Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội của miền núi, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chươngtrình, dự
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN TÓM TẮT
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
Học viên:
Lai châu, 2014
Trang 2PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội của miền núi, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chươngtrình, dự án và tổ chức triển khai thực hiện trên các lĩnh vực trong nhiều nămqua, đã góp phần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, làm thay đổi bộ mặt nôngthôn miền núi, tạo cơ sở cho sự phát triển Ngân sách nhà nước đầu tư khá lớncho khu vực miền núi Tuy nhiên, kinh tế - xã hội tại miền núi vẫn còn rất nhiềukhó khăn, bất cập
Đối với tỉnh Lai Châu, nhiều năm qua Đảng bộ, chính quyền các cấp cũngrất quan tâm đến đầu tư cho miền núi và chắc chắn trong nhiều năm đến sẽ có sựđầu tư lớn cho phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi
Một thực tiễn rất đáng quan tâm là: có nhiều chương trình, dự án triểnkhai thực hiện ở miền núi với tổng số vốn đầu tư lớn, nhưng sau khi kết thúc,tính ổn định, phát huy không được giữ vững hoặc hiệu quả thấp Do vậy, cầnphải có sự đánh giá khoa học, khách quan về hiệu quả các chương trình, dự ánđầu tư cho miền núi, đánh giá việc tổ chức thực hiện sao cho đảm bảo tính hiệuquả và bền vững của chương trình, dự án được triển khai thực hiện trên địa bànmiền núi
Tình hình thực hiện các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ởcác huyện miền núi Lai Châu có nhiều kết quả, nhưng chuyển biến chưa mạnh,chưa đáp ứng mong đợi của nhân dân và yêu cầu của quản lý Cơ chế chính sáchcho phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã có, nhưng trong giai đoạn hiện naycần tập trung nhiều hơn nữa cho miền núi, nhất là việc nghiên cứu, triển khaithực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP để giảm nghèo nhanh và bền vững Vấn
đề này cần phải có nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ khoa học để đề xuất một
số giải pháp đồng bộ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núiphù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu phát triển miền núi trong sự phát triểnchung của tỉnh
Từ trước đến nay, hàng năm các cơ quan nhà nước đều có các báo cáođánh giá chung tình hình thực hiện các chương trình đầu tư phát triển kinh tế -
xã hội ở các huyện miền núi Lai Châu và đề ra nhiệm vụ thực hiện cho năm sau.Những báo cáo này phần nào đã phản ảnh thực trạng và giải pháp phát triển kinh
tế - xã hội miền núi Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chưa có điều kiện đểthực hiện dưới góc độ một đề tài khoa học
Để đánh giá đúng thực trạng tình hình triển khai thực hiện các chương trình, dự
án, chúng ta cần phải dựa trên các phương pháp khoa học, khách quan để xem xét vềnhững vấn đề liên quan, đề xuất những giải pháp khả thi để tổ chức thực hiện hiệu quảhơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi trong thời gianđến một cách nhanh và bền vững
Với những lý do chính yếu nêu trên nói lên sự cần thiết để tiến hànhnghiên cứu đề tài này
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là:
Trang 3Đánh giá thực trạng tình hình tổ chức thực hiện các chương trình, chínhsách hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Lai Châutrong giai đoạn 2006 - 2010 Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lựcđầu tư ở miền núi.
Đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần đẩy mạnh phát triển kinh
tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 - 2015
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sự phát triển kinh tế - xã hội cáchuyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi Đánh giá tình hình thực hiện một số chínhsách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội tại các huyện miền núi tỉnhLai Châu, qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư ở miền núi
Xác định một số nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội các huyệnmiền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 - 2015 Đề xuất các giải pháp góp phầnphát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu
3 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, đề tài dựa trên phương pháp luận chung của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp luận chủyếu của đề tài là lý luận Mác-xít được sử dụng trong toàn bộ nội dung của đề tài.Chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp nhìn nhận mọi sự vật và hiện tượng tồn tạitrong mối liên hệ phổ biến và chúng luôn vận động, biến đổi, phát triển khôngngừng Trên cơ sở quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểmphát triển để xem xét và phân tích nội dung nghiên cứu của đề tài Vận dụng cácquan điểm này để làm cơ sở cho việc xem xét các sự kiện xã hội và quá trìnhphát triển của xã hội, mà cụ thể là kinh tế - xã hội tại các huyện miền núi tỉnhLai Châu
Trên cơ sở phương pháp luận chung đó, đề tài chủ yếu vận dụng hướngtiếp cận của Lý thuyết cấu trúc - chức năng, Lý thuyết phát triển, quan điểm củaĐảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình thực hiện đề tài Một số lý thuyết,quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài được trình bày ở mục 1.1 Chương 1 báocáo này
Các phương pháp cụ thể tiến hành nghiên cứu cụ thể là:
Thu thập, phân tích tài liệu: Thu thập số liệu thống kê, các tài liệu liên
quan đã có từ các cơ quan Trung ương, ở tỉnh, 06 huyện miền núi trong tỉnh
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): Sử dụng bảng hỏi được
thiết kế phù hợp cho nội dung cần nghiên cứu (xem Phiếu khảo sát - Phụ lục01) Số lượng mẫu là 1.000 phiếu, được điều tra tại tất cả 06 huyện miền núitrong tỉnh Việc xử lý và phân tích số liệu phiếu điều tra được thực hiện bởi sựtrợ giúp của máy vi tính, bằng phần mềm SPSS-11.5
Phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung: Thực hiện với
các đối tượng chủ yếu là cán bộ các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thểcấp xã, cấp huyện, tỉnh và một số công dân tại các huyện miền núi
Phương pháp quan sát, được vận dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên
cứu đề tài
4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu đề tài
Trang 4Như tên gọi của đề tài được giao nhiệm vụ là:“Nghiên cứu thực trạng và
đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu”, và được giới hạn trong mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên Thời gian
và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu còn hạn chế Vì vậy, trong quá trình nghiêncứu “đánh giá thực trạng” ở đây cũng chỉ đi sâu vào một số lĩnh vực mà đề tàiđặt ra Các giải pháp đề xuất cũng trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu của đềtài
5 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã bám sát mục tiêu, nhận diện được nhữngthành công, bất cập trong một số chính sách, chương trình, dự án đầu tư pháttriển kinh tế - xã hội tại các huyện miền núi trong thời gian qua; đề xuất các giảipháp có tính khả thi góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội các huyệnmiền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011 - 2015 Vì vậy, đây là luận cứ khoa họcphục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý của tỉnh và trong việc thựchiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội miền núi nhanh và bền vững củaĐảng và Nhà nước
Đề tài góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng, đề xuất các giảipháp có cơ sở khoa học, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ởmiền núi nhanh và bền vững Vì vậy, đề tài có giá trị thực tiễn, giải quyết vấn đềvừa mang tính cấp bách, vừa lâu dài, đồng thời góp phần làm sáng tỏ về mặt lýluận, nhận thức sâu sắc hơn các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế - xã hộimiền núi
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, báo cáo tổng hợp kết quả nghiêncứu đề tài được thể hiện trong ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2 Đánh giá tình hình thực hiện một số chính sách, chương trình,
dự án phát triển kinh tế-xã hội tại các huyện miền núi tỉnh Lai Châu
Chương 3 Các giải pháp góp phần phát triển kinh tế-xã hội các huyện
miền núi tỉnh Lai Châu
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ
1.1 Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi của đề tài, các tác giả tập trung tìm hiểu, vận dụng một số
lý thuyết: “Cấu trúc - chức năng”, “Lý thuyết phát triển”, quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta có liên quan để nghiên cứu đề tài
1.1.1 Vận dụng Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Lý thuyết cấu trúc - chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hộihọc nổi tiếng như: H Spencer, E Durkheim, T Parsons, là một trong những lýthuyết quan trọng được sử dụng rộng rãi trong các phân tích xã hội học Lýthuyết này nhấn mạnh đến những đóng góp chức năng của mỗi bộ phận trong xãhội để duy trì cấu trúc cũ, giúp ta vận dụng xem xét cấu trúc kinh tế - xã hội mộtvùng, một khu vực nhất định (mà ở đây là khu vực miền núi tỉnh Quảng Ngãi)
Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng giúp ta nhìn nhận: Xã hội là một
hệ thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự ổn định bềnvững của tổng thể Để giải thích tồn tại của một thiết chế xã hội, chúng ta phảitìm hiểu hệ thống xã hội, như một tổng thể, đòi hỏi những nhu cầu của nó phảiđược thoả mãn như thế nào Bởi vì chỉ trong một trạng thái như vậy thì mới bảođảm cho các chức năng hoạt động mà xã hội luôn trong trạng thái cân bằng
Do vậy, khi xem xét về thực trạng và giải pháp triển kinh tế - xã hội miềnnúi, chúng ta cần thấy được các chức năng mới xuất hiện và có những chức năng
cũ sẽ bị triệt tiêu vì không có cơ sở để tồn tại dẫn đến sự biến đổi về kinh tế - xãhội của cộng đồng dân cư khu vực miền núi Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức
năng phân tích nội dung đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Lai Châu ”; nhằm
thấy được cơ cấu mới của cơ cấu xã hội cũng như chức năng bộ phận của cơ cấu
ấy trong phát triển kinh tế - xã hội miền núi Sự tác động của các bộ phận mớivới các chức năng mới sẽ tạo cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của xã hội và dẫnđến sự biến đổi xã hội của cộng đồng dân cư, trong đó cộng đồng dân cư khuvực nghiên cứu cũng nằm trong mối quan hệ chung đó
1.1.2 Vận dụng Lý thuyết phát triển
Lý thuyết phát triển được nhiều nhà khoa học quan tâm và vận dụngnghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội Nhưng có rất nhiều quan điểm khác nhau
khi nói đến thuật ngữ “phát triển” Có quan điểm coi phát triển và tăng trưởng
có cùng nội dung Chúng ta không thể hiểu phát triển như là một hiện tượngkinh tế mà phải được xem như là toàn bộ quá trình bao gồm các đặc điểm kinh
tế - chính trị - xã hội và văn hoá Trên quan điểm về kinh tế - xã hội, phát triểngiúp cho con người hướng tới một cuộc sống đầy đủ hơn, giàu có hơn
Lý thuyết về sự phát triển hiện nay đang có xu hướng giảm bớt những vấn
đề thuần tuý có tính kinh tế Lý thuyết phát triển ngày nay chú ý nhiều hơn các
Trang 6vấn đề phi kinh tế trong quá trình phát triển, về lĩnh vực văn hoá, xã hội Do
đó, phát triển xã hội không còn đồng nhất với tăng trưởng kinh tế mà là sự pháttriển một cách tổng thể Với yêu cầu như vậy, khi vận dụng Lý thuyết phát triểnvào nghiên cứu đề tài đòi hỏi chúng ta phải xây dựng khung lý thuyết nghiêncứu trên cơ sở của lý thuyết phát triển hiện đại
1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới phát triển đất nước, Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hộigiai đoạn 2001 - 2010; Cùng với những chủ trương, đường lối phát triển chungcủa đất nước, công tác Dân tộc và miền núi luôn được Đảng và Nhà nước xácđịnh có vị trí chiến lược quan trọng Kế thừa và phát huy kết quả sau 15 nămthực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 22-NQ/TW
ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, tình hình miền núi và các vùng đồng bào dân tộc
thiểu số có bước chuyển biến quan trọng Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quantâm đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của miền núi và đã có rất nhiềuchủ trương lớn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện phát triển kinh tế-xã hộitrong nhiều năm qua
Những năm gần đây, trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều rấtquan tâm và có chủ trương đầu tư ngày càng nhiều cho miền núi Nghị quyết số
30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, với quan điểm xoá đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và là sự nghiệp của toàn dân Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng dịa phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, được Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) xác định: Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống và chất lượng dân số của đồng bào các dân tộc thiểu số.Chú trọng phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội.
Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X, tạiĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng đã xác định nhiệm vụtrong 5 năm tới đối với vùng trung du, miền núi Phát triển kinh tế - xã hội hài
hoà giữa các vùng, đô thị và nông thôn Phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng với tầm nhìn dài hạn, tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng theo quy hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết giữa các địa phương trong vùng; Tăng cường chính sách hỗ trợ phát triển các vùng còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tỉnh Quảng Ngãi cũng đã có nhiều chủ trương để phát triển kinh tế - xã
hội miền núi Tỉnh ủy khóa XVII đã ban hành Nghị quyết 05-NQ/TU Về phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi 2006-2010; Hội đồng
nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 17/2007/NQ-HĐND ngày 16/7/2007nhằm cụ thể hoá Nghị quyết trên và Ủy ban nhân dân tỉnh đã xây dựng , ban
hành Quyết định số 295/QĐ-UBND ngày 28/02/2008 Về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi của tỉnh đến năm 2010để triển khai
Trang 7thực hiện
1.2 Điều kiện tự nhiên và dân cư
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.2 Dân cư - Dân tộc
II THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI 1.1 Khái quát chung về thực trạng kinh tế - xã hội
Nhìn chung, kinh tế các huyện miền núi đang trong quá trình thoát ra tìnhtrạng tự cấp tự túc, từng bước tiếp cận thị trường
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 chậm, tăng 13,66%,
trong đó N-L-TS tăng 10,25%; CN-XDCB tăng 22,39%; Dịch vụ tăng 18,97%.Tổng giá trị sản xuất toàn vùng (theo giá 1994) năm 2006 đạt 688.904 triệuđồng, năm 2010 ước đạt 1.068.552 triệu đồng
Về cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng
ngành N-L-TS giảm dần Tỷ trọng CN-TTCN tăng chậm Dịch vụ chiếm tỷtrọng thấp nhưng cáo xu hướng tăng dần
Tổng thu ngân sách của vùng ngày một gia tăng, năm 2010 đạt 27,831 tỷ
đồng, tuy nhiên còn rất nhỏ Mức thu này chưa thể có tích lũy từ nội bộ nền kinh
tế của các huyện trong vùng mà chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ ngân sách của cấptrên
Thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, năm 2006 là 3.052 ngàn
đồng, đến năm 2009 là 4.384 ngàn đồng; Lương thực bình quân đầu người năm
2006 là 296 kg/người/năm, đến năm 2010 là 327 kg/người/năm
Đầu tư xây dựng cơ bản của khu vực miền núi được chú trọng, kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội phát triển khá, nhất là hệ thống thủy lợi, đường giao thông,
hệ thống cấp nước sinh hoạt, kè chống xói lở bờ sông Đến nay, 100% cáchuyện trong vùng có điện lưới quốc gia và mạng lưới bưu chính viễn thông
Lĩnh vực văn hoá - xã hội, nhất là giáo dục, y tế, văn hoá thông tin có
những bước tiến triển mới, gắn kết hơn với quá trình phát triển kinh tế - xã hộichung của toàn tỉnh và trong nội bộ vùng
Công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh, tỷ lệ nghèo năm 2010 là
35,23%, chất lượng cuộc sống có mặt được nâng lên Đời sống vật chất, tinhthần của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể Thế trận quốc phòng - anninh được giữ vững Khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố và tăngcường
Tuy nhiên, kinh tế - xã hội các huyện miền núi vẫn còn chậm phát triển vànhiều khó khăn.Tính tự phát, manh mún trong sản xuất còn phổ biến Sản xuấtnông nghiệp chưa đáp ứng đủ nhu cầu lương thực, thế mạnh kinh tế rừng chưađược phát huy đúng mức; công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng còn nhiềuyếu kém, một số nơi rừng bị tàn phá nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến môitrường sinh thái Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hệ thống dịch vụ còn sơkhai Tiềm năng du lịch chưa được khai thác Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hộicòn yếu kém Các vấn đề thiết yếu như: nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp,đất rừng, nước sinh hoạt chưa được giải quyết căn bản Đời sống của nhân dântrong vùng còn thấp xa so với các vùng khác trong tỉnh Trình độ dân trí thấp,
Trang 8điều kiện phát triển giáo dục, y tế khó khăn, học sinh bỏ học còn nhiều; tỷ lệ trẻ
em suy dinh dưỡng còn cao Đồng bào dân tộc vẫn còn tồn tại một số tập tục lạchậu
1.2 Thực trạng về các ngành kinh tế
1.2.1 Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản
+ Sản xuất Nông nghiệp
- Về trồng trọt:
Cây lúa: Từ năm 2001 đến nay, tuy diện tích có tăng có giảm, nhưng
năng suất bình quân trong vùng tăng đều: từ 26,6 tạ/ha (2001), 31,2 tạ/ha (2005)lên 40,2 (2010) làm cho sản lượng tăng lên
Cây ngô: Sản xuất ngô có nhiều tiến bộ cả về mở rộng diện tích thâm
canh tăng năng suất Diện tích ngô lai đang thay thế dần các giống ngô cũ năngsuất thấp Phương thức trồng ngô thâm canh cũng đang thay thế dần trồng ngôquảng canh Năng suất bình quân trong vùng tăng từ: 18,8 tạ/ha (2001), 21,8tạ/ha (2005) lên 28,7 tạ/ha (2010)
Cây sắn: Cùng với sự phát triển của hai nhà máy chế biến tinh bột sắn của
tỉnh kéo theo vùng nguyên liệu phát triển không ngừng Năng suất bình quântrong vùng tăng từ: 85,8 tạ/ha (2001), 107,9 tạ/ha (2005) lên 134,1 tạ/ha (2010).Việc phát triển cây sắn hiện nay cần có giải pháp quy hoạch hợp lý và canh táckhoa học để không dẫn đến phá rừng và huỷ hoại môi trường
Ngoài ra, trong vùng còn có khoai lang, rau đậu các loại: Diện tích có
lúc giảm lúc tăng, nhưng sản lượng và năng suất các năm đều tăng do áp dụng
các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất
Cây công nghiệp ngắn ngày: Trong vùng có trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày như: mía, lạc, vừng… Diện tích mía có tăng có giảm qua các
năm, năng suất bình quân trong vùng không ổn định từ: 372,2 tấn/ha (2001),
449,9 tấn/ha (2005) giảm còn 336,6 tấn/ha (2010) Diện tích và sản lượng cây
lạc tuy có tăng có giảm, nhưng năng suất lại ngày càng tăng Năm 2001 diện tích1.340 ha, sản lượng 1.643 tấn, năng suất chỉ đạt 12,3 tạ/ha Đế năm 2008 diệntích giảm xuống còn 872 ha, nhưng nhờ năng suất tăng lên 15,7 tạ/ha nên sảnlượng đạt 1.358 tấn Diện tích trồng cây vừng tuy có tăng có giảm, nhưng năngsuất và sản lượng hàng năm đều tăng Năm 2001 diện tích 29,0 ha đến 2002 diệntích tăng lên 74,0 ha, nhưng năm 2008 diện tích lại giảm xuống còn 63,0 ha.Năng suất tăng từ 1,7 tạ/ha năm 2001 lên 3,9 tạ/ha năm 2008 Sản lượng tăng từ
5,0 tấn năm 2001 lên 24,3 tấn năm 2008
Cây công nghiệp dài ngày: Cây quế (Diện tích 2.521 ha, sản lượng 2.255
tấn); Cây cau (Diện tích 620 ha, sản lượng 6.875 tấn); Cây chè (Diện tích 140
ha, sản lượng 252 tấn);
Cây ăn quả: Diện tích 663 ha, sản lượng 3.434 tấn Trồng phân tán trong
vườn các hộ gia đình
- Về chăn nuôi:
+ Đàn trâu, bò: Hình thức chăn nuôi hiện nay vẫn là chăn nuôi quảng
canh, chưa phát triển thành các trang trại chăn nuôi tập trung trong khi vùng cócác điều kiện để phát triển Số lượng đàn trâu, bò có xu hướng ngày càng giatăng
Trang 9- Đàn lợn: Số lượng đàn lợn tương đối ổn định, tuy có năm tăng, năm
giảm
+ Đàn gia cầm: Sản lượng thịt gia cầm trong 5 năm trở lại đây có xu
hướng gia tăng, năm 2004 sản lượng thịt gia cầm 290 tấn đến năm 2008 tăng lên
560 tấn
Nhìn chung, chăn nuôi chậm phát triển so với trồng trọt, chủ yếu hướng tựcung, tự cấp, chưa định hướng sản xuất hàng hóa
