới ở nước ta là cơ sở chủ yếu nhất để không ngừng đổimới và phát triển tư duy

Vào những năm đầu của công cuộc đổi mới ở nước ta, khi

mà Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vấp phảinhững thất bại nặng nề, khi mà chúng ta giành được những thắng

lợi bước đầu, ở nước ta đã có quan điểm cho rằng nguyên nhân

thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là do ở các nước này đổi mới chính trị trước, đổi mới kinh tế sau ; còn nguyên nhân thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là đổi mới kinh tế trước, đổi mới chính trị sau Quan điểm này xem qua tưởng

là chính xác, nhưng đo vào phân tích sẽ thấy nó không phù hợp với

lý luận và thực tiễn.

Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lêninnhư phần 1 đã trình bày, mỗi khi chính trị không còn phù hợp vớikinh tế thì thay đổi về chính trị là điều kiện tiên quyết để thay đổi

về kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển Cho nên, không thể quinguyên nhân thất bại trong đổi mới ở Liên Xô và các nước xã hộichủ nghĩa ở Đông Âu là đổi mới chính trị trước, đổi mới kinh tếsau Nguyên nhân thực sự dẫn đến sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên

Trang 10

Xô và Đông Âu là do mâu thuẫn giữa kinh tế và chính trị khôngđược phát hiện và khắc phục sớm dẫn đến khủng hoảng nghiêmtrọng về chính trị, làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Khẳng định rằng nước ta đổi mới kinh tế trước, đổi mớichính trị sau cũng không phù hợp với thực tiễn Sự thật là phải cóđường lối đổi mới do Đảng ta đề ra, trên cơ sở đó hình thành chínhsách mới, luật pháp mới v.v thì mới có thể đổi mới kinh tế Bảnthân đường lối đổi mới của Đảng cùng với chính sách, luật phápv.v của Nhà nước đều thuộc về chính trị Vấn đề là ở chỗ : lĩnhvực chính trị là lĩnh vực hết sức phức tạp, liên quan đến quyềnthống trị giai cấp, nó có ý nghĩa quyết định thành bại của côngcuộc đổi mới nên phải tiến hành từng bước hết sức thận trọng Đổimới chính trị phải trên cơ sở đổi mới kinh tế, gắn liền đổi mới kinh

tế và đáp ứng nhu cầu của đổi mới kinh tế

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 năm1991) , Đảng ta đã khẳng định :

“Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phảitập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng đòi hỏi cấp bách củanhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xâydựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điềukiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chínhtrị Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức

và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngỳacàng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Vì chính trị đụng chạmđến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm trong xã hội,nên việc đổi mới hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sởnghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổnđịnh chính trị dẫn đến rối loạn Nhưng không vì vậy mà tiến hành

Trang 11

chậm chễ đổi mới hệ thống chính trị nhất là về tổ chức bộ máy vàcán bộ, mối quan hệ giữa Đảng , Nhà nước và các đoàn thể nhândân, bởi đó là điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội vàthực hiện dân chủ ”

Điều đó cho thấy Đảng đã không tách rời đổi mối kinh tế với

đổi mới chính trị, mà gắn đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị.

Đảng ta khẳng định rằng phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế

và đồng thời đổi mới kinh tế phải tiến hành từng bước đổi mớichính trị, thận trọng , không gây mất ổn định về chính trị

Tư tưởng trên đã được tiếp tục phát triển một cách rõ rànghơn ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6 năm 1996)của Đảng ta Khi tổng kết bài học của 10 năm đổi mới, Đảng ta đãkhẳng định phải “kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế vớiđổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từngbước đổi mới chính trị” Đây là một cách khái quát mới, hoàn toànkhoa học, nó vừa phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,vừa phù hợp với thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta

2.2 NHẬN THỨC VỀ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Trong khi đề ra đổi mới chính trị, Đảng ta luôn nhấn mạnhphải ồn định chính trị Thực tiễn trên thế giới cho thấy ổn địnhchính trị là điều kiện hết sức cơ bản để phát triển kinh tế Nó tạo ramôi trường để thu hút nguồn đầu tư trong nước và trên thế giới, tạođiều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh Những thành tựu trong

10 năm đổi mới vừa qua cũng khẳng định điều đó Những thànhtựu đó không thể tách rời việc chúng ta giữ vững ổn định về chínhtrị

Trang 12

Ổn định về chính trị, nói một cách khái quát , là giai cấp cầmquyền phải tăng cường quyền lực chính trị của mình ; nhà nước củagiai cấp đó phải mạnh và có hiệu lực, luật pháp phải nghiêm minh ;chế độ xã hội đã xác lập phải được giữ vững Đối với nước ta hiệnnay ổn định chính trị được biểu hiện ở mặt sau :

Trước hết là quá trình tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng ,xây dựng đường lối chính trị đúng đắn Ra đời và phát triển mộtcách hợp quy luật, Đảng Cộng sản Việt Nam đã được xã hội giaocho sứ mệnh xây dựng đường lối phát triển đất nước Đảng ta dứtkhoát không được sai lầm chính trị Sai lầm về đường lối là sai lầmnghiêm trọng nhất đối với xã hội, với vận mệnh tổ quốc và sinhmạng chính trị của hàng triệu đảng viên cũng như của hàng triệunhân dân lao động Bài học từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên

Xô và các đảng cộng sản cầm quyền ở Đông Âu đầu những năm 90

đã nói lên điều đó

Một vấn đề được đặt ra là : thế nào là đường lối chính trịđúng đắn và để có đường lối chính trị đúng thì Đảng phải như thếnào ? Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định : “Phải có đường lối cáchmạng đúng , có đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đúng Đường lối

ấy chỉ có thể là đường lối của chủ nghĩa Mác- Lênin được vậndụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của dân tộc Ở ViệtNam, đường lối ấy chỉ có thể là đường lối của giai cấp vô sản vàđảng của nó là Đảng Lao động Việt Nam Đảng phải thật sự là độitiên phong dũng cảm và bộ tham mưu sáng suốt của giai cấp vôsản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc

Ngoài ra ổn định chính trị còn là quá trình nâng cao vai tròcủa nhà nước XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới.Điều đó thật hiển nhiên, bởi vì mỗi loại hình nhà nước trong lịch sửđều theo đuổi các mục tiêu nhất định Vì vậy khi chuyển đổi cơ cấu

Trang 13

và cơ chế quản lý của một nền kinh tế nhất thiết phải thay đổi cùngvới nó về căn bản toàn bộ hình thức tổ chức nhà nước và hệ thốngluật pháp Rõ ràng nếu chỉ đổi mới cơ chế quản lý và kinh tế màkhông đổi mới cơ cấu tổ chức nhà nước và hệ thống luật pháptương ứng thì chắc chắn không tạo được những chuyển biến tíchcực về kinh tế - xã hội Tuy nhiên đổi mới hệ thống bộ máy nhànước, làm cho nó thích ứng với nền kinh tế thị trường không cónghĩa là chúng ta sẽ làm thay đổi bản chất và những nguyên tắc cơbản vốn có của nhà nước XHCN, mà một mặt phải bảo đảm trênthực tiễn nhà nước thực sự là công cụ điều hành có hiệu quả vĩ

mô trong cơ chế thị trường ; xây dựng cho được một hệ thốngluật pháp hiện đạt, đồng bộ đủ sức quản lý mọi mặt đời sống xãhội; tạo điều kiện tốt nhất để khai thác mọi tiềm năng, phát huy dânchủ, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội, đấy mạnh hợp tác vàliên kiết quốc tế, thực hiện nhất quán chính sách ngoại giao củaĐảng “ Việt nam mong muốn làm bạn với tất cả các nước ” ; mặtkhác phải luôn sáng tạo, phải có những giải pháp và các bước đithích hợp để không thay đổi nửa vời và vẫn đảm bảo những nguyêntắc có tính nhất quán

Tóm lại, ổn định chính trị là một quá trình rất quan trọng đểphát triển kinh tế, đưa nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá - hiện đại hoá

2.3 THỰC TIỄN CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

Có thể nói Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 (12-1986)của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu bước ngoặt lớn đưa nước

Trang 14

ta sang một giai đoạn mới - giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mớitoàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị và xã hội.

Về kinh tế Đảng ta mạnh dạn chuyển đổi từ cơ chế kế hoạchhoá tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhànước theo định hướng XHCN Đây là hình thái kinh tế cao hơnkinh tế thị trường TBCN thể hiện ở :

Sự giống nhau giữa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN xuất phát từ tính khách quan của

nó Cả hai kiểu kinh tế thị trường này đều chịu sự tác động của cơchế thị trường với hệ thống các quy luật : quy luật giá trị, quy luậtcung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ v.v Đồngthời cả nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa và nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều là các nền kinh

tế hỗn hợp, tức là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết (quản lý)của nhà nước Tuy nhiên, sự can thiệp của Nhà nước ở các nềnkinh tế là khác nhau Không có nền kinh tế thị trường thuần tuý(hoàn hảo), chỉ vận hành theo cơ chế thị trường

Sự khác nhau giữa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN là ở mục tiêu, phương thức và mức độ can thiệp của Nhà nước và sự can thiệp này do bản chất Nhà nước quyết định Nhà nước trong một nền kinh tế thị trường

định hướng xẫ hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân, vì dân ;Nhà nước trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là Nhànước của giai cấp tư sản Một xu hướng rất đáng chú ý là tuy Nhànước tư bản chủ nghĩa đã có ý thức tự điều chỉnh, dung hoà lợi íchcủa các tầng lớp xã hội, các giai cấp khác nhau, để giảm bớt mâuthuẫn, ổn định chính trị, ổn định xã hội, vì mục tiêu phát triển kinh

tế Song do sự chi phối và điều tiết của các quy luật kinh tế của chủnghĩa tu bản, của lợi ích giai cấp, nên dù họ có ý thức tự điều chỉnh

Ngày đăng: 07/07/2016, 12:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w