- Ngành lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp hiện nay là 175.307,1 ha chiếm 54,18% diện tích
tự nhiên toàn tỉnh Năm 2006 tổng doanh thu của ngành lâm nghiệp là 56.460triệu đồng, chiếm 17,02% giá trị ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp Ngoài diệntích rừng tự nhiên đã được khoán bảo vệ, chăm sóc hàng năm Các huyện miềnnúi còn tiến hành trồng, khoanh nuôi, tái sinh bảo vệ được diện tích rừng khálớn Công tác trồng rừng và bảo vệ rừng được quan tâm trong những năm gầnđây Diện tích rừng trồng chủ yếu các cây Sao đen, Lim, Dầu, keo, bạch đàn,quế… Keo hiện nay chiếm diện tích khá lớn, năng suất bình quân khu vực trongkhoảng từ 70 - 88 tấn/ha và ngày càng đem lại nguồn lợi kinh tế khá cao
- Thủy sản
Ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của vùng miền núi quá nhỏ bé, sảnlượng và giá trị sản phẩm không đáng kể, chủ yếu chỉ đáp ứng một phần nhu cầunội vùng Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản toàn vùng đạt 210 tấn Tiềm năngkhai thác không lớn
1.2.2 Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp, Xây dựng
Trong những năm qua, ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và Xâydựng đã có sự phát triển đáng kể Hầu hết các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp và xây dựng đều nhỏ bé và tập trung ở các thị trấn, trung tâm huyện lỵ vàcác trung tâm cụm xã Tuy nhiên, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệpvẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu giá trị sản xuất của vùng Năm 2008,trên toàn địa bàn 06 huyện miền núi có tổng số 1.605 cơ sở thì hầu hết đều thuộcloại hình hộ kinh doanh cá thể và tư nhân (1.600 cơ sở), chỉ có 02 cơ sở sản xuấtthuộc loại hình nhà nước, 03 cơ sở tập thể
1.2.3 Thương mại - Dịch vụ và Du lịch
Những sản phẩm hàng hóa của vùng trao đổi với bên ngoài chủ yếu là gỗ
và sản phẩm chế biến từ gỗ, cây mía, cây quế và một số lâm sản khác Còn cácsản phẩm nhập vào trong vùng là nguyên vật liệu xây dựng, nhiên liệu, phânbón, lương thực và đồ dùng phục vụ sinh hoạt hàng ngày
Về dịch vụ có tốc độ tăng trưởng khá, ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kểtrong cơ cấu kinh tế Các hoạt động dịch vụ vận tải, ngân hàng phát triển, có tácdụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tuy nhiên, vận tải trong vùngchủ yếu là đường bộ, phương tiện chính là xe ô tô và chưa đáp ứng được nhucầu đi lại và vận chuyển hàng hóa trong vùng
Du lịch trên địa bàn chưa được đầu tư phát triển, cơ sở hạ tầng còn quákhó khăn, khâu dịch vụ chưa phát triển
1.3 Thực trạng về xã hội và an ninh quốc phòng
Trang 10Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng cho đồng bào dân tộctrong vùng từng bước khắc phục tình trạng xuống cấp về cơ sở vật chất, đội ngũcán bộ y tế được tăng cường Các chương trình y tế đều đạt kế hoạch đề ra, gópphần hạ thấp tỷ lệ các bệnh như sốt rét, bướu cổ Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh và
tử vong trong vùng còn cao Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế hiện nay chưađáp ứng được nhu cầu
Việc xây dựng đời sống văn hóa, nhất là Phong trào “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa” và các chính sách phát triển văn hóa của nhà nướctrong vùng tiếp tục được chú trọng thực hiện
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được các cấp, các ngành quan tâm, hiện nay
tỷ lệ học sinh tới trường đạt 80% so với độ tuổi đi học Tuy nhiên, chất lượnggiáo dục trên địa bàn vẫn còn thấp, nhất là trong vùng các xã đặc biệt khó khăn
Hệ thống trường lớp và trang thiết bị còn thiếu, phòng học tranh tre, phòng tạmvẫn còn Hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục
Công tác ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật được triển khai thực hiện
bằng nhiêu mô hình Năng lực cán bộ chuyển giao tuy đã có kiến thức và kinhnghiệm nhưng còn rất thiếu trang thiết bị, phương tiện Cơ sở vật chất kỹ thuậttại các huyện còn thiếu nhiều và quá sơ sài
Về an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội ở các huyện miền núi luôn
được ổn định và giữ vững Thực hiện có kết quả các chủ trương về xây dựngkhu vực phòng thủ, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
1.4 Thực trạng kết cấu hạ tầng
Hệ thống giao thông còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng lớn đến việc lưu
thông kinh tế giữa các địa phương trong vùng, đặc biệt vào mùa mưa Các tuyếnđường tỉnh lộ, huyện lộ nhìn chung đã được xây dựng tương đối khá, một sốtuyến khác đang có dự án đầu tư Nhiều tuyến đường liên xã, thôn xóm còn quákém, hệ thống cầu cống và hệ thống thoát nước đã có nhưng còn nhiều hạn chế
Về thủy lợi: Trong vùng hiện có 279 công trình thủy lợi, tổng diện tích
tưới 4.128 ha Tuy nhiên, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất của người dân
Về điện năng: Hệ thống điện chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và sinh
hoạt Hiện nay số hộ có điện trong vùng chỉ là 34.140 hộ, chiếm 81% toàn vùng
Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Chương trình NS&VSMTNT cùng với các
nguồn từ các chương trình khác đã đầu tư 162 công trình với tổng vốn khoảng53.978 triệu đồng, cấp nước cho khoảng 9.997 hộ, nâng tổng số hộ được cungcấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh đến năm 2010 chiếm khoảng 76,83% dân số toànvùng
Về bưu chính viễn thông: Nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản
của dịch vụ bưu chính viễn thông trong vùng Toàn vùng có 15.167 máy điệnthoại cố định, bình quân 7,63 máy/100 dân, tổng số thuê bao Internet là 786 thuêbao
Về văn hóa thông tin: Đến nay, trong vùng đã có 6 đài truyền thanh - phát
lại truyền hình, tập trung vào tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị địa phương Hệ thống vănhóa thông tin mới chỉ đáp ứng được ở khu vực trung tâm huyện và các trung tâm
Trang 11cụm xã, còn đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa chưa được đầu tư nhiều đểđảm bảo yêu cầu thiết yếu.
Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thể dục thể thao chưa phát triển.
Toàn vùng hiện có 17 sân vận động, vận động viên chủ yếu chỉ tập trung từ các
xã, thị trấn khi có phong trào thi đấu
Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường chưa được chú trọng đầu tư.
Phương thức sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, ảnh hưởngkhông ít đến đời sống của nhân dân, là mầm mống gây ra các dịch bệnh
Tóm lại, cả sáu huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi đều là những huyện
nghèo và có sự phát triển không đồng đều theo vùng lãnh thổ và theo lĩnh vựcsản xuất
Theo vùng lãnh thổ, có huyện có điều kiện phát triển mạnh như Ba Tơ,Sơn Hà, Trà Bồng; có huyện kinh tế khó phát triển hơn như: Tây Trà, Sơn Tây,Minh Long Có huyện cơ sở hạ tầng khá như: Ba Tơ, Sơn Hà; có huyện cơ sở hạtầng yếu kém như Tây Trà, Sơn Tây
Theo lĩnh vực sản xuất, có huyện có hướng phát triển công nghiệp vìnguyên liệu dồi dào như: Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng, nhưng cũng có huyện ít cólợi thế phát triển công nghiệp mà chỉ phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề,như Tây Trà, Sơn Tây
Thực trạng nêu trên là những chỉ báo rất đáng quan tâm trong quá trìnhđầu tư phát triển kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Ngãi trong những nămđến
Chương 2.
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN MỘT SỐ CHÍNH SÁCH, CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TẠI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
I CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN MIỀN NÚI VÀ VÙNG SÂU VÙNG XA (CHƯƠNG TRÌNH 135)
1.1 Chương trình 135 giai đoạn I
a Nội dung của Chương trình là: Quy hoạch bố trí lại dân cư ở những
nơi cần thiết; Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn với chế biến,tiêu thụ sản phẩm; Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch sảnxuất và bố trí lại dân cư; Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã; Đào tạocán bộ xã, bản, làng, phum, sóc
Trang 12- Thời gian thực hiện: Từ năm 1999-2005.
- Phạm vi thực hiện trên địa bàn các xã ĐBKK, cụ thể: Năm 1999:22 xã;
giúp ổn định một phần lương thực Góp phần cải thiện đời sống của đồng bào trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế và sức khỏe cộng đồng: Về cơ
bản trên địa bàn không còn hộ đói kinh niên, tốc độ giảm nghèo hàng năm khá,
từ 65% (trước khi có Chương trình) xuống còn 23,84% (cuối năm 2005), bìnhquân giảm 4-5%/năm Hầu hết các xã đều có trường tiểu học và THCS kiên cố,thu hút trên 95% số trẻ em tiểu học, trên 75 % trẻ em THCS trong độ tuổi đếntrường; nhiều địa phương đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS; có trạm y tế
đã ngăn chặn cơ bản các dịch bệnh; đời sống văn hoá được nâng cao một bước,văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy Các
dự án quy hoạch sắp xếp lại dân cư đã góp phần ổn định đời sống, giúp đồngbào được tiếp cận các hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ xã hội
Những tồn tại, hạn chế:
- Về tổ chức thực hiện: Chưa sát thực tế nên dẫn đến nhiều biến động về
số xã thuộc Chương trình: Số xã thuộc diện đầu tư đã tăng dần từ 21 đến 57 xã.
Chưa có chính sách khuyến khích các địa phương thoát khỏi Chương trình.Chỉ
có 14/57 xã hoàn thành mục tiêu, đạt tỷ lệ rất thấp 24,56% Mặt khác, do không
có sự đánh giá khách quan và tâm lý không muốn thoát khỏi Chương trình
Công tác quản lý, chỉ đạo các dự án chưa được tập trung Sự phối hợp giữa Ban
chỉ đạo và các Sở, ngành chưa được chặt chẽ, đồng bộ Công tác tuyên truyềnphổ biến chưa được quan tâm đúng mức Nhiệm vụ giám sát thiếu chặt chẽ, kém
hiệu lực Thực hiện đầu tư còn dàn trãi, chưa đồng bộ Nội dung thiếu mục tiêu
cụ thể cho từng vùng đầu tư Dự án quy hoạch bố trí lại dân cư chỉ mới thựchiện được việc hỗ trợ dãn dân, công tác quy hoạch dân cư chỉ dừng ở bước lập
dự án quy hoạch Trong xây dựng CSHT, cơ cấu đầu tư còn nặng về các côngtrình giao thông (chiếm 42,90%); trong khi vốn đầu tư cho thủy lợi (33,75%),nước sinh hoạt (7,39%), điện (3,6%), trường học (11,35%) và khai hoang(0,68%) là chưa hợp lý
Trang 13- Về quản lý các nguồn vốn đầu tư: Chương trình do UBND các huyện
trực tiếp quản lý, trong khi trình độ cán bộ còn nhiều hạn chế Tuy chưa có vi
phạm lớn nhưng còn biểu hiện những sai sót và lãng phí Quy trình chọn và đánh giá nhà thầu thi công chưa tốt Ở nhiều địa phương chọn nhà thầu không
đủ năng lực Công tác nghiệm thu thiếu cán bộ có chuyên môn phù hợp; một sốcông trình chưa đảm bảo chất lượng Một số địa phương có thực hiện huy độngdân khai thác vật liệu xây dựng tại chỗ, tham gia xây dựng công trình nhưng tỷ
lệ rất thấp Hầu hết, các công trình CSHT do nhà thầu làm, sự tham gia củangười dân bản xứ là rất thấp Một số nơi, việc lựa chọn công trình ít được thảoluận rộng rãi với dân, hoặc chỉ là hình thức, nên đầu tư không hợp lý, kém hiệuquả
- Về công tác quản lý vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình: UBND
tỉnh đã ban hành Quy chế quản lý, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp vàkhai thác các công trình cơ sở hạ tầng tại xã miền núi Tuy nhiên, nguồn lực chủyếu để thực hiện là công lao động của nhân dân địa phương và vốn duy tu, bảodưỡng của địa phương rất hạn hẹp, việc thực hiện còn nhiều bất cập
- Về lồng ghép các chương trình, dự án: Có gặp nhiều khó khăn do mỗi
chương trình, dự án đầu tư đều có mục tiêu, cơ quan chủ trì riêng, cơ chế quản
lý và thời điểm thực hiện khác nhau, cùng với những hạn chế trong công tác quyhoạch và cơ chế lồng ghép không rõ ràng nên hiệu quả chưa cao, chưa phát huyđược sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực đầu tư
1.2 Chương trình 135 giai đoạn II (2006 - 2010)
a Nội dung của chương trình là: Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc; Pháttriển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; Đào tạo, bồidưỡng cán bộ cơ sở, nâng cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế; đào tạonâng cao năng lực cộng đồng; Trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức phápluật
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010
- Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Gồm 43 xã ĐBKK miền núi và 31
thôn ĐBKK thuộc các xã khu vực II
b Đánh giá kết quả thực hiện
- Một số chỉ tiêu đạt kế hoạch: Tỷ lệ xã có công trình thủy lợi nhỏ đảm
bảo phục vụ cho sản xuất đạt 93,33% (MT 80%); Tỷ lệ thôn bản có điện ở cáccụm dân cư đạt 88,81% (MT 80%); Tỷ lệ học sinh tiểu học trong độ tuổi đượcđến trường là 99,53% (MT 95%); Tỷ lệ học sinh THCS trong độ tuổi được đếntrường là 91,17% (MT 75%); Tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh đạt 52,33% (MT50%); Tỷ lệ người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ pháp luật miễnphí là 100 % (MT 95%)
- Về phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sản xuất nông nghiệp
Trang 14đã có bước phát triển đáng kể nhờ áp dụng giống cây trồng, vật nuôi mới và ứngdụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, năng suất cây trồng, vật nuôi tăng lên.Đồng bào các dân tộc thiểu số đã từng bước thay thế dần tập quán sản xuất lạchậu Tỷ lệ hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/năm củavùng tăng từ 26,71% năm 2006 lên 44,59% vào năm 2010.
- Về hoàn thiện cơ sở hạ tầng: Hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các địa
bàn ĐBKK đã được quy hoạch và triển khai thực hiện đầu tư từ nguồn vốn của
CT 135-II, cùng với nguồn lực từ các chương trình, dự án khác đã cơ bản phục
vụ được phần lớn những yêu cầu cấp thiết nhất trong sản xuất và sinh hoạt củangười dân tại các địa bàn này
- Đời sống văn hoá, xã hội đã có bước chuyển biến tích cực Tỷ lệ học
sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường đều cao; số
hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, số hộ được sử dụng điện đều tăng
và đạt mục tiêu của Chương trình
- Về nâng cao năng lực: Trình độ, năng lực quản lý CT 135-II cũng như
các chương trình, chính sách khác của cán bộ cấp xã và thôn được nâng lên mộtbước; đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn đã được trang bị các kiến thức, kỹ năng vềquản lý điều hành, quản lý đầu tư cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ vềxóa đói giảm nghèo Vì vậy, trong giai đoạn 2006-2010, số lượng xã được giaolàm chủ đầu tư các dự án, chính sách thuộc CT 135-II tăng lên: năm 2006 có13,95%, đến năm 2010 có 81,3% xã; hợp phần Hỗ trợ sản xuất đến năm 2008 có
100% xã làm chủ đầu tư Năng lực của cộng đồng được nâng lên, ngày càng có
nhiều hộ biết áp dụng khoa học kỹ thuật và sử dụng loại giống cây trồng, vật nuôi
có chất lượng và năng suất cao vào sản xuất để tăng thu nhập, nâng cao đời sốngnhân dân
Những tồn tại, hạn chế:
- Các mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt được: Mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo: Tỷ
lệ hộ nghèo ở các xã, thôn ĐBKK của tỉnh năm 2010 đã giảm 27,32% so vớinăm 2006 Tuy nhiên, vẫn còn ở mức khá cao là 44,24% (MT dưới 30%)
- Về phát triển cơ sở hạ tầng: Tỷ lệ xã có đường giao thông cho xe cơ giới
từ trung tâm xã đến thôn bản chỉ đạt 76,8% (MT 80%); Tỷ lệ xã có đủ trườnghọc, lớp học kiên cố chỉ đạt 95,34% (MT 100%); Tỷ lệ xã có Trạm y tế kiên cố,đúng tiêu chuẩn chỉ đạt 51,16% (MT 100%)
-Về phân cấp cho cấp xã làm chủ đầu tư: Chỉ có 81,3% số xã ĐBKK
được giao làm chủ đầu tư các công trình CSHT (MT 100%)
Chỉ có 01xã hoàn thành mục tiêu chương trình (xã Ba Dinh, huyện BaTơ) Qua điều tra lấy ý kiến nhân dân về Chương trình, có 45,5% ý kiến cho
rằng“chưa hiệu quả lắm” so với 30,6% ý kiến “hiệu quả tốt”.
- Trong chỉ đạo, điều hành: Việc tổ chức triển khai chương trình còn
nhiều lúng túng, nhiều văn bản hướng dẫn ban hành chậm Một số nội dung củavăn bản hướng dẫn phải sửa đổi nhiều lần gây khó khăn cho các địa phương
- Trong tổ chức thực hiện: Việc phân bổ vốn thực hiện Chương trình còn
chậm, thường phân thành nhiều đợt đã gây khó khăn cho các địa phương trong
việc lập kế hoạch tổ chức thực hiện cũng như giải ngân vốn Nguyên tắc “xã có công trình, dân có việc làm, tăng thêm thu nhập từ việc tham gia lao động công
Trang 15trình tại xã” chưa được thực hiện tốt Vai trò và nhiệm vụ của một số cơ quan
cấp tỉnh, huyện trong quá trình tham mưu và tổ chức chỉ đạo thực hiện Chươngtrình có lúc, có việc thiếu đồng bộ, chưa kịp thời Công tác quản lý, tổ chức triểnkhai thực hiện của cán bộ xã nhiều nơi còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn
II MỘT SỐ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐẤT SẢN SUẤT, ĐẤT Ở, NHÀ Ở VÀ NƯỚC SINH HOẠT CHO HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ NGHÈO, ĐỜI SỐNG KHÓ KHĂN (CHƯƠNG TRÌNH 134)
2.1 Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình
- Nội dungchương trình: Giao đất sản xuất nương rẫy, đất ruộng lúa; Giao
đất ở tối thiểu cho hộ đồng bào; Hỗ trợ nhân dân xây dựng nhà ở theo phươngchâm: Nhân dân tự làm, nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ; Hỗ trợ giảiquyết nước sinh hoạt tập trung, phân tán
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2005 - 2008
- Phạm vi thực hiện: 67 xã, 329 thôn thuộc 9 huyện (trọng tâm là 6 huyện
miền núi) Số hộ thụ hưởng là: 13.907 hộ, được điều chỉnh lên 29.019 hộ
2.2 Đánh giá kết quả
Những kết quả đạt được: Chương trình bước đầu đã giải quyết cơ bản
tình trạng khó khăn về đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt: Khai thác được tiềm
năng đất đai, lao động và cải thiện đời sống người dân; đảm bảo một bộ phậnđồng bào có điều kiện phát triển sản xuất, tạo cơ hội phấn đấu, nâng cao ý thức
trách nhiệm và nghĩa vụ để vươn lên thoát nghèo Quy chế dân chủ được phát huy: Việc hỗ trợ một số chính sách được công khai dân chủ từ khâu lập và phân
bổ kế hoạch, đến khâu giám sát thực hiện; công tác xã hội hóa trong việc kiểm
tra, giám sát đã được hình thành và rõ nét hơn trong mỗi người dân Nhiều địa phương đã chủ động thực hiện tốt các phương thức quản lý dự án: Nhiều xã
thực hiện tốt trách nhiệm ký kết hợp đồng xây nhà cho dân (trường hợp hộ dân
có nhu cầu) và đã làm tốt vai trò chủ đầu tư xây dựng công trình nước sinh hoạt
tập trung Nhận thức của người dân địa phương về chính sách của nhà nước được nâng lên Ý thức tương trợ giúp đỡ trong cộng động cũng được nâng cao Giải quyết cơ bản vấn đề nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt: Hỗ trợ cho
15.333 hộ có nhà ở được cứng hoá khung nhà, 597 hộ có đủ đất sản xuất và đại
bộ phận cư dân trên vùng được dùng nước sạch, cải thiện chất lượng cuộc sống
Những tồn tại, hạn chế: Công tác điều tra, khảo sát còn hạn chế: Một số
huyện điều tra thiếu chính xác, dẫn đến chỉ tiêu một số chính sách trong Đề ánkhông sát với thực tế Nguyên nhân là lực lượng và điều kiện để điều tra, khảosát ban đầu gặp nhiều khó khăn, Trung ương quy định thời gian điều tra, khảo
sát, lập Đề án là quá ngắn Một số quy định về chính sách chưa phù hợp thực tế: Đối tượng thụ hưởng ở các xã thuộc các khu vực I, II, III có điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội và khả năng nguồn lực của từng địa phương khác nhau,nhưng mức hỗ trợ nhà ở, đất sản xuất theo kiểu bình quân là chưa phù hợp; Mức
hỗ trợ khai hoang, đền bù thu hồi đất 6 triệu đồng/ha là quá thấp Do đó, địaphương gặp nhiều lúng túng, chưa tạo được cơ hội cho đồng bào có đủ đất sản
xuất Về công tác tổ chức thực hiện còn hạn chế Chưa ban hành các quy định về
huy động, lồng ghép các nguồn vốn; hướng dẫn cơ chế lồng ghép các nguồn vốn
và cân đối nguồn vốn lồng ghép trên địa bàn nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp
để thực hiện Chương trình đạt hiệu quả cao Việc phân công cán bộ cấp huyện,
Trang 16xã còn phải kiêm nhiệm nhiều chương trình, nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, khốilượng công việc nhiều, nên công tác chỉ đạo chưa được tập trung Công tác khảosát thiết kế công trình tồn tại nhiều yếu kém Nhiều công trình nước sinh hoạtkhông phát huy hiệu quả do khảo sát nguồn nước; công suất thiết kế không phùhợp với nguồn nước và nhu cầu sử dụng Nhiều công trình bảo quản kém nênchỉ cần hư hỏng nhỏ ở đầu nguồn là công trình không sử dụng được Công tác sơkết rút kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm cho cộng đồng, nhân rộng điển hìnhchưa kịp thời.
III DỰ ÁN TRỒNG MỚI 5 TRIỆU HA RỪNG (DỰ ÁN 661)
3.1.Nội dung dự án, thời gian, phạm vi Dự án
- Nội dung: Bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có; Thực hiện ngay từ giai
đoạn đầu việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân gắn vớiđịnh canh, định cư, xóa đói giảm nghèo để bảo vệ, khoanh nuôi rừng kết hợptrồng bổ sung và trồng mới; Trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ rừng đặc dụng vàtrồng 3 triệu ha rừng sản xuất
- Thời gian thực hiện: Từ năm 1998 - 2010.
- Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Trên địa bàn 10 huyện, với quy
hoạch tiềm năng đất trồng rừng đã phê duyệt đến năm 2010 là 46.000 ha (trongđó: 6 huyện miền núi là 35.100 ha, chiếm 76,30% diện tích)
3.2 Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ
chế, chính sách thực hiện Dự án: Được thực hiện từ Trung ương, đến địa
phương kịp thời và rõ ràng, giúp các cấp chính quyền làm cơ sở triển khai thực
hiện Công tác chỉ đạo, điều hành: Việc tổ chức, hoạt động của Ban chỉ đạo,
Ban quản lý Dự án 661 được sự chỉ đạo thống nhất và xuyên suốt từ Chính phủ
đến các cấp chính quyền địa phương Việc đầu tư NSNN, huy động vốn: Việc
đầu tư NSNN và thu hút được nhiều nguồn vốn khác để thực hiện dự án là nỗlực lớn nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường, xóa đói giảm
nghèo cho người dân tham gia nghề rừng Việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ
cụ thể của Dự án: Đến nay, tỉnh cơ bản thực hiện bằng và vượt so với kế hoạch
được giao: Trồng mới và chăm sóc rừng phòng hộ: 21.132 ha/19.550 ha, đạt108%; Quản lý bảo vệ rừng: 554.265/382.100 ha, đạt 145,1%; Khoanh nuôi tái
sinh rừng: 73.271/82.724 ha, đạt 88,6% Diện tích thành rừng là 66.529 ha Hiệu quả về kinh tế - xã hội, môi trường của Dự án: Từ năm 1998 - 2009, diện tích có
rừng tăng từ 126.602 ha lên 234.799 ha, độ che phủ tăng từ 24,6% lên 41,68%.Kết quả Quy hoạch lại 3 loại rừng tạo điều kiện quản lý chặt chẽ rừng phòng hộ,giao cho các BQL rừng phòng hộ và chính quyền địa phương quản lý Dự án đãđưa gần 80.000 ha đất trống đồi núi trọc để trồng rừng, giao khoán hàng trămnghìn lượt ha bảo vệ và khoanh nuôi rừng, tạo việc làm cho gần 10.000 hộ, hìnhthành trong cộng đồng dân cư miền núi biết làm nghề rừng, giữ rừng và xóa bỏdần tập quán du canh du cư phát rừng làm nương rẫy Qua điều tra cho thấyngười dân đánh giá cao việc thực hiện chương trình, với 86,1% ý kiến cho là có
hiệu quả
Những tồn tại, hạn chế: Công tác chỉ đạo triển khai chưa kịp thời: Một
số văn bản quan trọng để chỉ đạo thực hiện dự án chưa kịp thời Trong đó, vănbản quan trọng nhất để làm căn cứ xây dựng Dự án 661 là Quyết định 154/2004/
Trang 17QĐ-UB của UBND tỉnh Về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2002-2010, đến năm 2004 mới ban hành Công tác chỉ đạo giai đoạn 1998-2004 dựa vào Quyết định 2356/QĐ-UB ngày 27/8/1996 Về việc phê duyệt dự án tổng quan lâm nông công nghiệp giai đoạn 1993-2000 Vì vậy, việc
rà soát, sắp xếp lại quỹ đất lâm nghiệp, chuyển mục đích sử dụng diện tích vùngphòng hộ không xung yếu sang đất sản xuất chưa kịp thời, làm nảy sinh tranh
chấp và xâm hại rừng Việc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp chưa thật chặt
chẽ: Từ năm 2002 trở về trước, người dân địa phương không có nhu cầu sử dụng
đất rừng Để thực hiện Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994, chính quyền một số
xã và Lâm trường đã cho tổ chức, cá nhân mượn hoặc thuê đất để trồng câynguyên liệu, nhưng chưa được sự cho phép của cấp có thẩm quyền và chưa đượccấp GCNQSDĐ, trong đó có người không thuộc hộ khẩu địa phương và tổ chứckhông có chức năng trồng rừng Đến nay, khi người dân địa phương có nhu cầuđất sản xuất và đòi phải trả lại đất để chia cho dân, thì chưa giải quyết được vìcây trồng chưa đến kỳ khai thác Việc thực hiện các giải pháp lâm sinh chưa tạo
điều kiện cho cây trồng chính phát triển Suất đầu tư cho các công trình lâm sinh
còn thấp, từ khoán quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, đến trồng
rừng Tình trạng xâm hại rừng và tranh chấp đất lâm nghiệp diễn ra khá phức tạp.Nạn khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra nhiều nơi.
IV ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN – MIỀN NÚI
Đề án được thực hiện theo chủ trương của tỉnh, Đề án phát triển giao thông nông thôn - miền núi tỉnh Lai Châu giai đoạn 2006-2010.
4.1 Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án
- Mục tiêu: Thực hiện nhựa hóa, cứng hóa ít nhất 1.500 km tuyến đường
huyện, xã, thôn, khối phố, trong đó:
Đường huyện: 500 km, đạt tiêu chuẩn cấp IV, V Phấn đấu đến năm 2010 nhựa hóa, cứng hóa bình quân ít nhất 70% tuyến; Đường xã, phường, thị trấn (đường xã): 750 km, đạt tiêu chuẩn đường GTNT loại A, B Phấn đấu đến năm
2010 cứng hóa mặt đường BTXM bình quân ít nhất 60% tuyến; Đường thôn, khối phố (Đường thôn): 250 km, đạt tiệu chuẩn GTNT loại A, B Từng bước
cứng hóa mặt đường BTXM, gạch hoặc cấp phối các tuyến đường thôn, đường
ra đồng ruộng Riêng đường nội phố, bê tông hóa 100% các đường hẻm nộithành
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010.
- Phạm vi Đề án: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn).
4.2 Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Đề án triển khai phù hợp với chủ trương và yêu
cầu thực tiễn Công tác chỉ đạo được tập trung thực hiệnChính quyền các cấp đã tích cực chỉ đạo và tổ chức thực hiện Các cơ chế, chính sách được quán triệt sâu
rộng trong quần chúng nhân dân, nhất là chủ trương huy động, quản lý và sửdụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng ở
xã, phường, thị trấn
Những tồn tại, hạn chế: Nguồn vốn bố trí và huy động thấp so với nhu
cầu nên khó hoàn thành kế hoạch: Nguồn vốn ngân sách bố trí đầu tư mặt
Trang 18đường nhựa, đường BTXM còn rất thấp so với kế hoạch Do đó, đến năm 2009,tổng số Km trong toàn tỉnh được nhựa hoá, cứng hoá đạt thấp: Đường huyện đạt41,14%; Đường xã đạt 35,11% so với kế hoạch Từ năm 2008, tỉnh giao kếhoạch vốn vay tín dụng ưu đãi cho UBND các huyện và khấu trừ vào vốnXDCB hàng năm Theo Đề án, đầu tư đường xã thì vốn Ngân sách tỉnh bố trí(50% ở xã đồng bằng; 80% ở xã miền núi), còn lại ngân sách cấp huyện, cấp xã
và các nguồn huy động của xã Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư tại cấp huyện gặpkhó khăn về vốn ngân sách của huyện, xã và huy động trong dân
Đề án tập trung phần lớn dự án thực hiện trên địa bàn các huyện miền núi (chiếm 20/33 dự án giai đoạn 2009-2010) nhưng chủ yếu thực hiện từ các
nguồn: ngân sách tỉnh, Chương trình 30a, Trái phiếu Chính phủ, Giao thôngnông thôn 3, còn nguồn ngân sách huyện, xã và huy động trong dân với tỷ lệ rấtthấp và hầu như không thực hiện được
Trên địa bàn miền núi, nhiều tuyến đường đạt chất lượng thấp do địa hình phức tạp, thiết kế và nguồn lực đầu tư thấp Các tuyến đường ở khu vực miền
núi những năm qua chủ yếu đầu tư nền đường và công trình thoát nước, còn mặtđường chưa được đầu tư nên thường bị hư hỏng sau mùa mưa lũ
Qua điều tra xã hội học, phần lớn người dân đều nhận thấy vai trò quantrọng của mạng lưới giao thông và đánh giá mức độ “hiệu quả tốt” chiếm39,1% Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho thấy hiệu quả các Đề án giao thôngnông thôn còn hạn chế, chiếm 33,9% “chưa hiệu quả lắm” và 20% “không hiệuquả”
V ĐỀ ÁN KIÊN CỐ HÓA KÊNH MƯƠNG - THỦY LỢI
Đề án được thực hiện theo chủ trương của tỉnh, Đề án Chương trình Kiên
cố hóa kênh mương thủy lợi giai đoạn 2006-2010.
5.1 Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án
- Mục tiêu: Kiên cố hóa (KCH) 500 km kênh mương, trong đó: Kênh loại
II: 53 km; Kênh loại III: 247 km Kiên cố hóa được đầu tư từ chương trình, dự
án lồng ghép khác: 200 km
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010.
- Phạm vi thực hiện: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn).
5.2 Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Đề án góp phần nâng cao năng lực tưới tiêu,
phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp Đồng bào dân tộc miền núi đã bướcđầu tiếp cận, tận nguồn thủy lợi để thâm canh lúa nước, trồng ngô, nuôi trồngthủy sản Đề án được sự quan tâm chỉ đạo điều hành của các cấp, các ngành, các
tổ chức chính trị Được sự đồng tình, hưởng ứng của nhân dân, người dân nhiềunơi tỏ ra tích cực trong việc tham gia phần vốn 30-40% đóng góp, nhiều HTXchủ động vận động thu trước khi có vốn hỗ trợ của tỉnh Góp phần nâng caonhận thức của người dân trong xây dựng, khái thác và bảo vệ công trình thủylợi Một số huyện miền núi như Sơn Hà, Minh Long nhờ thực hiện lồng ghépcác nguồn vốn từ các chương trình khác triển khai trên địa bàn, nên đã huy độngđược nguồn vốn lớn để thực hiện đạt và vượt mục tiêu Đề án
Những tồn tại, hạn chế: Phương án cân đối nguồn vốn để thực hiện mục
tiêu chưa khả thi Việc huy động nguồn vốn đóng góp của nhân dân vùng hưởng
Trang 19lợi ở các huyện miền núi là rất khó, do đời sống nhân dân còn nghèo, nguồn vốngóp của các địa phương cũng hạn chế Vì vậy, khả năng cân đối ngân sách chưađáp ứng được yêu cầu để thực hiện theo chương trình Bộ máy thực hiện chưađảm bảo yêu cầu Do thiếu cán bộ chuyên môn thủy lợi và không có bộ phậnchuyên trách đầu tư XDCB nên các hồ sơ thủ tục, lập hồ sơ thiết kế chậm và cơchế quản lý tài chính còn lúng túng Sự phối hợp giữa các Sở, ngành chưa chặtchẽ Cơ chế kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc.
VI CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN NÔNG, KHUYẾN NGƯ
Chương trình Khuyến nông, khuyến ngư được thực hiện theo Nghị định
số 56/2005/NĐ-CP ngày 26/4/2005 của Chính phủ về Khuyến nông, khuyến ngư.
6.1 Nội dung, thời gian và phạm vi chương trình
- Nội dung: Thông tin, tuyên truyền; Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo; Xây
dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ; Tư vấn và dịch vụ; Hợp tácquốc tế về khuyến nông, khuyến ngư
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010.
- Phạm vi chương trình: Áp dụng trên toàn tỉnh.
6.2 Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Hệ thồng công tác KN - KN được phân cấp từ
tỉnh đến cơ sở Cấp cơ sở có hình thành mạng lưới Trạm khuyến nông và khuyến nông viên cơ sở Thu hút được nhiều tổ chức nước ngoài tài trợ cho các chương trình, dự án KN - KN với nguồn kinh phí đầu tư đáng kể trong điều kiện
nguồn ngân sách nhà nước còn hạn chế; góp phần giúp cho người dân tiếp cậnđược tiến bộ kỹ thuật công nghệ để triển khai sản xuất nhằm cải thiện đời sống
Việc triển khai các mô hình sản xuất góp phần tạo cho nông dân tiếp thu được khoa học kỹ thuật, áp dụng vào sản xuất Nâng cao năng suất lao động,
đẩy mạnh thâm canh nhằm tạo nguồn nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chếbiến, xuất khẩu góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp ngày càng phát triển
Người dân tiếp cận được thông tin sản xuất và thị trường Đặc biệt là việc
thành lập và duy trì hoạt động của các Câu lạc bộ khuyến nông đã giúp nông dân
có điều kiện trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất
Một số mô hình được triển khai trên địa bàn miền núi tuy không nhiều nhưng bước đầu đã có những dấu hiệu tích cực, như: Mô hình chăn nuôi trâu,
bò có chuồng nhốt và dự trữ rơm rạ làm thức ăn; Chăn nuôi heo Móng Cái cóchuồng nhốt, nuôi heo ky; cá nước ngọt Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây keo trồngrừng sản xuất đã được bà con đồng bào áp dụng thực hiện tốt, đạt hiệu quả kinh
tế cao
Những tồn tại, hạn chế: Việc ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành
của tỉnh về công tác KN - KN chưa được thực hiện tốt hơn Cơ chế thu hút và
chế độ đối với độ ngũ khuyến nông viên cơ sở, cộng tác viên chưa thực hiện tốt
Tính liên kết giữa các tổ chức khuyến nông với chính quyền địa phương, các ngành liên quan chưa được phát huy tốt Công tác chỉ đạo, điều hành của
chính quyền cơ sở trong việc triển khai, hỗ trợ nông dân mở rộng mô hình sảnxuất sau trình diễn chưa được chú trọng đúng mức
Trang 20Nhiều mô hình trình diễn chưa được nhân rộng sản xuất Việc trình diễn
mô hình chưa gắn chặt với tư vấn các hình thức huy động nguồn vốn ưu đãi,thông tin thị trường, nên người dân không có nguồn vốn để đầu tư mở rộng, haykhi mở rộng sản xuất thì không có thị trường tiêu thụ hoặc giá cả quá thấp gâythua lỗ
Khả năng tiếp thu hướng dẫn kỹ thuật canh tác, thông tin thị trường và áp dụng các mô hình để triển khai thực hiện trên địa bàn miền núi còn rất hạn chế.
Xuất phát từ trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, tiềm lực hạn chế,lực lượng khuyến nông viên cơ sở mỏng, nên công tác khuyến nông - khuyếnlâm chưa thực sự được triển khai sâu rộng trong cộng đồng dân cư miền núi
VII MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Y TẾ
Trong những năm gần đây, đã có một số chương trình hỗ trợ đầu tư hệthống cơ sở hạ tầng y tế để nâng cao năng lực khám, chữa bệnh cho nhân dân
+ Quy mô dự án thực hiện trên địa bàn 8 huyện, gồm 11 công trình.
Nguồn vốn từ vốn vay của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
- Đề án xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng trái phiếu Chính phủ và các nguồn
vốn khác giai đoạn 2008 – 2010, theo Quyết định của thủ tướng và tỉnh Quảng Ngãi
+ Mục tiêu của Đề án: Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp về CSHT, mua
sắm trang thiết bị và nâng cao năng lực chuyên môn cho độ ngũ cán bộ y tế củamột số Bệnh viện đa khoa tuyến huyện nhằm đưa các dịch vụ kỹ thuật y tế gầndân Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo, người dân vùng núi, vùng sâu,vùng xa được tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng ngày một tốt hơn, đồngthời giảm tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên
+ Thời gian thực hiện: Từ 2008 - 2010
+ Quy mô dự án trên địa bàn tỉnh: Có các dự án, gồm: Bệnh viện ĐKKV
Sơn Hà; Bệnh viện đa khoa (BVĐK) huyện Minh Long; BVĐK Sơn Tịnh;BVĐK Tư Nghĩa; BVĐK Mộ Đức; BVĐK Đặng Thùy Trâm
- Dự án Hỗ trợ y tế vùng duyên hải Nam Trung bộ:
+ Mục tiêu: Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, cải thiện kỹ năng tiếp cận
và sử dụng dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là người dân nghèo, người dântộc thiểu số, phụ nữ và trẻ em
+ Thời gian thực hiện: Từ 2009 - 2013.
+ Quy mô dự án trên địa bàn tỉnh: Tỉnh Quảng Ngãi có 4 Dự án Bệnh
viện đa khoa Dự án sử dụng vốn ODA (Ngân hàng phát triển Châu Á) là 51,106triệu đồng; vốn đối ứng trong nước là 5,678 triệu đồng
7.2 Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Trong thời gian qua, với sự đóng góp của nhiều
Trang 21dự án đầu tư phát triển y tế, ngành y tế nói chung và lĩnh vực khám chữa bệnhtrong tỉnh nói chung và các bệnh viện khu vực, bệnh viện tuyến huyện (đặc biệt
là khu vực miền núi) đã có những tiến bộ rõ nét, nâng cao chất lượng khám chữabệnh, hệ thống cung cấp dịch vụ y tế được mở rộng, tỷ lệ người ốm được chămsóc y tế tăng lên; người bệnh ngày càng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các dịch
vụ y tế; nhiều dịch bệnh được khống chế cơ bản hoặc được loại trừ; sức khỏe vàtuổi thọ của người dân được nâng lên
Những tồn tại, hạn chế: Tỉnh chưa thực hiện tốt chính sách ưu đãi phù
hợp để thu hút các thành phần kinh tế tham gia công tác khám chữa bệnh chonhân dân, tham gia đầu tư các cơ sở y tế trên địa bàn Ngân sách đầu tư nâng cấp
cơ sở vật chất và trang thiết bị còn hạn chế so với nhu cầu thực tế Cơ sở vậtchất, trang thiết bị các bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế huyện chưa hoàn chỉnh
và đồng bộ, còn lạc hậu, chưa đủ khả năng giải quyết hết các bệnh thông
thường, các bệnh chuyên khoa đặc thù Nguồn nhân lực đội ngũ y, bác sĩ còn
thiếu về số lượng và chất lượng Đặc biệt, tuyến huyện và xã khu vực miền núicòn gặp rất nhiều khó khăn Chính sách thu hút cán bộ y, bác sĩ về đứng Trạm y
tế xã miền núi chưa đảm bảo thu hút, động viên an tâm công tác.Hệ thống trạm
y tế miền núi nhiều nơi xuống cấp, thiết bị lạc hậu hạn chế khả năng khám chữabệnh ban đầu cho nhân dân
VIII CHƯƠNG TRÌNH NƯỚC SẠCH, VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
Chương trình được thực hiện theo Quyết định số 277/2006/QĐ-TTg ngày 11/12/2006 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006-2010.
8.1 Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình
- Nội dung: Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010.
- Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Toàn tỉnh.
8.3 Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Các dự án đã triển khai xây dựng hoàn thành
giải quyết cơ bản một số vùng nông thôn thiếu nước sinh hoạt, cung cấp đảmbảo đủ nhu cầu về nước sinh hoạt cho nhân dân Từng bước cải thiện đời sống,sức khoẻ cho nhân dân tại các vùng dự án, đặc biệt là giải phóng được một phầnsức lao động cho phụ nữ và trẻ em tham gia công việc gia đình Các dự án đượcđầu tư có quy mô lớn hơn so với các năm trước đây
Về vệ sinh môi trường đã đạt được mục tiêu của kế hoạch đề ra Công tác
vệ sinh môi trường nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực về nhận thức vàđược cụ thể hóa bằng hành động trong sinh hoạt, sản xuất của nhân dân
Công tác truyền thông và tập huấn đào tạo cán bộ đạt được khá cao.
Nhận thức về vệ sinh môi trường đã được nâng cao trong nhân dân, các hoạtđộng về môi trường đã được nhân dân hưởng ứng và thực hiện
Đối với vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, dự án có ý nghĩa rất quan trọng
trong cải thiện chất lượng cuộc sống của đồng bào Người dân được giải phóngsức lao động nhờ hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung và phân tán đến nơi ở
Những hạn chế, tồn tại: Công tác khảo sát và thiết kế chưa được thực
Trang 22hiện tốt làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và việc sử dụng lâu bền công trình.Tuy nhiên, do chất lượng khảo sát, thiết kế, chất lượng hồ sơ chưa tốt nên còn
một số công trình nước sạch không phát huy hiệu quả Công tác chuẩn bị đầu
tư còn kéo dài, việc khởi công chậm dẫn đến tiến độ giải ngân hàng năm không
đạt kế hoạch Chưa thực hiện tốt nội dung phân công phối hợp giữa ba ngành
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Giáo dục và Đào tạo Chương trình
vệ sinh môi trường và công tác truyền thông - giáo dục chưa được chú trọng.Hằng năm chưa bố trí vốn cho Sở Y tế để thực hiện nhiệm vụ quản lý chất lượngnước và thực hiện chương trình vệ sinh
Việc phối hợp, lồng ghép và quản lý các nguồn đầu tư xây dựng công
trình nước sạch còn bất cập Chưa có sự phối hợp, lồng ghép các chương trình
khác với chương trình do Sở NN&PTNT quản lý Các chương trình 135, 134,Plan, RUDEP, Đông Tây hội ngộ… triển khai tại các huyện được thực hiện theo
sự quản lý riêng của từng chương trình Vì vậy, việc tổng hợp tình hình cungcấp nước sạch trên địa bàn khó chính xác, ảnh hưởng đến kế hoạch, chỉ đạochung
Chưa xây dựng được cơ chế quản lý, thực hiện chương trình có những đặc thù riêng, hệ thống dịch vụ trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi
trường nông thôn và đào tạo nhân lực quản lý, vận hành các công trình cấpnước
Công tác quản lý, khai thác, duy tu còn nhiều hạn chế Nhiều công trình
sau khi chủ đầu tư bàn giao cho địa phương quản lý chỉ phát huy trong thời gianđầu Việc duy tu, bảo dưỡng thiếu sự quan tâm nên để hư hỏng làm ảnh hưởngđến hiệu quả sử dụng công trình Việc quản lý, vận hành, khai thác các côngtrình cấp nước nhiều nơi còn buông lỏng; công tác sửa chữa các công trình bị hưhỏng và xuống cấp ở một số công trình triển khai chưa kịp thời; không tổ chứcbảo vệ, thậm chí để xảy ra trường hợp phá hoại làm hư hỏng công trình
Đối với địa bàn miền núi còn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế.Công tác
khảo sát nguồn nước, thiết kế công trình còn gặp nhiều khó khăn, hệ thống cấpdẫn nước chỉ dùng được những thiết bị đơn giản, với quy mô nhỏ, lẻ nên thường
9.1 Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình
- Nội dung: Các trường, lớp học xây dựng kiên cố theo tiêu chuẩn, quy
phạm xây dựng và tham khảo thiết kế điển hình do Bộ Xây dựng ban hành; Kếthợp việc thực hiện Đề án với việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới trường học
và chuẩn hoá trường, lớp học
- Thời gian: Thực hiện trong 2 giai đoạn: năm 2003 - 2006 và năm 2008 - 2012.
- Phạm vi thực hiện trên bàn tỉnh: Toàn tỉnh
Trang 23Giai đoạn 2003 - 2006: Số phòng học cần được đầu tư xây dựng kiên cố là:
1.891 phòng Trong đó: Xây dựng xoá phòng học 3 ca: 922 phòng; xoá phònghọc tranh tre nứa lá: 969 phòng Giai đoạn 1 (2003-2005): 861 phòng Giai đoạn2: 1.030 phòng Tổng nguồn vốn: 101.481 triệu đồng
Giai đoạn 2008 - 2012: Số lượng phòng học: 2.224 phòng; Nhà công vụ
cho giáo viên: 537 phòng, tổng diện tích 12.880m2 Tổng vốn: 471,650 tỷđồng
9.2 Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Chương trình đã khắc phục được tình trạng
thiếu trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên mà bản thân ngân sách địaphương và đóng góp nhân dân chưa thể thực hiện được Tạo điều kiện xây dựng
cơ sở vật chất mới để thành lập các trường THCS và trường Mầm non tại các xãmiền núi Xóa bỏ tình trạng lớp nhô ở cả 3 cấp trong một trường (Mầm non,Tiểu học, THCS) và nhà ở cho giáo viên, góp phần thu hút được học sinh đếnlớp và giáo viên yên tâm giảng dạy
Chương trình đã làm cho môi trường giáo dục, hệ thống các trường họctrở thành trung tâm văn hoá - xã hội của các địa phương, góp phần thực hiệnchương trình phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập THCS ở các địa phương đạtkết quả
Những tồn tại, hạn chế: Quá trình triển khai chương trình đã bộc lộ
những yếu kém, một số dự án có những thiếu sót trong trình tự thủ tục đầu tư, công tác quản lý, giám sát thi công, thiết kế, thẩm định thiết kế, chất lượng vật
tư, vật liệu xây dựng không đúng theo thiết kế được duyệt Nhiều nơi, chủ đầu
tư chưa thực hiện đầy đủ thủ tục về đất đai, bỏ qua các bước đấu thầu và thực hiện quản lý chất lượng công trình lỏng lẻo nên chất lượng công trình thấp
Hầu hết các trường đều gặp khó khăn trong thực hiện mục tiêu “chỉnh trang, chuẩn hóa trường, lớp học”, đầu tư không được đồng bộ các hạng mục
của trường học Công tác quy hoạch và bố trí đất đai để xây dựng sân trường,khu sinh hoạt… để đảm bảo chuẩn hóa và kinh phí thực hiện xây dựng các côngtrình phụ như: nhà vệ sinh, nhà thí nghiệm, thiết bị… nhiều nơi không thực hiệnđược do không bố trí được quỹ đất và kinh phí hạn chế Đối với khu vực miềnnúi, chưa huy động được các nguồn vốn khác để đầu tư đồng bộ về nhà bán trúcho học sinh
X CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ VIỆC LÀM
Chương trình thực hiện theo Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg ngày
06/7/2007- Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2010.
10.1 Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình
- Nội dung: Chương trình với 3 dự án và 2 hoạt động sau: Dự án vay vốn
tạo việc làm; Dự án hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Dự án
hỗ trợ phát triển thị trường lao động; Hoạt động giám sát, đánh giá; Hoạt độngnâng cao năng lực quản lý lao động - việc làm
- Thời gian thực hiện: giai đoạn 2006-2010.
- Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Toàn tỉnh.
10.2 Đánh giá tình hình thực hiện
Trang 24Những kết quả đạt được: Hệ thống cơ sở đào tạo nghề nghề và công tác
giới thiệu việc làm phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng Hiện nay, trênđịa bàn tỉnh có 27 cơ sở dạy nghề.Kết quả tạo việc làm đạt bằng và vượt kếhoạch hàng năm: Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 33.920 laođộng, đạt 102,78% chỉ tiêu
Những tồn tại, hạn chế: Trong quá trình xây dựng Chương trình, kêu gọi
thu hút đầu tư, nhiều cơ quan, ngành, địa phương chưa quan tâm đến việc thuhút lao động tại chỗ Quỹ Quốc gia về việc làm do Trung ương bổ sung hàngnăm cho tỉnh còn hạn chế (từ 4-4,5 tỷ đồng/năm) chưa đáp ứng được nhu cầuvay vốn của nhân dân Việc đưa lao động trong tỉnh đi làm việc có thời hạn ởnước ngoài còn quá ít Đào tạo cho người lao động chưa theo quy hoạch, laođộng có kỹ thuật và công nhân lành nghề rất hiếm.Tính tự chủ trong tự tạo việclàm, tự tìm kiếm việc làm của người lao động chưa được phát huy, trình độ taynghề của người lao động nhìn chung còn thấp, tác phong làm việc chưa phù hợp
với quy trình sản xuất công nghiệp Đối với khu vực miền núi còn tồn tại nhiều
hạn chế trong vấn đề việc làm Với trình độ dân trí còn hạn chế, khả năng tiếpcận đào tạo nghề hạn chế, tác phong làm việc chưa phù hợp với môi trường côngnghiệp, thụ động trong vay vốn tạo việc làm, tâm lý chưa được yên tâm khi xalàng, bản làm ăn Các yếu tố trên ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng có việclàm và nâng cao thu nhập
XI CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ VĂN HÓA
Chương trình được thực hiện theo Quyết định Quyết định
125/2007/QĐ-TTg ngày 31/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về Văn hóa giai đoạn 2006-2010.
11.1 Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình
- Nội dung: Chương trình bảo tồn di sản văn hoá; Chương trình phát triển
văn hoá thông tin cơ sở; Chương trình phát triển điện ảnh
- Thời gian thực hiện: năm 2006-2010.
- Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Toàn tỉnh.
11.2 Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Các di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 26 di
tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia (kể cả Công trình kiến trúc Trường Luỹ mớiđược công nhận là Di tích cấp Quốc gia) và 161 di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnhsau khi được tu bổ, tôn tạo không những đã giữ gìn được một lượng vật chất tolớn chứa đựng trong mỗi di tích để giáo dục truyền thống và nâng cao mứchưởng thụ của nhân dân mà còn tham gia vào việc phát triển kinh tế, góp phầnthu hút nhiều khách trong và ngoài nước đến tham quan, tăng nguồn thu bán vé
và các nguồn thu dịch vụ khác đối với các ngành du lich, dịch vụ, giao thông vận tải Các Nhà văn hoá huyện được cấp trang thiết bị từ Chương trình cũnghoạt động có hiệu quả và tăng nguồn thu; Thư viện tỉnh có số đầu sách trang bịngày càng phong phú thu hút được nhiều bạn đọc Các di sản văn hoá phi vật thểsau khi nghiên cứu giới thiệu đã thu hút được khách các nơi về tham quan, xembiểu diễn
-Những tồn tại, hạn chế: Việc triển khai thực hiện Dự án chống xuống
cấp và tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến, dự án Di tích Sa